1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Vận dụng quy luật mâu thuẫn giải quyết vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục trung học phổ thông ở thành phố Đà Nẵng hiện nay

110 1,7K 17

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 820,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, rõ nhất là từ khi triển khai thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương 8 khóa XI về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo” ngành Giáo dục

Trang 1

BÙI THỊ BÍCH NGỌC

VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ

ĐÀ NẴNG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

Đà Nẵng, năm 2017

Trang 2

BÙI THỊ BÍCH NGỌC

VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Bùi Thị Bích Ngọc

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Bố cục đề tài 3

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ MÂU THUẪN VÀ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC 8

1.1 KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VÀ PHÂN LOẠI MÂU THUẪN 8

1.1.1 Khái niệm mâu thuẫn 8

1.1.2 Nội dung quy luật mâu thuẫn 9

1.1.3 Các loại mâu thuẫn 17

1.2 KHÁI NIỆM CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC 19

1.2.1 Khái niệm chất lượng giáo dục 19

1.2.2 Các yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục 21

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 27

CHƯƠNG 2 CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG – THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY 28

2.1 THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 28

2.1.1 Khái quát tình hình giáo dục phổ thông của thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn vừa qua 28

Trang 5

2.1.2 Thực trạng về chất lượng giáo dục Trung học phổ thông ở thành

phố Đà Nẵng 30

2.2 NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG THÀNH CÔNG VÀ NHỮNG BẤT CẬP 37

2.2.1 Nguyên nhân của thành công 37

2.2.2 Nguyên nhân những bất cập 38

2.3 MỘT SỐ MÂU THUẪN CỦA GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 39

2.3.1 Nội dung chương trình mâu thuẫn với sự đòi hỏi đổi mới cơ bản toàn diện 39

2.3.2 Mâu thuẫn giữa thái độ và cách thức học tập của học sinh với yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học 44

2.3.3 Mâu thuẫn trong việc đầu tư cơ sở vật chất - trang thiết bị dạy học trong nhà trường với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học 51

2.3.4 Mâu thuẫn giữa yêu cầu và phát triển nhân cách với trang bị kiến thức cho người học 57

2.3.5 Mâu thuẫn trong kiểm tra đánh giá và năng lực thực tế của học sinh 59

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 66

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO

CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 69

3.1 PHƯƠNG HƯỚNG 69

3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 70

3.2.1 Tiếp tục thực hiện đổi mới đồng bộ và hiệu quả nội dung chương trình, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá 70

3.2.2 Xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí đáp ứng yêu cầu của đổi mới nội dung và phương pháp dạy học 79

Trang 6

3.2.3 Tăng cường đầu tư đồng bộ và hợp lí cho giáo dục THPT 83 3.2.4 Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, khuyến khích sự sáng tạo của các cấp trong nhà trường từ người quản lí đến người dạy và người học 84

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 86 KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số

32

Trang 8

2.22 Tổng số người được hỏi ý kiến 95 56

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mọi sự vật hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy luôn luôn trong

quá trình vận động biến đổi và phát triển không ngừng Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật đã phản ánh sự vận động và phát triển đó dưới những phương diện cơ bản nhất Mỗi quy luật cơ bản có nội dung, vị trí khác nhau, nhưng theo Lênin, quy luật mâu thuẫn là hạt nhân, là thực chất của phép biện chứng

Nếu quy luật phủ định của phủ định cho biết khuynh hướng của sự vận động phát triển; quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại cho chúng ta biết phương thức của sự vận động

và phát triển; thì quy luật mâu thuẫn nói lên nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển

Nắm được mâu thuẫn của sự vật tức là ta nắm được bản chất của sự vật, nguồn gốc sự vận động và phát triển của nó Song việc nhận thức được mâu thuẫn của sự vật mới chỉ là điều kiện cần, muốn thúc đẩy sự vật phát triển đi lên, chúng ta cần có thêm điều kiện đủ, đó là giải quyết mâu thuẫn và có phương pháp giải quyết mâu thuẫn đã và đang tồn tại trong hiện thực một cách đúng đắn Tuy nhiên, việc nhận thức và vận dụng các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, đặc biệt là nhận thức đúng đắn sáng tạo phạm trù mâu thuẫn không phải là việc dễ dàng

Trong những năm qua, rõ nhất là từ khi triển khai thực hiện Nghị quyết

số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương 8 khóa XI về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo” ngành Giáo dục và Đào tạo nói chung, giáo dục Trung học phổ thông thành phố Đà Nẵng nói riêng đã đạt được những thành quả đáng kể, đóng góp nhất định đối với sự nghiệp trồng người Tuy nhiên, bên cạnh đó, giáo dục Trung học phổ thông ở thành phố Đà Nẵng vẫn

Trang 10

còn tồn tại những bất cập, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của giáo dục, chưa đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Điều này đòi hỏi các cấp độ chủ thể quản lí giáo dục cần thiết phải nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo lí luận giáo dục hiện đại, chủ trương đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước ta Từ góc độ triết học xã hội, việc vận dụng quy luật mâu thuẫn để đánh giá thực trạng và tìm ra những giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục Trung học phổ thông ở thành phố Đà Nẵng hiện nay là một cách tiếp cận hữu ích

Với ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài: Vận dụng quy luật mâu thuẫn giải quyết vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục Trung học phổ thông ở thành phố Đà Nẵng hiện nay làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành triết học của mình

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống hóa quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin về quy luật mâu thuẫn, vận dụng để chỉ ra một số mâu thuẫn và đề xuất những giải pháp góp phần giải quyết các mâu thuẫn, nâng cao chất lượng giáo dục Trung học phổ thông

ở Đà Nẵng hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin về quy luật mâu thuẫn

và những vấn đề liên quan đến chất lượng giáo dục

- Nêu lên một số mâu thuẫn trong giáo dục Trung học phổ thông ở thành phố Đà Nẵng

- Nêu ra một số giải pháp góp phần giải quyết mâu thuẫn trong giáo dục Trung học phổ thông ở thành phố Đà Nẵng

Trang 11

3 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung quy luật mâu thuẫn và sự vận dụng quy luật này giải quyết vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục Trung học phổ thông ở thành phố Đà Nẵng từ khi ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương 8 khóa XI đến nay

4 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn

- Làm rõ nội dung quy luật mâu thuẫn

- Làm rõ một số mâu thuẫn của giáo dục Trung học phổ thông ở thành phố Đà Nẵng hiện nay

- Nêu ra một số giải pháp góp phần giải quyết các mâu thuẫn, nâng cao chất lượng giáo dục Trung học phổ thông ở thành phố Đà Nẵng

- Nâng cao nhận thức cho bản thân, cung cấp tài liệu nghiên cứu cho học sinh sinh viên khi học tập học phần Triết học và giáo viên, cán bộ quản lí trong nhà trường phổ thông

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng một số phương pháp sau đây :

- Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin: Phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp diễn dịch, phương pháp qui nạp

- Một số phương pháp cụ thể : Khảo sát chọn mẫu, lập bảng, phỏng vấn

6 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung khóa luận gồm: 3 chương 7 tiết

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Về quy luật mâu thuẫn đã được nhiều tác giả nghiên cứu như: Nguyễn Thành Dương (1986), Một số khía cạnh của phép biện chứng duy vật, Nxb sách giáo khoa Mác- Lênin; GS.TS Phạm Ngọc Quang (1991),Thử vận dụng

Trang 12

lí luận về mâu thuẫn vào thời kì quá độ ở nước ta, Nxb Sự thật; Nguyễn Ngọc

Hà (1998), Một số vấn đề nhận thức quy luật mâu thuẫn, Nxb Khoa học xã hội; PGS.TS Nguyễn Tấn Hùng (2005), Mâu thuẫn: một số vấn đề lí luận và thực tiễn Nxb Khoa học xã hội Nhìn chung, các công trình đều góp phần làm

rõ nội dung của quy luật mâu thuẫn theo cách tiếp cận của triết học mác-xít Bên cạnh đó, xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng của quy luật mâu thuẫn, nhất là giải quyết mâu thuẫn trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nhiều tác giả đã lựa chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ như: Nguyễn Thị Hiền (2008),

Lí luận về mâu thuẫn và sự vận dụng của Đảng cộng sản Việt Nam giai đoạn 1930- 1945 Nguyễn Thị Vân Anh (2013), Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng về mâu thuẫn trong nghiên cứu và giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân

và xã hội ở nước ta hiện nay và Huỳnh Văn Thiên (2014), Vận dụng quy luật mâu thuẫn vào việc điều tiết và phân hóa giàu nghèo trong nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay

Tạp chí triết học cũng đã đăng tải khá nhiều bài viết liên quan đến vấn đề mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn trong xã hội ta hiện nay Đó là các bài báo của các tác giả như: Nguyễn Văn Vinh (tháng 4-2002), “Để góp phần giải quyết có hiệu quả mâu thuẫn chủ yếu của nước ta hiện nay”, Tạp chí triết học

số 4; Đặc biệt, Đặng Hữu Toàn (số 1-2002), “Quan niệm của Heraclite về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập, về tính thống nhất của vũ trụ” Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích một số luận điểm nổi tiếng của các triết gia vĩ đại này như mọi cái đồng nhất đều luôn tồn tại trong sự khác biệt và đó là cái hài hòa của những cái căng thẳng, đối lập; tất cả mọi vật đều

ra đời trong đấu tranh; đấu tranh giữa các mặt đối lập trong mỗi sự vật, hiện tượng phải diễn ra trong khuôn khổ của logos, chứ không phải trong khuôn khổ của cái vô trật tự, của thói tùy tiện của mâu thuẫn với logos vũ trụ.Từ đó

đi đến kết luận, trong tư tưởng của Hêraclít, vũ trụ là một chỉnh thể thống

Trang 13

nhất, hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập là hai mặt chỉnh thể đó; trong

đó, ông đề cao yếu tố đấu tranh khi cho rằng “chiến tranh (đấu tranh) là cha của vạn vật”, đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc của mọi sự phát triển; nhưng đấu tranh của các mặt đối lập phải diễn ra theo qui luật, trong khuôn khổ của logos, chứ không phải tùy tiện, chỉ như vậy mới đảm bảo cho

vũ trụ vận động bình thường và mọi cái không bị đảo lộn Qua bài viết tác giả

đã làm rõ sự xuất sắc trong tư duy triết học của Hêraclít, đặc biệt là quan niệm

về sự hài hòa và đấu tranh của câc mặt đối lập, khẳng định đóng góp của Hêraclít vào sự phát triển tư tưởng triết học nhân loại, xứng đáng là tổ tiên của phép biện chứng như các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin đã suy tôn

Bàn về các thành tố của quá trình dạy học, xuất phát từ yêu cầu của thực

tế, mỗi nhà nghiên cứu có cách tiếp cận khác nhau, công trình của họ góp phần làm sáng tỏ những nội dung mà tác giả luận văn nghiên cứu như: Nguyễn Em (2005), Biện pháp quản lí thực hiện đổi mới phương pháp dạy học tại các trường THPT thành phố Đà Nẵng; Trần Đức Hùng (2012), Biện pháp quản lí thiết bị dạy học ở trường THPT tỉnh Quãng Ngãi trong giai đoạn hiện nay; Đặng Thị Vy Huyền (2014), Biện pháp quản lí hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Sinh học của học sinh các trường THCS quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng Nhiều bài nghiên cứu được đăng trên các tạp chí như : Nguyễn Huy Sâm (2004), “Thiết bị dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học nâng cao chất lượng dạy học theo hướng tích cực”, Tạp chí TTKHGD Nguyễn Hữu Thanh (2008), “Sử dụng phương pháp dạy học hợp lí nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học”, Tạp chí giáo dục, số 191 kì I- (6/2008) Trần Xuân Đắc (2011), “Sử dụng thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học ở trường Trung học phổ thông”, Tạp chí giáo dục(5)

Trang 14

Vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục đã có nhiều nhà lí luận có uy tín, nhiều nhà khoa học trong nước nghiên cứu ở những mức độ, góc độ khác nhau Phạm Văn Đồng (1999) Về vấn đề giáo dục – đào tạo Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội Phạm Văn Đồng (2008), Giáo dục đào tạo quốc sách hàng đầu tương lai của dân tộc Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội, tác giả đã phân tích nhiều vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của nước ta như: Chương trình giáo dục phổ thông phải đảm bảo những cái cơ bản, toàn diện và phải cân đối ; Ra sức nâng cao chất lượng phổ thông; Ý nghĩa to lớn của việc bảo vệ, sửa chữa và nâng cao chất lượng cơ sở vật chất trường học Phùng Đình Mẫn (2003) (chủ biên) Những vấn đề cơ bản về đổi mới giáo dục trung học phổ thông hiện nay PGS.TS Phạm văn Linh (2013) (chủ biên), “ Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo” đã đề cập đến bức tranh chung về thực trạng giáo dục hiện nay, thời điểm đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục nước ta Trong bài viết tác giả đã nêu những mâu thuẫn, thách thức và điểm nghẽn đối với nền giáo dục nước ta khi thực hiện đổi mới căn bản toàn diện Đặc biệt TS Nguyễn Vinh Hiển với “Đổi mới chương trình phổ thông, thời cơ thách thức và những vấn đề đặt ra” đã nêu lên những mâu thuẫn của giáo dục phổ thông Phan Thanh Thuận (2013), Biện pháp quản lí công tác tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Tam Kì tỉnh Quảng Nam Tác giả đã nhấn mạnh đến các tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục trung học phổ thông

Những kết quả nghiên cứu của các tác giả là khá sâu sắc và toàn diện về mặt lí luận, đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề, có giá trị khoa học Tuy nhiên, về mặt thực tiễn việc vận dụng những quy luật mâu thuẫn giải quyết vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục Trung học phổ thông ở thành phố

Đà Nẵng chưa được tác giả nào đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ

Trang 15

Đề tài của chúng tôi kế thừa tất cả những thành quả nghiên cứu về mặt lí luận của các tác giả từ trước tới nay, tiếp cận mâu thuẫn trong giáo dục trên tinh thần đổi mới của Đảng, trên cơ sở đó đi sâu phân tích và góp phần đưa ra những giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục Trung học phổ thông hiện nay

Trang 16

CHƯƠNG 1

LÍ LUẬN CHUNG VỀ MÂU THUẪN

VÀ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

1.1 KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VÀ PHÂN LOẠI MÂU THUẪN

1.1.1 Khái niệm mâu thuẫn

Tiếp thu những giá trị tích cực trong quan niệm về mâu thuẫn của các

nhà triết học đi trước, C.Mác và Ph Ănggghen đã phát triển lí luận về mâu

thuẫn trên lập trường duy vật Trong quan niệm của C Mác và Ph Ăngghen,

mâu thuẫn “tồn tại một cách khách quan ở trong sự vật và các quá trình và có

thể bộc lộ ra dưới một hình thức hữu hình” [ 4, tr 287] Hai ông dùng lí luận

về mâu thuẫn để vạch ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển của tự nhiên

và xã hội; đồng thời nhận thức mâu thuẫn trong tính hệ thống của nó, chỉ ra

đâu là mâu thuẫn cơ bản để từ đó đưa ra cách giải quyết mâu thuẫn

Đối với phép biện chứng duy vật, mâu thuẫn được hiểu không phải là sự

kết hợp đơn thuần của hai mặt đối lập mà là mối quan hệ tác động lẫn nhau

giữa hai mặt đối lập ấy Mặt đối lập là những mặt có thuộc tính, khuynh

hướng biến đổi trái ngược nhau, vừa bài trừ, gạt bỏ, chống đối lẫn nhau,

nhưng tồn tại gắn bó với nhau trong một thể thống nhất Như vậy, mâu thuẫn

là một chỉnh thể, trong đó hai mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu

tranh với nhau Không phải bất kì hai mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu

thuẫn Chỉ có hai mặt đối lập nào cùng tồn tại thống nhất trong cùng một sự

vật như một chỉnh thể, nhưng có khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau,

phủ định và chuyển hóa lẫn nhau thì mới được gọi là hai mặt đối lập của mâu

thuẫn Chính những mặt như vậy cùng với quá trình liên hệ, tác động qua lại

giữa chúng đã tạo thành những mâu thuẫn biện chứng Mâu thuẫn biện chứng

là khái niệm triết học dùng để chỉ sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, bài

trừ, phủ định lẫn nhau của các mặt đối lập biện chứng Chúng ta cần phân biệt

Trang 17

mâu thuẫn theo quan điểm của phép biện chứng (mâu thuẫn biện chứng) với mâu thuẫn theo quan điểm của logic học hình thức (mâu thuẫn logic hình thức hay mâu thuẫn lôgic)

1.1.2 Nội dung quy luật mâu thuẫn

- Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan phổ biến

Mác và Ăngghen khẳng định rằng, mọi sự vật, hiện tượng đều là thể thống nhất của những mặt, những thuộc tính và khuynh hướng đối lập nhau; nói cách khác, sự vật hiện tượng nào cũng bao hàm mâu thuẫn bên trong Mâu thuẫn tồn tại một cách khách quan, vốn có của sự vật, hiện tượng Mâu thuẫn tồn tại phổ biến chẳng những ở mọi sự vật hiện tượng, mà còn phổ biến trong quá trình vận động và phát triển của chúng Mâu thuẫn có trong lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy

Tư tưởng về mâu thuẫn của Mác và Ăngghen được thể hiện trong một

số tác phẩm kinh điển nổi tiếng như Tư bản, Biện chứng của tự nhiên, Chống Đuyrinh… Ăngghen khẳng định mâu thuẫn khách quan của các sự vật hiện tượng, trong “Chống Đuyrinh” ông viết:

Ở đây chúng ta có một mâu thuẫn tồn tại một cách khách quan ở trong bản thân của các sự vật và các quá trình, có thể phát hiện ra ở dưới một hình thức hữu hình Về quan điểm này, ông Đuyrinh nói như thế nào? Ông ta khẳng định rằng, nói chung cho đến ngày nay, vẫn không có “một cái cầu nào nối liền giữa cái tính triệt để và cái động ở trong khoa học cơ học hợp lí Và thế là bạn đọc đã có thể nhìn thấy cái ẩn nấp ở đằng sau câu nói theo sở thích đó ông Đuyrinh chẳng có gì khác hơn là: một người mà đầu óc, suy nghĩ theo cách siêu hình thì tuyệt đối không thể từ quan niệm tĩnh mà chuyển sang quan niệm động, vì ở đây cái mâu thuẫn nói trên đã chặn mất đường đi rồi Sự vận động vì là một mâu thuẫn nên hoàn

Trang 18

toàn không thể hiểu được thì chính bản thân người đó đã đi ngược lại ý chí của mình vừa thừa nhận sự tồn tại của mâu thuẫn đó: tức là thừa nhận rằng trong bản thân của sự vật và các quá trình, có một mâu thuẫn tồn tại khách quan, hơn nữa mâu thuẫn đó lại là một lực lượng có thực [4, tr 288]

Ông nhấn mạnh tính phổ biến của mâu thuẫn trong bản thân sự vật hiện tượng, không có một sự vật hiện tượng nào không có mâu thuẫn, ngay như cái

vô tận bản thân của nó cũng chứa đựng mâu thuẫn và nó là động lực bên trong

để bản thân nó tồn tại Ăngghen viết: “Cái vô tận là một mâu thuẫn và nó chứa đầy những mâu thuẫn”[4, tr 147] Để chứng minh tính phổ biến của mâu thuẫn một cách khái quát nhất, Ăngghen phân tích:

Bản thân sự vận động là một mâu thuẫn; ngay khi sự di động một cách máy móc và đơn giản sỡ dĩ có thể được thực hiện, cũng chỉ là

vì một sự vật trong cùng một lúc vừa ở nơi này vừa ở nơi khác, vừa

ở cùng một chỗ duy nhất lại không ở chỗ đó [4, tr 287], và sự sống trước hết chính là ở chỗ một sinh vật trong cùng một lúc vừa là nó nhưng lại vừa là cái khác Như vậy, sự sống cũng là một mâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình, tự đề ra và tự giải quyết không ngừng, và khi mâu thuẫn đã hết thì sự sống cũng không còn nữa và cái chết xảy đến [4, tr 288]

Ăngghen đã chứng minh mâu thuẫn tồn tại trong tự nhiên Cái cây, con vật, mỗi tế bào, trong mỗi lúc của đời nó, là đồng nhất với nó, nhưng lại khác biệt với bản thân nó, do sự đồng hóa và bài tiết các chất, do sự hô hấp, sự tạo thành và sự hủy diệt các tế bào Ăngghen cũng chỉ ra mâu thuẫn không chỉ diễn ra trong giới hữu cơ mà ngay cả giới vô cơ, ví dụ trong toán học Ăngghen viết :

Trang 19

Chúng ta đã nói đến một cơ sở chính của toán học cao cấp là mâu thuẫn: trong một số trường hợp nào đó thì thẳng và cong đều phải như nhau Toán cao cấp còn một mâu thuẫn khác nữa, tức là dưới mắt ta có những đường cắt nhau, nhưng chỉ cách đường cắt nhau 5 hay 6 phân mà thôi, thì những đường đó phải được coi như là những đường song hành, tức là được coi như những đường mà dù có kéo dài đến vô tận cũng không thể nào cắt nhau được [4, tr.289]

Còn trong xã hội, Mác và Ăngghen cho rằng: “như vậy, theo quan điểm của chúng tôi, tất cả mọi xung đột trong lịch sử đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và hình thức giao tiếp [4, tr 582]

Vấn đề mâu thuẫn biện chứng trong tư duy được Ăngghen khẳng định:

thuẫn, chẳng hạn như mâu thuẫn giữa năng lực nhận thức vô tận ở bên trong của con người với sự tồn tại thực tế của năng lực ấy trong những con người bị hạn chế bởi hoàn cảnh bên ngoài và bị hạn chế trong những năng lực nhận thức- mâu thuẫn này được giải quyết trong sự nối tiếp đó ít ra đối với chúng ta- và được giải quyết trong

sự vận động đi đến vô tận [4, tr 289]

- Các mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau

Trong mỗi mâu thuẫn, hai mặt đối lập liên hệ với nhau hợp thành một thể thống nhất, cho nên gọi là sự thống nhất của các mặt đối lập Sự thống nhất được nói đến trong qui luật mâu thuẫn là sự liên hệ ràng buộc lẫn nhau, qui định lẫn nhau của các mặt đối lập, mỗi mặt lấy mặt đối lập kia làm tiền đề tồn tại cho mình Ví dụ trong sinh vật, hai mặt đối lập đồng hóa và dị hóa thống nhất với nhau, nếu chỉ là quá trình thì sinh vật sẽ chết Trong xã hội tư bản, giai cấp vô sản và giai cấp tư sản là hai mặt đối lập thống nhất với nhau, nếu không có giai cấp vô sản tồn tại với tư cách bán sức lao động cho giai cấp

Trang 20

tư sản, thì cũng không có giai cấp tư sản tồn tại với tư cách là giai cấp mua sức lao động của giai cấp vô sản để bóc lọt giá trị thặng dư…

Ăngghen viết :

Sự sống, phương thức tồn tại của thể anbumin trước hết là ở chỗ mỗi lúc nó vừa là chính nó, lại đồng thời vừa là cái khác; và như thế không phải vì nó phải chịu đựng một quá trình nào từ bên ngoài, như trường hợp cũng có thể xảy ra đối với các vật thể vô sinh Trái lại, sự sống tức là sự trao đổi chất bằng phương pháp dinh dưỡng và bài tiết là một quá trình tự nó tiến hành, một quá trình cố hữu, vốn sẵn có từ khi nó sinh ra và gắn liền với cơ chất của nó anbumin mà không có quá trình ấy thì không thể có sự sống được [4,tr 210] Khái niệm “thống nhất” trong quy luật mâu thuẫn còn gọi là “đồng nhất” Vì vậy, “đồng nhất” và “thống nhất” trong trường hợp này là đồng nghĩa với nhau Lênin viết :

Sự đồng nhất của các mặt đối lập (“sự “thống nhất” của chúng, nói như vậy có lẽ đúng hơn, tuy ở đây sự phân biệt giữa các từ đồng nhất và thống nhất không quan trọng lắm Theo một nghĩa nào đó cả hai đều đúng), đó là sự thừa nhận (sự tìm ra) những khuynh hướng mâu thuẫn, bài trừ lẫn nhau, đối lập, trong tất cả các hiện tượng và quá trình của giới tự nhiên (kể cả tinh thần và xã hội) [30, tr 116] Khái niệm đồng nhất còn có nghĩa khác đó là sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập Trong trường hợp này “đồng nhất” không đồng nghĩa với khác niệm “thống nhất” Lênin đã chỉ ra:

Phép biện chứng là học thuyết vạch ra rằng những mặt đối lập làm thế nào mà có thể và thường đã trở thành) đồng nhất- trong những điều kiện nào chúng là đồng nhất bằng cách chuyển hóa từ mặt đối lập này sang mặt đối lập kia- tại sao lí trí con người không nên xem xét những

Trang 21

mặt đối lập là chết, cứng đờ mà là sinh động, có điều kiện, hoạt động chuyển hóa lẫn nhau [30, tr 116]

Như vậy, có thể nói sự liên hệ ràng buộc lẫn nhau của hai mặt đối lập là “sự đồng nhất” hay “ thống nhất” của chúng; song Lênin còn dùng khái niệm sự đồng nhất của các mặt đối lập khi nói về sự chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng Ý kiến trên của Lênin đã khẳng định sự sai lầm của các quan điểm siêu hình; bởi những nhà triết học theo quan điểm siêu hình cho rằng sự đồng nhất được hiểu là

sự đồng nhất tuyệt đối, không bao hàm sự khác biệt và không có sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập, hiểu sự đồng nhất một cách phiến diện cứng đờ, sự vật là một cái gì đồng nhất thuần túy Theo quan điểm biện chứng, đồng nhất bao hàm

cả sự khác biệt, một sự vật vừa là bản thân nó, vừa là cái khác, không có đồng nhất tuyệt đối Lênin nhấn mạnh:

Theo nghĩa đen phép biện chứng là sự nghiên cứu mâu thuẫn trong ngay bản chất của sự vật, không phải chỉ riêng hiện tượng là tạm thời, chuyển động, lưu động, bị tách rời bởi những giới hạn có tính chất giả định, mà tất cả cái đó cũng đúng với bản chất của sự vật [ 29, tr 308] Trong một mâu thuẫn, sự thống nhất của các mặt đối lập không tách rời

sự đấu tranh giữa chúng, bởi vì đây là sự thống nhất của hai mặt đối lập, hai mặt này không nằm yên bên nhau, mà chúng thường xuyên đấu tranh với nhau Khái niệm “đấu tranh” trong qui luật mâu thuẫn được Lênin đặt trong ngoặc kép, vì vậy không nên hiểu khái niệm “đấu tranh” theo nghĩa đơn giản Khái niệm “đấu tranh” giữa các mặt đối lập, có nghĩa là các mặt đối lập bài trừ và phủ định nhau Sự bài trừ và phủ định nhau trong thế giới vật chất được thể hiện dưới những dạng rất khác nhau Ví dụ, “sự đấu tranh” giữa điện tích âm- dương trong nguyên tử, giữa lực hút và lực đẩy, giữa đồng hóa và dị hóa, giữa cộng và trừ, vi phân và tích phân…Trong xã hội, đấu tranh của các mặt đối lập được biểu hiện ra ở các cuộc đấu tranh giữa lực lượng sản xuất và

Trang 22

quan hệ sản xuất, giữa các giai cấp, tầng lớp…, trong tư duy có sự đấu tranh giữa tư tưởng tiến bộ và tư tưởng lạc hậu…Đấu tranh giữa các mặt đối lập diễn ra rất phong phú và đa dạng, trong tự nhiên khác trong xã hội và tư duy Trong mỗi sự vật, hiện tượng thì sự đấu tranh của các mặt đối lập lại có tính chất riêng của nó

Cần phải hiểu rằng sự đấu tranh của các mặt đối lập là một quá trình phức tạp, thường diễn ra từ thấp đến cao, gồm nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn có đặc điểm riêng của nó Khi mâu thuẫn mới xuất hiện, nó biểu hiện ra sự khác biệt giữa các mặt, song không phải sự khác biệt nào cũng biểu hiện mâu thuẫn Mâu thuẫn chỉ nảy sinh những mặt có liên hệ hữu cơ với nhau, có khuynh hướng phát triển trái ngược nhau trong một chỉnh thể, thì mới hình thành bước đầu mâu thuẫn Trong quá trình phát triển của mâu thuẫn, sự khác biệt đó biến thành sự đối lập Khi hai mặt đối lập mâu thuẫn xung đột gay gắt, nếu có điều kiện chín muồi thì hai mặt đối lập sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết Kết quả là sự thống nhất giữa hai mặt đối lập cũ bị phá vỡ, sự thống nhất giữa hai mặt đối lập mới được hình thành cùng với mâu thuẫn mới, mâu thuẫn mới lại tiếp tục được triển khai, phát triển và giải quyết, làm cho sự vật mới luôn xuất hiện thay thế sự vật cũ

Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập đã làm cho các sự vật không thể tồn tại một cách vĩnh viễn Vì vậy, đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực bên trong của mọi sự vận động và phát triển Với ý nghĩa đó, Lênin viết : “sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập (sự phân đôi của cái thống nhất thành những mặt đối lập bài trừ lẫn nhau giữa các mặt đối lập ấy)”[30,tr 379]

Từ đó, Lênin cho rằng:

Hai quan điểm cơ bản (hay là hai quan điểm có thể có? Hay là hai quan điểm có thể thấy trong lịch sử) của sự phát triển (sự tiến hóa)

Trang 23

sự phát triển coi đó như là sự giảm đi và sự tăng lên, như là sự lặp lại, “và” sự phát triển coi như là thống nhất của các mặt đối lập (sự phân đôi của cái thống nhất thành những mặt đối lập bài trừ lẫn nhau và những mối quan hệ lẫn nhau giữa những mặt đối lập ấy) Với quan điểm thứ nhất về sự vận động, sự tự vận động nằm trong bóng tối, động lực của nó, nguồn gốc của nó, động cơ của nó (trừ phi người ta đem nguồn gốc ấy đặt ra bên ngoài- một thân, một chủ thể ) Với quan điểm thứ hai, sự lưu ý chủ yếu lại hướng vào sự nhận thức nguồn gốc của sự “tự” vận động Quan điểm thứ nhất là chết cứng, nghèo nàn khô khan Quan điểm thứ hai là sinh động Chỉ

có quan điểm thứ hai mới cho ta chìa khóa của sự “tự vận động” của tất thẩy mọi cái đang tồn tại; chỉ có nó mới cho ta chìa khóa của

“bước nhảy”, của sự “đứt đoạn trong liên tục”,của “sự chuyển hóa sang mặt đối lập”, của sự tiêu diệt cái cũ,của sự nảy sinh cái mới [29,tr 415]

Cũng với cách nhìn nhận đó, trong tác phẩm bàn về phép biện chứng ông viết:

Nhận định sự đồng nhất của các mặt đối lập…tức là thừa nhận (tìm ra) những xu hướng mâu thuẫn với nhau, đối lập với nhau và bài xích lẫn nhau trong tất cả các hiện tượng và quá trình của tự nhiên (của cả tinh thần lẫn của xã hội trong đó) Muốn nhận thức được tất

cả các quá trình của thế giới về phương diện “tự thân vận động”, phát triển nội tại, tính chất hiện thực, sinh động của những quá trình

đó, thì phải coi những quá trình đó là sự thống nhất của các mặt đối lập và nhận thức phát triển là “đấu tranh”giữa các mặt đối lập Hai quan điểm cơ bản(…) về sự phát triển( về sự tiến hóa) là: phát triển

là tăng thêm và giảm đi, là lặp đi lặp lại và phát triển là sự thống nhất của các mặt đối lập (tách một cái duy nhất thành những mặt đối

Trang 24

lập bài xích lẫn nhau, và quan hệ giữa những mặt đối lập ấy) Với quan niệm thứ nhất về vận động, thì không thể thấy tự thân vận động, không thể thấy được động lực của nó(…) Còn quan niệm kia lại giúp chúng ta nhất là nhận thức được căn nguyên của “tự thân” vận động…” [4, tr 347]

Lênin khẳng định đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực bên trong của mọi sự vận động và phát triển Song bất cứ sự thống nhất của các mặt đối lập cụ thể nào cũng đều có tính chất tạm thời, tương đối, nghĩa là

nó tồn tại trong trạng thái đứng im tương đối của sự vật hiện tượng Tính tuyệt đối của đấu tranh giữa các mặt đối lập gắn liền với sự tự vận động, tự thân phát triển diễn ra không ngừng của các sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất Nói về mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, Lênin viết:

sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác động ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện tạm thời, thoáng qua tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự

phát triển, sự vận động là tuyệt đối [30,tr 379]

- Sự đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự phát triển

Vì mâu thuẫn quy định quá trình phát triển của các sự vật, hiện tượng, cho nên trong quá trình nhận thức các sự vật hiện tượng ấy, theo Lênin tất yếu phải xem xét các giai đoạn phát triển của mâu thuẫn từ sự triển khai mâu thuẫn đến giải quyết mâu thuẫn (hay là sự chuyển hóa của các mặt đối lập) Lênin viết: “không phải chỉ là sự thống nhất của các mặt đối lập, mà còn là những chuyển hóa của mỗi qui định, chất đặc trưng, mặt, thuộc tính sang mỗi cái khác (sang cái đối lập với nó) [30, tr.239] Do đó không nên hiểu sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập một cách giản đơn máy móc, chỉ

Trang 25

căn cứ vào hình thức bên ngoài, chỉ nói về sự chuyển hóa vị trí của chúng Sự vật và hiện tượng trong thế giới muôn hình, muôn vẻ, nên sự chuyển hóa của các mặt đối lập cũng rất khác nhau Ăngghen đã khái quát những mặt đối lập

có sự chuyển hóa nên đã qui định sự sống của giới tự nhiên Như vậy phải căn

cứ vào từng sự vật mà phân tích sự chuyển hóa của các mặt đối lập

1.1.3 Các loại mâu thuẫn

- Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài

Mâu thuẫn bên trong là mâu thuẫn nằm ngay bên trong bản thân sự vật hiện tương Sự vật hiện tượng nào cũng có mâu thuẫn bên trong, bởi vì sự vật, hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất của các mặt đối lập Ví dụ: Mâu thuẫn giữa đồng hóa và dị hóa trong sinh vật, mâu thuẫn giữa các giai cấp trong một nước…Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa các sự vật hiện tượng với nhau Sự vật hiện tượng nào cũng có mâu thuẫn bên ngoài, bởi vì không có một sự vật, hiện tượng nào lại tồn tại mà không có liên hệ với các sự vật hiện tượng khác Ví dụ: Mâu thuẫn giữa sinh vật với môi trường xung quanh, mâu thuẫn giữa quốc gia này với quốc gia khác…

Sự phân biệt giữa mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài chỉ có ý nghĩa tương đối Tùy theo mối quan hệ cụ thể mà mỗi mâu thuẫn cụ thể nào

đó được coi là mâu thuẫn bên trong hay mâu thuẫn bên ngoài, trong quan hệ này nó là mâu thuẫn bên ngoài trong quan hệ khác nó là mâu thuẫn bên trong.Ví dụ : Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản là mâu thuẫn bên trong của xã hội tư bản nhưng lại là mâu thuẫn bên ngoài đối với mỗi giai cấp Sự phân biệt giữa mâu thuẫn bên ngoài và mâu thuẫn bên trong là cần thiết, bởi vì giữa chúng có những vị trí riêng đối với sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng Mâu thuẫn bên trong là nhân tố quyết định sự vận động

và phát triển của sự vật hiện tượng Nó là nguồn gốc động lực bên trong của

sự vận động và phát triển Mâu thuẫn bên ngoài có ảnh hưởng đến sự tồn tại

Trang 26

và phát triển của sự vật Mâu thuẫn bên ngoài phải thông qua mâu thuẫn bên trong mới phát huy được tác dụng

- Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản

Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật và hiện tượng, nó quyết định quá trình phát triển của sự vật hiện tượng từ khi hình thành cho đến khi kết thúc Nó tồn tại gắn liền với sự vật từ khi sinh ra cho đến khi sự vật kết thúc Trong mỗi sự vật và hiện tượng, ngoài mâu thuẫn cơ bản còn có những mâu thuẫn không cơ bản Mâu thuẫn không cơ bản chịu sự chi phối của mâu thuẫn cơ bản Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn đặc trưng cho một phương diện nào đó của sự vật, nó không quyết định sự vận động và phát triển của toàn bộ sự vật hiện tượng Tuy không giữ vai trò quyết định bản chất của sự vật và hiện tượng nhưng mâu thuẫn không cơ bản cũng

có vai trò nhất định đối với sự vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng Khi mâu thuẫn cơ bản được giải quyết thì sự vật sẽ thay đổi về chất

- Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu

Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi bật lên hàng đầu ở mỗi giai đoạn nhất định của quá trình phát triển của sự vật Nó có tác dụng quyết định đối với mâu thuẫn khác trong cùng một giai đoạn của quá trình phát triển của sự vật

Mâu thuẫn thứ yếu là những mâu thuẫn không đóng vai trò quyết định Ranh giới giữa mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu là tương đối Tùy theo hoàn cảnh cụ thể, có những mâu thuẫn trong điều kiện này là chủ yếu, song trong điều kiện khác lại là thứ yếu và ngược lại Mâu thuẫn chủ yếu thường là hình thức biểu hiện cụ thể của mâu thuẫn cơ bản trong từng giai đoạn, vì vậy việc giải quyết mâu thuẫn chủ yếu cũng là quá trình giải quyết mâu thuẫn cơ bản

Trang 27

- Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng

Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa các khuynh hướng lực lượng xã hội có lợi ích cơ bản trái ngược nhau không thể điều hòa được Ví dụ mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa các khuynh hướng, lực lượng xã hội có lợi ích cơ bản thống nhất với nhau Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối

kháng là loại mâu thuẫn đặc thù, chỉ tồn tại trong xã hội có đối kháng giai cấp

- Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật mâu thuẫn

Giúp chúng ta hiểu đúng bản thân sự vật và tìm ra con đường đường đúng đắn để giải quyết mâu thuẫn nhằm thúc đẩy sự phát triển; phải phân tích mâu thuẫn của sự vật, tìm ra những mặt đối lập và khuynh hướng tác động của chúng Khi phân tích mâu thuẫn phải xuất phát từ chính bản thân sự vật, xem xét quá trình phát sinh, phát triển của mâu thuẫn và vị trí, vai trò cũng như xu hướng tác động của các mặt đối lập Phải xác định đúng phương thức, phương tiện và lực lượng giải quyết mâu thuẫn phù hợp với mâu thuẫn của từng sự vật ở mỗi giai đoạn cụ thể, không điều hòa mâu thuẫn, chống biểu hiện nóng vội, chủ quan duy ý chí và trì trệ trong việc giải quyết mâu thuẫn Chính điều này có tầm quan trọng thúc đẩy mọi lĩnh vực của xã hội phát triển, trong đó có vấn đề chất lượng giáo dục, tìm ra được những mâu thuẫn trong giáo dục để từ đó có biện pháp giải quyết phù hợp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

1.2 KHÁI NIỆM CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

1.2.1 Khái niệm chất lượng giáo dục

Khái niệm “chất lượng” được Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa như sau:

Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật, phân biệt nó với sự việc khác Chất lượng là đặc tính khách quan

Trang 28

của sự vật, chất lượng biểu hiện ra ngoài qua các thuộc tính Nó là liên kết các thuộc tính lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật, không thể tách rời sự vật [ 46, tr 419] Theo Đại Từ điển Tiếng Việt “Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị của của con người, sự vật” [50, tr 331]

Chất lượng giáo dục là một khái niệm động Những thay đổi lớn đang diễn ra trên thế giới: Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế, sự gia tăng nhanh chóng của qui mô giáo dục, sự phân cấp trong các hệ thống quản lí giáo dục, sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ… đã tác động thường xuyên đến quan niệm về chất lượng Từ chỗ đo bằng tri thức đến chỗ đo bằng cả tri thức, thái độ và kĩ năng; thái độ ở đây có thể hiểu là năng lực đối phó với tình huống, năng lực cảm thụ văn hóa và ứng xử trong cuộc sống Từ chỗ đánh giá cao sự tích lũy tri thức của người đi học, do sự bùng nổ thông tin và tốc độ phát triển theo số mũ tri thức nhân loại mà người ta bắt đầu coi trọng khả năng thu thập, phân tích và tổng hợp thông tin để chuyển hóa thành tri thức Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định

Đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế trong đó, đổi mới cơ chế quản lí giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán

bộ quản lí giáo dục là khâu then chốt [15, tr 131]

Giáo dục đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam

Trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2011-2020 Đảng ta

đã xác định phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản được công nghiệp hóa theo hướng hiện đại… và đồng thời xuất phát từ “những thắt nút cổ chai” của

Trang 29

nền kinh tế Đảng ta cũng xác định rằng: “phát triển nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” là một trong ba khâu đột phá phù hợp với chiến lược kinh tế xã hội đó Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-

2020 nhằm quán triệt và cụ thể các chủ trương định hướng đổi mới giáo dục đào tạo trên quan điểm :

- Phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu, sự nghiệp của Đảng, nhà nước và của toàn dân

- Xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc tiên tiến, xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng

- Đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Hội nhập quốc tế sâu, rộng về giáo dục trên cơ sở bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ, định hướng xã hội chủ nghĩa

1.2.2 Các yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục

- Mục tiêu giáo dục là thành tố xuất phát của bất kì hệ giáo dục nào

Mục tiêu giáo dục là sự định hướng về chất lượng và số lượng phản ánh kết quả đầu ra của một quá trình giáo dục mà chủ thể tham dự (quốc gia, xã hội, cá nhân) phấn đấu đạt được

Nói chung, mục tiêu của bất cứ quá trình dạy học nào cũng là làm cho người học nắm vững kiến thức và hình thành kĩ năng hoạt động, từ đó phát triển trí tuệ và nhân cách, làm cho người học trở thành người công dân có hiểu biết, có thể tiếp thu nền văn hóa của nhân loại để chuyển hóa thành tri thức và nhân cách bản thân và hiện thực hoá năng lực bản chất của mình thông qua hoạt động thực tiễn

Điều 2, Luật giáo dục của nước CHXHCN Việt Nam năm 2005 xác định: Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển

Trang 30

toàn diện, có đạo đức, có tri thức, sức khỏe, thẫm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [39, tr 12]

Điều 27 Luật trên chỉ rõ: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẫm mỹ và các

kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam XHXN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh học tiếp tục lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc[ 39, tr 25]

- Nội dung giáo dục

Điều 28 Luật giáo dục đã qui định nội dung giáo dục: “Nội dung giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục mỗi cấp học” [39, tr 26] “Giáo dục THPT phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở THCS, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông Ngoài nôi dung chủ yếu nhằm bảo đảm kiến thức phổ thông,

cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh”[39, tr 27]

Nội dung giáo dục là thành tố quan trọng của quá trình dạy học, nó quy định toàn bộ các hoạt động trong thực tiễn Nội dung giáo dục trong nhà trường rất toàn diện, nó được xây dựng xuất phát từ mục đích giáo dục và từ các yêu cầu khách quan của đất nước và thời đại

Trang 31

Nội dung giáo dục trong nhà trường phổ thông XHCN bao gồm các vấn

đề cơ bản sau:

- Giáo dục thế giới quan và chính trị tư tưởng; hình thành cơ sở thế giới quan Mác- Lênin, giáo dục lí tưởng Cộng sản chủ nghĩa, giáo dục đường lối chính sách của Đảng, giáo dục lập trường giai cấp công nhân, giáo dục tính tích cực xã hội của công dân, giáo dục chủ nghĩa vô thần

- Giáo dục đạo đức và pháp luật : Giáo dục chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản, giáo dục chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa nhân đạo, giáo dục truyền thống cách mạng, giáo dục ý thức pháp luật, giáo dục tinh thần trách nhiệm của công dân, giáo dục nếp sống văn minh

- Giáo dục lao động, kĩ thuật tổng hợp, hướng nghiệp, dạy nghề là giáo dục cho học sinh quan điểm và thái độ XHCN đối với lao động; cung cấp cho học sinh vốn học vấn phổ thông XHCN; tổ chức việc định hướng và hướng dẫn học sinh lựa chọn đúng ngành nghề; trau dồi những kĩ năng và kĩ xảo lao động có kĩ thuật theo ngành nghề; tổ chức cho học sinh tham quan lao động, sản xuất xã hội

- Giáo dục thể chất, vệ sinh, quốc phòng

- Giáo dục thẫm mỹ

- Giáo dục các vấn đề toàn cầu của thời đại, những vấn đề đụng chạm đến lợi ích sống còn, đến tương lai của loài người; củng cố hòa bình, bảo vệ môi trường, kế hoạch hóa phát triển dân số, vấn đề năng lượng và lương thực Nội dung dạy học

Nội dung dạy học ở trường phổ thông là hệ thống kiến thức khoa học về

tự nhiên, kĩ thuật, về xã hội và nhân văn, về tư duy và nghệ thuật cùng với hệ thống kĩ năng, kĩ xảo hoạt động vật chất và tinh thần cần trang bị cho học sinh trong quá trình học tập

Trang 32

- Phương pháp

Phương pháp giáo dục

Phương pháp giáo dục là cách thức tác động của nhà giáo dục lên đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất cần thiết Phương pháp giáo dục bao gồm các cách thức tác động đến lĩnh vực nhận thức, tình cảm, động cơ và hành động của học sinh, hướng vào việc xây dựng ý thức và tổ chức đời sống, tổ chức hoạt động lao động xã hội của học sinh, kết hợp với thuyết phục với rèn luyện, học với hành, nhà trường với đời sống, phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm kết hợp với tác động đến từng cá nhân với việc xây dựng và giáo dục tập thể, đặc biệt phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của học sinh trong quá trình dạy học Các phương pháp đó được thực hiện trong các hình thức tổ chức giáo dục rất đa dạng và phong phú, nhà giáo dục cần phải vận dụng linh hoạt chúng cho phù hợp với mục đích, với đối tượng giáo dục và với từng tình huống cụ thể Chính vì thế mà người ta nói rằng phương pháp giáo dục là nghệ thuật giáo dục

Trong Luật giáo dục đã qui định:

Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui và hứng thú học tập cho học sinh [39, tr 27]

Phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức hoạt động phối hợp của giáo viên và học sinh, trong đó phương pháp dạy chỉ đạo phương pháp học, nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kĩ năng, kĩ xảo thực hành và sáng tạo

Trang 33

- Cơ sở vật chất và thiết bị giáo dục

Cơ sở vật chất là các phương tiện vật chất cần thiết được giáo viên và học sinh sử dụng vào hoạt động dạy và học và giáo viên nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đề ra Ngoài khái niệm chung còn có nhiều khái niệm riêng về cơ sở vật chất sư phạm như trường sở, thư viện trường học, sách giáo khoa, sách hướng dẫn giảng dạy, sách tham khảo, thiết bị dạy học, dụng cụ thí nghiệm…hệ thống vật chất sư phạm bao gồm các bộ phận như trường sở, sách, thư viện, thiết bị dạy học Trong đó thiết bị dạy học là đa dạng và phức tạp hơn cả Cơ sở vật chất sư

phạm là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của mọi quá trình sư phạm Nó

là phương tiện để kiểm nghiệm lí thuyết, làm rõ lí thuyết, thực hiện nguyên

tắc trực quan, đảm bảo chất lượng giáo dục

- Đội ngũ giáo viên

Đảng Cộng sản Việt Nam coi đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp giáo dục, là chiến sỹ cách mạng trên mặt trận tư tưởng văn hóa, có trách nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ lí tưởng và đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân, tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, khơi dậy bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất cao quý và năng lực sáng tạo của con người mới XHCN Bậc Trung học phổ thông có nhiệm vụ nâng cao và hoàn chỉnh trình độ văn hóa phổ thông Chính

vì vậy người giáo viên nói chung, người giáo viên Trung học phổ thông nói riêng được xã hội trao cho trọng trách xây dựng cơ sở vật chất ban đầu, nhưng rất quan trọng của nhân cách con người xã hội chủ nghĩa có ý thức năng lực làm chủ thiên nhiên- xã hội và làm chủ bản thân Với trọng trách ấy trong quá trình giáo dục thế hệ trẻ, giáo viên là một nhân vật trung tâm, đóng vai trò chủ đạo: Tổ chức, điều khiển và lãnh đạo hình thành nhân cách con người mới ở học sinh, phù hợp với mục đích giáo dục phổ thông nói chung và mục tiêu từng cấp học nói riêng

Trang 34

- Học sinh

Học sinh là đối tƣợng nhƣng đồng thời là chủ thể của quá trình giáo dục, quá trình dạy học Thành tố học sinh là một trong các thành tố của quá trình giáo dục, quá trình dạy học, vừa là đầu vào và vừa là đầu ra của các quá trình

đó Từ đó cho thấy vai trò tích cực, chủ động của thành tố này trong quá trình giáo dục và dạy học, nó rất phù hợp với những điều chúng ta nói “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”

Các thành tố của quá trình giáo dục nêu trên, chúng có quan hệ mật thiết với nhau và là những thành tố có tính quyết định đến chất lƣợng giáo dục Chất lƣợng giáo dục mà thực chất và cũng là mục tiêu cuối cùng là chất lƣợng học sinh Vì thế để nâng cao chất lƣợng giáo dục, cần thiết phải coi trọng chất lƣợng của từng thành tố để cuối cùng có chất lƣợng học sinh cao nhất

Trang 35

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Quy luật mâu thuẫn là hạt nhân của phép biện chứng duy vật Quy luật mâu thuẫn chỉ ra nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển, là phương cách định hướng cho việc phân tích và giải quyết mâu thuẫn, tạo động lực cho sự phát triển xã hội

Trong triết học Mác – Lênin, mâu thuẫn biện chứng là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, tồn tại khách quan, phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy Hai mặt đối lập vừa thống nhất vừa bài trừ, gạt bỏ nhau, chống đối lẫn nhau, chuyển hóa lẫn nhau

Mâu thuẫn tồn tại trong các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực giáo dục Vấn

đề chất lượng giáo dục là nhân tố thúc đẩy giáo dục phát triển Chất lượng giáo dục là một phạm trù lịch sử, nghĩa là nó thay đổi theo thời gian vì chất lượng phụ thuộc vào mục đích, yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, cộng đồng, mà những phạm trù này luôn thay đổi theo thời gian và theo những mục tiêu giáo dục khác nhau Các yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục như mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và học sinh Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo ra sự đồng bộ góp phần vào nâng cao chất lượng giáo dục

Trang 36

2.1.1 Khái quát tình hình giáo dục phổ thông của thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn vừa qua

- Các nhân tố ảnh hưởng đến giáo dục phổ thông ở thành phố Đà Nẵng

Thành phố Đà Nẵng gồm vùng đất biển và vùng quần đảo trên biển Đông Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên – Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông giáp Biển Đông Đà Nẵng là điểm nối các tuyến giao thông quan trọng như Quốc lộ 1A, Đường sắt liên vận quốc tế Trung Quốc - ASEAN và

có hệ thống cảng biển, sân bay quốc tế…tạo ưu thế về vị trí địa lí để Đà Nẵng phát triển kinh tế xã hội, văn hóa và giáo dục Kinh tế thành phố Đà Nẵng hằng năm đều tăng trưởng và phát triển nhanh Giai đoạn 2011- 2015, GRDP ước tăng bình quân 9,7 %/ năm, thu nhập bình quân đầu người năm 2015 ước đạt 56,1 triệu đồng/ người, gấp 1,5 lần so với năm 2011, tỉ lệ hộ nghèo giảm đáng kể, an ninh trật tự xã hội được bảo đảm, làm cho đời sống nhân dân ổn định có điều kiện lao động và học tập Môi trường văn hóa thành phố nhìn chung khá lành mạnh, thực hiện chương trình thành phố “5 không”, “3 có”,

“văn hóa văn minh đô thị”…

Những nhân tố nêu trên góp phần tích cực cho giáo dục ở Đà Nẵng ổn định và phát triển

- Khái quát về tình hình giáo dục phổ thông của thành phố Đà Nẵng

Trong những năm qua, GD&ĐT thành phố Đà Nẵng từng bước được phát triển một cách đồng bộ và toàn diện các ngành học và bậc học Năm học

Trang 37

2015-2016, toàn ngành có 178 trường mầm non, mẫu giáo và nhà trẻ, 98 trường tiểu học, 59 trường trung học cơ sở, 26 trường THPT Đạt chuẩn quốc gia về chống mù chữ, đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở và đang thực hiện phổ cập bậc trung học Cơ sở vật chất trường học, sách, thiết bị, đồ dùng dạy học và những điều kiện khác có bước phát triển quan trọng; được tăng cường đầu tư đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, nội dung, sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy

Có 173 trường đạt chuẩn quốc gia (47.6%) Có 159 thư viện đạt chuẩn tăng, không còn phòng học 3 ca, tỉ lệ học sinh học 2 buổi/ ngày tiếp tục tăng, 55 trường có phòng bộ môn đạt chuẩn chiếm tỉ lệ (50.9%) Tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn: Mầm non 100% (trong đó có 76.7% trên chuẩn), trường tiểu học có 100% giáo viên đạt chuẩn (trong đó có 92.79% giáo viên trên chuẩn), trường THCS có 100% giáo viên đạt chuẩn (trong đó có 85.5% giáo viên trên chuẩn), trường THPT có 100% giáo viên đạt chuẩn (trong đó có 27.78 % giáo viên trên chuẩn) Toàn ngành hiện có 10 tiến sĩ, 650 thạc sỹ, hơn 70 cán bộ quản lí giáo dục và giáo viên tham gia học cao học và nghiên cứu sinh bằng nguồn ngân sách và bản thân tự túc học phí [43, tr 7]

Chất lượng giáo dục mầm non chuyển biến rõ rệt, chất lượng giáo dục phổ thông được củng cố, nâng cao, giáo dục không chính qui hoạt động tương đối ổn định, thu hút và đáp ứng đáng kể nhu cầu học tập của nhân dân Năm học 2013-2014, toàn thành phố có 7/7 quận, huyện có 100% xã phường đạt chuẩn phổ cập trung học

Quy mô các ngành học, cấp học tiếp tục được mở rộng, tiếp tục ổn định

và phát triển, phù hợp với các Đề án qui hoạch từng ngành học, cấp học và Đề

Trang 38

Án quy hoạch tổng thể ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố; tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công tác huy động trẻ em trong độ tuổi ra lớp, đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh trên địa bàn

Ngành giáo dục và đào tạo thành phố Đà Nẵng có những bước ổn định

và phát triển như vậy là được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và chính quyền các cấp; có sự ủng hộ và phối hợp của ban ngành, đoàn thể, phụ huynh

2.1.2 Thực trạng về chất lượng giáo dục Trung học phổ thông ở thành phố Đà Nẵng

Cấp Trung học phổ thông gồm 3 năm học từ lớp 10 đến lớp 12, là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông, nối tiếp cấp trung học cơ sở và có trách nhiệm hoàn thành việc đào tạo tiếp thế hệ HS đã qua các cấp học trước

đó của nhà trường phổ thông Đây là cấp học vừa trực tiếp tạo nguồn cho bậc cao đẳng, đại học nói riêng, vừa góp phần quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung Nói cụ thể hơn cấp học này một mặt chuẩn bị cho học sinh những tri thức kĩ năng về khoa học xã hội, nhân văn, toán học, khoa học tự nhiên, kĩ thuật để họ có thể tiếp tục học lên bậc học tiếp theo, mặt khác hình thành, phát triển cho họ hiểu biết về nghề phổ thông cần thiết trong cuộc sống, tham gia lao động sản xuất, xây dựng xã hội và khi có điều kiện tiếp tục học lên Từ trên nền tảng đó mà phát triển các hệ thống phẩm chất, năng lực cần thiết đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước

Thực hiện việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Chỉ thị số 29-CT/TƯ ngày 26/11/2013 và chỉ thị 43-CT/TƯ ngày 25/12/2014 cuả Thành ủy Đà Nẵng và đặc biệt chương trình hành động của Thành ủy Đà Nẵng thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về “đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 39

trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Đẩy mạnh phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”; cuộc vận động “Hai không” trong toàn ngành Từ năm học 2013-2014 đến nay bậc Trung học phổ thông thành phố Đà Nẵng đã đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực, góp phần rất lớn vào nâng cao chất lượng giáo dục

- Cơ cấu mạng lưới trường Trung học phổ thông

Cơ cấu mạng lưới trường Trung học phổ thông ngày càng đa dạng, hoàn

2016 là 26 trường Số trường Trung học phổ thông ngoài công lập tăng theo từng năm học từ 4 trường năm học 2013-2014 lên 6 trường năm học 2014-

2015 và gần đây nhất là 8 trường Qui mô trường lớp được sắp xếp theo hướng đa dạng hóa, hoàn chỉnh và đồng bộ Toàn thành phố có 8 quận huyện, bình quân mỗi quận huyện có 2 đến 3 trường Trung học phổ thông đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh trong độ tuổi trung học phổ thông

Chất lượng giáo dục

Chất lượng giáo dục giữ vững và nâng cao Thể hiện rõ nhất là chất lượng văn hóa Tỉ lệ học sinh lên lớp, đỗ tốt nghiệp và đậu vào các trường Đại học, Cao đẳng ngày càng tăng, số lượng học sinh giỏi tăng nhiều năm sau từng năm học

Trang 40

Các bộ môn giảng dạy đúng qui định về chương trình, số tiết, đúng phân phối chương trình của Bộ Giáo dục-Đào tạo Các hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt chủ điểm, sinh hoạt chuyên đề được các trường tổ chức có chất lượng

Bảng 2.2 Thống kê kết quả xếp loại học lực, hạnh kiểm

kì thi Olympic quốc tế Kì thi Olympic truyền thống 30.4 lần thứ 20 trường THPT chuyên Lê Quí Đôn xếp giải ba toàn đoàn

Bảng 2.4 Thống kê tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp Năm học 2013-2014 2014-2015 2015-2016

Tỉ lệ 98,41 % 84,88% 85,36%

(Nguồn: Sở Giáo dục & Đào tạo TP Đà Nẵng)

Ngày đăng: 28/11/2017, 13:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w