1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Ý thức pháp luật và ý thức giáo dục chấp hành luật an toàn giao thông đường bộ cho học sinh trung học phổ thông ở Thành phố Đà Nẵng

107 277 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 874,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, việc giáo dục cho học sinh ý thức thực hiện pháp luật là điều vô cùng quan trọng mang tính chất sống còn cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, mà trong đó giáo dục ý thức chấp

Trang 1

ĐINH THỊ LAN ANH

Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ GIÁO DỤC Ý THỨC CHẤP HÀNH LUẬT

AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng, 2015

Trang 2

ĐINH THỊ LAN ANH

Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ GIÁO DỤC Ý THỨC CHẤP HÀNH LUẬT

AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN HỒNG LƯU

Đà Nẵng, 2015

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Đinh Thị Lan Anh

Trang 4

1 Tính cấp thiết của đề tài: 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4

4 Phương pháp nghiên cứu: 4

5 Tổng quan đề tài nghiên cứu: 4

6 Bố cục đề tài nghiên cứu: 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT, Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT 7

1.1 Ý THỨC PHÁP LUẬT – HÌNH THÁI QUAN TRỌNG CỦA Ý THỨC XÃ HỘI 7

1.1.1 Khái niệm pháp luật và ý thức pháp luật 7

1.1.2 Các loại ý thức pháp luật và cấp độ biểu hiện của ý thức pháp luật 13 1.2 VAI TRÒ CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 18

1.2.1 Ý thức pháp luật với sự tồn tại và phát triển của xã hội 18

1.2.2 Ý thức pháp luật với sự hình thành nhân cách con người 20

1.3 NHỮNG NHẬN THỨC CÓ BẢN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VÀ GIÁO DỤC Ý THỨC CÔNG DÂN TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG 22

1.3.1 Giáo dục và giáo dục pháp luật 22

1.3.2 Khái niệm ý thức công dân và nội dung giáo dục ý thức công dân 26

1.3.3 Con đường giáo dục ý thức pháp luật và giáo dục ý thức công dân trong nhà trường phổ thông 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32

Trang 5

CỦA HỌC SINH THPT Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 33

2.1 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN PHÁP LUẬT NÓI CHUNG VÀ LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ NÓI RIÊNG TRÊN PHẠM VI CẢ NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 33 2.1.1 Những điểm tích cực: 33 2.1.2 Những điểm hạn chế: 35 2.2 TÌNH HÌNH TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG NÓI CHUNG VÀ TRONG HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 40 2.2.1 Tình hình thực hiện pháp luật An toàn giao thông đường bộ trên toàn thành phố Đà Nẵng trong những năm gần đây 40 2.2.2 Tình hình chấp hành pháp luật An toàn giao thông đường bộ của học sinh trung học phổ thông ở Thành phố Đà Nẵng 42 2.3 THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN VI PHẠM PHÁP LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 44 2.3.1 Thực trạng ý thức thực hiện pháp luật giao thông đường bộ ở Thành phố Đà Nẵng hiện nay 44 2.3.2 Nguyên nhân vi phạm Luật giao thông đường bộ của xã hội nói chung và trong học sinh trung học phổ thông ở Thành phố Đà Nẵng 47

2.3.3 Giải pháp kiềm chế tai nạn giao thông đường bộ và giảm ùn tắc giao

thông ở Thành phố Đà Nẵng 52

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO Ý THỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Trang 6

3.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC TUÂN THỦ PHÁP LUẬT

AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 61 3.1.1 Sự cần thiết phải giáo dục ý thức chấp hành luật an toàn giao thông đường bộ cho học sinh trung học phổ thông 61 3.1.2 Thực trạng giáo dục ý thức thực hiện pháp luật an toàn giao thông đường bộ cho học sinh trung học phổ thông 62 3.2 MỤC TIÊU, NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC Ý THỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 68 3.2.1 Mục tiêu giáo dục ý thức thực hiện pháp luật GTĐB cho học sinh trung học phổ thông 68 3.2.2 Nguyên tắc và phương pháp giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh 70 3.2.3.Một số phương pháp giáo dục pháp luật giao thông đường bộ cho học sinh trung học phổ thông 70 3.3 ĐỊNH HƯỚNG NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH LỒNG GHÉP GIÁO DỤC PHÁP LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CÓ HIỆU QUẢ TRONG MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 74 3.3.1 Vị trí và mục tiêu môn giáo dục công dân trong chương trình trung học phổ thông 74 3.3.2 Định hướng nội dung chương trình lồng ghép giáo dục an toàn giao thông đường bộ trong môn Giáo dục công dân 78 3.4 KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT 87 3.4.1 Với Ban An toàn giao thông Thành phố Đà Nẵng 87

Trang 7

3.4.4 Các trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng 88 3.4.5 Tổ chuyên môn Giáo dục công dân trên địa bàn thành phố 89 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 90

KẾT LUẬN 91 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

GDCD : Giáo dục công dân

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong đời sống xã hội pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng, đó là phương tiện không thể thiếu để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội Pháp luật vừa là phương tiện để Nhà nước quản lí xã hội, vừa là phương tiện

để công dân thực hiện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân Do đó, việc giáo dục cho học sinh ý thức thực hiện pháp luật là điều vô cùng quan trọng mang tính chất sống còn cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, mà trong đó giáo dục ý thức chấp hành pháp luật an toàn giao thông đường bộ cho học sinh chính là một phần của việc giáo dục ý thức trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội Hiểu pháp luật, sống và làm việc theo pháp luật,

đó là lối sống văn minh của một xã hội hiện đại, là biểu hiện của nếp sống đạo đức, thẩm mĩ đầu tiên của mỗi người

Hiện nay vấn đề tai nạn giao thông là một trong những vấn đề nóng bỏng được đưa ra bàn luận, trao đổi nhiều nhất trên các nghị trường Bởi hàng ngày, hàng giờ tình trạng vi phạm pháp Luật giao thông đường bộ và hậu quả

từ những vụ tai nạn giao thông để lại là một trong những vấn đề đau xót nhất của xã hội, trở thành vấn đề báo động không chỉ riêng ở Việt Nam mà trên toàn cầu Bởi lẻ, mỗi lần lưu thông trên đường chúng ta không khỏi rùng mình khi phải chứng kiến tận mắt những vụ tai nạn thương tâm xảy ra, xem tin tức trên các kênh thông tin giao thông không khỏi giật mình vì con số thương vong từ các vụ tai nạn giao thông đường bộ quá lớn Trong số đó, có người có thể là cha mẹ của học sinh, là học sinh, là đồng nghiệp, là con người trong xã hội mà bản thân họ là nạn nhân của sự cẩu thả, thiếu ý thức của những người tham gia giao thông

Trong số người tham gia giao thông hằng ngày phải kể đến đối tượng khá đông và gây ra nhiều tai nạn nhất đó chính là thanh niên, học sinh, do đó

Trang 10

cần phải tăng cường các biện pháp giáo dục, phố biến kiến thức pháp luật giao thông đường bộ nhằm tăng sự hiểu biết làm giảm thiểu thương vong do tai

nạn giao thông gây ra Và đặc biệt, hưởng ứng tích cực năm“Văn hóa, văn

minh đô thị thành phố”

Tai nạn giao thông là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu cho người, bên cạnh đó những thiệt hại khổng lồ về kinh tế, bao gồm: chi phí mai táng người chết, chi phí y tế cho những người bị thương, thiệt hại về phương tiện giao thông, về hạ tầng, chi phí khắc phục, điều tra vụ tai nạn giao thông đó cùng với thiệt hại do hao phí lao động của chính người bị tai nạn và của cả những người chăm sóc người đó Mặt khác, tai nạn giao thông còn gây nên những tác động tâm lí cả trước mắt cũng như về lâu dài đối với mọi người, nó để lại những di chứng về tâm lí hết sức nặng nề cho người bị tai nạn, người thân của người đó và nếu như trong một địa phương, một quốc gia xảy ra tai nạn giao thông quá nhiều sẽ gây nên hiện tượng bất an cho cư dân ở đó Trước tình hình tai nạn giao thông xảy ra theo chiều hướng ngày càng phức tạp, chính phủ đã ban hành Nghị quyết 32/2007/NQ-CP về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 15-7-2007 Nghị quyết đã đưa ra 7 giải pháp cơ bản nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông Trong đó, nhấn mạnh, đẩy mạnh giáo dục tuyên truyền pháp luật, kiên quyết cưỡng chế thi hành pháp luật và nâng cao năng lực cho lực lượng cảnh sát và thanh tra giao thông…Trong đó cũng quy định từ niên học 2008 – 2009 bắt đầu thực hiện chương trình giảng dạy trật tự an toàn giao thông mới ở tất cả các cấp học Từ ngày 01- 9-2007 xử lí nghiêm khắc tất cả học sinh chưa đủ tuổi, không có giấy phép lái xe điều khiển xe mô tô, xe gắn máy

Lúc sinh thời Bác Hồ thường nói:“Một năm bắt đầu từ mùa xuân, đời người bắt đầu từ tuổi trẻ”, đúng vậy, chỉ có thanh niên học sinh hiện nay là

Trang 11

thế hệ tương lai của đất nước, nếp sống văn hóa giao thông có được xây dựng trong đời sống cộng đồng hay không đó chính là thế hệ trẻ - những thanh niên học sinh chủ nhân tương lai của đất nước Vì vậy, chúng tôi cho rằng việc giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật giao thông đường bộ cho học sinh Trung học phổ thông là vấn đề hết sức cần thiết hiện nay Bản thân tôi là giáo viên giảng dạy môn Giáo dục công dân đã nhiều năm, cũng đã đau biết bao nỗi đau khi mà tai nạn giao thông đã cướp đi tính mạng của một đồng nghiệp, của những học sinh thân yêu mà họ chủ yếu là những nạn nhân của sự cẩu thả, thiếu ý thức khi tham gia giao thông Trong quá trình giảng dạy bộ môn GDCD ở nhà trường trung học phổ thông mặc dù không phải là nội dung chính khóa nhưng tôi cũng đã cố gắng hết mình trong khả năng có thể giáo dục lồng ghép để cung cấp kiến thức hiểu biết về Luật giao thông đường bộ, văn hóa giao thông cần có nhằm nâng cao trình độ văn hóa giao thông cho học sinh của mình góp phần hưởng ứng “Thập kỷ hành động vì an toàn giao

thông đường bộ toàn cầu giai đoạn 2011 – 2020” Chính từ yêu cầu bức thiết

đó, bản thân tôi chọn chủ đề “Ý thức pháp luật và giáo dục ý thức chấp

hành Luật an toàn giao thông đường bộ cho học sinh trung học phổ thông

ở Thành phố Đà Nẵng” làm nội dung nghiên cứu của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

2.1 Mục đích:

Trên cơ sở nghiên cứu và làm rõ ý thức pháp luật và vai trò của ý thức pháp luật đối với đời sống xã hội, từ đó, vận dụng vào việc giáo dục ý thức pháp luật giao thông đường bộ cho học sinh trung học phổ thông ở Thành phố Đà Nẵng, góp phần xây dựng đời sống văn hóa – văn minh đô thị của Thành phố

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện được mục đích nói trên, đề tài tập trung vào những vấn đề sau:

Trang 12

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về pháp luật, ý thức pháp luật và vai trò của

ý thức pháp luật trong đời sống xã hội

- Làm rõ thực trạng vi phạm pháp luật và ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ ở Thành phố Đà Nẵng nói riêng và trên phạm vi cả nước trong thời gian qua

- Đề xuất những biện pháp nhằm tăng cường giáo dục ý thức chấp hành pháp luật giao thông đường bộ cho học sinh trung học phổ thông ở Thành phố Đà Nẵng hướng đến xây dựng ý thức văn hóa giao thông cộng đồng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Vì thời gian và điều kiện nghiên cứu có hạn, nên bản thân tôi chỉ đi sâu nghiên cứu lý luận về ý thức pháp luật và vai trò của ý thức pháp luật trong đời sống xã hội Trên cơ sở đó, nghiên cứu và làm rõ thực trạng vi phạm pháp luật an toàn giao thông đường bộ của học sinh trung học phổ thông ở Thành phố Đà Nẵng, đồng thời đề xuất những biện pháp giáo dục ý thức chấp hành pháp luật an toàn giao thông đường bộ trong học sinh một cách có hiệu quả, xây dựng văn hóa giao thông học đường – góp phần xây dựng văn hóa giao thông Thành phố

4 Phương pháp nghiên cứu:

Để hoàn thành đề tài luận văn này sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với phương pháp duy vật lịch sử Đồng thời kết hợp một số phương pháp khác như: phương pháp logic, phân tích, quy nạp, diễn dịch, tổng hợp, nhận xét rút ra kết luận Phương pháp trực quan, điều tra, khảo sát

và liên hệ thực tiễn làm sáng tỏ đề tài nghiên cứu

5 Tổng quan đề tài nghiên cứu:

Ý thức pháp luật là một trong những hình thái quan trọng của ý thức xã hội, bởi nó là nhân tố không thể thiếu trong đời sống pháp luật của xã hội ở tất

Trang 13

cả các giai đoạn phát triển, đặc biệt là khi nhà nước pháp quyền ra đời Ý thức pháp luật có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng thời quyết định hiệu quả của việc thực hiện pháp luật, góp phần đưa pháp luật vào đời sống – hình thành thói quen văn hóa pháp lý trong cộng đồng Chính vì vậy, mà ý thức pháp luật và giáo dục ý thức pháp luật là vấn đề được xã hội quan tâm nghiên cứu và tăng cường giáo dục

- Trước tiên, phải kể đến các sách giáo khoa, giáo trình, sách chuyên khảo về ý thức pháp luật Trong đó, ý thức pháp luật được xem xét là một trong những hình thái quan trọng của ý thức xã hội, ý thức pháp luật ra đời

gắn liền với sự ra đời của Nhà nước Trong chuyên khảo “Ý thức pháp luật”

của PGS.TS.Nguyễn Minh Đoan, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – sự thật,

Hà Nội, 2011 đã làm rõ khái niệm, đặc điểm, chức năng và các cấp độ biểu hiện của ý thức pháp luật, cũng đã phản ánh thực trạng ý thức pháp luật của Việt Nam và đề xuất các giải pháp nâng cao ý thức pháp luật nói chung ở nước ta hiện nay

- Bên cạnh đó PGS.TS.Nguyễn Minh Đoan, với cuốn “Hiệu quả của

pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc

gia, Hà Nội, 2012 đã làm rõ hơn nữa vấn đề lý luận về hiệu quả của pháp luật,

là một trong những vấn đề cơ bản của khoa học pháp lý, đặc biệt trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Bởi pháp luật chỉ phát huy hiệu quả khi nó được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, có ý thức, được áp dụng một cách đúng đắn, chính xác góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu và Đảng đã đề ra

- Th.s Đào Thu Hiền với bài “Vai trò của ý thức pháp luật trong đời

sống xã hội” đăng trên tạp chí khoa học kỷ thuật thủy lợi và môi trường số 43

tháng 12/2013, đã phân tích một số vấn đề lý luận về ý thức pháp luật, làm rõ vai trò của ý thức pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, tư

Trang 14

tưởng từ đó đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao ý thức pháp luật và phát huy vai trò của nó trong đời sống xã hội ở nước ta hiện nay

- Luận án Tiến sỹ triết học của Nguyễn Thúy Vân “Logic khách quan

của quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp luật ở Việt Nam” (Hà Nội,

2000), đã làm sáng tỏ vai trò của logic khách quan trong quá trình hình thành

và phát triển ý thức pháp luật ở Việt Nam

- TS.Nguyễn Đình Đặng Lục với “Giáo dục pháp luật trong nhà

trường” (Nxb Giáo dục, Hà Nội,2004) Tác giả đã đi sâu phân tích và luận

giải một cách khoa học những vấn đề chính yếu nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả và công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường hiện nay

Những công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến nhiều vấn đề lý luận về ý thức pháp luật và giáo dục ý thức pháp luật một cách sâu sắc và toàn diện Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập cụ thể đến vấn đề giáo dục ý thức pháp luật an toàn giao thông đường bộ cho học sinh trung học phổ thông

ở Thành phố Đà Nẵng Dù vậy, những công trình trên là cơ sở định hướng, tư liệu tham khảo hết sức quan trọng để bản thân tôi thực hiện thành công đề tài nghiên cứu của mình

6 Bố cục đề tài nghiên cứu:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có ba chương, 12 tiết

Trang 15

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT, Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT

1.1 Ý THỨC PHÁP LUẬT – HÌNH THÁI QUAN TRỌNG CỦA

Trong lịch sử triết học pháp luật trên thế giới, đặc biệt ở Phương Tây

có thể thấy rằng nhiều nhà tư tưởng, học giả đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về pháp luật, cụ thể như: Cicero(106 – 43tr.CN) vừa là triết gia, vừa là luật gia thời La Mã Cổ đại khẳng định pháp luật là “sự phân biệt giữa những thứ công bằng và bất công” Theo quan điểm của Cicero luật và công lý là đồng nhất và pháp luật được coi là hiện thân của công lý St Augustine – là triết gia thần học La Mã cho rằng “chỉ có luật công bằng mới là luật, còn luật bất công không phải là luật” Đối với Thomas Aquinas (1225 – 1275), triết gia thần học người Ý thì cho rằng: “Pháp luật không phải là gì khác hơn là một mệnh lệnh của lý trí vì mục tiêu tốt đẹp của cộng đồng”, có nghĩa là những gì bất hợp lý trong pháp luật sẽ không nên được xem là pháp luật John Locke (1632-1704), triết gia người Anh, cha đẻ của chủ nghĩa tự do cổ điển nói rằng “Pháp luật không là gì khác hơn chính là các giới hạn đối với cá nhân thông minh và tự do trong việc theo đuổi lợi ích hợp lý của mình, và đặt ra

Trang 16

yêu cầu không vượt quá yêu cầu đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng người chịu sự điều chỉnh của luật đó” Nói cách khác, theo John Locke, pháp luật là đường phân ranh giới tự do giữa người với người, đường ranh giới mà nếu vượt qua nó thì tự do của người này sẽ xâm phạm tới tự do của người khác và

hệ quả là con người sẽ không còn tự do Cũng theo John Locke “mục đích tối hậu của pháp luật là để tạo lập, bảo vệ và mở rộng tự do cá nhân của con người chứ không phải là để xóa bỏ hoặc hạn chế tự do cá nhân….và sẽ không

có tự do nếu không có sự hiện diện của pháp luật” Đối với Karl Marx(1818 – 1883), thì pháp luật của xã hội tư sản chẳng qua chỉ là “ý chí của các giai cấp

tư sản được nâng lên thành pháp luật áp dụng chung cho tất cả mọi người – thứ ý chí mà nội dung chủ yếu của nó do điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp tư sản quyết định”[13, Nguồn Internet]

Ở phương Đông, điển hình triết học Trung Quốc cổ đại, với tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử, ông đã dựa vào thuyết tính ác của Tuân Tử để khẳng định tính đúng đắn của chủ trương pháp trị Hàn Phi cho rằng, mặc dù có những bậc hiền nhân nhưng nhìn chung con người có bản tính ích kỷ, thích tìm điều lợi và tránh điều hại Vì thế, người ta luôn chỉ lo mưu lợi cho bản thân mình Do đó, phải căn cứ vào tâm lý “tránh hại và cầu lợi” của con người

để đặt ra pháp luật, trọng thưởng, nghiêm phạt để duy trì trật tự xã hội[1, tr.65 – tr.66] Hàn Phi cho rằng là người đầu tiên phải coi trọng ba yếu tố “Pháp – thế - thuật”, là ba yếu tố thống nhất không thể tách rời trong đường lối trị nước bằng pháp luật Theo Hàn Phi “Pháp là pháp luật và pháp luật phải được công bố cho mọi người biết để tuân theo Pháp luật phải thay đổi phù hợp với tình hình cụ thể “không có một thứ pháp luật luôn luôn đúng với thời đại” (Hàn Phi Tử, Ngũ đố) “Phép trị dân không cố định khi dùng pháp luật để trị

mà thôi” “Pháp luật mà biến chuyển được theo với thời đại thì thiên hạ sẽ trị….Thời thế thay đổi mà phép trị dân không thay đổi thì loạn” [1,tr 66]

Trang 17

Như vậy, có thể thấy sự khác biệt trong quan niệm của các nhà triết học nổi tiếng nói trên về khái niệm pháp luật Tuy là khái niệm dùng để diễn tả một hiện tượng xã hội tồn tại khách quan nhưng đã bị lăng kính chủ quan của người nhìn nhận làm cho nó khác đi Trong ngôn ngữ hiện đại ngày nay, quan niệm pháp luật đều mang tính chất chính trị của nó, pháp luật được hiểu là:“Một tập hợp các quy tắc để điều chỉnh hành vi của con người được áp dụng chung cho tất cả các thành viên trong một cộng đồng hoặc một xã hội xác định, có nguồn gốc từ chính quyền chính đáng và được thực thi bởi các cơ quan của chính quyền này thông qua việc áp dụng các chế tài phạt cho các

chủ thể có hành vi vi phạm” Hay nói cách khác, “Pháp luật là hệ thống quy

tắc xử sự do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp nắm quyền lãnh đạo xã hội nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội”[64, tr.51]

Hệ thống quy phạm pháp luật đó do nhà nước đặt ra và được nhà nước bảo đảm thực hiện, được bảo vệ bằng các biện pháp tổ chức, giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế của bộ máy nhà nước Ở nước ta, hiện nay đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do đó, các hệ thống pháp luật do Nhà nước Việt Nam – đại diện quyền lực của giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức đặt ra, thể hiện ý chí, nguyện vọng và lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, có tính chất bắt buộc chung đối với toàn xã hội nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong quá trình xây dựng

và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam XHCN

b Ý thức pháp luật:

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về ý thức pháp luật, bởi nó được nghiên cứu dưới nhiều góc độ và những cách tiếp cận khác nhau, như: Triết học, luật học hay xã hội học pháp luật Từ góc độ triết học, ý thức pháp luật được hiểu là một trong những hình thái của ý thức xã hội (ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức thẫm mỹ, ý thức tôn giáo, ý thức xã

Trang 18

hội) Ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức xã hội, ra đời từ thực tiễn đời sống xã hội và phản ánh tồn tại xã hội Ý thức xã hội xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước, phản ánh trực tiếp các quan hệ kinh tế - xã hội, mà trước hết, là những quan hệ sản xuất được thể hiện trong các luật lệ nhà nước Ý thức pháp luật xuất hiện cùng với sự xuất hiện của pháp luật, nó là sản phẩm của quá trình phát triển xã hội, chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các hệ tư tưởng, quan điểm, quan niệm trong xã hội.“Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm pháp lý tồn tại trong xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật, đối với quá trình điều chỉnh pháp luật, sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong xử sự của

cá nhân, cũng như trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, các

tổ chức xã hội”[2, tr 373, 374] Quan niệm này đã làm rõ được chủ thể ý thức pháp luật, trình độ hiểu biết đối với pháp luật và thái độ, sự đánh giá, điều chỉnh hành vi của con người theo pháp luật

Bởi lẽ, ý thức pháp luật là bộ phận của ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại xã hội từ góc độ pháp luật, thể hiện trình độ hiểu biết pháp luật và thái độ đối với pháp luật của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân trong xã hội có giai cấp Theo đó, ý thức pháp luật và pháp luật là những bộ phận của kiến trúc thượng tầng, chịu sự quy định và bị chi phối bởi các yếu tố trong cơ sở hạ tầng mà quan trọng nhất là các điều kiện kinh tế Vì thế, những nội dung của

ý thức pháp luật và những quy định của pháp luật xét đến cùng, chính là sự phản ánh đời sống hiện thực khách quan, phản ánh sự vận động, biến đổi và phát triển của đời sống mà trong đó ý thức pháp luật thể hiện ra Với tư cách

là một bộ phận của ý thức xã hội, ý thức pháp luật xuất hiện, nảy sinh trên nền tảng tồn tại xã hội nhất định Vì thế, tồn tại xã hội và ý thức pháp luật có mối quan hệ biện chứng với nhau, cụ thể:

Trang 19

Tồn tại xã hội quyết định ý thức pháp luật và ý thức pháp luật chỉ là sự phản ánh tồn tại xã hội Ý thức pháp luật phản ánh tồn tại xã hội từ góc độ pháp luật, thể hiện trình độ hiểu biết pháp luật và thái độ đối với pháp luật của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân trong xã hội có giai cấp Do đó, những nội dung của ý thức pháp luật và các quy định của pháp luật, xét đến cùng, chính

là sự phản ánh đời sống hiện thực khách quan, phản ánh sự vận động, biến đổi

và phát triển của đời sống mà trong đó ý thức pháp luật được thể hiện bằng các hành vi cụ thể C.Mác đã khẳng định :“Nhà lập pháp phải coi mình như nhà khoa học tự nhiên Ông ta không làm ra pháp luật, ông ta không phát minh ra chúng mà chỉ nêu chúng lên; ông ta biểu hiện những quy luật nội tại của những mối quan hệ tinh thần thành những đạo luật thành văn có ý thức Chúng ta sẽ phải chê trách nhà lập pháp và vô cùng tùy tiện, nếu như ông ta thay thế bản chất của sự việc bằng những điều bịa đặt của mình”[8; tr 232]

Như vậy, trong mối quan hệ với tồn tại xã hội, ý thức pháp luật là cái bị quy định Mọi sự vận động, biến đổi và phát triển của ý thức pháp luật đều có căn nguyên từ những thay đổi, vận động và phát triển của đời sống xã hội Và, mặc dù là cái ổn định hơn so với sự biến động của đời sống xã hội, nhưng cuối cùng dù sớm hay muộn, ý thức pháp luật cũng phải thay đổi theo sự biến đổi của xã hội C.Mác nói: “Một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của các cuộc cải cách xã hội tách biệt với pháp luật Một khi pháp luật bị đặt

ra ngoài các quá trình biến đổi xã hội, hoặc bị hạ thấp hay phớt lờ thì tất yếu các cải cách ấy hoặc là mang tính nữa vời, thậm chí chết yểu, hoặc là gây nên những đảo lộn nghiêm trọng đối với đời sống xã hội, xô đẩy xã hội vào những nguy cơ khủng hoảng” [10; tr 254]

Tuy nhiên, ý thức pháp luật cũng có tính độc lập tương đối của nó, biểu hiện như sau:

Trang 20

Thứ nhất, ý thức pháp luật thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội Bởi mỗi kiểu nhà nước và pháp luật tương ứng với một kiểu phương thức sản xuất

đã không còn, nhưng ý thức pháp luật của nó vẫn có thể tồn tại lâu dài trong tồn tại xã hội mới Hay nói cách khác, tồn tại xã hội cũ mất đi nhưng ý thức

xã hội nói chung trong đó có ý thức pháp luật do nó sinh ra vẫn còn tồn tại dai dẳng trong một thời gian dài Ví dụ như, những biểu hiện của tư tưởng, tâm lý pháp luật phong kiến nhưng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước

ta hiện nay vẫn tồn tại các quan niệm “phép vua thua lệ làng”, sự thờ ơ phủ nhận đối với pháp luật nên vẫn duy trì quan niệm “Một người làm quan cả họ được nhờ”, “Con vua thì lại làm vua ” Chính những quan niệm như thế đã kìm hãm sự phát triển của xã hội, làm cho ý thức của một bộ phận dân cư không theo kịp sự phát triển của tồn tại xã hội

Thứ hai, do tính mục đích của sự phản ánh đối với hiện thực khách

quan, nên trong ý thức pháp luật có thể tồn tại cả những quan niệm, quan điểm pháp luật vượt lên trước sự phát triển tồn tại xã hội, có tính chất định hướng cho sự phát triển xã hội Đây là bộ phận ý thức pháp luật có tính tiên phong, là mầm mống, định hướng cho sự hình thành ý thức pháp luật trong tương lai Đặc biệt là tư tưởng pháp luật khoa học, có thể vượt lên sự phát triển của tồn tại xã hội

Thứ ba, ý thức pháp luật phản ánh tồn tại xã hội trên cơ sở kế thừa các

yếu tố nhất định của ý thức pháp luật thời đại trước đó Nếu kế thừa những yếu tố tiến bộ tạo điều kiện cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật

có hiệu quả và ngược lại, sẽ cản trở những yếu tố tích cực trong xã hội

Thứ tư, ý thức pháp luật tác động trở lại tồn tại xã hội và tác động qua

lại với các hình thái ý thức xã hội khác như: ý thức chính trị, ý thức đạo đức,

ý thức tôn giáo và các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng pháp lý như: Nhà

Trang 21

nước, pháp luật Sự tác động có thể tích cực và có thể tiêu cực tùy vào từng hiện tượng, vấn đề cụ thể và từng giai đoạn lịch sử nhất định

1.1.2 Các loại ý thức pháp luật và cấp độ biểu hiện của ý thức pháp luật

a Các loại ý thức pháp luật

Trong đời sống xã hội, mỗi người một trình độ nhận thức, cách nhận định vấn đề, quan điểm sống, lập trường, lý tưởng và mục đích phấn đấu khác nhau, làm cho xã hội phức tạp, đa dạng và ý thức của mỗi người hoàn toàn khác nhau Tùy vào cấp độ, giới hạn nhận thức và các căn cứ khoa học có 3 loại ý thức pháp luật, cụ thể:

Một là, ý thức pháp luật thông thường: phản ánh mối liên hệ bên ngoài

ở mức độ cần thiết cho cuộc sống thường nhật của các tổ chức và cá nhân Đa

số người dân đều có ý thức pháp luật phổ thông, đó là những tri thức pháp luật thông thường, phổ biến trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của con người Chẳng hạn như: Khi lưu thông trên đường thì họ biết là phải đi về phía tay phải, đi đúng làn đường quy định, phải đội mũ bảo hiểm khi điều khiển hoặc ngồi trên xe máy…Trong cuộc sống sinh hoạt thường nhật, thì họ biết các quyền và nghĩa vụ của bản thân, như được làm gì, phải làm gì và không được làm gì? Những kiến thức pháp luật phổ thông đó thường không có tính

ổn định vì khi người ta nhận thức vấn đề tốt thì có hành động tốt và ngược lại nhận thức hạn chế hoặc không có hiểu biết về pháp luật thì thường có những hành vi vi phạm các quy định của pháp luật Điều này sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội

Hai là, ý thức pháp luật lý luận: phản ánh sâu sắc, đầy đủ mối liên hệ bên trong, bản chất, vai trò, cơ chế điều chỉnh của pháp luật Đây là ý thức pháp luật của các chuyên gia pháp lý, các nhà khoa học, những người có thẩm quyền ban hành và áp dụng pháp luật Vì vậy mà có tính khoa học và ổn định

Trang 22

rất cao, nó là những quan điểm lý luận cơ bản về nhận thức bản chất, vai trò giá trị xã hội của pháp luật phù hợp với tri thức chung của xã hội Ví dụ như: qua thực tiễn các vụ tai nạn giao thông đường bộ thường gây ra hậu quả là chấn thương sọ não dẫn đến chết người hoặc làm tê liệt toàn thân mà y học gọi là sống đời sống thực vật (sống mà như chết) Chính vì điều đó, để đảm bảo an toàn tính mạng cho con người, pháp luật quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi ngồi hoặc điều khiển xe gắn máy…

Ba là, ý thức pháp luật nghề nghiệp: là ý thức có tính chuyên biệt rất sâu theo từng lĩnh vực nghề nghiệp đặc biệt là của những người làm nghề luật Đây là bộ phận ý thức pháp luật sử dụng pháp luật như là phương tiện hành nghề

Căn cứ vào chủ thể pháp luật có 3 loại ý thức pháp luật, cụ thể:

- Ý thức pháp luật cá nhân: đó là các quan điểm, tư tưởng, tình cảm, tâm lý, thái độ của từng con người cụ thể đối với pháp luật và chịu sự tác động của hoàn cảnh, điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và khả năng của từng người

- Ý thức pháp luật nhóm: gồm những quan điểm, tư tưởng, tình cảm của một nhóm xã hội nhất định về pháp luật

- Ý thức pháp luật xã hội: là ý thức pháp luật của một bộ phận cầm quyền trong xã hội, đại diện cho cả xã hội, chứa đựng các tư tưởng, quan điểm pháp lý về vấn đề cơ bản nhất của pháp luật và thường được thể hiện trong nội dung pháp luật của đất nước [22; tr 32- tr 34]

b Các cấp độ biểu hiện của ý thức pháp luật:

Ý thức pháp luật là cơ sở hình thành văn hóa pháp lý của chủ thể pháp luật, tạo cho chủ thể có khả năng và kỹ năng sử dụng cơ chế điều chỉnh pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bản thân mình, cho Nhà nước và cho xã hội, nhằm xử sự đúng đắn và phù hợp trong các mối quan hệ Do đó, ý

Trang 23

thức pháp luật được tạo nên bởi hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật, cụ thể:

Thứ nhất, Tư tưởng pháp luật là toàn bộ những tư tưởng, quan điểm và

học thuyết về pháp luật còn được gọi là nhận thức pháp lý, bao gồm các tri thức của con người về pháp luật, các hiện tượng liên quan đến pháp luật và quá trình điều chỉnh pháp luật…được khái quát hóa thành lý luận, học thuyết

về nhà nước và pháp luật Tư tưởng pháp luật là kết quả của sự phản ánh một cách tự giác, có mục đích, có tính tổ chức cao của các hoạt động tư duy lý luận Chính vì vậy, mà tư tưởng pháp luật là bộ phận chủ yếu của ý thức pháp luật, được hình thành một cách tự giác, phản ánh tồn tại xã hội một cách sâu sắc, khách quan mang tính hệ thống và khoa học có tác dụng soi sáng, định hướng cho tâm lý pháp luật Những chủ thể có tri thức pháp luật cao sẽ có khả năng nhận thức pháp luật chính xác và có ý thức tuân thủ tốt các quy định của pháp luật Ví dụ như: khi lưu thông trên đường theo quy định của luật giao thông đường bộ Việt Nam đi về bên tay phải, đi đúng làn đường quy định, tuân thủ tín hiệu giao thông…sẽ góp phần đảm bảo an toàn cho bản thân mình, với những người xung quanh và toàn xã hội Bởi hạt nhân của tư tưởng pháp luật là những tri thức pháp luật (sự nhận thức, hiểu biết khoa học và nắm bắt các quy định pháp luật) được biểu hiện thông qua hành vi, hành động của con người trong cuộc sống Trong đời sống xã hội, tri thức pháp luật giữ vai trò vô cùng quan trọng đặc biệt đối với mỗi cá nhân, đó là yếu tố tạo thành nhân cách, năng lực và trình độ hiểu biết, đối với xã hội có tác dụng phát huy sức mạnh và năng lực sáng tạo của mỗi thành viên, đối với quốc gia là động lực thúc đẩy tiến bộ xã hội

Ở Việt Nam, các tư tưởng pháp luật là sự kế thừa và kết hợp hài hòa của nhiều quan niệm, quan điểm pháp luật khác nhau Bao gồm các quan niệm, quan điểm pháp luật dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư

Trang 24

tưởng Hồ Chí Minh được củng cố và phát triển, các quan điểm pháp luật tiến

bộ của các đối tác trong quan hệ song phương, đa phương và với quốc tế lẫn các quan niệm quan điểm vẫn còn tồn tại làm cho tư tưởng pháp luật Việt Nam thêm phong phú, đa dạng Vì vậy, trong quá trình củng cố, phát triển các

tư tưởng pháp luật của đất nước cần phải: “Tiếp tục đổi mới tư duy, tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời làm sáng tỏ hơn những vấn đề bức xúc về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về Đảng cầm quyền và công tác xây dựng Đảng; về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; về tổ chức và hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân…”[18; tr 58, 59]

Phấn đấu xây dựng và phát triển các quan niệm, quan điểm pháp luật ở Việt Nam trở thành một hệ tư tưởng pháp luật tiên tiến, phù hợp nhất với điều kiện phát triển của đất nước trong quá trình hội nhập xu thế quốc tế hóa toàn cầu, nhằm: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế”[18; tr 59]

Thứ hai, tâm lý pháp luật là sự phản ánh những tâm trạng, cảm xúc, thái

độ, tình cảm đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý cụ thể khác Tâm lý pháp luật bị chi phối bởi hệ tư tưởng pháp luật, nó phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm và trình độ nhận thức lý luận của cá nhân Nhưng đồng thời cũng là tiền đề thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển các quan điểm, tư tưởng pháp luật phù hợp Tâm lý pháp luật có ảnh hưởng rất lớn tới việc thực hiện hành vi pháp luật hợp pháp của chủ thể và góp phần nâng cao phẩm giá, nhân cách con người, từ đó hình thành trách nhiệm của mỗi người với bản thân, với gia đình và với quê hương đất nước Bởi tâm lý pháp luật chứa đựng trong nó những rung động về tâm hồn của con người, điều chỉnh hành vi bằng niềm

Trang 25

tin, sự hiểu biết, sự trân trọng hay thù hằn, định kiến, ác cảm….đối với pháp luật, quá trình điều chỉnh pháp luật do ảnh hưởng của những giao tiếp trong đời sống thực tiễn xã hội

Ở nước ta trong thời gian qua, chưa quan tâm đúng mức vai trò quan trọng của tâm lý pháp luật, chúng ta chủ yếu tập trung vào xây dựng hệ tư tưởng pháp luật mà chưa thật sự chú ý tới việc củng cố, định hướng để hình thành thái độ, tình cảm pháp luật đúng đắn trong đời sống xã hội Do đó, mà tâm lý pháp luật ở nước ta diễn biến khá phức tạp, biểu hiện một bộ phận không nhỏ dân cư chưa có thói quen sống và làm việc theo pháp luật, thậm chí xem nhẹ hay coi pháp luật chỉ là sự trói buộc hành vi của con người và tìm mọi cách để trốn tranh, không tuân thủ các quy định của pháp luật trên mọi lĩnh vực của đời sống, đặc biệt là vi phạm các quy định của pháp luật giao thông đường bộ biểu hiện: trên những đoạn đường, tuyến đường không có Cảnh sát giao thông cắm chốt thì chúng ta dễ dàng thấy tận mắt thấy những hành vi vi phạm Luật ATGT như không đội mũ bảo hiểm khi điều khiển hay ngồi trên xe máy, vượt đèn đỏ, điều khiển xe máy chưa đủ tuổi theo luật định chủ yếu là học sinh, đi ngược chiều, không đi đúng làn đường quy định, chở quá số người quy định, vừa điều khiển phương tiện giao thông vừa nghe điện thoại hay mang tai phôn khi điều khiển xe máy… Tất cả những hành vi đó nhằm thõa mãn trạng thái tâm lý “không ai làm được gì mình” hoặc “để thể hiện mình trước mọi người” [22, tr 67]

Vì vậy, việc thay đổi những tình cảm, thái độ pháp lý không phù hợp nhằm tạo dựng, củng cố tâm lý pháp luật đúng đắn là việc làm hết sức khó khăn ở nước ta hiện nay Bởi tính chất bền vững của tâm lý trong ý thức của mỗi con người Muốn làm được điều đó, phải kiên trì, không ngừng nâng cao

ý thức pháp luật, điều chỉnh hành vi của con người theo đúng quy định của pháp luật

Trang 26

1.2 VAI TRÒ CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT TRONG ĐỜI SỐNG

XÃ HỘI

1.2.1 Ý thức pháp luật với sự tồn tại và phát triển của xã hội

Ý thức pháp luật ra đời từ những điều kiện xã hội nhất định, phản ánh nhu cầu điều chỉnh cũng như quá trình điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ xã hội Vì vậy, ý thức xã hội nói chung và ý thức pháp luật nói riêng

có vai trò to lớn đối với quá trình vận động và phá triển của xã hội Trong đời sống pháp lý, ý thức pháp luật giúp chủ thể thực hiện đúng các quy định pháp luật, tránh được các hành động thiếu suy nghĩ, đi ngược với lợi ích chung của

xã hội Đối với mỗi cá nhân cụ thể, ý thức pháp luật là nhân tố quan trọng góp phần tạo thành nhân cách, phẩm giá, năng lực và trình độ của con người Đối với tập thể, ý thức pháp luật tạo nên sự đoàn kết, gắn bó trong quan hệ giữa người với người Đối với quốc gia, ý thức pháp luật của nhân dân trở thành động lực thúc đẩy tiến bộ xã hội, biểu hiện:

Thứ nhất, ý thức pháp luật trong đời sống kinh tế: Ý thức pháp luật góp

phần thúc đẩy đời sống kinh tế phát triển Bởi ý thức pháp luật là tiền đề trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhà nước Đồng thời pháp luật là công cụ pháp lý kinh tế của đất nước thông qua việc thể chế hóa các chính sách, kế hoạch phát triển thành hệ thống quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế đạt hiệu quả Vì vậy, ý thức pháp luật được nâng cao sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật để điều chỉnh phù hợp với các quan hệ kinh tế Do đó, nhà nước với tư cách là người trực tiếp sáng tạo pháp luật, trước hết phải nhận thức được những đòi hỏi khách quan của đời sống kinh tế - xã hội Thực tiễn, những yêu cầu đặt ra trong quá trình phát triển của kinh tế để phản ánh kịp thời vào hệ thống pháp luật Nhờ hệ thống pháp luật, các chủ thể kinh tế được đảm bảo quyền tự do và lợi ích hợp pháp, đồng thời họ cũng xác định được nghĩa vụ và quyền hạn của mình trong

Trang 27

mọi mặt của đời sống Chẳng hạn, khi lưu thông trên đường mà tất cả mọi người đều ý thức được rằng, việc tuân thủ theo đúng các quy định Luật giao thông đường bộ là không chỉ đảm bảo an toàn cho tính mạng của bản thân mình mà còn đảm bảo an toàn tính mạng cho người khác và toàn xã hội, góp phần giảm thiểu thương vong do tai nạn giao thông gây ra Và tất cả những điều nói trên cần phải có ý thức tự giác, tích cực tuân thủ pháp luật của các chủ thể khi tham gia giao thong góp phần xây dựng văn hóa giao thông

Thứ hai, ý thức pháp luật trong đời sống chính trị: Giữ vị trí quan

trọng là bộ phận ý thức xã hội chủ đạo trong hệ thống ý thức xã hội Ý thức pháp luật giúp con người có khả năng nhận thức, đánh giá về đời sống pháp luật với các vấn đề như tình trạng pháp chế, công tác tổ chức áp dụng và thi hành pháp luật của các cơ quan nhà nước, tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi của cá nhân, sự công bằng trong việc áp dụng pháp luật đối với các cơ quan tổ chức xã hội

Ý thức pháp luật và hành vi pháp luật của cán bộ công chức có ảnh hưởng rất lớn đến bộ phận dân cư , chỉ cần một hành vi rất nhỏ để mưu cầu lợi ích cá nhân của cán bộ công chức sẽ làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào chế độ, vào nhà nước Vì vậy, những hành vi tiêu cực trong lĩnh vực giao thông đường bộ như: nạn mãi lộ, bảo kê, quen biết….đặc biệt phê phán, lên

án kịch liệt, xử lý theo đúng quy định của pháp luật và ngược lại, nếu đội ngũ cán bộ công chức có ý thức cao, có thái độ tôn trọng pháp luật và có hành vi tích cực chấp hành pháp luật thì sẽ tác động rất tốt đến đời sống góp phần duy trì trật tự, kỷ cương xã hội

Thứ ba, ý thức pháp luật trong đời sống văn hóa – tư tưởng: Ý thức

pháp luật luôn có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các hình thái ý thức xã hội khác Những quan điểm tư tưởng pháp luật tiến bộ, khoa học góp phần củng cố, phát huy nhân tố tích cực ở các hình thái ý thức xã hội khác, đồng thời khắc

Trang 28

phục những quan niệm không phù hợp, ảnh hưởng xấu đến lợi ích của các giai cấp, đến đời sống của cộng đồng và tiến bộ xã hội Ý thức pháp luật quyết định hiệu quả việc thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống Ý thức pháp luật là cơ sở văn hóa của con người khi con người có ý thức tôn trọng nhau thông qua việc nghiêm chỉnh chấp hành, tuân thủ pháp luật

Ý thức pháp luật được xem là điều kiện quan trọng, tiền đề tư tưởng trực tiếp cho việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật Ý thức pháp luật cao là điều kiện để việc biên soạn, ban hành pháp luật được tiến hành nhanh chóng và thuận lợi Nếu có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về tình hình kinh tế - xã hội, xác định đúng những quan hệ xã hội cơ bản cần có

sự điều chỉnh của pháp luật, có quy trình và kỹ thuật lập pháp khoa học, phù hợp thì hệ thống pháp luật của đất nước sẽ được hoàn thiện

Tóm lại, ý thức pháp luật có vai trò to lớn trong đời sống Song, để phát huy tối đa các vai trò đó của ý thức pháp luật, chúng ta cần phải nâng cao ý thức pháp luật của mọi tầng lớp dân cư Đặc biệt trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

1.2.2 Ý thức pháp luật với sự hình thành nhân cách con người

Chúng ta biết rằng, nhân cách là những phẩm chất mang tính đặc trưng của mỗi cá nhân được biểu hiện ra bên ngoài thông qua những hành vi cụ thể của chủ thể Bởi con người luôn luôn tự chủ và ý thức được hành động của mình, và mỗi một hành vi của con người klhi tham gia vào đời sống thực tiễn đều thể hiện quy mô và năng lực tư duy của mình Qúa trình hình thành và phát triển nhân cách là một quá trình lâu dài, đầy biến động phức tạp của con người Nhân cách chính là thước đo của quá trình nhận thức của con người khi hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng Trong quá trình đó, ý thức pháp luật

có tác dụng điều chỉnh hành vi con người thông qua yếu tố tư tưởng, tâm lý Bởi hành vi pháp lý của con người bao giờ cũng cần đến tư duy nhận thức và

Trang 29

xây dựng pháp luật Sức mạnh điều chỉnh ý thức pháp luật là sức mạnh tiềm

ẩn trong trong nội tâm con người Đó là sức mạnh của lý trí, tình cảm có trong con người Thực tế, người có ý thức pháp luật đúng đắn, tiến bộ cũng sẽ là người có hành vi chuẩn mực trong cuộc sống, ngược lại người có ý thức pháp luật hạn chế thì thường có những hành vi nông cạn, vi phạm đến các quy định của pháp luật, gây mất trật tự xã hội

Như vậy, ý thức pháp luật là một trong những nhân tố giúp chủ thể tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với các quy định pháp luật Bởi hành vi của chủ thể vừa là hệ quả, vừa là thước đo đối với ý thức pháp luật

Và các giá trị mà ý thức pháp luật đem lại trong hoạt động thực hiện pháp luật

là biến tính bắt buộc của pháp luật thành tính tự giác, tự nguyện thực hiện pháp luật của mọi người Một xã hội ổn định, có kỷ cương phải là một xã hội

mà trong đó có những con người với những nhân cách hoàn thiện, ý thức pháp luật cao và mọi tầng lớp dân cư đều ý thức được rằng, tự do và lợi ích chính đáng của mình được đảm bảo bằng sự tôn trọng tự do và lợi ích chính đáng của người khác Tôn trọng và thực hiện đúng các quy định của pháp luật nhằm tăng cường sự hiểu biết pháp luật, tạo năng lực đánh giá đúng đắn các hành vi trong xã hội Thực tế, nhiều người dân chưa có nhận thức đúng và đầy

đủ về pháp luật, họ chỉ thực sự quan tâm đến khi lợi ích của bản than bị xâm phạm hoặc bản thân họ đã có hành vi vi phạm pháp luật và muôn sử dụng chính nó để làm giảm nhẹ tội cho mình Một bộ phận nhân dân vì kém hiểu biết nên vi phạm pháp luật, họ thường có tâm lý thờ ơ, lãnh đạm thậm chí coi thường pháp luật, vi phạm các quy định của pháp luật đặc biệt vi phạm các quy định Luật giao thông đường bộ, ví dụ như: Mặc dù biết rằng vượt đèn đỏ

là vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính và nó cũng rất nguy hiểm cho tính mạng của bản thân và những người đang tham gia giao thong nhưng họ cứ vô tư vi phạm nhiều lúc còn cho rằng đó là hành vi thể hiện bản lĩnh hơn người Rồi

Trang 30

những hành vi vừa điều khiển phương tiện giao thong vừa nghe điện thoại, vừa nghe nhạc, vừa hút thuốc lá…đó là những hành vi kém văn hóa ảnh hưởng đến nếp sống văn hóa, văn minh đô thị hiện nay

1.3 NHỮNG NHẬN THỨC CÓ BẢN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VÀ GIÁO DỤC Ý THỨC CÔNG DÂN TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG

1.3.1 Giáo dục và giáo dục pháp luật

a Giáo dục là gì?

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên Lúc đầu, những tri thức về giáo dục được hình thành trong lĩnh vực Triết học, được xem là một bộ phận của Triết học, với những quan niệm của các nhà triết học trong lịch sử, như: Socrate (469 – 399 trước CN)

có quan niệm“Hãy nhận thức chính mình”, đồng thời ông đề cao vai trò của tri thức đối với hành vi đạo đức, ông nói “Đức hạnh là tri thức” và một người

có nhận thức đúng đắn thì không thể làm điều ác được Theo Socrates “Biết điều thiện thì sẽ làm điều thiện”[1; tr 97]; Platon(427 – 348 trước CN) trong

tác phẩm“Nhà nước cộng hòa” ông cho rằng nhà cai trị xã hội phải được đào

tạo từ bé, được tuyển chọn theo năng lực từ đẳng cấp nhà triết học, như vậy ông cũng đã coi trọng giáo dục; Aristote (348 – 322 trước CN) là người đầu tiên đã xây dựng học thuyết về hình thức căn bản của tư duy: đó là các khái niệm, phạm trù, quy luật Ông là người đặt nền tảng cho tam đoạn luận – hình thức suy luận trong đó có ba phán đoán gồm hai tiền đề và một kết luận Ở phương Đông, tư tưởng giáo dục của Khổng Tử đã có những đóng góp quý báu vào kho tàng lý luận giáo dục của dân tộc Trung Hoa nói riêng và kho

Trang 31

tàng giáo dục của nhân loại nói chung Những tư tưởng giáo dục trong giai đoạn này đã được xuất hiện và tập trung đậm nét trong các quan điểm triết học [53; tr 17 – tr 18]

Đến thời Văn hóa Phục hưng, những người có công lớn trong việc làm phong phú những tư tưởng giáo dục như nhà văn Pháp Rabơle (1494–1555), nhà hoạt động chính trị và nhà tư tưởng Anh Thomas Mor(1478 – 1535), nhà triết học Italia Kampanella(1562 – 1659) Mặc dù phát triển mạnh và sớm như vậy, nhưng phải đến thế kỷ XVII với tác phẩm “Về giá trị và sự gia tăng của khoa học” của nhà triết học người Anh - Becơn vào năm 1623 và đến những công trình nghiên cứu đồ sộ về giáo dục, về xã hội, về triết học,… của Cômenki(1592 – 1670) thì giáo dục học mới được tách ra thành khoa học độc lập Những tư tưởng lớn về lý luận dạy học của Cômenki được trình bày trong

tác phẩm nổi tiếng “Lý luận dạy học vĩ đại” viết năm 1632 Bằng quan điểm

giáo dục mới mẻ, khoa học, cuốn sách này đã ra đời cùng với sự ra đời và

phát triển của một ngành khoa học mới, đó là “Giáo dục học”.[53; tr 18]

Như vậy, trong lịch sử, giáo dục xuất hiện như một hiện tượng tự phát, đơn giản, nhưng khi hoạt động của con người có ý thức, mục đích thì giáo dục trở thành hoạt động được tổ chức đặc biệt chỉ có ở xã hội loài người Giáo dục cũng là một hình thái ý thức xã hội, là sự truyền đạt và tiếp thu kinh nghiệm lịch sử của các thế hệ Giáo dục có mối quan hệ biện chứng với các hình thái

ý thức xã hội khác và với hạ tầng cơ sở, vì vậy mà giáo dục có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống con người Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”[37; tr 103] và trong toàn bộ di sản

tư tưởng giáo dục của Bác, vấn đề cơ bản nhất, nổi bật nhất là vấn đề xây dựng và hoàn thiện con người thông qua hoạt động giáo dục và tự giáo dục Người từng nói:“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những

con người xã hội chủ nghĩa”[37; tr 111] và“Vì lợi ích mười năm thì phải

Trang 32

trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”[37; tr 44] Sự vận động

phát triển khách quan của đất nước tất yếu đòi hỏi nền giáo dục phải đem lại một chất lượng mới cho từng con người, cho cả dân tộc Người nói:“Mọi người Việt Nam phải hiểu quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”, và phải

“Đào tạo các em nên những công dân hữu ích cho nước Việt Nam”[37; tr

220] Do đó, phát triển giáo dục trở thành quốc sách hàng đầu, được thể hiện

trong chiến lược phát triển đất nước trong chính sách của các quốc gia Ở Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục được xem là khuôn mẫu, là nền tảng

tư tưởng, kim chỉ nam cho ngành Giáo dục – Đào tạo nước nhà Trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị quyết Trung ương II (Khóa VIII) và nghị quyết Đại hội IX viết: Giáo dục là quốc sách hàng đầu, giáo dục và đào tạo là

sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và toàn dân, mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời Đó là quan điểm mang tính hiện đại và sâu sắc[37; tr 130]

b Giáo dục pháp luật:

Sống trong cộng đồng xã hội, con người sinh ra và lớn lên phải tiếp

nhận và xử lý các mối quan hệ thông qua sự tác động đa chiều (từ nhiều phía) với nhiều cấp độ khác nhau Để xử lý các mối quan hệ đó, con người phải sử dụng nhiều loại quy phạm, trong đó các quy phạm pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng trong điều chỉnh hành vi của con người Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, pháp luật được coi là phương tiện hữu hiệu để mọi công dân thực hiện quyền làm chủ của mình và là phương tiện để nhân dân tham gia vào lao động, quản lý của nhà nước mà trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ: “Tăng cường pháp chế, xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục nâng cao đạo đức”.[16; tr 45]

Trang 33

Giáo dục pháp luật là một trong những nội dung quan trọng của nền pháp chế xã hội chủ nghĩa Bởi, giáo dục pháp luật là sự tác động một cách

có tổ chức theo một hệ thống và có mục đích rõ rệt lên mỗi thành viên của xã hội, nhằm hình thành một cách bền vững ý thức pháp luật và những thói quen tích cực trong mọi hành vi xử thế của con người trong cuộc sống cộng đồng

Mục tiêu cơ bản của giáo dục pháp luật, đó là sự hình thành ở mỗi thành viên xã hội ý thức pháp luật Do vậy, trong giai đoạn hiện nay, giáo dục pháp luật cho mọi cá nhân trong xã hội, đặc biệt với người chưa thành niên là một tất yếu khách quan Bởi hành vi của con người là hoạt động có ý thức Vì vậy, phải xây dựng thói quen chấp hành pháp luật và mọi quy tắc của cuộc sống xã hội cho thế hệ trẻ Trang bị những kiến thức pháp luật cần thiết, giúp

họ hiểu đầy đủ, chính xác và khoa học về pháp luật Bởi thế hệ trẻ là bộ phận năng động nhất của xã hội, họ là lực lượng có năng lực trí tuệ dồi dào, ý chí, cảm xúc cuộc sống mãnh liệt, nhưng ở một số ít lại thường hay bồng bột, thiếu chín chắn, dễ ngã theo luồng thông tin không chính xác hoặc đi ngược lại quy định chung của xã hội [39; tr 62, tr 63] Vì vậy, lúc này pháp luật trở thành tác nhân điều hòa, định hướng cho nhận thức của thế hệ trẻ, và là thước

đo để họ tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với quy định chung của

xã hội

Thực tế, hiệu quả của giáo dục pháp luật đối với lứa tuổi học sinh chỉ

có kết quả khi quá trình giáo dục được tiến hành lồng ghép giữa giáo dục pháp luật với giáo dục chính trị Bởi sự giác ngộ về chính trị, ý thức chính trị

là cơ sở, nền tảng để công dân tương lai ý thức tự giác tuân thủ pháp luật Giáo dục pháp luật là quá trình làm cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật nắm vững và tham gia vào quá trình thực hiện các mục tiêu chính trị thông qua việc tuân thủ các quy định của pháp luật, là quá trình tác động nhằm biến sự giác ngộ chính trị thành ý thức tuân thủ pháp luật của chủ thể

Trang 34

1.3.2 Khái niệm ý thức công dân và nội dung giáo dục ý thức công dân

a Ý thức công dân là gì?

Nhìn từ góc độ Triết học, ngay từ thời kỳ Hi Lạp Cổ đại, khái niệm

“Công dân” được hiểu là người đàn ông tự do, là thành viên của một chế độ

chính trị và có đủ phẩm chất mà chính thể đó yêu cầu Trong thời kỳ Trung

cổ, lại được dùng để chỉ những người dân sống trong các pháo đài ở các thành thị, những người hoạt động sản xuất thủ công và buôn bán phường hội Nhà Triết học Socrates cho rằng: “Hoạt động chính trị không phải là công việc của mọi công dân, mà chỉ là công việc của các nhà triết học”, Arixtôt coi đức hạnh của công dân là công bằng và tình bạn Đến thế kỷ XVII trong học thuyết của mình nhà Triết học chính trị người Anh - Locke cho rằng, về bản tính tự nhiên thì các công dân của nhà nước đều tự do và bình đẳng và cần phải tạo ra các khuôn khổ pháp lý để đảm bảo sự thực thi pháp luật, cũng như đảm bảo cho việc các quyết định chính trị không đi ngược lại hệ thống pháp luật, chống lại nền dân chủ Chính nhờ các khuôn khổ ấy mà công dân biết được chính phủ hạn chế lợi ích của xã hội đến mức nào Đối với Rousseau thì quan niệm, phẩm chất của công dân là kết quả của khế ước xã hội và đặc biệt trong khái niệm công dân Rousseau đã làm rõ mối liên hệ nội tại giữa quyền của các công dân và việc họ tham gia vào một cộng đồng chính trị nhất định với tư cách là thành viên tự do và bình đẳng Ông đã nhấn mạnh đến vai trò của văn hóa chính trị đối với sự phát triển ý thức công dân Nhà Triết học

người Đức - Immanuel Kant định nghĩa: “Công dân là thành viên của một

cộng đồng liên kết với nhau thành xã hội”, theo Kant đặc điểm cơ bản của công dân là sự tự do, bình đẳng giữa tuân thủ chuẩn tắc pháp lý do một cộng đồng xác lập và sự tự chủ của chính họ trong các công việc pháp lý, ông cho

rằng có hai loại công dân đó là “công dân tích cực” và “công dân thụ động”

và mỗi công dân đều có khả năng chuyển từ trạng thái “thụ động” sang trạng

Trang 35

thái cao hơn là trạng thái “tích cực”, tất cả mọi thành viên xã hội phải từ bỏ

quyền tự do bề ngoài để trở thành thành viên của một “chế độ chung”, tức là thành viên của nhà nước[78; Nguồn Internet] Đến C.Mác tiến hành nghiên cứu nội dung ý thức công dân từ những mâu thuẫn của “xã hội công dân” với

tư cách là xã hội có giai cấp đối kháng, C.Mác và F.Ăngghen đã phê phán

mạnh mẽ cách hiểu “xã hội công dân” theo quan điểm cũ Trong Hệ tư tưởng

Đức các ông viết: “Xã hội công dân bao trùm toàn bộ sự giao tiếp vật chất của

các cá nhân trong một giai đoạn phát triển nhất định của lực lượng sản xuất

Nó bao trùm toàn bộ đời sống thương nghiệp và công nghiệp trong giai đoạn

đó và do đó, vượt ra ngoài phạm vi quốc gia và dân tộc, mặc dù, về đối ngoại

nó vẫn phải hiện ra như là một dân tộc và về đối nội nó vẫn phải tự tổ chức thành một nhà nước Thuật ngữ “xã hội công dân” xuất hiện trong thế kỷ XVIII khi những quan hệ sở hữu thoát khỏi thể cộng đồng cổ đại và trung cổ”[9; tr 52]

Ngày nay, cùng với quá trình toàn cầu hóa, vấn đề đặt ra là xu hướng nào sẽ nổi trội hơn trong tương lai, đó là xu hướng “công dân thế giới”, “công dân toàn cầu” hay “công dân quốc gia – dân tộc”, rồi các vấn đề như trách nhiệm chính trị công dân, mối quan hệ giữa công dân với môi trường kinh tế -

xã hội, vấn đề về bản sắc văn hóa của công dân…Đã rất nhiều học giả phương Tây đã lên tiếng cảnh báo về nguy cơ đe dọa phá hủy đạo đức công dân bởi tiền bạc, sự tiêu dùng, sùng bái hàng hóa, bởi lối sống hưởng thụ đang gia tăng cùng với sự phát triển của hợp tác kinh tế và toàn cầu hóa [78; Nguồn Internet] Đó là lối sống thụ động, thích hưởng thụ , sự thờ ơ với những người xung quanh và với bản thân mình trước những biến động của xã hội

Ở nước ta trong thời kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định cụ thể trong

Trang 36

Hiến pháp và pháp luật, được khẳng định trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI:

“Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người Quyền

và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân…”[18; tr 59]

Như vậy, ý thức công dân là một phạm trù tinh thần, nói lên trình độ nhận thức về quyền và nghĩa vụ của người dân đối với nhà nước và được thể hiện bằng nhận thức và hành vi cụ thể trong cuộc sống của mỗi người.Ý thức công dân là một sản phẩm tinh thần, được hình thành nhờ có giáo dục và sự từng trải của từng cá nhân trong hoạt động thực tiễn lâu dài, đó chính là một phẩm chất quan trọng của nhân cách [53; tr 153]

b Nội dung giáo dục ý thức công dân

Đó là giáo dục ý thức chính trị, ý thức pháp luật và ý thức đạo đức Bởi

vì, cả ý thức chính trị, ý thức pháp luật và ý thức đạo đức là hình thái của ý thức xã hội Trong đó, ý thức chính trị là ý thức về quyền lợi giai cấp, về sự tồn vong và giàu mạnh của đất nước, về vai trò của đất nước trong quan hệ với các quốc gia trên thế giới Ý thức pháp luật là hệ thống quan niệm về quyền lợi, nghĩa vụ của công dân trong xã hội, trên cơ sở của những quy tắc

đã được xã hội thừa nhận, thể hiện tính hợp pháp hay không hợp pháp của các hành vi cá nhân Ý thức pháp luật là sản phẩm của giáo dục và sự tự nhận thức của cá nhân về pháp luật và nó được thể hiện bằng hành vi của mỗi công dân trong việc chấp hành luật pháp nhà nước Còn ý thức đạo đức là ý thức của cá nhân về mục đích cuộc sống và mối quan hệ của cá nhân trong xã hội

Ý thức đạo đức được biểu hiện chính trong cuộc sống của con người ở cả ba mặt: nhận thức, tình cảm và hành vi đạo đức

Trang 37

Đặc biệt trong nhà trường phổ thông, cần phải phối hợp và liên kết chặt chẽ giữa giáo dục ý thức chính trị với ý thức pháp luật và đạo đức nhằm hình thành ở học sinh những thái độ, quan điểm, lý tưởng, mục đích sống phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước Những học sinh tốt sẽ là những công dân gương mẫu trong tương lai, còn là hạt nhân góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Chúng ta biết rằng một quốc gia hùng mạnh là quốc gia có nền giáo dục phát triển và ý thức của người dân được nâng cao

và rất tốt trong việc thực hiện các quy định của pháp luật, thực hiện hành vi phù hợp với các chuẩn mực đạo đức tiến bộ, có lý tưởng sống rõ ràng, có chí khí, lý tưởng và động lực phấn đấu vì mục tiêu chung của toàn xã hội và đất nước

1.3.3 Con đường giáo dục ý thức pháp luật và giáo dục ý thức công dân trong nhà trường phổ thông

Giáo dục ý thức pháp luật, giáo dục ý thức công dân trong nhà trường phổ thông là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể và toàn diện nhằm vào đối tượng là học sinh để các em trở thành người công dân có ích cho xã hội Vì thế, hoạt động giáo dục cần phải được tiến hành một cách có kế hoạch, mục đích với những phương thức và con đường cụ thể:

Thứ nhất, giáo dục thông qua việc dạy học các môn trong nhà trường phổ thông Bởi, việc dạy – học các môn trong nhà trường phổ thông, bao gồm môn: Lý luận chính trị, các môn khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn….một mặt giúp học sinh hình thành quan điểm, niềm tin và định hướng cho bản thân trong cuộc sống hay còn gọi là thế giới quan và nhân sinh quan Mặt khác cung cấp những kiến thức về lịch sử và địa lý giúp học sinh hiểu được nguồn gốc và sự phát triển của dân tộc, xây dựng lòng yêu đối với quê hương, dất nước, giáo dục học sinh ý thức sống và tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật

Trang 38

Thứ hai, giáo dục thông qua hoạt động lao động và các hoạt động xã hội Bởi, việc tích cực tham gia lao động xây dựng cho học sinh biết quý trọng sức khỏe, biết quý trọng các giá trị lao động của bản thân, của người thân trong gia đình, của bạn bè và của nhiều người khác trong xã hội những hoạt động lao động và xã hội sẽ giúp học sinh tự nhận thức về bản thân mình

và những người xung quanh, nhận thức được cuộc sống thật giá trị khi ta biết trân trọng nó Khi gặp khó khăn biết dùng lý trí và nghị lực để vượt qua, tránh được cách nhìn nhận thiển cận về cuộc sống mà hãy tin tưởng vào sự cố gắng của bản thân Đồng thời, qua lao động hình thành học sinh thói quen sống có

kỷ luật, ý thức chấp hành, tuân thủ các quy định pháp luật của nhà nước, đặc biệt là Luật giao thông đường bộ

Thứ ba, giáo dục bằng tuyên truyền, nâng cao trình độ nhận thức các vấn đề để hành động Chúng ta biết rằng, để giải quyết vấn đề an toàn giao thông Quốc gia thì giáo dục an toàn giao thông đường bộ cho học sinh khi đang ngồi trên ghế nhà trường là công tác đang được toàn ngành giáo dục coi trọng, qua đó sớm hình thành cho học sinh có ý thức hơn khi tham gia giao thông xây dựng văn hóa giao thông Vì vậy, việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức về pháp luật giao thông đường bộ được thực hiện một cách tích cực, bằng nhiều phương pháp và phương tiện khác nhau, như thông qua kênh thông tin – xã hội, mạng Internet, panô, tờ rơi, bảng hiệu, băng rôn, diễu hành, mitstinh, tưởng niệm…và đặc biệt là tích hợp, lồng ghép phù hợp với đặc thù của từng môn học Chẳng hạn như, khi đến trước công trường đọc các câu khẩu hiệu “Đội mũ bảo hiểm cho con trọn tình cha mẹ”; “Không điều khiển

xe máy khi chưa đủ tuổi luật định và chưa có giấy phép lái xe”; “Xây dựng văn hóa giao thông trường học”…sẽ hình thành ý thức chấp hành các quy định luật giao thông đường bộ

Trang 39

Thứ tư, giáo dục thông qua tổ chức các cuộc thi và hoạt động đoàn thể Thông qua các cuộc thi được tổ chức ở trường, thành phố, tỉnh, trên các kênh thông tin cấp địa phương hoặc Quốc gia sẽ thu hút được đông đảo thanh niên học sinh tham gia, qua đó, các em tự tìm hiểu để nâng cao kiến thức hiểu biết

về pháp luật an toàn giao thông đường bộ, điều chỉnh hành vi của bản thân đúng theo quy định luật giao thông đường bộ khi tham gia giao thông Các hình thức thi mang lại hiệu quả cao như: xây dựng phòng tranh( trưng bày những hình ảnh về tai nạn giao thông), thi vẻ tranh về an toàn giao thông, thì hùng biện, thi viết tìm hiểu Luật giao thông đường bộ…với nhiều chủ đề phong phú của văn hóa giao thông Từ đó, kiến thức hiểu biết về Luật giao thông đường bộ của học sinh sẽ được nâng cao, có ý thức khi tham gia giao thông

Trang 40

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Từ những trình bày trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng ý thức pháp luật có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội Việc nâng cao ý thức pháp luật và đặc biệt là ý thức thực hiện Luật giao thông đường bộ với thế hệ trẻ - thanh niên học sinh trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay ở Việt Nam là cực kỳ quan trọng Bởi nếu ý thức pháp luật thấp thì khó có thể xây dựng và hoàn thiện được một hệ thống pháp luật khoa học, phù hợp, đồng thời với ý thức pháp luật thấp thì các chủ thể cũng khó có thể nhận thức, thực hiện và áp dụng pháp luật chính xác, có hiệu quả pháp luật được Và ngược lại, một khi thái độ nhận thức pháp luật nói chung

và Luật giao thông đường bộ nói riêng thì ý thức tuân thủ pháp luật trong đời sống của nhân dân được nâng cao, góp phần xây dựng văn hóa pháp lý trong toàn xã hội Vì vậy, nâng cao ý thức pháp luật ở nước ta hiện nay là việc phải làm hết sức cần thiết nhằm hình thành thái độ, tình cảm, cảm xúc pháp lý phù hợp, đúng đắn, có thói quen và ý thức sống, làm việc, học tập, lao động theo Hiến pháp và pháp luật Xây dựng và hình thành nếp sống văn hóa, văn minh

đô thị, nâng cao hơn nữa sự thân thiện của dân tộc Việt Nam trên trường quốc

tế

Ngày đăng: 28/11/2017, 13:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm