1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại AgriBank Chi nhánh EaRal Buôn Hồ

115 134 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Hệ thống hóa những vấn đề lý luận có liên quan về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng của NHTM; đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nh

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: GS TS NGUYỄN TRƯỜNG SƠN

Đà Nẵng - Năm 2016

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn Nguyễn Thế Nguyên

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

4 Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong đề tài 3

5 Bố cục của đề tài 3

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6

1.1 TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6

1.1.1 Tín dụng trong hoạt động ngân hàng thương mại 6

1.1.2 Rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 11

1.2 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 15

1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng 15

1.2.2 Sự cần thiết của quản trị rủi ro tín dụng 16

1.2.3 Đặc điểm của quản trị rủi ro tín dụng 17

1.2.4 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng 17

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng quản trị rủi ro tín dụng 19

1.3 NỘI DUNG CỦA QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 20

1.3.1 Nhận dạng rủi ro tín dụng 20

1.3.2 Đo lường rủi ro tín dụng 22

1.3.3 Kiểm soát rủi ro tín dụng 28

1.3.4 Tài trợ rủi ro tín dụng 30

Trang 5

1.4.1 Khái niệm về khách hàng cá nhân 31

1.4.2 Đặc trưng của cho vay KHCN ảnh hưởng đến RRTD 31

Kết luận Chương 1 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH EARAL BUÔN HỒ 34

2.1 GIỚI THIỆU VỀ AGRIBANK CHI NHÁNH EARAL BUÔN HỒ 34

2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành AgriBank Chi nhánh EaRal Buôn Hồ 34

2.1.2 Tổ chức hoạt động của AgriBank Chi nhánh EaRal Buôn Hồ 34

2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2012-2015 35

2.2 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG KHCN TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH EARAL BUÔN HỒ 39

2.2.1 Quy trình cấp tín dụng KHCN 39

2.2.2 Kết quả hoạt động tín dụng KHCN tại Agribank chi nhánh EaRal Buôn Hồ 42

2.2.3 Thực trạng rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Agribank chi nhánh EaRal Buôn Hồ 44

2.2.4 Quản trị rủi ro tín dụng phân cấp cho chi nhánh 47

2.3 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH EARAL BUÔN HỒ 47

2.3.1 Thực trạng công tác nhận dạng rủi ro 47

2.3.2 Thực trạng công tác đo lường rủi ro 51

2.3.3 Thực trạng công tác kiểm soát rủi ro 52

2.3.4 Thực trạng công tác tài trợ rủi ro: 55

Trang 6

HÀNG CÁ NHÂN TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH EARAL BUÔN HỒ 57

2.4.1 Những kết quả đạt được 57

2.4.2 Hạn chế và những nguyên nhân 62

Kết luận Chương 2 69

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH EARAL BUÔN HỒ 70

3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 70

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHCN TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH EARAL BUÔN HỒ 72

3.2.1 Hoàn thiện công tác nhận dạng RRTD 72

3.2.2 Hoàn thiện công tác đo lường RRTD 75

3.2.3 Hoàn thiện công tác kiểm soát RRTD 76

3.2.4 Hoàn thiện công tác tài trợ RRTD 82

3.3 KIẾN NGHỊ 84

3.3.1 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà Nước 84

3.3.2 Kiến nghị đối với Agribank Việt Nam 85

3.3.3 Kiến nghị đối với Agribank Buôn Hồ 91

Kết luận Chương 3 93

KẾT LUẬN 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 7

AGRIBANK Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Việt Nam AGRIBANK

Trang 8

Số hiệu

2.1 Một số chỉ tiêu chủ yếu trong hoạt động kinh doanh 36 2.2 Hoạt động tín dụng giai đoạn 2012 - 2015 37 2.3 Kết quả kinh doanh giai đoạn 2012 - 2015 38 2.4 Cơ cấu dƣ nợ theo đối tƣợng KH giai đoạn 2012 - 2015 43

2.5 Cơ cấu dƣ nợ KHCN theo thời hạn vay giai đoạn 2012 -

3.1 Dƣ nợ quá hạn KHCN bình quân qua các năm 2012 đến

năm 2015 theo các nhóm nguyên nhân chủ yếu 72

Trang 9

Số hiệu

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xu thế hội nhập quốc tế đòi hỏi các ngân hàng thương mại Việt Nam phải đáp ứng các yêu cầu quản trị nói chung và quản trị rủi ro nói riêng theo chuẩn mực quốc tế, đồng thời mở ra các cơ hội để ngành Ngân hàng có thể tiếp cận nhanh và gần hơn với các chuẩn mực đó Hiện nay, bên cạnh nỗ lực giải quyết các khoản nợ xấu từ hoạt động cho vay trong quá khứ, các ngân hàng Việt Nam đã bắt đầu chuẩn bị các bước dài hơi hơn bằng cách xây dựng

hệ thống quản lý rủi ro tiên tiến, nhằm phòng ngừa rủi ro trong tương lai Quản trị rủi ro tín dụng được đặt lên hàng đầu đối với ngân hàng thương mại trong giai đoạn hiện nay

i ro n ng ở mức độ thấp chỉ làm giảm lợi nhuận, giảm nguồn vốn

tự có của các ngân hàng Còn nế ông kiểm soát được các NHTM sẽ phải đối mặt việc kinh doanh thua lỗ, có thể dẫn đến phá sản, minh chứng cụ thể là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ toàn cầu năm 2007 - 2009, với điểm xuất phát là sự sụp đổ của hệ thống tài chính Mỹ Như vậy có thể nhận thấ ngày càng đe dọa sự tồn tại và phát triển của các NHTM Nhất là tại các nước đang phát triển, đang trong quá trình chuyển đổi, môi trường kinh doanh chưa tốt, thị trường tài chính kém phát triển, mức độ minh bạch thông tin thấp… sẽ làm gia tăng mức độ rủi ro đối với hoạt động ngân hàng Do đó n i ro tín dụng ở các NHTM hiện nay trở nên cấp thiết

Những năm gần đây, công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank Việt Nam nói chung và tại Agribank chi nhánh EaRal Buôn Hồ nói riêng đang dần được đổi mới và hoàn thiện Việc nhận diện, đánh giá và kiểm soát rủi ro tín dụng là một trong những hoạt động mà chi nhánh luôn luôn quan tâm và đạt

Trang 11

được kết quả nhất định, góp phần vào kết quả kinh doanh của đơn vị ngày càng phát triển bền vững Tuy nhiên Agribank chi nhánh EaRal Buôn Hồ vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong công tác tín dụng, đặc biệt là việc xử lý nợ xấu,

cụ thể năm 2011 tỷ lệ nợ xấu/TDN là 1.80%; năm 2012 là 1.14%; năm 2013

là 1.82%, năm 2014 là 1.40%; và năm 2015 là 1.50%, nợ xấu cao ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh tại đơn vị, đặc biệt là khó khăn về tài chính Điều này chứng tỏ công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank chi nhánh EaRal Buôn Hồ vẫn còn những hạn chế nhất định Đây là vấn đề mà Agribank chi nhánh EaRal Buôn Hồ hết sức quan tâm và tìm giải pháp nhằm hoàn thiện hơn công tác này

Với mong muốn góp phần hoàn thiện hơn công tác quản trị rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng tín dụng mà cuối cùng là nâng cao năng lực tài chính giúp Agribank chi nhánh EaRal Buôn Hồ ngày càng phát triển, bền

vững; tôi chọn đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại AgriBank Chi nhánh EaRal Buôn Hồ” để nghiên cứu làm luận văn là cấp

thiết, phù hợp với mã ngành, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn nhất định

2 Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận có liên quan về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng của NHTM; đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Agribank chi nhánh EaRal Buôn Hồ; đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng và hạn chế rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Agribank chi nhánh EaRal Buôn Hồ trong thời gian đến

+ Về lý luận: luận văn tập trung vào nghiên cứu các lý luận cơ bản về

quản trị rủi ro tín dụng và các vấn đề có liên quan đến rủi ro tín dụng của NHTM;

+ Về thực trạng: luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng và

Trang 12

đánh giá hoạt động quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Agribank chi nhánh EaRal Buôn Hồ, chỉ ra các mặt đã đạt được, các hạn chế và nguyên nhân các hạn chế trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng;

+ Về giải pháp: trên cơ sở phân tích thực trạng, bám vào các định hướng của chi nhánh trong thời gian tới đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Agribank chi nhánh EaRal Buôn Hồ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: là hoạt động tín dụng, rủi ro tín dụng và các

biện pháp nhằm phòng ngừa rủi, hạn chế ro tín dụng mà cụ thể là hoạt động quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại AgriBank Chi nhánh EaRal Buôn Hồ

- Phạm vi nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng quản

trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại AgriBank Chi nhánh EaRal Buôn

Hồ trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2015

4 Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong đề tài

Trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện, luận văn dựa trên cơ sở vận dụng các phương pháp như: Phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp hệ thống hóa; phương pháp thống kê; phương pháp so sánh - đối chiếu

Đồng thời cũng vận dụng kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan để làm phong phú và sâu sắc hơn các cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ cái viết tắt, danh mục các bảng biểu, nội dung của luận văn gồm 3 chương chính sau:

Trang 13

Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại

Chương 2 Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại AgriBank Chi nhánh EaRal Buôn Hồ

Chương 3 Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại AgriBank Chi nhánh EaRal Buôn Hồ

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân này, tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu công trình nghiên cứu có liên quan:

- TS Nguyễn Minh Kiều, Quản trị rủi ro trong ngân hàng, NXB Thống

Kê, 2009 Giáo trình này giới thiệu đến người đọc những rủi ro đặc thù trong kinh doanh ngân hàng, các nguyên lý để quản trị ngân hàng thương mại và các phương pháp để quản trị rủi ro trong ngân hàng

- TS Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB Thống Kê, 2009 Giáo trình này giới thiệu đến người đọc những nghiệp vụ trong kinh doanh của ngân hàng thương mại

- Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Anh Dũng về quản trị rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bình Định Luận văn đã chỉ khá

rõ thực trạng công tác quản trị RRTD tại chi nhánh, xu hướng phát triển của chi nhánh Với nội dung chính là các hoạt động quản trị RRTD trong cho vay tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bình Định, luận văn đã đưa ra các số liệu, chỉ tiêu đánh giá về chất lượng của hoạt động này Bên cạnh đó, luận văn cũng lý giải các nguyên nhân, đánh giá kết quả đạt được và những hạn chế mà chi nhánh còn tồn tại, từ đó làm cơ sở đề xuất những giải pháp khắc phục để góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bình Định

Trang 14

- Nghiên cứu của tác giả Mai Xuân Thịnh về quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Định, tác giả tập trung nghiên cứu, phân tích tình hình hoạt động kinh doanh và hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank Bình Định, từ đó đƣa ra những giải pháp

để nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank Bình Định;

- Nghiên cứu của tác giả Lê Văn Mạnh về quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Thừa Thiên Huế, tác giả tập trung đánh giá thực trạng tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Thừa Thiên Huế đồng thời nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản trị rủi ro theo chuẩn quốc tế tại Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Thừa Thiên Huế

Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách thống nhất toàn diện, đặc biệt là

đề tài quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Agribank Chi nhánh EaRal Buôn Hồ chƣa có một công trình nào đề cập đến

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI

Trong chương 1, luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ

bản liên quan đến tín dụng và rủi ro tín dụng của NHTM

1.1 TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1 Tín dụng trong hoạt động ngân hàng thương mại

a Khái niệm tín dụng ngân hàng thương mại

Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc Latinh Creditum có nghĩa là một sự tin tưởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi

Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian quay về với một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu Theo quan điểm này thì tín dụng có 3 nội dung chủ yếu đó là: tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả

Như vậy, tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (hình thái tiền tệ hay hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian thu về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu với những điều kiện mà hai bên thoả thuận [12]

Hành vi tín dụng có thể được diễn ra trực tiếp giữa người thừa vốn cần đầu tư và người cần vốn để sử dụng Trên thực tế hai người này khó có thể

Trang 16

phù hợp được với nhau về quy mô, thời gian nhàn rỗi và thời gian sử dụng vốn; hoặc cũng có thể phù hợp được nhưng phải tốn kém chi phí để tìm kiếm

Do vậy, cần thiết phải có một người thứ ba đứng ra tập trung được tất cả số vốn của những người tạm thời thừa, cần đầu tư kiếm lãi (dưới hình thức huy động); trên cơ sở vốn tập trung được phân phối cho những người cần vốn (dưới hình thức cho vay) để sử dụng Người đó không ai khác chính là các tổ chức tín dụng, mà chủ yếu là các NHTM, người môi giới tài chính trên thị trường tài chính Việc các NHTM tập trung vốn dưới hình thức huy động và phân phối vốn dưới hình thức cho vay được gọi là tín dụng ngân hàng

Có thể nói, Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa ngân hàng (TCTD) với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán [2] Xuất

phát từ đặc trưng của hoạt động ngân hàng là kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ nên tài sản giao dịch trong tín dụng ngân hàng chủ yếu là dưới hình thức tiền

tệ Tuy nhiên trong một số hình thức tín dụng, như cho thuê tài chính thì tài sản trong giao dịch tín dụng cũng có thể là các tài sản khác như tài sản cố định

b Vai trò của tín dụng ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường

- Đối với sản xuất kinh doanh

Tín dụng ngân hàng cung ứng vốn cho sản xuất kinh doanh, góp phần tái sản xuất trong nền kinh tế:

Để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh điều đầu tiên các chủ DN phải quan tâm đó là vốn Nếu không có vốn thì DN sẽ bị mất cơ hội đầu tư, mất đi lợi nhuận mà lẽ ra có thể thu được

Trang 17

Do nhược điểm của thị trường tài chính dẫn đến ảnh hưởng tới tính liên tục của chu trình tài chính như sự không khớp nhịp giữa cung vốn và cầu vốn qua vấn đề thời gian và lượng vốn, rủi ro đạo đức, rủi ro mất khả năng thanh toán, … NHTM với tư cách là một chủ thể kinh doanh trên lĩnh vực tài chính tiền tệ có thể khắc phục được những nhược điểm trên NHTM chính là người đứng ra tiến hành khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế … hình thành nên quỹ cho vay và sử dụng chúng để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế Là một kênh phân phối vốn có hiệu quả NHTM đã tạo điều kiện cho các DN có khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh cải tiến qui trình công nghệ, từ đó nâng cao năng suất lao động để có thể đứng vững trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trường Với khả năng cung cấp vốn, NHTM đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia

Tín dụng ngân hàng góp phần đẩy mạnh quá trình chuyển dịch và hợp

lý hóa cơ cấu nền kinh tế:

Với đặc điểm là tổ chức chuyên kinh doanh tiền tệ, tín dụng ngân hàng giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo điều kiện cho sự phát triển kinh

tế của mỗi nước theo hướng chuyển dịch và hợp lý hóa cơ cấu kinh tế có lợi cho mỗi nước

Tín dụng ngân hàng góp phần bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận trong toàn bộ nền kinh tế:

Với khả năng tập trung vốn nhàn rỗi của nền kinh tế, tín dụng ngân hàng thực hiện đầu tư vốn vào các ngành, các lĩnh vực sản xuất có tỷ suất lợi nhuận cao Kết quả mang lại là khối lượng sản phẩm sản xuất ra nhiều, tạo ra cân bằng mới về cung cầu, giá cả của sản phẩm giảm xuống Điều này có nghĩa là đã thực hiện việc bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận của nền kinh tế

Trang 18

Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung và điều hòa vốn cho nền kinh tế:

Bằng các hình thức huy động vốn ngày càng đa dạng và phong phú cùng với việc thoả mãn thích đáng nhu cầu lợi ích, nhu cầu tiền đột xuất của người gửi tiên mà các NHTM đã thu hút được hầu hết các nguồn tiền nhàn rỗi

dù là rất nhỏ từ trong dân chúng tập trung về tay mình và từ đó đáp ứng được nhu cầu về vốn ngày càng tăng của nền kinh tế, hay nói cách khác hoạt động tín dụng đã làm nhiệm vụ thông dòng để vốn chảy từ nơi thừa đến nơi thiếu thông qua việc thực hiện hoạt động đi vay và cho vay Nhờ đó đã góp phần cung ứng và điều hoà vốn trong từng DN và toàn bộ nền kinh tế, tạo cho quá trình sản xuất được tiến hành một cách trôi chảy đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn

cố định, vốn lưu động, bổ sung tăng cường củng cố tài sản cố định làm cho quá trình sản xuất được tuần hoàn, thúc đẩy sản xuất lưu thông, tăng tốc độ chu chuyển vốn tiền tệ trong xã hội, góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất

mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triền bền vững [2]

Vì vậy có thể nói tín dụng ngân hàng là công cụ mạnh mẽ thúc đẩy quá trình tập trung và điều hoà vốn trong nền kinh tế

- Đối với lưu thông tiền tệ

Tín dụng ngân hàng thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế:

Các NHTM thông qua chức năng trung gian thanh toán và trung gian tín dụng đã tạo ra tiền ghi sổ trên tài khoản tiền gửi thanh toán của KH tại NHTM Nói cách khác, nhờ hoạt động trên hệ thống các NHTM đã tạo ra bút

tệ thay thế cho tiền mặt

Từ một khoản tiền gửi ban đầu thông qua làm chức năng trung gian tín dụng ngân hàng sử dụng để cho vay, số tiền cho vay ra lại được KH sử dụng

để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi

Trang 19

thanh toán của KH vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ

sử dụng để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ… tức là ngân hàng đã tạo tiền

Thực hiện chức năng tạo tiền, với việc cho vay không có sự xuất hiện của tiền mặt, các NHTM đã giảm được khối lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm được chi phí, giúp điều tiết lượng tiền cung ứng phù hợp chính sách

ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế, giảm thất nghiệp, làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế đáp ứng nhu cầu chi trả của xã hội [2]

Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hóa

và luân chuyển tiền tệ:

Bằng việc nhận và trả tiền gửi, mở tài khoản và thanh toán qua ngân hàng với quy mô ngày càng lớn và có tính chất thường xuyên, liên tục Hoạt động thanh toán giữa các chủ thể trong nền kinh tế diễn ra qua hệ thống NHTM đã làm tăng tốc độ luân chuyển hàng hoá và luân chuyển tiền tệ

Ngoài ra, sự phát triển của các nghiệp vụ tín dụng ngân hàng đi đôi với việc thanh toán không dùng tiền mặt trong lưu thông góp phần ổn định lưu thông tiền tệ Đây cũng là một trong những phương thức để kiềm chế lạm phát

Tín dụng ngân hàng đóng vai trò điều chỉnh chiến lược kinh tế, góp phần chống lạm phát:

Các NHTM điều chỉnh các chính sách tín dụng của mình phục vụ chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của nhà nước

Bằng chính sách mở rộng hay thắt chặt cho vay, tín dụng đóng góp một vai trò quan trọng trong việc kiểm soát lạm phát Khi lạm phát có xu hướng tăng nhanh, NHNN tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các NHTM; để bù đắp phần vốn không sinh lời mà vẫn phải trả lãi cho KH tiền gửi, các NHTM tăng lãi suất cho vay Kết quả người cần vốn không thể vay được tiền, tiền được tập trung vào ngân hàng, lạm phát được khống chế Đồng thời, NHNN cũng

Trang 20

có thể tăng lãi suất chỉ đạo của mình tác động cơ chế cho vay của NHTM Khi muốn tăng lượng tiền vào lưu thông, qui trình trên được thực hiện ngược lại, nền kinh tế dễ dàng tăng trưởng theo chiến lược đã được hoạch định

1.1.2 Rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

a Khái niệm rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện qua việc KH không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng Hay còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả hoặc rủi

ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng

Rủi ro tín dụng là rủi ro thất thoát tài sản, có thể phát sinh khi đối tác không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn Rủi ro này bao gồm cả rủi ro thanh toán khi bên thứ ba (ví dụ ngân hàng thanh toán) không thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với ngân hàng này

Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ dự án, Lúc quyết định cấp tín dụng ngân hàng chưa biết chắc chắn được khả năng có thu hồi được khoản tín dụng

ấy hay không bởi vì lúc đó việc thu hồi khoản tín dụng chưa xảy ra

Theo khoản 1, điều 2 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (Ban hành theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày

22/04/2005) thì "Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín

Trang 21

dụng do KH không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết" [4]

b Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng

Theo TS Nguyễn Minh Kiều, rủi ro tín dụng được chia thành hai loại:

Rủi ro giao dịch: Là rủi ro cá biệt của từng khoản tín dụng Rủi ro giao

dịch bao gồm:

Rủi ro xét duyệt: rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích

tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng

Rủi ro bảo đảm: liên quan đến chính sách và hợp đồng cho vay như

các tiêu chuẩn về bảo đảm mức tiền vay, loại tài sản bảo đảm, chủ thể bảo đảm…

Rủi ro kiểm soát: liên quan đến việc theo dõi khoản cho vay

Rủi ro danh mục: là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do

những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành 2 bộ phận:

Rủi ro cá biệt: liên quan đến từng loại cho vay

Rủi ro tập trung cho vay: liên quan đến đến việc kém đa dạng hóa

cho vay như cho vay quá nhiều vào một số KH, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc có thể là cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao [1]

c Nguyên nhân rủi ro tín dụng

Hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng nhưng đây cũng là lĩnh vực phức tạp, ẩn chứa nhiều rủi ro nhất, do vậy việc đi sâu nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng là thật sự cần thiết trong công tác quản trị rủi ro tín dụng nhằm hạn chế rủi ro này để đạt được hiệu quả kinh doanh tốt nhất Rủi ro tín dụng xuất phát từ nhiều nguyên nhân:

Trang 22

Nguyên nhân từ phía ngân hàng

Do cán bộ ngân hàng không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng

và các điều kiện cho vay Năng lực và phẩm chất của cán bộ tín dụng và vấn

đề quản lý sử dụng, công tác khen thưởng, kỷ luật chưa thật sự nghiêm minh cũng như chế độ đãi ngộ của cán bộ ngân hàng hạn chế

Chính sách và quy trình cho vay còn lỏng lẻo, chưa chú trọng đến phân tích KH để tính toán điều kiện và khả năng trả nợ hoặc phương pháp xem xét phân tích còn hạn chế, chưa chính xác Đối với cho vay DN nhỏ và

cá nhân, quyết định cho vay của ngân hàng chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, chưa áp dụng công cụ chấm điểm tín dụng

Kỹ thuật cấp tín dụng chưa hiện đại, chưa đa dạng như: việc xác định hạn mức tín dụng cho KH còn quá đơn giản, thời hạn còn chưa phù hợp, chủ yếu là tín dụng trực tiếp, sản phẩm tín dụng còn nghèo nàn

Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin về KH hay thiếu thông tin tín dụng chính xác đáng tin cậy, kịp thời để xem xét, phân tích trước khi cấp tín dụng hoặc do phân tích thông tin không đầy đủ dẫn đến cho vay hoặc đầu tư không hợp lý

Chưa thực sự chú trọng công tác giám sát, kiểm tra trong và sau khi cho vay nên không phát hiện kịp thời hiện tượng sử dụng vốn sai mục đích

Cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng chưa thực sự lành mạnh, chạy theo số lượng, bỏ qua tiêu chuẩn điều kiện cho vay, thiếu quan tâm chất lượng khoản vay

Ngân hàng chưa giải quyết hợp lý quan hệ giữa nguồn vốn huy động

và nguồn vốn sử dụng, sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn vượt quá mức cho phép

Nguyên nhân từ phía khách hàng:

Vốn tự có tham gia sản xuất kinh doanh của KH ít so với nhu cầu

Trang 23

Năng lực điều hành còn hạn chế, thiếu thông tin thị trường và các đối tác, bạn hàng làm ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất kinh doanh

Công nghệ sản xuất không đủ khả năng tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao, kinh doanh thua lỗ, hành hóa không tiêu thụ được

Sử dụng vốn sai mục đích, kém hiệu quả Quản lý vốn không hợp lý dẫn đến thiếu thanh khoản Tình hình tài chính DN yếu kém, thiếu minh bạch, thói quen ghi chép đầy đủ, rõ ràng sổ sách kế toán chưa được các DN tuân thủ

và tính trung thực chưa cao, do đó sổ sách kế toán mà DN cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính hình thức, nên khi cán bộ ngân hàng phân tích tài chính DN thường thiếu chính xác và thực tế Trong đó cũng phải kể đến nguyên nhân thiếu thiện chí trả nợ vay ngân hàng ngay từ khi xin vay vốn

Nguyên nhân khách quan từ môi trường hoạt động kinh doanh:

KH gặp những thay đổi môi trường kinh doanh không thể lường trước được như do thiên tai, hoả hoạn, các chính sách kinh tế chưa thực sự ổn định,

sự thay đổi cơ chế chính sách quản lý kinh tế của nhà nước, điều chỉnh quy hoạch, hành lang văn bản pháp lý chưa phù hợp, do biến động của thị trường trong và ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hoá thay đổi

Do khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, lạm phát, mất thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế dẫn đến tỷ giá hối đoái biến động bất thường ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của KH, khó khăn tài chính dẫn đến KH không

Trang 24

tiền thì sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến nguy cơ gặp rủi

ro thanh khoản Khi đó quy mô kinh doanh bị thu hẹp, năng lực tài chính giảm sút, uy tín và sức cạnh tranh giảm Vòng quay vốn tín dụng giảm làm cho việc kinh doanh của ngân hàng không hiệu quả, chi phí tăng lên so với dự kiến

Với bản chất và chức năng của ngân hàng là trung gian tài chính huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức và cá nhân có nhu cầu vay lại, bởi vậy khi rủi ro tín dụng xảy ra không những ngân hàng chịu thiệt hại mà quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng

Tóm lại, rủi ro tín dụng của các NHTM xảy ra ở các mức độ khác nhau kết quả là ngân hàng sẽ bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được nợ vay hoặc tình trạng lỗ, mất vốn kéo dài dẫn đến phá sản gây hậu quả nghiêm trọng cho

hệ thống ngân hàng cũng như nền kinh tế Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp trong quản trị rủi ro nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay

1.2 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG

1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng

Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là việc theo dõi quá trình sử dụng vốn của ngân hàng với nhiệm vụ chủ yếu là hạn chế và kiểm soát các loại rủi ro phát sinh cũng như đưa ra các giải pháp xử lý rủi ro hiệu quả nhất, đồng thời xác định tương quan hợp lý giữa vốn tự có của ngân hàng với mức

độ mạo hiểm trong sử dụng vốn của ngân hàng

Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững; tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, từ

Trang 25

đó tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn của NHTM

Quản trị rủi ro tín dụng là một trong những hoạt động chủ đạo của NHTM Quản trị rủi ro tín dụng phải hướng vào việc đảm bảo hiệu quả của hoạt động tín dụng và không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng của NHTM ngay cả trong những điều kiện thị trường đầy biến động, nguy cơ rủi ro không ngừng gia tăng

Như vậy, thực chất quản trị RRTD là việc sử dụng các biện pháp để xác định và đo lường rủi ro, lựa chọn, chấp nhận rủi ro, quản lý, kiểm soát rủi ro

để nhằm đạt được mục tiêu hiệu quả và an toàn

1.2.2 Sự cần thiết của quản trị rủi ro tín dụng

ổn thất cho các NHTM Ở mức độ thấ

ảm lợi nhuận, thậm chí còn làm giảm nguồn vốn tự có của các

các khoản cho vay mất vốn tăng lên quá cao, các NHTM sẽ phải đối mặt với nguy cơ phá sản Theo nghiên cứu của Corsetti (1998), một trong những nguyên nhân quan trọng nhất gây nên cuộc khủng hoảng tài chính châu Á

1997 là tỷ lệ nợ quá hạn tại các NHTM tăng cao Ngay trước khủng hoảng, tỷ

lệ nợ quá hạn tại các NHTM Thái Lan là 13%, Indonesia là 13%, Phillipines

là 14%, Malaysia là 10%

Chưa hế ại một lần nữa gây nên cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ toàn cầu năm 2007 – 2009, với điểm xuất phát là sự sụp đổ của

hệ thống tài chính Mỹ Theo công bố của cục dự trữ liên bang Mỹ, trong năm

2008 có tổng cộng 26 ngân hàng phá sản, thế nhưng năm 2009, con số này đã lên tới 140 với hàng loạt vụ phá sản của các định chế tài chính có lịch sử lâu đời và tiềm lực tài chính bậc nhất thế giới [8]

Trang 26

Như vậy có thể nhận thấ ọa sự tồn tại và phát triển của các NHTM Riêng đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước đang trong quá trình chuyển đổi, môi trường kinh doanh không ổn định, thị trường tài chính kém phát triển, mức độ minh bạch thông tin thấp… làm gia tăng mức độ rủi ro đối với hoạt động ngân hàng thì nhu cầu phả

ột cách hiệu quả càng trở nên cấp thiết

1.2.3 Đặc điểm của quản trị rủi ro tín dụng

Để làm tốt công tác quản trị RRTD, thì nhận biết đặc điểm của RRTD

là điều cần thiết RRTD có các đặc điểm sau:

Rủi ro mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng

chuyển giao quyền sử dụng vốn cho KH RRTD xảy ra khi KH gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn

Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp: Đặc điểm này biểu hiện ở

sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức và hậu quả của RRTD Do

đó, khi phòng ngừa và xử lý RRTD phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả do RRTD đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp

RRTD có tính tất yếu luôn tồn tại gắn liền với hoạt động tín dụng của NHTM: Tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể

nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất kỳ khoản vay nào cũng tiềm ẩn những rủi ro Kinh doanh ngân hàng

là kinh doanh rủi ro ở mức độ phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng

1.2.4 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng

Xây dựng một mô hình quản trị rủi ro tín dụng có hiệu quả và phù hợp với điều kiện Việt Nam là một đòi hỏi bức thiết để đảm bảo hạn chế rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng, hướng đến các chuẩn mực quốc tế trong quản trị rủi ro và phù hợp với môi trường hội nhập

Trang 27

Mô hình quản trị RRTD chính là hệ thống các mô hình bao gồm mô hình tổ chức quản lý rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm soát rủi

ro được xây dựng và vận hành một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục trong hoạt động quản lý tín dụng

Mô hình quản trị RRTD phản ánh một cách hệ thống các vấn đề về cơ chế, chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động an toàn và các chốt kiểm soát rủi ro trong một quy trình thực hiện nghiệp vụ; các công cụ đo lường, phát hiện rủi ro; các hoạt động giám sát sự tuân thủ và nhận diện kịp thời các loại rủi ro mới phát sinh và các phương án, biện pháp chủ động phòng ngừa, đối phó một khi có rủi ro xảy ra

Hai mô hình quản trị rủi ro tín dụng được áp dụng là:

+ Mô hình tập trung: Mô hình này có sự tách biệt một cách độc lập giữa

3 chức năng: quản lý rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp Sự tách biệt giữa 3 chức năng nhằm mục tiêu hàng đầu là giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất đồng thời phát huy được tối đa kỹ năng chuyên môn của từng vị trí cán bộ làm công tác tín dụng

Mô hình này đảm bảo quản trị rủi ro một cách có hệ thống trên quy mô toàn ngân hàng; Thiết lập và duy trì môi trường quản lý rủi ro đồng bộ, phù hợp với quy trình quản lý; Gắn với hoạt động của các bộ phận kinh doanh; Nâng cao năng lực đo lường, giám sát rủi ro; Xây dựng chính sách quản lý rủi

ro thống nhất cho toàn hệ thống; Mô hình này thích hợp với ngân hàng có quy

mô lớn

+ Mô hình phân tán: Mô hình này chưa có sự tách bạch giữa chức năng quản lý rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp Trong đó, phòng tín dụng của ngân hàng thực hiện đầy đủ 3 chức năng và chịu trách nhiệm đối với mọi khâu chuẩn bị cho một khoản vay

Trang 28

Mô hình này gọn nhẹ, với cơ cấu tổ chức đơn giản, phù hợp với ngân hàng có quy mô nhỏ Tuy nhiên, hạn chế của mô hình này là thiếu sự chuyên sâu, việc quản lý hoạt động tín dụng theo phương thức từ xa dựa theo số liệu chi nhánh báo cáo lên hoặc quản lý gián tiếp thông qua chính sách tín dụng

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng quản trị rủi ro tín dụng

a Nhân tố cơ chế, chính sách, mô hình tổ chức quản trị rủi ro tín dụng

Thiếu chính sách cho vay, thiếu các tiêu chuẩn rõ ràng, việc cấp tín dụng quá tập trung, thiếu sự kiểm soát chặt chẽ, khoa học thì công tác quản trị rủi ro tín dụng sẽ không được thực hiện hoặc việc thực hiện sẽ không khả thi

Bên cạnh đó, việc tổ chức bộ máy quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro tín dụng bởi nếu một mô hình quản trị thiếu khoa học, lạc hậu sẽ dẫn tới những rủi ro tiềm ẩn rất lớn, nhất là trong hoạt động tín dụng của các NHTM

b Nhân tố con người

Trong mọi vấn đề, nhân tố con người bao giờ cũng là nhân tố quan trọng có tính chất quyết định Do vậy, công tác quản trị rủi ro tín dụng rất cần thiết phải đặt nhân tố con người, bao gồm cán bộ ngân hàng và người đi vay, lên hàng đầu

c Nhân tố công nghệ

Trong xu thế toàn cầu hóa và cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở Việt Nam ngày càng khốc liệt, chúng ta càng thấy vai trò của công nghệ đối với hoạt động kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh của từng ngân hàng Công nghệ sẽ thể hiện rất rõ giúp ngân hàng trong lĩnh vực quản trị, trong việc mở rộng sản phẩm dịch vụ, thông qua đó, ngày càng đáp ứng được các nhu cầu khắt khe của hệ thống ngân hàng Ngoài ra, công nghệ cũng

Trang 29

cho phép ngân hàng quản trị rủi ro tốt hơn, từ đó đưa ra các công cụ hỗ trợ để giúp ngân hàng đưa ra những quyết định đúng đắn

Như vậy, các nhân tố thuộc ba nhóm nhân tố trên vừa có tính độc lập tương đối, vừa quan hệ chặt chẽ và chi phối lẫn nhau, có thể làm cho hoạt động của NHTM giảm thiểu được rủi ro, nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng ngân hàng Nhưng chúng cũng có thể gây ra những tổn thất, thậm chí rất lớn, dẫn đến phá sản của một số NHTM Chẳng hạn sự yếu kém, thiếu đồng

bộ, thiếu nhất quán trong cơ chế, chính sách cho vay, dẫn đến tình trạng cán

bộ quản lý của NHTM, hoặc người đi vay lợi dụng, đặc biệt nguy hại khi cán

bộ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của NHTM bị sa sút phẩm chất đạo đức nghề nghiệp

1.3 NỘI DUNG CỦA QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG

1.3.1 Nhận dạng rủi ro tín dụng

Nhận dạng rủi ro tín dụng là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các hoạt động kinh doanh của ngân hàng Nhận dạng rủi ro bao gồm các bước: theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và quy trình cho vay để thống kê các dạng RRTD và dự báo được những nguyên nhân tiềm ẩn

Trang 30

- Phương pháp lập bảng điều tra

Là phương pháp thông qua các câu hỏi về những vấn đề có thể xảy ra,

để từ đó nhận dạng và đánh giá mức độ tác động của từng loại rủi ro Phương pháp này rõ ràng, dễ hiểu có vai trò như một công cụ nhắc nhở giúp người thực hiện xác định tầm quan trọng của các tác động Nhưng phương pháp này

có tính cảm tính phụ thuộc nhiều vào ý kiến chủ quan của người đánh giá

- Phương pháp phân tích số liệu hồ sơ tổn thất trong quá khứ

Với phương pháp này đòi hỏi ngân hàng phải thu thập, phân tích, thống

kê, lưu trữ số lượng thông tin lớn trong một thời gian dài, một cách có hệ thống, khoa học để nhận biết cơ chế và nguồn gốc gây ra rủi ro; nhờ đó có thể đánh giá đúng các yếu tố rủi ro mà trước đây đã bị xem nhẹ hoặc bỏ qua Giúp ngân hàng dự báo được xu hướng diễn biến rủi ro trong tương lai thông qua dữ liệu trong quá khứ

- Phương pháp phân tích lưu đồ

Phương pháp lưu đồ là một phương pháp có thể giúp chúng ta liệt kê trình tự các bước đối với một quy trình đầu tư tài chính Từ những bước liệt

kê này, chúng ta có thể dễ dàng xác định rủi ro khi thực hiện từng bước, từ đó

để có những biện pháp khắc phục nhất định

Phương pháp này được thực hiện xuyên suốt quy trình tín dụng, từ khâu đầu tiên là tiếp nhận hồ sơ, khâu trung gian như thẩm định, ra quyết định, giải ngân, theo dõi khoản vay cho đến khâu cuối cùng là thanh lý hợp đồng Vì rủi ro có thể xảy ra ở bất cứ khâu nào nên việc theo sát quy trình sẽ giúp NH xác định rủi ro xuất hiện và tập trung nhất ở khâu nào để có biện pháp kiểm soát kịp thời, hiệu quả

Việc áp dụng các phương pháp cần có sự linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với thực tế để chất lượng công tác nhận dạng RRTD đạt được hiệu quả cao nhất

Trang 31

1.3.2 Đo lường rủi ro tín dụng

Đo lường rủi ro là đo lường xác suất và mức độ thiệt hại có thể xảy ra của các rủi ro đã được xác định bằng cách thu thập số liệu và phân tích đánh giá, từ đó xác định xác suất và mức độ thiệt hại có thể xảy ra

Để đo lường rủi ro tín dụng, ngân hàng dựa vào các thông số sau đây:

 Hệ số nợ quá hạn

Nợ quá hạn là thước đo quan trọng nhất đánh giá sự lành mạnh thể chế

Nợ quá hạn phát sinh khi khoản vay đến hạn mà KH không hoàn trả được toàn bộ hay một phần tiền gốc hoặc lãi vay Nợ quá hạn thường là biểu hiện kém về tài chính của KH và là dấu hiệu rủi ro tín dụng cho ngân hàng Nó tác động đến tất cả các lĩnh vực hoạt động chính của ngân hàng

Tỷ lệ này cao chứng tỏ chất lượng tín dụng thấp do đó rủi ro tín dụng sẽ cao và ngược lại Tuy nhiên, hạn chế của chỉ tiêu này là nó chỉ phản ánh những số dư nợ thực sự đã quá hạn mà không phản ánh toàn bộ quy mô dư nợ

có nguy cơ quá hạn

Nợ quá hạn được xác định bằng các công thức sau:

Trang 32

không được tái cơ cấu Tại Việt Nam, nợ xấu bao gồm những khoản nợ quá hạn có hoặc không thể thu hồi, nợ liên quan đến các vụ án chờ xử lý và những khoản nợ quá hạn không được Chính phủ xử lý rủi ro Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn

Nợ xấu là khoản nợ có các đặc trưng cơ bản sau đây:

- KH không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết đã hết hạn

- Tình hình tài chính của KH đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả gốc lẫn lãi

- Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất 90 ngày

Nợ xấu được phân chia thành nhiều nhóm và từng nhóm nợ được quy định chi tiết, cụ thể, không những giúp các nhà quản trị ngân hàng quản lý chặt chẽ chất lượng và rủi ro tín dụng mà còn chủ động có biện pháp xử lý kịp thời những khoản nợ có “vấn đề” góp phần hạn chế tổn thất có thể xảy ra; kiểm soát và đề ra phương pháp xử lý khác nhau cho từng nhóm tương ứng

Tỷ lệ Nợ xấu = Số dư Nợ xấu x 100%

Tổng dư nợ

 Tỷ lệ thu hồi nợ quá hạn, nợ xấu

Phản ánh khả năng thu hồi nợ quá hạn, nợ xấu của cán bộ tín dụng, nó thể hiện năng lực quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng Nếu tỷ lệ này cao chứng tỏ ngân hàng đã có những nỗ lực cao trong việc xử lý thu hồi nợ

Tỷ lệ thu hồi NQH/Nợ xấu = NQH/Nợ xấu thu được x100%

Số dư NQH/Nợ xấu

 Nợ xử lý rủi ro và thu hồi nợ đã xử lý rủi ro

Thông thường nợ xử lý rủi ro là những khoản nợ được đánh giá là có khả năng mất vốn (Nợ nhóm 5) Những khoản nợ này sẽ được đưa ra hạch

Trang 33

toán ngoại bảng và được bù đắp bởi quỹ dự phòng RRTD Một ngân hàng có

tỷ lệ nợ xử lý rủi ro cao thể hiện khả năng mất vốn lớn và phản ánh trình độ quản trị RRTD hạn chế

Nợ đã được xử lý rủi ro khi hạch toán ngoại bảng cũng phải được theo dõi và thu hồi như một khoản nợ trong nội bảng Nếu thu hồi tốt đánh giá những nỗ lực của ngân hàng trong quản lý các khoản nợ này

* Tính toán tổn thất tín dụng:

Theo Basel II, các ngân hàng sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ để đánh giá RRTD, từ đó xác định hệ số an toàn vốn tối thiểu, khả năng tổn thất tín dụng Với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất có thể được tính dựa trên công thức sau:

EL = PD * EAD * LGD

EL: Expected Loss: Tổn thất tín dụng ước tính

PD: Probability of Default: Xác xuất không trả được nợ

EAD: Exposure at Default: Tổng dư nợ của KH tại thời điểm không trả được nợ

LGD: Loss Given Default: Tỷ trọng tổn thất ước tính

Xác định tổn thất ước tính, ngân hàng sẽ thực hiện được thêm các mục tiêu sau:

- Tăng cường khả năng quản trị nhân sự, cụ thể là đội ngũ cán bộ tín dụng Để đánh giá khả năng của cán bộ tín dụng, không những chỉ có chỉ tiêu

dư nợ, số lượng KH mà phải đặc biệt quan tâm đến chất lượng của các khoản tín dụng được cấp

- Giúp ngân hàng xác định chính xác giá trị khoản vay, phục vụ hiệu quả cho việc chứng khoán hóa các khoản vay sau này Đây là công cụ hiệu quả nhất để san sẻ rủi ro và tạo tính linh hoạt trong quản lý danh mục đầu tư các khoản vay

Trang 34

- Giúp ngân hàng xây dựng hiệu quả hơn Quỹ dự phòng RRTD

- Xác định xác suất vỡ nợ (PD) giúp ngân hàng nâng cao được chất lượng của việc giám sát và tái xếp hạng KH sau khi cho vay, hay tái xếp hạng

KH

Các mô hình phân tích đánh giá rủi ro tín dụng:

Mô hình định tính về rủi ro tín dụng: Một trong những mô hình định

tính đánh giá RRTD trong quá trình thẩm định cho vay là mô hình chất lượng 6C, bao gồm:

- Character (Tư cách người vay): Cán bộ tín dụng phải tìm hiểu tinh

thần trách nhiệm, tính trung thực của KH; phải làm rõ mục đích xin vay của

KH (mục đích vay của KH có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay không); KH có thiện chí trả nợ khi đến hạn không (xem xét về lịch sử đi vay và trả nợ đối với KH cũ; còn KH mới thì cần thu thập thông tin

từ nhiều nguồn khác như Trung tâm phồng ngừa rủi ro, từ NH khác, hoặc các

cơ quan thông tin đại chúng…)

- Capacity (năng lực của người vay): Cán bộ tín dụng phải chắc chắn

người xin vay có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng

- Cash (thu nhập của người vay): Cán bộ tín dụng trước hết phải xác

định được nguồn trả nợ của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán,… Sau đó cần phân tích tình hình tài chính của DN vay vốn thông qua các tỷ số tài chính

- Collateral (bảo đảm tiền vay): Cán bộ tín dụng phải trả lời được câu

hỏi: người vay có sở hữu một giá trị nào hay một tài sản nào có chất lượng để

hỗ trợ khoản vay không? Đồng thời cũng phải lưu ý đến những yếu tố nhạy

Trang 35

cảm như: tuổi thọ, công nghệ, mức độ chuyên dụng, điều kiện, tính lỏng của tài sản người vay,

- Conditions (các điều kiện): Ngân hàng cần phải biết được xu hướng

hiện hành về công việc kinh doanh và ngành nghề của người vay, cũng như khi điều kiện kinh tế thay đổi sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến khoản tín dụng,

- Control (kiểm soát): Tập trung vào những vấn đề như: các thay đổi

trong luật pháp và quy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng và của nhà quản lý về chất lượng tín dụng?

Mô hình 6C tương đối đơn giản tuy nhiên phụ thuộc quá nhiều vào mức

độ chính xác của nguồn tin thu thập được cũng như trình độ phân tích, đánh giá chủ quan của cán bộ tín dụng

Mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng:

- Mô hình điểm số Z do Altman khởi tạo và thường được sử dụng để xếp hạng tín nhiệm đối với các DN Mô hình này dùng để đo xác suất vỡ nợ của KH thông qua các đặc điểm cơ bản của KH Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro đối với người vay và phụ thuộc vào các yếu tố tài chính của người vay (Xj ) Từ mô hình này tính được xác suất vỡ nợ của người vay trên cơ sở số liệu trong quá khứ Altman đã xây dựng mô hình cho điểm như sau:

Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5

Trong đó:

X1 = Tỷ số “Vốn lưu động ròng/Tổng tài sản”

X2 = Tỷ số “Lợi nhuận giữ lại/Tổng tài sản”

X3 = Tỷ số “Lợi nhuận trước thuế và tiền lãi/ Tổng tài sản”

X4 = Tỷ số “Thị giá cổ phiếu/ giá trị ghi sổ của nợ dài hạn”

Trang 36

X5 = Tỷ số “ Doanh thu/ tổng tài sản”

Như vậy, với số Z càng cao thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp

và ngược lại Điều này là một căn cứ khách quan để qua đó xếp hạng các KH theo mức độ nguy cơ vỡ nợ Điểm số Z là thước đo khá tổng hợp về xác xuất

vỡ nợ của KH Theo tính toán và thực tế cho thấy:

Nếu Z> 2,99: DN nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản Nếu 1,81< Z<2,99: DN nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản

Nếu Z< 1,81: DN nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao Căn cứ vào kết luận này, ngân hàng sẽ không cấp tín dụng cho KH cho đến khi cải thiện được điểm số Z lớn hơn 1,81

Theo mô hình điểm số Z thì kỹ thuật đo lường tương đối đơn giản Tuy nhiên, mô hình này chỉ cho phép phân loại nhóm KH vay có rủi ro và không

có rủi ro trong khi thực tế mức độ rủi ro tín dụng tiềm tàng của mỗi KH là khác nhau từ mức thấp như chậm trả lãi, không trả được lãi cho đến mức mất hoàn toàn cả vốn và lãi của khoản vay

- Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng: Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng áp dụng cho cá nhân, dựa vào hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản,

sở hữu nhà, thu nhập, thời gian công tác, để cho điểm, từ đó hình thành khung chính sách tín dụng Mô hình này thường sử dụng 7-12 hạng mục, mỗi hạng mục được cho điểm từ 1-10 (Xem Phụ lục 4)

Mô hình này với 8 mục tại Phụ lục 4 ta thấy điểm cao nhất mà KH có

thể đạt được là 43 điểm, điểm thấp nhất là 9 điểm Giả sử 28 điểm là ranh giới giữa KH có tín dụng tốt và KH có tín dụng xấu thì ngân hàng có thể hình thành khung chính sách hạn mức tín dụng theo mô hình điểm số như sau:

(Xem Phụ lục 5)

Trang 37

Mô hình này loại bỏ được sự phán xét chủ quan trong quá trình cho vay

và giảm đáng kể thời gian ra quyết định tín dụng Tuy nhiên, mô hình này không thể tự điều chỉnh một cách nhanh chóng để thích ứng với những thay đổi trong nền kinh tế và cuộc sống gia đình

- Mô hình xếp hạng của Moody’s và Standard & Poor’s

Moody’s và Standard & Poor’s là hai trong số những công ty đánh giá tín dụng lớn và uy tín nhất thế giới; xếp hạng tín dụng của Moody’s và Standard & Poor’s nhằm cung cấp cho các nhà đầu tư và những người tham gia thị trường trên toàn thế giới những phân tích độc lập về rủi ro tín dụng; xếp hạng tín dụng là những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng, thể hiện khả năng và thiện chí trả nợ (gốc, lãi hoặc cả hai) của đối tượng đi vay để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn Xếp hạng này dựa trên những phân tích của các chuyên gia có kinh nghiệm, dựa trên thông tin thu thập từ các tổ chức phát hành và từ các nguồn khác Ngoài phương pháp chuyên gia, Moody’s và Standard & Poor’s cũng như các tổ chức xếp hạng khác còn kết hợp sử dụng mô hình toán học trong việc xây dựng và phân tích chỉ số xếp hạng của mình

Chỉ số xếp hạng tín dụng (credit ratings) thể hiện quan điểm của tổ chức này về khả năng và sự sẵn sàng đáp ứng các điều kiện tài chính một cách đầy đủ và đúng lúc của một DN hay một quốc gia Chỉ số được quy thành các xếp hạng bằng chữ, ở Standard & Poor’s cao nhất là AAA và thấp nhất là D

trong khi Moody’s cao nhất là Aaa và thấp nhất là C [11] (Xem Phụ lục 6)

1.3.3 Kiểm soát rủi ro tín dụng

Là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược và các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh, giảm thiểu rủi ro Căn cứ vào mức độ rủi ro đã được tính toán, các hệ số an toàn tài chính, và khả năng chấp

Trang 38

nhận rủi ro mà có những biện pháp phòng chống khác nhau nhằm làm giảm mức độ thiệt hại, có nhiều lựa chọn:

- Chấp nhận rủi ro: với những khoản vay nhỏ thì chi phí cho việc phòng tránh đôi khi còn cao hơn việc chấp nhận mức thiệt hại Hoặc với xác suất rủi

ro quá cao, ngân hàng né tránh rủi ro bằng cách hạn chế hoặc từ chối cấp tín dụng

- Với những khoản vay còn lại, các biện pháp cơ bản để kiểm soát RRTD bao gồm:

Kiểm soát các nguồn gây ra rủi ro tín dụng:

+ Ngân hàng thu thập và phân tích thông tin rủi ro môi trường như diễn biến kinh tế trong và ngoài nước, chính trị, văn hóa và xã hội để điều chỉnh danh mục khoản vay theo hướng thích hợp

+ Ngân hàng chủ động trong việc tiến hành theo dõi, thu thập, phân tích đánh giá các thông tin về khách hàng định kỳ về năng lực tài chính, vị thế kinh doanh, biến động nhân sự, … để có những biện pháp kịp thời

+ Ngân hàng có chính sách tuyển dụng, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn kinh nghiệm và đạo đức nhân viên nhằm hạn chế rủi ro từ phía cán bộ Ngân hàng

Các biện pháp giảm thiểu tổn thất do rủi ro tín dụng:

+ Ngăn ngừa rủi ro tín dụng thông qua việc Ngân hàng nâng cao hiệu quả công tác thẩm định trước khi cho vay đồng thời giám sát chặt chẽ các khoản giải ngân, các khoản nợ sau khi giải ngân, phát hiện ra những dấu hiệu của các khoản vay có vấn đề để ngăn ngừa và giảm thiểu

+ Giảm thiểu tổn thất bằng cách khôi phục vốn từ những khoản vay có vấn đề để giảm thiểu tổn thất cho Ngân hàng như ước tính những nguồn có sẵn để thu hồi khoản vay, tìm hiểu và hoàn tất các thủ tục pháp lý nếu khách hàng có chủ định không hoàn trả vốn vay; kiểm soát tài sản thế chấp, cầm cố

Trang 39

đảm bảo quyền hợp pháp đối với tài sản thế chấp nhằm đạt được quyền bán tài sản và sử dụng tiền thu được bù đắp khoản vay bị tổn thất

Phân tán rủi ro tín dụng: Phân tán rủi ro tín dụng nhằm hạn chế và tránh những tổn thất quá lớn, vượt quá khả năng chống đỡ của Ngân hàng Để phân tán rủi ro, Ngân hàng thường sử dụng các biện pháp như đa dạng hóa khách hàng, đa dạng hóa các loại hình cho vay, đa dạng hóa các lĩnh vực và ngành nghề

1.3.4 Tài trợ rủi ro tín dụng

Theo công bố của Ủy ban Basel, các NHTM phải thường xuyên dự trữ các nguồn quỹ dự phòng cần thiết, sẵn sàng bù đắp được mọi tổn thất có thể xảy ra để đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh Tùy theo tính chất của từng loại tổn thất, ngân hàng được sử dụng những nguồn vốn thích hợp để bù đắp:

- Đối với các tổn thất đã lường trước được rủi ro: Ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn từ quỹ DPRR đã được xếp loại theo tiêu chuẩn để bù đắp Mặc dù nguồn vốn này được trích lập từ chi phí kinh doanh nhưng nếu tỷ lệ trích lập quá cao sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và quyền lợi của cổ đông làm giảm uy tín của ngân hàng trên thị trường

- Đối với các tổn thất không lường trước được rủi ro: Ngân hàng phải dùng vốn tự có làm nguồn dự phòng để bù đắp Nếu khả năng quản trị rủi ro yếu kém gây ra mức tổn thất cao, vốn tự có của ngân hàng sẽ bị hao mòn, quy

mô tài chính và khả năng cạnh tranh của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng

- Ngoài ra, cần áp dụng các biện pháp khác để tài trợ rủi ro, gồm: Tham gia bảo hiểm trong suốt quá trình cấp tín dụng, xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ,

Trang 40

1.4 TÍN DỤNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN

1.4.1 Khái niệm về khách hàng cá nhân

Theo điều 7, Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN, khách hàng cá nhân là tất cả các cá nhân, hộ kinh doanh có nhu cầu vay vốn tại ngân hàng và thỏa mãn những điều kiện sau:

Đối với cá nhân, hộ kinh doanh Việt Nam: Phải có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của bộ luật dân sự Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ:

từ đủ 18 tuổi trở lên và không bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của bộ luật dân sự

Đối với cá nhân nước ngoài: Có hộ chiếu, giấy phép cư trú có thời hạn tại Việt Nam nhưng còn thời hạn cư trú còn lại không được ít hơn thời hạn vay vốn Có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật của nước mà cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật nước ngoài đó được Bộ Luật dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định hoặc được Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định

1.4.2 Đặc trưng của cho vay KHCN ảnh hưởng đến RRTD

Ngoài những đặc trưng chung của tín dụng ngân hàng: là quan hệ vay mượn dựa trên cơ sở niềm tin, là quan hệ vay mượn có thời hạn và có hoàn trả, tiền vay được cấp dựa trên cơ sở hoàn trả vô điều kiện, cho vay khách hàng cá nhân có những đặc điểm riêng như sau:

- Các khoản cho vay đối với khách hàng cá nhân thường là các khoản

có giá trị nhỏ, nhưng số lượng các khoản vay là rất lớn Các ngân hàng thường mất nhiều thời gian và nhân lực để điều tra, thu thập các thông tin cá nhân, hộ gia đình trước khi phát tiền vay Do đó, trong quá trình thẩm định hồ

sơ tín dụng các CBTD thường hay chủ quan, thẩm định dễ để cho vay Dẫn đến công tác nhận diện rủi ro, đánh giá và đo lường rủi ro chỉ mang tính hình

Ngày đăng: 28/11/2017, 12:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w