Tuy có những đóng góp nhất định, nhưngnhững tư tưởng triết học về khoa học của các nhà triết học Thực chứng vẫn mang đậm dấu ấn và thiên về chủ nghĩa kinh nghiệm, nên không tránh khỏi sự
Trang 1NGUYỄN THỊ THUÝ DI
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VỀ KHOA HỌC
CỦA KARL POPPER TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Đà Nẵng – Năm 2017
Trang 2NGUYỄN THỊ THUÝ DI
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VỀ KHOA HỌC
CỦA KARL POPPER TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Mã số: 60 22 03 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN TẤN HÙNG
Đà Nẵng – Năm 2017
Trang 41 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 2
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 3
5 Bố cục của luận văn 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VỀ KHOA HỌC CỦA KARL POPPER 9
1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC KHOA HỌC CỦA KARL POPPER 9
1.1.1 Các điều kiện kinh tế 9
1.1.2 Tình hình chính trị - xã hội 11
1.2 TIỀN ĐỀ KHOA HỌC VÀ LÝ LUẬN CHO RA ĐỜI TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC KHOA HỌC CỦA KARL POPPER 14
1.2.1 Các thành tựu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội 14
1.2.2 Các trào lưu triết học duy khoa học 19
1.3 VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 22
1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Karl Popper 22
1.3.2 Một số tác phẩm tiêu biểu của Karl Popper về triết học khoa học 29
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 34
Trang 535
2.2 VỀ MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ BẢN CHẤT CỦA NHẬN THỨC KHOA HỌC 38
2.2.1.Về mục đích và nhiệm vụ của nhận thức khoa học 38
2.2.2.Về bản chất của sự nhận thức khoa học 42
2.3 VỀ TRI THỨC KHÁCH QUAN VÀ BA THẾ GIỚI 44
2.3.1 Về tri thức khách quan 44
2.3.2 Về vấn đề “ba thế giới” 45
2.4 VỀ NGUỒN GỐC VÀ TIẾN TRÌNH CỦA NHẬN THỨC KHOA HỌC 2.4.1 Về nguồn gốc của tri thức khoa học 46
2.4.2 Về tiến trình của nhận thức khoa học 50
2.5 VỀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH VÀ KIỂM NGHIỆM LÝ THUYẾT KHOA HỌC 55
2.5.1 Bác bỏ phương pháp quy nạp và nhấn mạnh phương pháp suy diễn (diễn dịch) 56
2.5.2 Về phương pháp kiểm nghiệm một lý thuyết khoa học – nguyên tắc kiểm sai hay phủ chứng, bác bỏ 57
2.6 VẤN ĐỀ CHÂN LÝ TRONG KHOA HỌC 62
TIỂU KẾT CHƯƠNG II 65
CHƯƠNG III: NHỮNG ĐÓNG GÓP VÀ HẠN CHẾ TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VỀ KHOA HỌC CỦA KARL POPPER 66
Trang 6KARL POPPER 73
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 81
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khoa học là một lĩnh vực quan trọng của ý thức xã hội Những thànhtựu của khoa học có vai trò vô cùng to lớn đối với sự phát triển sản xuất vàcác hoạt động của con người nhằm cải tạo tự nhiên và phát triển xã hội Cho
dù xuất hiện rất sớm trong lịch sử triết học, nhưng mãi đến gần đây mới cómột ngành của triết học đi sâu nghiên cứu để trả lời cho một loạt câu hỏi,
như về bản chất của khoa học, về con đường phát triển của nhận thức khoa
học; về vấn đề chân lý trong các khoa học, v.v Chuyên ngành mới này củatriết học chuyên nghiên cứu những vấn đề chung nhất đó của khoa học và
được gọi là Triết học về khoa học (Philosophy of science).
Những nhà triết học theo lập trường chủ nghĩa Thực chứng là những
người đầu tiên đã tiếp cận các vấn đề của triết học về khoa học Cụ thể là từ
nhà triết học Pháp Auguste Comte đến nhà triết học Áo Ernst Mach và sau đó
là các nhà triết học thực chứng lôgic nhóm Viên và nhóm Berlin Họ đứng
trên lập trường chủ nghĩa kinh nghiệm để xem xét bản chất của nhận thứckhoa học và chân lý khoa học Tuy có những đóng góp nhất định, nhưngnhững tư tưởng triết học về khoa học của các nhà triết học Thực chứng vẫn
mang đậm dấu ấn và thiên về chủ nghĩa kinh nghiệm, nên không tránh khỏi
sự phiến diện và đã loại bỏ một khối lượng rất lớn những tri thức thuộc phạm
vi nghiên cứu của lý tính
Sự phát triển tiếp theo của chủ nghĩa thực chứng mới được gọi là chủ nghĩa hậu thực chứng Người đầu tiên khởi xướng cho xu hướng này là nhà
triết học người Áo Karl Raimund Popper (1902 – 1994) với chủ nghĩa duy lýphê phán và nguyên tắc khả phủ chứng rất nổi tiếng Ông được xem là mộttrong những nhà triết học khoa học lớn của thế kỷ XX Karl Popper đã tháchthức với cách tiếp cận và nhiều vấn đề thuộc nội dung và phương pháp
Trang 8nghiên cứu của chủ nghĩa thực chứng lôgic Ông đã đưa ra cách tiếp cận mới
và nhiều nội dung nghiên cứu mới cho triết học về khoa học Tuy nhiên, triếthọc về khoa học của Karl Popper cũng không tránh khỏi những thiếu sótnhất định Do vậy, việc nghiên cứu những nội dung cụ thể và chỉ ra những
đóng góp cùng hạn chế trong tư tưởng triết học về khoa học của Karl Popper
có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của chuyên ngành mới này của triếthọc
Với những lý do trên và lòng mong muốn tìm hiểu tư tưởng triết học
của Karl Popper, tôi chọn đề tài: “Tư tưởng triết học về khoa học của Karl Popper trong một số tác phẩm” làm đề tài luận văn của mình.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
2.1 M ục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích là nghiên cứu tư tưởng triết học về khoa họccủa Karl Popper trong một số tác phẩm triết học của ông, từ đó chỉ ra nhữnggiá trị cùng những hạn chế của nó
2.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn đề ra những nhiệm vụ sauđây:
- Phân tích bối cảnh lịch sử và những tiền đề lý luận của sự ra đời tư
tưởng triết học về khoa học của Karl Popper
- Làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng triết học về khoa học của KarlPopper qua một số tác phẩm của ông
- Phân tích những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học về khoahọc của Karl Popper
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những nội dung tư tưởng triết
Trang 9học về khoa học của Karl Popper trong một số tác phẩm triết học của ông đã
được xuất bản (trong đó có một số tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt), qua
đó chỉ ra những đóng góp và hạn chế của K Popper trong cách tiếp cận của
ông về bản chất và con đường của nhận thức khoa học, về vấn đề chân lýtrong tri thức khoa học
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình trong một số tácphẩm triết học về khoa học của Karl Popper, như “Lôgic của phát minh khoahọc”, “Phỏng định và bác bỏ” và “Tri thức khách quan” Đồng thời Luận vănlấy lý luận nhận thức của triết học Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, thamkhảo tư tưởng của một số tác giả khác có liên quan, như của các nhà triết họcthực chứng lôgic nhóm Viên và sự phát triển của triết học về khoa học củamột số nhà nghiên cứu sau này để thấy được những mặt hợp lý và hạn chếcủa Karl Popper
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
4.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, lý luận nhận thức duy vậtbiện chứng của triết học Mác-Lênin
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau
Nhưng chủ yếu sử dụng các phương pháp chủ yếu sau: phương pháp thống
nhất giữa phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, lôgic và lịch sử, đốichiếu, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn có nộidung chính gồm 3 chương:
Trang 10Chương 1: Cơ sở hình thành tư tưởng triết học về khoa học của Karl
Popper
Chương 2: Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học về khoa
học của Karl Popper
Chương 3: Những đóng góp và hạn chế trong tư tưởng triết học về
khoa học của Karl Popper
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu về Karl Popper ở nước ngoài khá phongphú Trước hết phải kể đến các bài viết trong các từ điển và bách khoa thư
được công bố trên mạng internet, như: Karl Popper (Wikipedia, the free
encyclopedia); Karl Popper: Philosophy of Science (Karl Popper: Triết học
về khoa học) (Internet Encyclopedia of Philosophy); Karl Popper (New World Encyclopedia); Karl Popper Web (trang Web về Karl Popper), do Dr.
Ray Scott Percival sáng lập và chủ biên, v.v
Các sách của Karl Popper có liên quan đến tư tưởng triết học về khoahọc của ông được xuất bản bằng tiếng Anh (hoặc được dịch ra tiếng Anh) đều
được công bố trên mạng internet, nên rất thuận lợi cho việc tra cứu: The Logic
of Scientific Discovery (Lôgic của phát minh khoa học); The Poverty of Historicism (Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử); The Open Society and Its Enemies (Xã hội mở và những kẻ thù của nó); Conjectures and Refutations: The Growth of Scientific Knowledge (Phỏng định và Bác bỏ: Sự tăng trưởng của tri thức khoa học); Objective Knowledge: An Evolutionary Approach (Tri
thức khách quan: Một cách tiếp cận dưới góc độ tiến hóa) Đặc biệt, tác phẩm
“Unended Quest: An Intellectual Autobiography” (Sự sưu tầm chưa kết thúc: Một tự tiểu sử của người trí thức) do Routledge Classics công bố năm 2002,
là một tài liệu quý giá để nghiên cứu về tiểu sử và một số quan điểm cơ bảncủa Karl Popper, vì tất cả những nội dung trong sách là tư liệu và tư tưởng do
Trang 11chính Karl Popper đưa ra….
Việc nghiên cứu về triết học Karl Popper nói chung và triết học vềkhoa học của ông nói riêng ở nước ta còn khá khiêm tốn Trước đây, trongthời kỳ trước đổi mới ở nước ta các công trình nghiên cứu về Karl Popper chủyếu tập trung phê phán tư tưởng của ông về một số quan niệm chống chủnghĩa Mác
Hiện nay ở nước ta, các công trình nghiên cứu về Karl Popper tuykhông nhiều, nhưng có thể chia thành các loại:
+ Một số sách dịch và giới thiệu tác phẩm của Karl Popper bằng tiếng Việt Hiện nay ở nước ta mới chỉ có ba tác phẩm của Karl Popper được dịch ra tiếng Viêt: 1) Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử, 2) Xã hội mở và những kẻ thù của nó, 3) Tri thức khách quan: Một cách tiếp cận dưới góc độ tiến hóa Riêng tác phẩm “The Poverty of Historicism” (Sự nghèo nàn của
chủ nghĩa lịch sử) được hai người dịch với tiêu đề khác nhau: Nguyễn Quang
A dịch tiêu đề là: “Sự khốn cùng của chủ nghĩa lịch sử” và Chu Lan Đình dịch tiêu đề là: “Sự nghèo nàn của thuyết sử luận” Các bản dịch của Nguyễn
Quang A (“Sự khốn cùng của chủ nghĩa lịch sử” và “Xã hội mở và những kẻthù của nó”) được công bố trên mạng, nhưng chưa xuất bản thành sách; cònhai bản dịch của Chu Lan Đình (“Sự nghèo nàn của thuyết sử luận” và “Trithức khách quan: Một cách tiếp cận dưới góc độ tiến hóa”) đã được Nxb Trithức công bố năm 2012 Tuy còn nhiều bất đồng về dịch thuật, nhưng nhữngcông trình này là chỗ dựa chủ yếu của chúng tôi để thực hiện luận văn này
+ Một số công trình nghiên cứu chuyên khảo về Karl Popper được dịch ra tiếng Việt gồm: “Triết học mở và xã hội mở”(The Open Philosophy and the Open Society) của nhà Mácxít người Anh Maurice Cornforth, xuất
bản năm 1968, do Đỗ Minh Hợp dịch, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002 và
cuốn “Karl Raimund Popper” của Lý Quốc Tú (Trung Quốc), do Đặng Lâm
Trang 12dịch, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2005 Những công trình này có giá trị tham khảoquan trọng Tuy nhiên, các sách được viết ra trong thời kỳ trước đổi mới nênviệc đánh giá và phê phán của các tác giả này về Karl Popper còn dựa trênquan niệm cũ nên không thừa nhận nhiều cách tiếp cận và sự phê phán hợp lýcủa Karl Popper.
+ Một số công trình nghiên cứu về lịch sử triết học phương Tây đương đại, trong đó có triết học Karl Popper như: Lịch sử triết học của Nguyễn Hữu Vui (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999), Lược khảo triết học phương Tây hiện đại của Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003), Triết học phương Tây hiện đại (tập 4) của Lưu
Phóng Đồng (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994); Giáo trình Triết học
(dùng cho cao học) của PGS.TS Lê Hữu Ái và PGS.TS Nguyễn Tấn Hùng
(Nxb Đà Nẵng, 2012) Trong các công trình này, Karl Popper và tư tưởng triết
học về khoa học của Popper cũng được đề cập đến ở những nét khái quát
Trong Bài giảng cho chương trình cao học chuyên ngành triết học: Một số trào lưu triết học và tư tưởng chính trị phương Tây đương đại của PGS.TS
Nguyễn Tấn Hùng (Đà Nẵng, 2016), triết học khoa học của Karl Popper đượctrình bày một cách khá chi tiết hơn
Ở nước ta trên mạng internet cũng đã xuất hiện một số bài (tiếng Việt)
về K Popper, hoặc ít nhiều có liên quan, như bài “Karl Popper” trên Bách khoa mở Wiki (tiếng Việt); bài “Karl Popper” trên Bách khoa tri thức
(http://www.bachkhoatrithuc.vn/); bài “Triết lý khoa học hiện đại” (http://vietsciences.free); bài “Phản tư về những chiều hướng triết học hiện đại” của GS Trần Văn Đoàn,v.v Các bài viết này có đề cập đến một số khía
cạnh mà chúng tôi thấy có thể kế thừa trong luận văn của mình
Trong thời gian gần đây, có một vài luận văn cao học đề cập một số
khía cạnh trong tư tưởng triết học của Karl Popper, như: Luận văn “Tư tưởng
Trang 13triết học của Karl Popper trong tác phẩm “Tri thức khách quan””của Trần
Văn Nội, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà
Nội, 2012 Luận văn đã nghiên cứu tư tưởng triết học và chỉ ra những đónggóp cũng như hạn chế trong tư tưởng triết học của Karl Popper trong tácphẩm Tri thức khách quan, trong đó có một số tư tưởng triết học về khoa học
của Karl Popper cũng được thể hiện rõ trong tác phẩm này Luận văn “Tư tưởng triết học của Karl Popper trong tác phẩm “Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử” của Đỗ Thanh Kim, Đại học Đà Nẵng, 2014; luận văn chủ yếu
bàn về tư tưởng chính trị, xã hội của Karl Popper, nhưng trong đó cũng cómột phần nói về cuộc đời và sự nghiệp của Karl Popper Đây cũng là nhữngtài liệu tham khảo thiết thực cho việc thực hiện luận văn của chúng tôi về triếthọc khoa học của Karl Popper
Ngày 14 và 15 tháng 11 năm 2012, tại Viện Triết học thuộc Viện Hàn
lâm khoa học xã hội Việt Nam, cuộc Hội thảo quốc tế về “Triết học Áo và ý nghĩa hiện thời của nó” được tổ chức với sự phối hợp giữa Viện Triết học
Việt Nam và Đại sứ Áo tại Việt Nam Trong Hội thảo có nhiều bài viết ítnhiều có đề cập đến tư tưởng triết học và những đóng góp của K Popper,
trong đó có hai bài phát biểu tham luận trình bày trực tiếp tư tưởng triết học
khoa học và tư tưởng chính trị của Karl Popper trong tác phẩm “Sự nghèo nàncủa chủ nghĩa lịch sử” Đó là bài “Karl Raimund Popper với sự phê phán chủnghĩa thực chứng và chủ nghĩa lịch sử” của tác giả Nguyễn Tấn Hùng và bài
“Tư tưởng triết học chính trị của Karl Raimund Popper trong Sự nghèo nàn của thuyết sử luận nhìn từ phương pháp luận mác xít” của tác giả Nguyễn Minh Hoàn, bài“Thuyết khả sai của Popper và sự thích hợp của nó với triết học chính trị, xã hội, đạo đức” của Harald Stenzer Hai bài tham luận này đã
được đăng trên Tạp chí Triết học số 2 (261) năm 2013 Kỷ yếu Hội thảo sau
Trang 14đó đã được xuất bản thành sách “Triết học Áo và ý nghĩa hiện thời của nó”,
do PGS.TS Phạm Văn Đức chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2014
Tóm lại, có thể thấy số lượng các công trình nghiên cứu tư tưởng triếthọc về khoa học của Karl Popper ở nước ta tuy có tăng lên trong thời gian gần
đây, nhưng vẫn còn quá ít Nhiều khía cạnh quan trọng trong tư tưởng củaPopper chưa được mổ xẻ và phân tích đầy đủ Do vậy, việc tiếp tục đi sâu
nghiên cứu tư tưởng triết học về khoa học của Karl Popper để khẳng định giátrị và vạch ra những hạn chế của nó là việc làm cần thiết trong quá trình khaithác kho tàng tri thức của nhân loại
Trang 15CHƯƠNG I
CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC
VỀ KHOA HỌC CỦA KARL POPPER
Tư tưởng triết học về khoa học của Karl Popper ra đời trên cơ sở kế
thừa và phê phán những tư tưởng triết học về khoa học của chủ nghĩa thựcchứng, trực tiếp là chủ nghĩa thực chứng lôgic nhóm Viên và nhóm Berlin.Tuy nhiên ảnh hưởng trực tiếp của nó là những điều kiện kinh tế, chính trị –
xã hội ở Áo và trên thế giới lúc bấy giờ và nhất là những phát minh mới trongkhoa học và những phát triển mới trong lý luận về kinh tế và chính trị
1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA SỰ RA
ĐỜI TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC KHOA HỌC CỦA KARL POPPER
1.1.1 Các điều kiện kinh tế
Vào cuối năm 20 đầu những năm 30, cuộc khủng hoảng kinh tế diễn
ra trong thế giới tư bản có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhiều
nước châu Âu Kinh tế của các nước trong đế quốc Áo - Hung lạc hậu, kém
phát triển nên rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng trong điều kiện chiếntranh, ngoài mặt trận thì quân đội liên tiếp thất bại, các dân tộc nổi lên đòi
độc lập khiến Đế quốc Áo – Hung nằm trên bờ vực sụp đổ Nguyên nhân
chính của khủng hoảng chủ yếu là vì sự tăng lên quá nhanh của quá trình sảnxuất trong một thời gian dài, dẫn đến thừa hàng hoá nhưng trong thời điểm
đó nhu cầu thị trường lại không tăng làm cho hàng hoá ngày dần trở nên
thừa dẫn đến suy thoái trong sản xuất
Đây là thời kỳ diễn ra cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trên khắp
mọi nơi trong thế giới các nước tư bản chủ nghĩa, nhưng ở các quốc gia khác
Trang 16nhau lại có mức độ và thời gian diễn ra khủng hoảng khác nhau Sau cuộcsuy thoái ở Mỹ đó là sự suy thoái hết sức nặng nề ở Đức Cuộc khủng hoảngnày không chỉ tàn phá nặng nề kinh tế và còn gây ra nhiều hậu quả lớn vềchính trị và xã hội cho chủ nghĩa tư bản Cuộc khủng hoảng trong giai đoạn
1929 – 1933, đã làm cho số công nhân thất nghiệp tăng lên đến 50 triệu
người, hàng triệu người mất nhà cửa, hàng triệu dân bị mất ruộng đất và
sống trong cảnh thiếu thốn, nghèo đói Trước bối cảnh lịch sử đó, phong tràocông nhân thế giới có nhiều chuyển biến mới, từ thoái trào chuyển thành caotrào, biểu tình, bãi công diễn ra khắp mọi nơi
Hoàn cảnh lịch sử đó đã tạo nên sự phát triển không đồng đều và sựkhác nhau về hình thức thống trị của các nước tư bản Các nước không cóthuộc địa hoặc thiếu thuộc địa ngày càng thiếu vốn, nguyên liệu và thị
trường đã đi theo con đường phát xít hoá về chế độ chính trị nhằm cứu vãn
tình trạng khủng hoảng chính trị đang diễn ra rất nghiêm trọng Một số nước
như Đức, Ý, Nhật Bản là điển hình cho xu hướng này
Vào những năm 30, quan hệ quốc tế chuyển biến ngày càng phức tạp,
sự hình thành hai khối đối lập báo hiệu cho một cuộc chiến tranh thế giớikhông thể tránh khỏi Tại Áo, sau chiến tranh thế giới thứ nhất, kinh tế lâmvào tình trạng khủng hoảng nặng, đời sống nhân dân khó khăn, túng quẩn.Nhân dân ở Viên bị thất nghiệp nặng nề, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ phásản Đại đa số nhân dân sống rất khổ, cuộc sống của họ phải chịu đủ mọi sức
ép Sự thất bại trong chiến tranh của đế quốc Áo – Hung đã tiêu tốn khánhiều chi phí Nước Áo tách ra trong điều kiện kiệt quệ về kinh tế Tháng3/1938, Áo bị phát xít Đức chiếm đóng Từ năm 1945 đến năm 1955, Áo bị
quân Đồng minh chiếm đóng Tháng 5/1955, đại diện các chính phủ Liên
Xô, Anh, Mỹ và Áo ký hiệp ước tại Viên về việc khôi phục nền độc lập vàdân chủ của Áo Tháng 10/1955, Quốc hội Áo thông qua đạo luật khẳng định
Trang 17nền trung lập vĩnh viễn của Áo Cuối năm 1955, quân Đồng minh rút khỏiÁo.
1.1.2 Tình hình chính trị - xã hội
Vào nửa đầu thế kỷ XX, tình hình chính trị - xã hội tại Viên diễnbiến phức tạp Đế quốc Áo – Hung có tham vọng lớn là làm chủ khu vựcBalkan mặc dù kinh tế hết sức lạc hậu, mâu thuẫn dân tộc vô cùng phức tạp
Chính sách bành trướng Balkan của Đế quốc Áo – Hung vấp phải sự cạnh
tranh mạnh mẽ của Đế quốc Nga, do đó Áo – Hung thực hiện liên minh quân
sự với Đế quốc Đức để chống lại Nga Năm 1909, Đế quốc Áo – Hung thôntính Bosnia và Herzegovina, làm cho sự đối địch giữa Áo – Hung và Serbiangày càng gay gắt Ngoài ra, Đế quốc Áo – Hung còn muốn thôn tính Serbia
để đoạt lấy con đường ra các biển Adriatic, biển Agean, biến Đế quốc Áo –
Hung từ đế quốc nhị nguyên trở thành đế quốc tam nguyên (tức từ một đếquốc kết hợp giữa Áo và Hungary trở thành một đế quốc kết hợp giữa Áo,Hungary và Serbia)
Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc Đế quốc Áo – Hung tuyên chiếnvới Serbia cũng như của Thế chiến thứ nhất là vụ ám sát thái tử Áo – HungFranz Ferdinan tại Sarajevo, Bosna Ngày 28 tháng 6 năm 1914, khi thái tửFranz Ferdinan tham gia buổi diễn tập của quân đội Áo – Hung tại Sarajeco
thì bị một số thành viên của tổ chức “Bàn tay đen” thực hiện kế hoạch ám
sát Sự kiện này đã châm ngòi cho cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất
Tối 25 tháng 7, Serbia gửi tối hậu thư đến đại sứ Áo – Hung quyếttâm hoà giải cuộc xung đột nhưng Áo – Hung vẫn không chấp thuận vàtuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với Serbia Ngày 28 tháng 7, Đế quốc
Áo – Hung tuyên chiến với Serbia và chính thức tham gia vào Chiến tranhthế giới thứ nhất
Dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga, Đế quốc Áo –
Trang 18Hung cũng bùng lên làn sóng cách mạng của nhân dân Lúc này tại Viên rấthỗn loạn, không chỉ có sự xáo trộn về chính trị mà nạn thất nghiệp, lạm phát,
đói kém và các tệ nạn xã hội tràn lan Nhân dân ở Viên sống rất nghèo khổ,
cuộc sống con người chịu đựng mọi sức ép, buồn thảm và chán ghét
Qua “Tự tiểu sử” của mình, Karl Popper thuật lại rằng ở Viên lúc bấy
giờ tình trạng đói nghèo là phổ biến Ông nói:
“Việc trông thấy cảnh nghèo đói xơ xác ở Viên là một trong những
vấn đề chính đã làm tôi xúc động ngay từ khi còn là một đứa trẻ – đếnnỗi nó hầu như mãi mãi nằm sâu trong đầu óc của tôi … đàn ông, đàn
bà, trẻ con sống trong cảnh đói, rét và tuyệt vọng Là trẻ con nhưchúng tôi không thể làm gì hơn là xin một vài đồng xu để cho người
Làn sóng cách mạng nổ ra ở trong nước cũng ảnh hưởng trực tiếp tớibinh lính ngoài mặt trận Ngày 1 tháng 2 năm 1918 tại vùng biển Adriatic,thuỷ thủ của chiến Đế quốc Áo – Hung tổ chức một cuộc biểu tình lớn với sựtham gia của 6000 thuỷ thủ thuộc 40 tàu chiến Những người khởi nghĩa yêu
Trang 19cầu khẩn trương đàm phán hoà bình, đòi quyền tự quyết cho các dân tộcsống trên lãnh thổ Đế quốc Áo – Hung và đòi thành lập các chính phủ dânchủ Áo và Hungary.
Sau đó, nhiều phong trào đòi tách khỏi Đế quốc Áo – Hung của các
dân tộc đã lần lượt thành công Ngày 14 tháng 10, công nhân Tiệp Khắc tiếnhành tổng bãi công, kháng nghị đối với việc chính phủ Đế quốc quyết địnhchở số than đá và lương thực tàn trữ sang Áo Ngày 28 tháng 10, Tiệp Khắc
được tuyên bố trở thành quốc gia tự trị Ngày 29 tháng 10, tới lượt người
Nam slav sinh sống trong lãnh thổ đế quốc Áo – Hung tuyên bố tách khỏi đếquốc Đỉnh điểm là sự kiện nước Cộng hoà Áo được thành lập ngày 12 tháng
11 và khi Hungary thành lập vào ngày 16 tháng 11 năm 1918 thì Đế quốc Áo
Bôn-sê-vích Nga đang xúc tiến chuẩn bị thành lập Quốc tế Cộng sản (Quốc
tế III) Bởi vậy, ngay khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Áo đã phải tiến hànhhàng loạt cuộc đấu tranh không khoan nhượng trên tất cả các lĩnh vực từchính trị, tư tưởng đến tổ chức nhằm chống các tư tưởng cải lương, cơ hộixét lại, xây dựng một chính đảng Mácxít – Lêninnít chân chính Năm 1924,
phái cánh tả chiếm ưu thế về chính trị, đây là giai đoạn cao trào của thời kỳ Viên Đỏ (1918-1934) Karl Popper đã tham gia hoạt động tích cực trong các
phong trào xã hội chủ nghĩa Nhưng từ sau khi chứng kiến sự chết chóctrong các cuộc xung đột đầy bạo lực giữa những người cộng sản và cảnh sát
Viên, ông đã rời bỏ chủ nghĩa Mác và trở thành một trong những người phê
phán chủ nghĩa Mác
Trang 20Khi nước Áo và Đức sát nhập vào nhau, Karl Popper buộc phải rời
khỏi Áo cùng với vợ Ông để lại họ hàng và nhiều người sau này bị Đứcquốc xã sát hại Năm 1937, ông đến New Zealand và giảng dạy triết học nhưmột giảng viên cao cấp tại Đại học Canterbury Mùa đông 1945 nhờ vào sự
giúp đỡ của Friedrich August von Hayek, Popper nhận được lời mời giảng
dạy tại Trường Kinh tế và chính trị Luân Đôn (London School of Economicsand Political Science) thuộc Đại học Luân Đôn Đầu tháng 1 năm 1946 vợchồng Popper đến London và từ năm 1949 ông trở thành giáo sư bộ môn
"Lôgíc và phương pháp khoa học"của Đại học London Ông bắt đầu nghiên
cứu nhiều lĩnh vực khoa học, xuất bản một số tác phẩm có giá trị khoa học
như: “Phỏng định và Bác bỏ: Sự tăng trưởng của tri thức khoa học” (1963);
“Tri thức khách quan: Một cách tiếp cận dưới góc độ tiến hóa” (1972)…
1.2 TIỀN ĐỀ KHOA HỌC VÀ LÝ LUẬN CHO RA ĐỜI TƯ
TƯỞNG TRIẾT HỌC KHOA HỌC CỦA KARL POPPER
1.2.1 Các thành tựu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
Sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống đọc sách, K Popper
đã sớm tiếp cận với những thành tựu triết học và khoa học của thế giới Ông
nghiên cứu vật lý học của Newton, triết học như Spinoza, Descartes, Kant…Khi còn là cậu bé 15 tuổi, ông đã nghe người lớn nói về hệ mặt trời và tínhchất vô hạn của không gian Ông đã thắc mắc tìm mọi cách để lý giải và
người đầu tiên ông đề cập đến vấn đề là cha của mình Những quan điểm của
Newton về không gian là một trong những thành tựu nổi bật mà K Popper
cố công nghiên cứu khi còn nhỏ Newton cho rằng, thời gian không phải làvật chất như ête, thời gian vẫn được xem là một cái gì đó tồn tại, khách quantrong toàn bộ không gian, không phụ thuộc vào không gian và vật chất kể cảtrạng thái chuyển động của vật chất Khi ở một thời điểm nhất định, một
Trang 21người tại A tuyên bố là: “bây giờ” thì cái “bây giờ” đó có ý nghĩa cho tại nơi
B xa xăm nào đó, tức là có sự bằng nhau về “tính đồng thời” của hai sự kiện
xảy ra ở các địa điểm khác nhau Newton đã sáng tạo ra một hệ chuẩn(paradigm) làm khuôn mẫu cho nhân loại suốt cả hai thế kỷ Thế giới được
mô tả như một cổ máy khổng lồ vận hành theo các quy luật đơn giản, có thểdiễn đạt qua hai cặp phạm trù không gian và thời gian, vật thể và lực Khônggian, một thực thể “tuyệt đối” đóng vai một thùng chứa Bên trong thùnggồm các sự vật, hiện tượng vận hành theo thời gian, thời gian được hiểu là
“tuyệt đối” Nếu không chịu tác động bởi lực thì vật chuyển động thẳng, đều
và nếu chịu tác động bởi lực thì chuyển động theo quỹ đạo xác định được
Các nhà triết học như Spinoza, Descartes, Kant với những quan điểmcủa mình đã làm K Popper phải suy tư trong nhiều năm Đặc biệt ông đã
chú tâm đọc “Luân lý học” và “Nguyên lý triết học Descartes” Ông nói: Hai
cuốn sách này chỉ toàn là định nghĩa và những định nghĩa đó, theo tôi là võ
đoán và rỗng tuếch, là những luận chứng dựa trên cơ sở của những giả địnhchưa được chứng minh, nếu quả thật có những giả định như thế Điều này
làm cho tôi suốt đời chán ngấy những cuộc thảo luận về “Thượng đế”
Năm 1905, Einstein đưa ra thuyết tương đối hẹp Cuối năm 1915 ông
nêu lên thuyết tương đối rộng hay còn gọi là thuyết tương đối tổng quát
Trong đó, thuyết tương đối rộng thống nhất thuyết tương đối hẹp và định luật
vạn vật hấp dẫn của Newton, đồng thời nó miêu tả lực hấp dẫn (trường hấpdẫn) như là một tính chất hình học của không gian và thời gian, hoặc khôngthời gian Đặc biệt, độ cong của không thời gian có liên hệ chặt chẽ trực tiếpvới năng lượng và động lượng của vật chất và bức xạ Liên hệ này được xác
định bằng phương trình trường Einstein, một hệ phương trình đạo hàm riêng
phi tuyến
Nhiều tiên đoán và hệ quả của thuyết tương đối rộng khác biệt hẳn so
Trang 22với kết quả của vật lý cổ điển, đặc biệt khi đề cập đến sự trôi đi của thờigian, hình học của không gian, chuyển động của vật thể khi rơi tự do và sựlan truyền của ánh sáng Những sự khác biệt như vậy bao gồm sự giãn thờigian do hấp dẫn, thấu kính hấp dẫn, dịch chuyển do hấp dẫn của ánh sáng, và
sự trễ thời gian do hấp dẫn Mọi quan sát và thí nghiệm đều xác nhận Mặc
dù có một số lý thuyết khác về lực hấp dẫn cũng được nêu ra, nhưng lýthuyết tương đối rộng là một lý thuyết đơn giản nhất phù hợp với các dữ liệuthực nghiệm Những thực nghiệm ấy đã gây chấn động cả thế giới
K Popper đã bị khuất phục về độ chính xác sau khi lý thuyết củaEinstein được thực nghiệm Ông đã đến nghe buổi nói chuyện của Einstein
tại Viên, nhưng ông đã không hiểu những gì Einstein đã thảo luận Ông nói:
“Tôi chỉ nhớ lúc ấy tôi cảm thấy rất lơ mơ, hoàn toàn chẳng hiểu những nội
dung ấy” [35, tr.29] Được sự giúp đỡ của người bạn tên Meck Elstan,
Popper đã hiểu được con đường phát triển khoa học từ Newton đến Einstein,ông đã hiểu được những điểm chính của lý thuyết tương đối Điều gây ấntượng lớn cho K Popper đó là thái độ Einstein đối với lý luận của ông.Einstein chưa bao giờ coi lý luận của mình là một giáo điều, tuyệt đối khôngthay đổi, mà Einstein nhấn mạnh cần phải tiếp thu sự kiểm nghiệm của thực
tiễn Einstein khẳng định, nếu lý luận của ông không đúng với quan trắc thực
tế, thì thuyết tương đối rộng của ông không thể đứng vững được, và ông chorằng đó mới chính là thái độ khoa học Karl Popper so sánh ba trào lưu lýluận đang thịnh hành: chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Freud và thuyết tương đốicủa Einstein và ông rút ra kết luận chỉ có học thuyết của Einstein mới thực
sự là khoa học
Ngoài ra, K Popper còn chịu ảnh hưởng của Alfred Adler (1870 –1937) chuyên gia tâm thần học, người sáng lập trường phái tâm lý học cánhân Sự nhấn mạnh của ông về tầm quan trọng của những cảm giác bị thấp
Trang 23kém – phức cảm thấp kém – được công nhận là đã cô lập được một yếu tố
đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nhân cách Đã có một thời gian
K Popper đã làm việc cùng Alfred Adler, nhưng ông lại bất đồng với nhữngquan điểm của Alfred Adler về tâm lý Điều này cũng diễn ra tương tự với
Sigmund Freud (1856 – 1939) với những khám phá, phát minh trong phântâm học
Về mặt vật lý học, K Popper chịu ảnh hưởng thuyết bất định trong
vật lý học lượng tử và ông đã có một bài viết về vấn đề này Ông đã áp dụng
vô định luận để phê phán các học thuyết xã hội dựa trên quyết định luận,
trong đó ông lên án chủ nghĩa Marx là “quyết định luận kinh tế” Năm 1926,
khi một nhà khoa học Đức là Werner Heisenberg phát biểu nguyên lý bất
định nổi tiếng của mình, Heisenberg đã chứng tỏ được rằng độ bất định về vị
trí của hạt nhân với độ bất định về vận tốc của nó nhân với khối lượng củahạt không bao giờ nhỏ hơn một lượng xác định - lượng đó là hằng số Planck.Nguyên lý bất định có những ngụ ý sâu sắc đối với cách nhìn nhận thế giới.Thậm chí sau hơn 50 năm chúng vẫn chưa được nhiều nhà triết học đánh giá
đầy đủ và vẫn còn là đề tài của nhiều cuộc tranh luận Nguyên lý bất định đã
phát tín hiệu về sự cáo chung cho giấc mơ của Laplace về một lý thuyết khoahọc, một mô hình của vũ trụ hoàn toàn có tính chất bất định: người ta chắcchắn không thể tiên đoán những sự kiện tương lai một cách chính xác nếu
như người ta không thể dù chỉ là đo trạng thái hiện thời của vũ trụ một cách
chính xác! Chúng ta vẫn còn có thể cho rằng có một tập hợp các định luậthoàn toàn quyết định các sự kiện dành riêng cho một đấng siêu nhiên nào đó,
người có thể quan sát trạng thái hiện thời của vũ trụ mà không làm nhiễuđộng nó Cách tiếp cận này đã dẫn Heisenberg, Edwin Schrodinger và Paul
Dirac vào những năm 20 xây dựng lại cơ học trên cơ sở của nguyên lý bất
định thành một lý thuyết mới gọi là cơ học lượng tử Trong lý thuyết này,
Trang 24các hạt không có vị trí, không có vận tốc tách bạch và không hoàn toàn xác
định Thay vì thế chúng có một trạng thái lượng tử là tổ hợp của vị trí và vận
tốc
Về mặt kinh tế, K Popper chịu ảnh hưởng tư tưởng chủ nghĩa tự docủa Friedrich Hayek (1899–1992), nhà triết học, chính trị và kinh tế gốc Áo.Friedrich Hayek là một trong những kiến trúc sư chính của cuộc xây dựng lạichủ nghĩa tự do, trên bình diện tư tưởng lẫn hành động, trong thế kỷ XX.Thông qua một sự nghiệp phong phú và xúc tích, Hayek đã tìm cách trang bịnhững cơ sở mới cho một chủ nghĩa tự do mà ông không ngừng nghỉ đối lậpvới học thuyết Keynes và với mọi hình thức của chủ nghĩa can thiệp Trong
tác phẩm nổi tiếng của Hayek “The Road to serfdom” (Con đường dẫn đến
chế độ nông nô) được xuất bản lần đầu ở Anh năm 1944, Hayek phản đối kếhoạch tập trung ở các nước xã hội chủ nghĩa và cho rằng nó không tránhkhỏi sẽ dẫn đến chế độ độc tài và ách nô dịch đối với người lao động.Friedrich Hayek đã tranh luận rằng sự phát triển của các chế độ độc tài cựcquyền là kết quả của việc có quá nhiều can thiệp và điều tiết của nhà nướclên thị trường làm mất đi tự do dân sự và chính trị Hayek cũng nhìn thấy sựkiểm soát kinh tế đang được thể chế hóa tại Anh và Mỹ và cảnh báo nhữngthể chế Keynes này vì ông tin rằng chúng có thể và sẽ dẫn đến các nhà nướccực quyền mà những người tự do theo chủ nghĩa Keynes đã và đang cốtránh Hayek xem các chế độ độc đoán như phát xít, Quốc xã và cộng sản
đều là các nhánh khác nhau của chủ nghĩa cực quyền; tất cả đều tìm cách xóa
bỏ hoặc giảm thiểu tự do kinh tế Với Hayek, việc xóa bỏ tự do kinh tế sẽdẫn đến việc xóa bỏ tự do chính trị Do vậy Hayek tin rằng sự khác biệt giữaQuốc xã và cộng sản chỉ là ở từ ngữ Ông cho rằng tự do kinh tế là điều kiệncần thiết để tạo ra và duy trì bền vững tự do chính trị và dân sự Hayek tinrằng kết cục cực quyền sẽ xảy ra tại Anh (hay bất cứ nơi nào khác) nếu chính
Trang 25phủ tìm cách kiểm soát tự do kinh tế của cá nhân với các chính sách donhững người như Dewey, Keynes, hay Roosevelt chủ trương.
Một trong những nhà phê bình chủ nghĩa cực quyền có ảnh hưởng
nhất là Karl Popper Trong tác phẩm The Open Society and Its Enemies (Xã hội mở và những kẻ thù của nó), ông bảo vệ nền dân chủ tự do và ủng hộ
một xã hội mở, trong đó chính phủ có thể được thay đổi mà không phải đổmáu Popper tranh luận rằng quá trình tích lũy tri thức nhân loại là không thể
dự đoán được và lý thuyết về một nhà nước lý tưởng là không thể tồn tại Dovậy, hệ thống chính trị cần đủ mềm dẻo để chính sách của chính phủ có thểphát triển và thay đổi cho phù hợp với nhu cầu của xã hội; cụ thể, nó nênkhuyến khích đa và đa văn hóa
1.2.2 Các trào lưu triết học duy khoa học
Karl Popper ngay từ thời niên thiếu đã tiếp xúc với trào lưu triết họcduy khoa học Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và sự ứng dụng ngàymột rộng rãi của toán học và lôgic toán trong khoa học, điều này đã dẫn đến
khuynh hướng tuyệt đối hoá toán học lôgic và khoa học thực nghiệm
Người khởi xướng cho sự ra đời của triết học về khoa học và chủ
nghĩa thực chứng là nhà triết học Pháp Auguste Comte (1798- 1857), nhà lýthuyết xã hội, người tạo ra ngành xã hội học, nhà thực chứng luận đã đưa ra
thuật ngữ “Xã hội học” (Sociology) Auguste Comte là người đầu tiên chỉ ra
nhu cầu và bản chất của một khoa học về các quy luật tổ chức xã hội Xã hộihọc có nhiệm vụ đáp ứng được nhu cầu nhận thức, nhu cầu giải thích nhữngbiến đổi xã hội và góp phần vào việc lập lại trật tự ổn định xã hội Ông chorằng bản chất của xã hội học là ở chỗ sử dụng các phương pháp khoa học đểxây dựng lý thuyết và kiểm chứng giả thuyết Quan điểm như vậy của Comte
về chủ nghĩa thực chứng khác hẳn với quan niệm của một số nhà nghiên cứuthế kỷ XIX và thế kỷ XX (những nhà nghiên cứu này thường đồng nhất khái
Trang 26niệm thực chứng với khái niệm “kinh nghiệm chủ nghĩa” hay với việc thuthập số liệu một cách đơn thuần, không có lý thuyết, thiếu lý luận) Auguste
Comte đã chỉ ra được các nhiệm vụ và vấn đề cơ bản của xã hội học Xã hội
học có nhiệm vụ phát hiện ra các quy luật, xây dựng lý thuyết, nghiên cứu cơcấu xã hội (tĩnh học xã hội) và nghiên cứu quá trình xã hội (động học xã hội)
Xã hội học có nhiệm vụ trả lời câu hỏi: trật tự xã hội (tổ chức xã hội) đượcthiết lập, duy trì và biến đổi như thế nào Vấn đề này về sau trở thành mốiquan tâm nghiên cứu hàng đầu trong xã hội học ở Mỹ và châu Âu thế kỷ XX
Về sau chủ nghĩa thực chứng mới đã đi đến tuyệt đối hoá vai trò củacác khoa học tự nhiên, khoa học thực nghiệm Họ cho rằng triết học chỉ cónhiệm vụ làm công cụ khoa học, như phân tích lôgic, phân tích ngôn ngữ đểlàm sạch những mệnh đề lý luận, loại bỏ những sai lầm Đại biểu cho trườngphái này có Bertrand Russell (1872 – 1970), người đặt nền móng cho trào
lưu triết học này, là người đã khôi phục lại chủ nghĩa kinh nghiệm trong lĩnh
vực lý luận nhận thức Tư tưởng của ông được nhóm Viên vận dụng vàotrong chủ nghĩa thực chứng lôgic hay chủ nghĩa kinh nghiệm lôgic Với tácphẩm “Tri thức chúng ta về thế giới bên ngoài” (Our Knowledge of the
External Word, 1926) và “Tìm hiểu về ý nghĩa của chân lý” (1962), ông đã
giải thích rằng, mọi tri thức xét cho cùng mà chúng ta đang có được đều
được xây dựng từ những kinh nghiệm trực tiếp”[24, tr.11]
Ngoài ra, còn có các đại biểu nổi tiếng khác như Ernst Mach 1916), Ludwing Wittgenstein (1889-1951) mà tác phẩm của ông có ảnh
(1838-hưởng rất lớn đến nhóm Viên và được những nhà sáng lập ra nhóm Viên coiđây như là cơ sở lý luận của nguyên tắc thực chứng của nhóm này
Ludwing Wittgenstein (1889-1951) là người phát triển triết học ngônngữ và phương pháp phân tích ngôn ngữ Các tác phẩm của ông có ảnh
hưởng rất lớn đến nhóm Viên và được những nhà sáng lập ra nhóm Viên coi
Trang 27đây như là cơ sở lý luận của nguyên tắc thực chứng của nhóm này Theo
ông, ngôn ngữ khoa học mới thật sự có ý nghĩa, vì các mệnh đề của nó phản
ánh đúng các sự kiện của thực tế, còn các ngôn ngữ triết học hay đạo đức
học đều không có ý nghĩa khoa học Wittgenstein cho rằng: Vai trò của triếthọc là phân tích, nhiệm vụ của triết học là phân tích ngôn ngữ để khám phá
ra những trò chơi ngôn ngữ (languge games), những luật lệ của chúng trongviệc sử dụng từ ngữ và loại bỏ những khó khăn do sự vi phạm các luật củatrò chơi ngôn ngữ Chính vì thế mà theo ông, các nhà triết học là những
người đã phạm lỗi vì họ đã không theo đúng luật của trò chơi ngôn ngữ
Những vấn đề triết học (siêu hình học) không phải là vấn đề chân chính màchỉ là điều phi lý bắt nguồn từ việc không biết sử dụng ngôn ngữ
Ngoài ra còn phải kể đến các nhà thực chứng lôgic như RudolfCarnap (1891 – 1870) Ông là đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa thực chứnglôgic hay chủ nghĩa kinh nghiệm lôgic Khi viết về cấu trúc lôgic, Carnapcho rằng những cuộc tranh cải trong siêu hình học truyền thống như sự tranhcải của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là sự nghèo nàn vô ích Chủnghĩa thực chứng cho rằng chân lý chỉ có được trong phạm vi những tri thứcthực chứng và được kiểm tra bằng con đường kinh nghiệm trực tiếp Họnhấn mạnh những tri thức thực chứng có tác dụng chống lại các phươngpháp và lý luận tư biện đã từng tồn tại, đây là một trong những đóng gópquan trọng Tuy nhiên, triết học của họ cũng mắc phải những hạn chế nhất
định
Chủ nghĩa thực chứng lôgic là một trong những tiền đề quan trọngcho sự hình thành tư tưởng triết học của Karl Popper, đưa ông sát nhập vàotrào lưu triết học khoa học thế kỷ XX Karl Popper kế thừa quan điểm củacác nhà thực chứng lôgic về vai trò của quan sát, thực nghiệm trong sự pháttriển của khoa học, nhưng ông phản bác phương pháp quy nạp và nguyên tắc
Trang 28khả thực chứng của chủ nghĩa thực chứng lôgic và đề xuất phương pháp diễndịch và nguyên tắc khả phủ chứng, tức nguyên tắc chỉ có thể chứng minh sựsai lầm, giả dối của các lý thuyết khoa học Do đó, các nhà nghiên cứu coi K.Popper là một đại biểu của “chủ nghĩa hậu thực chứng” (post-positivism).
1.3 VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Karl Popper
Karl Popper sinh ngày 28 tháng 6 năm 1902 tại Viên, nước Áo, là
một người mang dòng dõi Do Thái, nhưng gia đình lại theo Kitô giáo
Karl Popper lớn lên trong một gia đình mà sách và âm nhạc luôn
đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống Cha của Karl Popper là Simon
Carl Siegmund (1856-1932), là một tiến sĩ luật của Đại học Viên Ngoài ra,ông còn được biết đến là người tham gia tích cực trong các hoạt động xã hội,ông luôn quan tâm và có sự đồng cảm sâu sắc đến các tầng lớp cùng khổtrong xã hội Là một thành viên của tổ chức cứu tế, ông tích cực tham gia cáchoạt động phúc lợi, giúp đỡ việc quản lý trong các trại trẻ mồ côi, các trẻ em
lang thang cơ nhở không cha mẹ, không nhà cửa Simon Carl Siegmund còn
có tài làm thơ và dịch thuật rất tốt từ tiếng Hy Lạp và tiếng La tinh sang tiếngĐức Ông rất chú trọng trong công tác nghiên cứu khoa học trên nhiều lĩnh
vực khác nhau như: xã hội học, triết học, sử học… Chính vì thế mà nhà củaông có rất nhiều sách Trong lời tự thuật của mình, K Popper từng kể rằng:Trong nhà của ông là một thư viện mà trong đó có rất nhiều các tác phẩm củacác nhà triết học nổi tiếng như: Plato, Francis Bacon, René Descartes,Baruch Spinoza, John Locke, Anthur Schopenhauer, Kant, Kierkegaard,
Nietzche… bên cạnh đó cũng có các sách của những người xã hội chủ nghĩanhư Các Mác, Ăngghen, Karl Kautsky… và rất nhiều tác phẩm khác Ông
nói, sách ở khắp mọi nơi, chỉ trừ phòng ăn và chỗ để chơi piano
Mẹ của K Popper là Jenny Schiff (1864 – 1938), bà xuất thân từ một
Trang 29gia đình âm nhạc K Popper nói rằng mẹ của ông chơi piano rất tuyệt và làngười xuất thân trong một gia đình có truyền thống về âm nhạc, âm nhạc như
là một môn nghệ thuật gia truyền, các dì của K Popper cũng chơi piano rấthay Bên ngoại của ông còn có ba người nhạc sĩ tài năng, ông bà ngoại làmột trong những người sáng lập Hội những người yêu nhạc rất nổi tiếng và
âm nhạc đã có một vị trí quan trọng trong cuộc sống của K Popper, ôngkhông chỉ yêu thích âm nhạc mà khi lớn lên ông còn tham gia nghiên cứu về
âm nhạc, học tập âm nhạc và cũng có nhiều hiểu biết nhất định trong lĩnhvực này
Trong thời thơ ấu của K Popper, gia đình ông có cuộc sống khá thịnh
vượng Họ sống trong một căn hộ lớn ở trung tâm của Viên Khi còn nhỏ, K.Popper cùng hai người chị của mình luôn được mẹ đọc cho nghe những tập
truyện rất nổi tiếng Trong những cuốn truyện ấy phải kể đến cuốn truyệnCuộc phiêu lưu của Nin Đây là một cuốn truyện đã có những ảnh hưởng lớnlao và lâu dài trong cuộc đời của Karl Popper Sau khi biết đọc sách thì mỗi
năm ông lại đọc lại cuốn truyện này vài lần và chăm chỉ đọc nhiều tác phẩm
của nhiều nhà văn vĩ đại khác Đọc sách trở thành một trong những nhu cầukhông thể thiếu trong cuộc sống của ông, nhờ có trí tuệ và khả năng hấp thụnhanh tri thức khoa học cộng với lòng ham đọc sách mà ông đã nhanh chónghọc được cách viết và óc suy nghĩ, tính toán Ông nói: “Tôi mãi mãi cảm ơn
người thầy đã khai sáng cho tôi là Êma Gônđơbécgơn Chính ông đã dạy tôi
biết đọc, biết viết, biết tính toán Tôi cho rằng đó là bài học duy nhất cần dạycho trẻ em, đương nhiên, cũng có những trẻ em không cần dạy cũng có thểbiết những điều đó Ngoài ra phải có môi trường tốt và trong khi đọc và suynghĩ thì phải biết học tập” [35, tr.10]
Khi còn là một cậu bé, Karl Popper là người luôn biết quan tâm đếnnhững người xung quanh, đặc biệt là những người khốn khổ, nghèo khó ở
Trang 30Viên Lúc nhỏ K Popper rất ít nói, trầm lặng, tính khí hơi ngang nhưng rấtgiàu lòng thương người, nhìn bên ngoài có thể nhận thấy ông là người đasầu, đa cảm Tuy còn rất nhỏ nhưng khi chứng kiến các hiện tượng đói khổ ở
Viên ông đã rất buồn và đồng cảm với tầng lớp người bất hạnh K Popper
nói:
“Những người hiện đang sống ở các nước dân chủ phương Tây, rất ít
biết về sự nghèo khổ hồi đầu thế kỷ này là như thế nào Lúc ấy, đàn
ông, đàn bà, trẻ em đều sống rất nghèo khổ, đói rách, đều không có hi
vọng gì Nhưng trước tình cảnh đó, những đứa trẻ như chúng tôi đềubất lực Những việc mà chúng tôi có thể làm được, chẳng qua chỉ xin
người lớn mấy đồng tiền để cho những người nghèo ấy mà thôi” [35,
tr.17]
Ngay từ khi còn trẻ ông đã chú ý đến các câu hỏi về triết học Chacủa ông đã đề nghị ông đọc một số khối lượng các cuốn truyện của Strinberg
Nhưng khi đọc truyện của Strinberg, ông thấy nó ẩn chứa quá nhiều điều có
tầm vóc to lớn và khó hiểu về ý nghĩa của chúng K Popper đã chia sẻ và
trao đổi với bố của ông nhưng có rất nhiều điều mà bố ông đã không đồng ý
với ý kiến của ông và khuyên ông nên hỏi người chú của mình Chú của ônggiải thích cho ông hiểu về sự nối tiếp của các con số và dùng các viên gạch
để mô phỏng bài giảng của mình Ông nói với K Popper rằng, không gian vũ
trụ là cái đống gạch được xếp mãi đến vô tận không bao giờ đầy Bài giảngnày đã được một cậu bé mới tám tuổi tiếp nhận một cách miễn cưỡng
K Popper thắc mắc mãi, ông thấy khó hiểu nhưng không thể diễn đạt
được những ý kiến của mình thành một hệ thống Ông chỉ nghĩ rằng, những
vấn đề triết học đó, nhất định người lớn sẽ hiểu và ông còn bé nên chưa thểhiểu Cho đến sau này, khi đã đọc rất nhiều sách triết học, ông mới hiểu đượcvấn đề vô hạn và hữu hạn của không gian và thời gian là vấn đề triết học
Trang 31quan trọng mà cho đến ngày nay vẫn chưa thể giải quyết dứt điểm được, đóchính là một bộ phận hợp thành trong lý luận của Kant về những kết luận đốilập nhau.
Năm 1918, K Popper tròn 16 tuổi Ông đã bỏ học vì chán ghét việc
học ở trường và cho rằng học, giảng dạy như vậy ở trường là việc làm tốnthời gian, “thậm chí đó là một sự dày vò tuyệt vọng”[36, tr.22] Trong cácmôn học ở trường, ông chỉ thích học môn số học vì thầy Philippe Gloide là
người dạy có sức lôi cuốn khiến người học thích thú Sau khi bỏ học, K
Popper bắt đầu tự học và vào học dự thính tại Trường đại học Viên Vì lý dokhông thi tốt nghiệp trung học phổ thông nên ông không được coi là sinhviên chính thức Bốn năm sau, trong lần nỗ lực thứ hai ông đã vượt qua kỳ
thi để trở thành sinh viên chính thức của Trường đại học Viên Trường này
tuy không có học bổng nhưng học phí rất thấp và sinh viên có thể tự do thamgia nghe giảng bất cứ giờ học nào mình thích Ban đầu, K Popper nghegiảng hầu hết các bộ môn trong trường như: sử học, văn học, tâm lý học, triếthọc Nhưng sau đó ông chỉ tập trung vào vật lý học và toán học Trong hầuhết các lĩnh vực, K Popper cùng các giảng viên của ông là Hans Thirring,
Wirtinger, Furtwangler, Hans Hahn đều có những nghiên cứu tuyệt vời, đặc
biệt là các nghiên cứu về tâm lý học K Popper chịu ảnh hưởng lớn của KarlBuhler về những vấn đề tâm lý và các tác phẩm của Otto Selz
Cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc với sự thất bại của Đức và
Áo, hậu quả của nó mang lại rất tồi tệ Thành phố Viên rất hỗn loạn, khôngchỉ có sự xáo trộn về chính trị mà nạn thất nghiệp, lạm phát đói kém và các
tệ nạn xã hội tràn lan Nhân dân ở Viên sống rất nghèo khổ, cuộc sống con
người chịu đựng mọi sức ép, buồn thảm và chán ghét Trong thời gian này,
K Popper đã tham gia hội sinh viên của những người theo chủ nghĩa xã hội.Ông thường xuyên tham dự đầy đủ các cuộc họp của hội và các cuộc mittinh
Trang 32mà hội tổ chức, ông đã tin theo những người xã hội chủ nghĩa và trongnhững tháng đầu năm 1919, K Popper đã tự coi mình là một người cộng sản
chân chính Nhưng điều này không diễn ra lâu hơn khi K Popper đã viết:
“Năm 17 tuổi tôi đã trở thành một người chống chủ nghĩa Mác”[35, tr.24].Điều làm cho ông có những thay đổi nhanh chóng ấy là do ông rút ra kết luận
từ một sự kiện chính trị, và kể từ đó ông đã quyết định phương hướng chínhtrị của mình Đó là sự kiện đã xảy ra vào trước ngày sinh nhật của ông, năm
1919 Lúc ấy, một nhóm thanh niên theo chủ nghĩa xã hội tham gia biểu tìnhbằng tay không Cuộc biểu tình này do Đảng Cộng sản lãnh đạo và cuối cùng
họ đã bị sát hại K Popper đã tận mắt chứng kiến sự việc và hết sức kinhhoàng, sợ hãi Từ đó ông đã tỏ ra oán trách những đảng viên cộng sản đã
hành động một cách hấp tấp, bừa bãi, ông đã chỉ trích cách mạng bạo lực và
chuyên chính vô sản của chủ nghĩa Mác
K Popper cũng đã tỏ thái độ đối với những người bạn theo chủ nghĩaMác Ông cho rằng họ chưa thật sự hiểu được chủ nghĩa Mác, những điều họnghĩ chỉ là sự nửa vời trong tư tưởng thế mà họ luôn tự coi mình là lãnh tụcủa giai cấp công nhân Từ đây, ông đã tham gia lao động chân tay, nhưng
do công việc quá vất vả nên sau đó ông lại quyết định sang làm một côngviệc khác là thợ mộc Trong lúc làm việc ông lại bị phân tâm bởi các vấn đềcủa trí tuệ Đồng thời ông tiếp tục tham gia nghiên cứu tâm lý cùng nhà tâm
lý học Adler, ông tham gia hoạt động như một nhân viên xã hội luôn quan
tâm đến các trẻ em bị bỏ rơi
Một thời gian ngắn trước khi trình luận án tiến sĩ, tiêu điểm quan tâmcủa K Popper chuyển từ tâm lý học sang phương pháp và đặc biệt là phươngpháp luận khoa học Điều này đã xuất hiện như một phần kết quả của cáccuộc thảo luận dài với các nhà triết học Julius Kraft và Heinrich Gomperz
Năm 1928, K Popper đã hoàn thành luận án tiến sĩ triết học với đề
Trang 33tài: “Vấn đề phương pháp trong tâm lý học tư duy” Tuy đây là một luận án
mà K Popper chưa cảm thấy hài lòng nhưng số điểm mà ông nhận được lại
là cao nhất K Popper thậm chí không thể tin nỗi vào điều đó, ông cảm thấynhẹ nhõm như trút đi một gánh nặng lớn Năm 1929, K Popper nhận làmgiáo viên dạy bộ môn số học và khoa học tự nhiên cấp trung học cơ sở Saukhi nhận được bằng Tiến sĩ, K Popper đã chú tâm nghiên cứu triết học mộtcách có hệ thống Trong thời gian là giáo viên, ông đã gặp và kết hôn vớiJosephine Henninger (Hennie), sau này bà cũng trở thành một người giáoviên K Popper vẫn chăm chỉ nghiên cứu các vấn đề nhận thức và phươngpháp luận khoa học, ông đã viết tất cả những suy nghĩ của mình nhưngkhông nhằm mục đích xuất bản mà chủ yếu là công việc trợ giúp cho quátrình nghiên cứu của mình Trong thời gian này K Popper đã biết đến cácnhà triết học thực chứng lôgic của trường pháo Viên, họ tổ chức các hội thảo
mà các thành viên của họ là: Rudolf Carnap, Otto Neurath, Herbert Feigl,Kurt Godel, Friedrich Waismann, Victor Kraft, Karl Menger, Hans Hahn,Philipp Frank, Richard von Mises, Hans Reichenbach và Carl Hempel Hầu
như K Popper không được tham dự bàn tròn trong các hội thảo này nhưng
trong những buổi nói chuyện bên lề hội thảo ông đã tỏ rõ những tư tưởngtriết học của mình
Khi bắt đầu tiếp xúc với “Nhóm Viên” chung quanh MoritzSchlick, Rudolf Carnap và Otto Neurath, Karl Popper bắt đầu đặt bút viếtnhững dòng tư tưởng về triết học của ông Thế nhưng đặc biệt là Schlick đãtách ly khỏi Popper, người đã phê phán quan điểm thực chứng lôgic và chỉ
trích thái độ nóng nảy của ông Vì thế Popper không còn được mời dự các
cuộc họp của Nhóm Viên nữa
Herbert Feigl đã động viên ông tiếp tục viết, việc Popper bắt đầu saumột thời gian lưỡng lự Trong khoảng thời gian ba năm ông viết một bản thảo
Trang 34mà ngày nay chỉ còn tồn tại một phần Phần còn lại của bản thảo này được ấn
hành năm 1934 dưới dạng rút ngắn với tựa đề Logik der Forschung (Lôgic
của các phát minh khoa học) và mãi đến năm 1979 mới được xuất bản dưới
tựa đề Die beiden Grundprobleme der Erkenntnistheorie (Hai vấn đề cơ bản
của nhận thức luận) Trong thời gian này ông đã tiếp xúc với WernerHeisenberg và Alfred Tarski
Tác phẩm chính về triết học của khoa học “Lôgíc của các phát minhkhoa học” cuối cùng đã được phát hành trong các tập san của Nhóm Viênmặc dù trong đó Popper đã phê phán chủ nghĩa thực chứng của nhóm này.Luận bản của Popper đã được thành viên của Nhóm Viên đánh giá như là mộttác phẩm thành hình từ các thảo luận của nhóm Ngày nay, tính khả phản bác
được trình bày trong tác phẩm của Popper được xem như là cơ sở cho việc
nghiên cứu khoa học hiện đại
Năm 1937, Karl Popper đến New Zealand và giảng dạy triết học như
một giảng viên cao cấp tại Đại học Canterbury Trong thời gian chiến tranh
ông đã hoàn thành hai tác phẩm về triết học chính trị là: “The Poverty ofHistoricissm” (Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử) và “The Open Societyand Its Enemies” (Xã hội mở và kẻ thù của nó) Hai tác phẩm này đã mang
lại nhiều danh tiếng cho ông Sau khi chiến tranh hế giới thứ hai nổ ra, ông
đã đi đến London, và sau đó vào năm 1949 đã trở thành một giáo sư lôgic và
khoa học về phương pháp tại Trường Kinh tế London Trong thời gian giảngdạy lôgic và khoa học về phương pháp tại Trường Kinh tế London, ông đãviết hai tác phẩm mang tư tưởng triết học khoa học nổi tiếng là “Conjectures
and Refutations: The Growth of Scientific Knowledge” (Phỏng định và Bác
bỏ: Sự tăng trưởng của tri thức khoa học) và “Objective Knowledge: An
Evolutionarry Approach” (Tri thức khách quan: Một cách tiếp cận dưới góc
độ tiến hóa)
Trang 35Năm 1958, Karl Popper đã trở thành một thành viên của Học viện
Anh và trong 1958 – 1959 ông là Chủ tịch Hội Aristotle Karl Popper đã
được Nữ hoàng Elizabeth II phong tước hiệp sĩ (Knight) vào năm 1965 và
trở thành thành viên Hội Hoàng gia vào năm 1976
Năm 1979, ông ngừng giảng dạy nhưng vẫn tiếp tục viết sách Năm
1992, ông được Viện Goethe của Đức trao tặng Huy chương Goethe Ông là
thành viên của Mont Pelerin Society do Hayek thành lập, đồng thời cũng làthành viên của Royal Society và của International Academy of Science Ôngmất vào ngày 17 tháng 9 năm 1994 tại London
Karl Popper được đánh giá là một trong những nhà triết học về khoa
học có nhiều ảnh hưởng lớn của thế kỷ XX, bên cạnh đó ông còn nhiều côngtrình nghiên cứu rất sâu sắc về lĩnh vực triết học xã hội và chính trị Ông
khước từ thuyết quy nạp (indutivism) trong phương pháp khoa học và đề cao
sự kiểm sai (falsification); phản đối thuyết biện minh (justificationism) kinh
điển trong tri thức và thay vào đó bằng thuyết duy lý phê phán (criticalrationalism) Như giới triết học đánh giá, ông đã đưa ra một thứ “triết lý phê
phán không biện minh đầu tiên trong lịch sử triết học” Về mặt chính trị xãhội, ông là người chiến đấu không mệt mỏi cho một nền dân chủ tự do(liberal democracy) và cho những nguyên lý của một chủ thuyết phê phán xãhội (social criticism) trên quan điểm về một xã hội mở (open society)
1.3.2 Một số tác phẩm tiêu biểu của Karl Popper về triết học khoa học
Hai tác phẩm tiêu biểu cho quan điểm chính trị - xã hội của K Popperlà: “Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử” và “Xã hội mở và những kẻ thù của
nó” Các tác phẩm này thể hiện quan điểm chính trị - xã hội sâu sắc của Karl
Popper Tuy vậy trong hai tác phẩm này cũng chứa đựng một số tư tưởng triếthọc về khoa học của ông
Trang 36Trong tác phẩm “Sự khốn cùng của chủ nghĩa lịch sử” [32], ông đã phêphán chủ nghĩa lịch sử (Historicism) và cho rằng: Lòng tin vào vận mệnh lịch
sử chỉ là sự mê tín, và không thể có sự tiên đoán nào về diễn tiến của lịch sửchỉ loài người bằng các phương pháp khoa học hay duy lý khác nào Tácphẩm này gồm 4 phần, trước khi đi vào phê phán chủ nghĩa lịch sử hay lịch
sử luận, Karl Popper đã dành hai phần để mô tả về các loại hình của chủnghĩa lịch sử Trong hai phần sau cùng ông mới tiến hành phê phán nó Trongkhi phê phán chủ nghĩa lịch sử, K Popper trình bày nhiều quan điểm củamình về các vấn đề phương pháp luận trong cách tiếp cận lịch sử K Poppercho rằng, quá trình phát triển của lịch sử nhân loại luôn chịu những tác độngmạnh từ sự tăng tiến của những tri thức nhân loại Ngay khoa học cũng khôngbiết được sự tăng tiến của mình trong ngày mai Chính vì vậy K Popper đi
đến kết luận rằng con người không thể tiên đoán tương lai xã hội của mình
bằng những phương pháp lý tính hay khoa học Ông đã dành quan tâm đặcbiệt để phê phán đối với triết học Plato, Hegel và Mác, theo ông do đó lànhững đại biểu nổi tiếng của chủ nghĩa lịch sử K Popper đã phân tích và chỉ
ra những luận điểm cụ thể của chủ nghĩa lịch sử ở hai thể loại của nó và tiếnhành phê phán chúng Những phân tích và phê phán này vừa có những đónggóp nhất định nhưng cũng có những hạn chế duy tâm siêu hình
Trong tác phẩm “Xã hội mở và những kẻ thù của nó” [47], K Popperbiện hộ cho xã hội mở, dân chủ tự do Ông tiếp tục truyền thống đề cao lý trí,
lý tính của triết học châu Âu, chống lại các tư tưởng thần thánh hoá con người
và những sản phẩm của thế giới người, thể hiện nhu cầu về một xã hội tốt
đẹp, hoàn hảo hơn các xã hội hiện hành, trong đó có dân chủ thực sự, conngười được tôn trọng ý kiến, con người ứng xử với nhau trên cơ sở lý tính
chứ không trên cơ sở của niềm tin, của những nguyên tắc cấm kỵ được thầnthánh hoá Khoa học hiện đại đang chứng tỏ ngày một vững chắc rằng, bất cứ
Trang 37hệ thống nào, mà xã hội chỉ là một loại hệ thống, nếu không có trao đổi, lưuthông với môi trường bên ngoài và bên trong, tức là đóng, thì sẽ không pháttriển được Tính duy lý, dân chủ, đồng thuận, bài trừ sự cấm kỵ phi lý, thần
bí, chống lại chủ nghĩa quyền uy, chuyên chế, độc tài là những nguyên tắc rất
căn bản của mô hình xã hội văn minh mà nhân loại đang vươn tới
Các tác phẩm chủ yếu thể hiện quan điểm triết học về khoa học củaKarl Popper gồm có:
1) “Lôgic của phát minh khoa học” [46] Cuốn sách được ông viết
bằng tiếng Đức có tựa đề Logik der Forschung – xuất bản lần đầu tại Nhà
xuất bản Julius Springer Verlag, Vienna, 1934 – sau đó được chính tác giả
dịch sang tiếng Anh dưới tựa đề The Lôgic of Scientific Discovery – Nxb
Hutchinson, London, 1959 Theo K Popper, khoa học là cái gì có thể kiểm
chứng được, bằng quan sát, dữ liệu, nhưng kiểm chứng không phải là chứng minh sự chân thật (justification) như quan điểm của chủ nghĩa thực chứng lôgic nhóm Viên, mà là chứng nghiệm sự giả dối, sai lầm (falsification).
Những gì không thể kiểm chứng được một cách lôgic là siêu hình học hay
“nguỵ khoa học” K Popper đã đưa ra quan điểm mới tốt hơn triết lý thực
chứng lôgic Theo ông, để phân biệt “khoa học thật” sự với “ngụy khoa học”
và siêu hình học, ta cần tiêu chuẩn: một lý thuyết chỉ mang tính khoa học khi
nó có thể chứng nghiệm là sai Đây là nguyên tắc phủ chứng (falsifiability
principle) nổi tiếng của Popper, có nhiều ảnh hưởng vào thập niên 1970 Tuyvậy, theo nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu, chủ nghĩa phản chứng(falsificationism) của K Popper có những bất cập nhất định, nhất là với khoahọc xã hội, vì tiêu chuẩn ấy quá cứng nhắc, áp dụng nó một cách rạch ròi thìngay cả thuyết tiến hoá của Darwin cũng không phải là khoa học
2) “Phỏng định và Bác bỏ: Sự tăng trưởng của tri thức khoa học”
(Conjectures and Refutations: The Growth of Scientific Knowledge) [49],
Trang 38được xuất bản lần đầu năm 1963, do Nxb Routledge & Kegan Paul Đây là
tác phẩm được viết bằng tiếng Anh, thể hiện quan điểm của Karl Popper vềhai quá trình chủ yếu của hoạt động nghiên cứu khoa học, theo ông, một là,quá trình hình thành các phỏng định, dự đoán, giả thuyết và hai là, quá trìnhkiểm nghiệm để bác bỏ
3) “Tri thức khách quan: Một cách tiếp cận dưới góc độ tiến hóa”
(Objective Knowledge: An evolutionary Approach) [50] Cuốn sách là tậphợp 9 bài viết và tham luận quan trọng của ông do chính ông chủ biên và xuấtbản lần đầu do Nxb Oxford University Press, 1972, dưới nhan đề “ObjectiveKnowledge: An Evolutionary Approach” Sách này được Chu Lan Đình dịch
do Nxb Tri thức, Hà Nội, xuất bản năm 2012 [34] Tác phẩm Tri thức khách quan là một trong những tác phẩm mang nội dung triết học về khoa học của
Karl Popper Theo ông, vấn đề cơ bản của triết học khoa học là vấn đề phânranh – phân biệt giữa đâu là khoa học và phi khoa học – và vấn đề tính khảkiểm sai hay tính có thể bác bỏ được Tư tưởng của Karl Popper ngày naycũng đã bị vượt qua bởi những lý thuyết mới (đúng như những gì lý thuyếtcủa ông nêu ra) nhưng những ý tưởng và cảm hứng từ ông vẫn còn nguyênvẹn trong nền triết học thế giới Tác phẩm “Tri thức khách quan” dễ dànggiúp ta cảm nhận sự sôi động của triết học phương Tây suốt thế kỷ XX mà
Karl Popper đã đứng giữa bao dòng triết học, tận tình đưa ta những kiến giảiđầy sáng suốt và quý giá
Các tác phẩm này đã tạo điều kiện để ông phát triển một ngành triếthọc mới: triết học khoa học và ông đã được thừa nhận rộng rãi như một nhàtriết học khoa học lớn của thế kỷ XX
Ngoài ra, còn một tác phẩm khác cũng quan trọng cho việc nghiên cứu
về Karl Popper Đó là tác phẩm “Unended Quest: An Intellectual Autobiography (Sự sưu tầm chưa kết thúc: Một tự tiểu sử của người tri thức)
Trang 39[45] Tác phẩm này gồm những tư liệu về tiểu sử do chính Karl Popper viết
về gia đình mình, về cuộc đời của mình về những bước chuyển trong cuộcsống và quan điểm của ông
Trang 40TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Tư tưởng triết học về khoa học của Karl Popper được hình thành vào
cuối những năm 20 đầu những năm 30 với sự ra đời của tác phẩm “Lôgic củaphát minh khoa học”
Tư tưởng triết học về khoa học của Karl Popper ra đời khi nước Áo lâmvào khó khăn và tình trạng kinh tế khó khăn, ông phải di tản sang nước ngoài
Ông cũng chứng kiến sự tàn bạo của chủ nghĩa phát xít, khuyết tật của môhình chủ nghĩa xã hội ở Liên xô Đó là những điều kiện kinh tế, chính trị - xãhội làm cho K Popper không tin vào tương lai tốt đẹp của nhân loại nóichung và phản bác những dự báo của C Mác về tương lai của xã hội loài
người Đồng thời, trong thời đại của ông xuất hiện nhiều thành tựu khoa học
mới, như thuyết tương đối của Albert Einstein, thuyết bất định trong vật lý
lượng tử và những thành tựu của chủ nghĩa thực chứng mới nhóm Viên
Những thành tựu đó đã tạo điều kiện để ông phát triển một cách tiếp cận mới
cho tư tưởng triết học về khoa học của mình và ông đã được thừa nhận rộng
rãi như một nhà triết học khoa học lớn của thế kỷ XX
Ngoài những tác phẩm thể hiện quan điểm chính trị - xã hội của mình,
quan điểm triết học về khoa học của Karl Popper được trình bày trong một
loạt các tác phẩm tiêu biểu như: “Lôgic của phát minh khoa học”, “Phỏng
định và Bác bỏ: Sự tăng trưởng của tri thức khoa học”, “Tri thức khách quan:
Một cách tiếp cận dưới góc độ tiến hóa” Tất cả những tác phẩm này đã đượccông bố trên mạng internet và một số tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt là
cơ sở để chúng tôi đi sâu nghiên cứu về tư tưởng triết học về khoa học của
Karl Popper