1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Quan niệm Lễ của Khổng Tử với việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Bình Định hiện nay

111 179 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 674,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển của Nho giáo là Khổng Tử với một hệ thống quan điểm về bản thể luận và đặc biệt là quan điểm về nhân sinh thể hiện trong quan niệm về chính

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Đà Nẵng, 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

LÊ XUÂN CẢM

QUAN NIỆM “LỄ” CỦA KHỔNG TỬ VỚI VIỆC

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TỈNH BÌNH ĐỊNH HIỆN NAY

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

Mã số: 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Người hướng dẫn: TS TRẦN HỒNG LƯU

Đà Nẵng, 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Xuân Cảm

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục đề tài 4

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM “LỄ” CỦA KHỔNG TỬ 7

1.1 Cơ sở hình thành quan niệm “Lễ” của Khổng Tử 7

1.1.1 Hoàn cảnh kinh tế - chính trị - xã hội Trung Quốc cổ đại với việc hình thành quan niệm “Lễ” của Khổng Tử 7

1.1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của Khổng Tử 12

1.2 Nội dung cơ bản quan niệm “Lễ” của Khổng Tử 13

1.2.1 Khái niệm “Lễ” của Khổng Tử 13

1.2.2 Nội dung quan niệm “Lễ” của Khổng Tử 17

1.2.3 Vai trò quan niệm “Lễ” của Khổng Tử 23

1.2.4 Mối quan hệ giữa quan niệm “Lễ” với Nhân, Nghĩa, Pháp, Nhạc, Hòa 25

1.3 Đánh giá giá trị và hạn chế trong quan niệm “Lễ” của Khổng Tử 35

1.3.1 Giá trị trong quan niệm “Lễ” của Khổng Tử 36

1.3.2 Hạn chế trong quan niệm “Lễ” của Khổng Tử 36

Kết luận chương 1 38

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH ĐẠO ĐỨC CỦA HỌC SINH THPT TỈNH BÌNH ĐỊNH HIỆN NAY 39

2.1 Vài nét về tình hình đạo đức học sinh THPT ở nước ta hiện nay 39

Trang 5

2.2 Nhận thức và thực trạng đạo đức của học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Bình

Định hiện nay 41

2.2.1 Đặc điểm chung về tình hình học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Bình Định hiện nay 41

2.2.2 Nhận thức của học sinh THPT tỉnh Bình Định hiện nay về những hành vi vi phạm đạo đức 41

2.2.3 Thực trạng đạo đức của học sinh THPT tỉnh Bình Định hiện nay 46

2.3 Những nguyên nhân dẫn tới hành vi vi phạm các chuẩn mực đạo đức của học sinh THPT tỉnh Bình Định hiện nay 55

Kết luận chương 2 69

CHƯƠNG 3 VẬN DỤNG QUAN NIỆM “LỄ” CỦA KHỔNG TỬ VÀO VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THPT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH 70

3.1 Cơ sở hình thành giải pháp 70

3.1.1 Cơ sở lý luận 70

3.1.2 Cơ sở thực tiễn 72

3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh THPT tỉnh Bình Định hiện nay 72

3.2.1 Dùng Lễ để tu dưỡng đạo đức, giúp học sinh xây dựng, hoàn thiện và phát triển nhân cách 72

3.2.2 Dùng Lễ để góp phần xây dựng trật tự kỷ cương học đường 75

3.2.3 Dùng Lễ để tiết chế cảm xúc, hình thành mối quan hệ ứng xử tốt đẹp 78

3.2.4 Xây dựng môi trường giáo dục toàn diện 81

3.2.5 Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa gia đình - nhà trường và xã hội 84

3.3 Một số kiến nghị 85

3.3.1 Đối với bản thân học sinh 85

Trang 6

3.3.2 Đối với gia đình 87

3.3.3 Đối với nhà trường 91

3.3.4 Đối với xã hội 94

Kết luận chương 3 95

KẾT LUẬN 96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tư tưởng Nho giáo mặc dù có nhiều điểm hạn chế nhưng nó vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay chứng tỏ nó vẫn còn nhiều những giá trị tốt đẹp, phù hợp mà chúng ta cần phải nghiên cứu, học hỏi Người đầu tiên đặt nền móng cho

sự phát triển của Nho giáo là Khổng Tử với một hệ thống quan điểm về bản thể luận và đặc biệt là quan điểm về nhân sinh thể hiện trong quan niệm về chính trị

xã hội và luân lý đạo đức Quan niệm “Lễ” của Khổng Tử là một trong những nội dung quan trọng trong quan niệm về chính trị xã hội và luân lý đạo đức Quan niệm về “Lễ” của Khổng Tử chứa đựng nhiều yếu tố tích cực, tiến bộ vì, nếu xã hội có Lễ thì xã hội mới ổn định và phát triển, Lễ là tiêu chuẩn để đánh giá mối quan hệ đối xử giữa người với người, Lễ trở thành những quy phạm bắt buộc để điều chỉnh hành vi của con người Lễ không chỉ là lễ giáo đơn thuần, mà

là điển chương, là pháp luật, nếp sống…mang ý nghĩa đạo đức và văn hóa rộng lớn trong xã hội

Chính vì Lễ của Khổng Tử chứa đựng những giá trị tư tưởng tốt đẹp nên khi du nhập vào nước ta đã được các triều đình phong kiến Việt Nam chủ động tiếp nhận để thuận lợi cho việc tổ chức và quản lý xã hội, đặc biệt là học tập rất nhiều ở cách tổ chức triều đình, xây dựng hệ thống pháp luật, hệ thống giáo dục

và thi cử để tuyển chọn người tài giỏi góp công sức vào việc xây dựng và phát triển đất nước Do đó, có thể nói tư tưởng của Khổng Tử nói chung, quan niệm

“Lễ” nói riêng của ông chiếm một vị trí quan trọng việc góp phần hình thành nhân cách, lối sống con người Việt Nam thời kỳ phong kiến

Ngày nay, trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có giáo dục Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới giáo dục và đào tạo, coi “phát

Trang 10

triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” [20, tr 130, 131] Đồng thời nhấn mạnh tới việc giáo dục toàn diện con người Việt Nam trong thời kỳ mới cần phải có cả “đức” và “tài” nhằm đáp ứng yêu cầu cho sự nghiệp phát triển đất nước: “Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo,

kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp” [20, tr 131] Thực tế, trong những năm qua, giáo dục và đào tạo ở nước ta đã tạo một môi trường giáo dục toàn diện tạo điều kiện cho học sinh lĩnh hội kiến thức, phát triển tài năng đồng thời hoàn thiện nhân cách, phẩm chất đạo đức Tuy nhiên, môi trường giáo dục học đường hiện nay đang bị xâm hại nghiêm trọng, đặc biệt là vấn đề đạo đức học sinh nói chung và học sinh bậc THPT nói riêng Một bộ phận học sinh THPT có biểu hiện hành vi suy nghĩ lệch lạc và suy thoái về mặt đạo đức

Thực tế từ việc giảng dạy bậc THPT tại tỉnh Bình Định, tôi nhận thấy quan niệm “Lễ” của Khổng Tử cho đến nay vẫn có giá trị trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh nói chung cũng như học sinh bậc THPT tại Bình Định nói riêng nhằm khôi phục những giá trị chuẩn mực về nhân cách, đạo đức cho học sinh, đặc biệt là một bộ phận học sinh THPT tỉnh Bình Định lệch chuẩn như hiện

nay Đó là lý do tôi chọn làm luận văn cao học với đề tài: “Quan niệm “Lễ” của

Khổng Tử với việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT tỉnh Bình Định hiện nay”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở làm rõ quan niệm “Lễ” của Khổng Tử, đánh giá những giá trị tích cực và hạn chế trong quan niệm “Lễ” của Khổng Tử, đồng thời vận dụng

Trang 11

những giá trị trong quan niệm “Lễ” của Khổng Tử để đưa ra những giải pháp và một số kiến nghị nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh bậc THPT tại tỉnh Bình Định hiện nay

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Làm rõ quan niệm “Lễ” của Khổng Tử

+ Phân tích tình hình giáo dục và thực hiện “Lễ” của học sinh THPT tỉnh Bình Định hiện nay

+ Vận dụng quan niệm “Lễ” của Khổng Tử vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT tỉnh Bình Định hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu quan niệm “Lễ” của

Khổng Tử để từ đó rút ra ý nghĩa quan niệm “Lễ” đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT tỉnh Bình Định hiện nay

Phạm vi nghiên cứu: Tư tưởng của Khổng Tử bàn đến nhiều vấn đề khác

nhau về thế giới, con người, chính trị - xã hội, giáo dục…nhưng ở đây luận văn chỉ đề cập đến tư tưởng trong quan niệm “Lễ” của Khổng Tử và vận dụng những giá trị tích cực của nó vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh bậc THPT trên địa bàn tỉnh Bình Định hiện nay

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu dựa trên các tác phẩm, công trình nghiên cứu về Khổng Tử và quan niệm “Lễ” của Khổng Tử, các công trình nghiên cứu về đạo đức học sinh hiện nay, đồng thời dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục đạo đức, phẩm chất, nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

Trang 12

Để đạt được những kết quả tốt, trong đề tài này tôi đã dùng phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời sử dụng các phương pháp lịch sử và logic, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp kế thừa, nghiên cứu các tư liệu, tài liệu và kết quả của các công trình khoa học…

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương, 9 tiết

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Tư tưởng của Khổng Tử nói chung và quan niệm “Lễ” của Khổng Tử nói riêng có ảnh hưởng sâu rộng không những ở Trung Quốc mà còn truyền bá sang nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Chính vì điều này cũng đã xuất hiện nhiều học giả, nhà nghiên cứu quan tâm Các công trình nghiên cứu về tư

tưởng của Khổng Tử và quan niệm “Lễ” của ông có thể kể đến: “Lịch sử văn minh Trung Hoa” của nhà sử học Will Durant, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội (dịch giả Nguyễn Hiến Lê), xuất bản năm 2004 Tác phẩm “Tứ Thư” bao gồm

trọn bộ bốn tập, Nxb Thuận Hóa (dịch giả Đoàn Trung Còn), xuất bản năm

2013 “Lịch sử triết học phương Đông” của GS Nguyễn Đăng Thục, Nxb từ điển Bách khoa, Hà Nội, xuất bản năm 2006 “Nho giáo Trung Quốc” của tác giả Nguyễn Tôn Nhan, Nxb Văn hóa thông tin, năm 2005 Tác phẩm “Khổng Tử” của tác giả Nguyễn Hiến Lê, Nxb Văn hóa, xuất bản năm 1995 Tác phẩm “Nho giáo xưa và nay” của tác giả Vũ Khiêu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản

năm 1990…nhìn chung các công trình này đã trình bày và phân tích một cách sâu sắc tư tưởng của Khổng Tử cũng như quan niệm “Lễ” của ông

Các công trình nghiên cứu về đạo đức, nhân cách, lối sống con người Việt

Nam như: Tác phẩm “Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay vấn đề và giải pháp”

Trang 13

của tác giả Nguyễn Duy Quý, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm

2006 Tác phẩm “Vấn đề con người và giáo dục con người nhìn từ góc độ triết học xã hội” của tác giả Nguyễn Thanh, xuất bản năm 2007 do Nxb Tổng hợp,

Tp Hồ Chí Minh phát hành Tác phẩm “Chuẩn mực đạo đức con người Việt Nam hiện nay” do Nguyễn Ngọc Phú (chủ biên), Nxb Quân đội nhân dân, xuất

bản năm 2008…nhìn chung các công trình nghiên cứu này đã nêu lên vấn đề đạo đức con người Việt Nam đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm góp phần xây dựng chuẩn mực đạo đức, nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

và hội nhập quốc tế

Các công trình nghiên cứu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống của học

sinh, sinh viên nước ta như: Công trình “Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam” công bố ngày 26 tháng 8 năm 2005 Tác phẩm “Tư tưởng

Hồ Chí Minh về giáo dục” do TS Lê Văn Yên (chủ biên), xuất bản vào năm

2006, Nxb Lao động, Hà Nội phát hành Luận văn thạc sĩ triết học của Nguyễn

Thị Lan Minh với đề tài “Phạm trù lễ của Khổng Tử và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam hiện nay” bảo vệ năm 2012 tại Đại

học quốc gia Hà Nội…

Các công trình nghiên cứu nói trên đã đi sâu phân tích tư tưởng triết học cũng như quan niệm “Lễ” của Khổng Tử Thông qua đó nêu lên thực trạng đạo đức học sinh cũng như đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm giáo dục đạo đức học sinh hiện nay

Để có cách nhìn toàn diện về quan niệm “Lễ” của Khổng Tử và vận dụng vào việc giáo dục đạo đức học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Bình Định, luận văn

đã kế thừa và vận dụng sáng tạo các công trình nghiên cứu khoa học có giá trị vừa nêu ở trên để đánh giá thực trạng đạo đức học sinh bậc THPT tại Bình Định,

Trang 14

đồng thời đưa ra một số giải pháp cũng như kiến nghị nhằm nâng cao đạo đức học sinh THPT tỉnh Bình Định trong thời gian tới

Trang 15

CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM “LỄ” CỦA KHỔNG TỬ 1.1 Cơ sở hình thành quan niệm “Lễ” của Khổng Tử

1.1.1 Hoàn cảnh kinh tế - chính trị - xã hội Trung Quốc cổ đại với việc hình thành quan niệm “Lễ” của Khổng Tử

Các sử gia Trung Quốc dựa trên bộ Xuân Thu của Khổng Tử chia thời Đông Chu ra thành hai thời kỳ: Xuân Thu (722 – 479 TCN) và Chiến Quốc (479 – 221 TCN) Tuy nhiên, theo dịch giả Nguyễn Hiến Lê: “Lối phân chia đó không hợp lí, vì những năm 722 và 481 không đánh dấu một chuyển biến lớn lao nào trong lịch sử cả” [33, tr 27] Cho nên một số học giả đã phân chia thời Đông Chu thành hai thời kỳ: Thời Xuân Thu (770 – 403 TCN), có nghĩa là từ đời Chu Bình vương tới cuối đời Chu Uy Liệt vương; thời kỳ Chiến Quốc (403 – 221 TCN) từ đời Chu Ân vương đến khi Tần diệt Tề và thống nhất Trung Quốc

Về kinh tế: Thời Xuân Thu, nền kinh tế có bước chuyển từ thời kỳ đồ đồng

sang thời kỳ đồ sắt Sự ra đời của công cụ lao động bằng sắt đã tạo ra một cuộc cách mạng trong sản xuất, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Trung Quốc trên nhiều lĩnh vực:

Trong nông nghiệp phát triển mạnh, thể hiện thông qua phương pháp canh tác rất tiến bộ, người ta biết nấu sắt để chế tạo ra các công cụ bằng sắt như lưỡi cày, lưỡi cuốc, dùng trâu, bò để kéo cày Đồng thời còn biết bón phân, tưới nước, chia mùa vụ thành hai mùa dẫn đến năng suất lao động tăng cao, sản phẩm nông nghiệp ngày càng nhiều Với sự ra đời của đồ sắt và những cải tiến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp đã dẫn đến những thay đổi trong quan hệ sản xuất Việc phân chia ruộng đất công theo định kỳ không còn căn cứ vào đất tốt hay xấu như trước nữa mà công xã giao đất công cho từng gia đình nông nô cày cấy trong thời gian lâu dài, do đó nông dân có thể tự quyết định đến việc sản xuất dẫn đến năng suất lao động tăng cao Mặt khác, một số người bình dân có công

Trang 16

trong chiến trận mà có quyền lực dựa vào đó để chiếm ruộng đất công thành ruộng tư; một số khác là thương buôn giàu có đã dành tiền để mua ruộng đất; những người nghèo khổ đã tập hợp lại với nhau để tiến hành khai thác đất đai và trở thành chủ sở hữu về ruộng đất… Xuất phát từ tình hình trên, một mặt, đã làm cho chế độ “tỉnh điền” dần tan rã, chế độ tư hữu ruộng đất từng bước được hình thành và được nhà nước thừa nhận Mặt khác, đã hình thành trong xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ một giai cấp mới - giai cấp địa chủ Giai cấp này vừa giàu có

về kinh tế, vừa đòi hỏi về quyền lực chính trị

Phương thức thu thuế trong nông nghiệp thời kỳ này cũng có sự thay đổi Trước đây, theo chế độ “tỉnh điền”, ruộng đất của công xã được chia đều cho nông nô, nông nô phải nộp một phần sản lượng nông phẩm thu hoạch được cho công xã để nộp lên triều đình Khi chế độ tư hữu ruộng đất phát triển, số lượng

sở hữu ruộng đất của nông dân không bằng nhau, nhà nước đã bãi bỏ hình thúc thu thuế cũ mà thi hành chế độ thu thuế mới, đánh thuế vào từng mẫu ruộng (gọi

là thuế sơ mẫu)

Cùng với sự phát triển nông nghiệp thì thủ công nghiệp cũng phát triển theo Trong thời kỳ này phải kể đến các ngành nghề thủ công như: nghề luyện sắt, nghề rèn, nghề đúc, nghề mộc, nghề làm đồ gốm…vào cuối thời Xuân Thu, nước Ngô có lò luyện sắt với hơn 3000 thợ Nước Tấn thu mua sắt để đúc đỉnh hình Trong sách Chu lễ có viết về sự phát triển của các ngành thủ công nghiệp như: thợ mộc chiếm bảy phần, thợ kim khí chiếm sáu phần, thợ thuộc da chiếm năm phần, thợ nhuộm chiếm năm phần, thợ nề chiếm hai phần…

Với sự phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp cũng tạo điều kiện cho thương nghiệp ngày càng phát triển Hoạt động giao lưu buôn bán diễn ra sôi động, sầm uất hơn trước Do yêu cầu của việc trao đổi, mua bán hàng hóa nên tiền tệ đã xuất hiện Hoạt động thương nghiệp phát triển dẫn đến sự ra đời của

Trang 17

tầng lớp thương nhân giàu có như Huyền Cao nước Trịnh, Đoan Mộc Tứ (Tử Cống)…tầng lớp này thường kết giao với các bậc chư hầu, công khanh đại phu

để tìm cách giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ, gây nhiều ảnh hưởng đến tình hình chính trị lúc bấy giờ Tuy nhiên, do tình hình xã hội rối ren, lãnh thổ chia cắt do bị nạn chư hầu cát cứ gây nên Phương tiện giao thông thô sơ, đường

sá đi lại khó khăn Do đó, chỉ có những người có mối quan hệ giao kết với quan lại, đầu óc sáng suốt, suy nghĩ thấu đáo thì công việc kinh doanh mới đem lại cho họ sự giàu có, đồng thời, trong quan niệm của người Trung Quốc luôn xem thường, khinh rẻ nghề buôn bán với tư duy “trọng nông, ức thương” hay “ nông bản, thương mạt” Chính vì vậy, nghề buôn bán ở Trung Quốc thời kỳ này chưa thực sự phát triển mạnh nhưng sự hình thành của thương nghiệp, đặc biệt là sự nổi lên của một bộ phận thương nhân giàu có đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp xã hội một tầng lớp mới, đó là tiền thân của một bộ phận giai cấp địa chủ sau này

Về chính trị - xã hội: Theo quy luật chung của sự phát triển lịch sử xã hội

trong một thời kỳ nhất định, sự biến đổi về mặt kinh tế trong thời kỳ Xuân Thu ở Trung Quốc sẽ kéo theo sự biến đổi về mặt chính trị trong thời kỳ này

Nếu như trong thời Tây Chu, chế độ tông pháp vừa có ý nghĩa về mặt kinh

tế, vừa có ý nghĩa về mặt chính trị, ràng buộc huyết thống, có tác dụng tích cực làm cho nhà Chu giữ được sự hưng thịnh trong một thời gian dài thì đến thời Xuân Thu, chế độ tông pháp nhà Chu không còn được tôn trọng, mối quan hệ về kinh tế, chính trị, quân sự giữa Thiên tử với chư hầu các nước trở nên lỏng lẻo, huyết thống ngày càng xa, trật tự lễ nghĩa nhà Chu không còn được duy trì như trước Từ khi nhà Chu lên ngôi Thiên tử, thực hiện chế độ theo lối phong kiến, chia Trung Quốc thời bấy giờ tới hơn 70 nước, đồng thời nhà Chu phong cho những người công thần và các con cháu làm chư hầu Những nước chư hầu này đều có quyền tự chủ, quyền tự quyết nhưng hàng năm phải cống nạp cho Thiên

Trang 18

tử nhà Chu, khi nhà Chu có việc quan trọng như chinh phạt ở đâu thì các nước chư hầu phải sẵn sàng tuân theo mệnh lệnh Thiên tử nhà Chu đem quân đi tòng chinh

Khi nhà Chu còn còn hưng thịnh thì trật tự giữa họ với các nước chư hầu vẫn còn được phân minh, nhưng đến khi nhà Chu suy yếu phải dời đô về phía đông ở đất Lạc Ấp thì mệnh lệnh của Thiên tử không còn ai theo Lúc bấy giờ, các nước chư hầu phân ra đến hơn 160 nước lớn nhỏ Chiến tranh giữa các nước chư hầu diễn ra liên miên nhằm tranh giành đất đai, của cải, quyền lực để chứng

tỏ quyền thế của mình “Chư hầu ai mạnh thì làm bá cả thiên hạ, như nước Tề, nước Tống, nước Sở, nước Ngô, nước Việt, v.v…rồi nước nọ kiêm tính nước kia, Thiên tử cũng không có đủ uy quyền mà ngăn cấm được Thời đại ấy sử Tàu gọi là Xuân thu thời đại” [31, tr 46, 47]

Dưới thời Xuân Thu, xã hội lúc nào cũng rơi vào tình trạng hết sức hỗn độn Nông dân trong thời kỳ này lâm vào tình cảnh khốn cùng do phải đóng thuế nặng, phải làm quần quật các công việc do địa chủ, quan lại yêu cầu, đôi khi phải

bỏ mùa màng đang thu hoạch để xây đồn, đào hào, chở lương thực quân nhu, xây dựng cung điện cho quý tộc

Hậu quả của những cuộc tranh giành, thôn tính, chinh phạt lẫn nhau của tầng lớp quý tộc đã dẫn tới sự diệt vong của các nước chư hầu lớn nhỏ Điển hình là nước Tấn, năm 403 (TCN) có ba dòng họ lớn là Hàn, Ngụy, Triều đã nổi lên phế bỏ vua Tấn, dựng lên ba nước là Hàn, Ngụy, Triều Đạo đức xã hội thời Xuân Thu lúc này ngày càng bị suy đồi, các tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, mâu thuẫn giai cấp xã hội trở nên sâu sắc, kể cả mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị với nhân dân, mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị với nhau làm cho xã hội ngày càng thêm rối loạn Trật tự lễ nghĩa nhà Chu bị phá hoại, đặc biệt là những nghi

lễ chặt chẽ, tôn nghiêm trước đây đã từng góp phần bảo vệ và làm hưng thịnh

Trang 19

chế độ tông pháp nhà Chu thì đến nay cũng bị xem thường Hậu quả tất yếu là một vài nơi đã nổi lên các cuộc khởi nghĩa nông dân và nô lệ đã đẩy mâu thuẫn

xã hội thời Xuân Thu lên đến đỉnh cao, đưa chế độ chiếm hữu nô lệ Trung Quốc

đi nhanh đến sự suy tàn

Ngoài ra, nền văn hóa thời kỳ này cũng phát triển Thời Xuân Thu suốt thời gian dài 240 năm, một mặt đó là thời kỳ rất rối loạn nhưng mặt khác nền văn hóa quý tộc thời kỳ này phát triển đến một đỉnh cao chưa từng có Đó là những nghi thức, nghi lễ mang tính tôn nghiêm thứ bậc giữa Thiên tử, quan lại và nhân dân Hình thức ghi chép đã có sự thay đổi lớn từ việc viết chữ lên mai rùa và xương thú được thay bằng việc viết chữ lên thẻ tre, việc ghi chép lên thẻ tre vừa

dễ khắc, vừa dễ xếp đặt (khoét lễ lên thẻ, dùng dây da xỏ thành từng bó – từng quyển) sau này, họ còn biết dùng cây nhọn nhúng vào sơn viết lên thẻ tre hoặc lụa nhanh hơn rất nhiều “Nhờ vậy nhà Chu và chư hầu nào cũng có sử quan

chép sử của triều đình và tương truyền trước Khổng Tử đã có những Kinh Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch.” [33, tr 33]

Có thể nói, đây là thời kỳ mà các giá trị đạo đức bị đảo lộn căn bản: cái cũ chưa mất hẳn, cái mới vừa xuất hiện chưa được khẳng định Trong thời đại lịch

sử đầy biến động của thời Xuân Thu đã đặt ra cho các nhà tư tưởng những dấu hỏi lớn về mặt triết học, chính trị, luân lý đạo đức, pháp luật, quân sự…đòi hỏi các nhà tư tưởng phải nghiên cứu để đưa ra những câu trả lời, những giải pháp giải quyết những vấn đề thực tiễn xã hội lúc bấy giờ Chính vì vậy, trong thời kỳ này xuất hiện rất nhiều học thuyết của các nhà tư tưởng nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội, trong đó có học thuyết của Khổng

Tử, lấy nhân, nghĩa, lễ, trí để dạy người, lấy cương thường mà hạn chế nhân dục

để xây dựng con người có đạo lý đúng đắn, đưa ra đường lối trị nước và xây dựng xã hội lý tưởng

Trang 20

1.1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của Khổng Tử

Khổng Tử là người sáng lập ra học thuyết Nho, ông là nhà tư tưởng vĩ đại của Trung Quốc cổ đại Khổng Tử sinh ra tại ấp Trâu, làng Xương Bình, nước

Lỗ (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc) Tổ tiên ông là người nước Tống, tên là Khổng Phòng Thúc Phòng Thúc sinh được Bá Hạ, Bá Hạ sinh

ra Thúc Lương Ngột Thúc Lương Ngột làm quan võ, lấy người vợ trước sinh được 9 người con gái, vì muốn có con trai để nối dõi tông đường, ông lấy tiếp người vợ hai sinh được một người con trai là Mạnh Bì nhưng bị tật què chân Đến lúc già, ông mới lấy bà Nhan Thị và sinh được Khổng Tử Khổng Tử sinh vào tháng Mười năm Canh Tuất, tức là năm thứ hai mươi mốt đời Chu Linh Vương (551 TCN) Khi sinh ra đỉnh đầu lõm xuống nên đặt tên là Khâu, tự là Trọng Ni, mang họ Khổng

Dòng họ ông lâu đời nhất Trung Hoa, tổ tiên ông là hoàng đế, khi Khổng

Tử ra đời thì cha ông đã 70 tuổi, đến 3 tuổi thì Khổng Tử mồ côi cha Lúc 19 tuổi ông lập gia đình và năm sau đó có con đặt tên là Khổng Lý, tự Bá Ngư, đến năm 23 tuổi thì ông ly dị và sống như vậy đến cuối đời Ông mất ngày 18 tháng 2 năm 479 TCN, hưởng thọ 73 tuổi, thi hài của ông được an táng ở phía bắc kinh thành của nước Lỗ, trên bờ sông Tứ Sau khi Khổng Tử mất, các học trò lập đền thờ ngay tại nhà ông, để tang ông ba năm Ngày nay, mộ của ông nằm ở huyện Khúc Phụ tỉnh Sơn Đông, xung quanh là cây cối xanh tươi như rừng, người đời sau gọi là Khổng Lâm

Ngay tử thuở nhỏ, Khổng Tử đã có cá tính rất đặc biệt, coi trọng lễ nghĩa

và hiếu học Ông là người rất thông minh, học rộng, kiến văn nhiều, biết thấu lẽ huyền diệu của tạo hóa Vua nước Lỗ nghe tiếng tăm của ông nên dùng ông làm quan Tư Khấu Do vua nước Lỗ đam mê vũ nhạc, trễ nãi việc triều chính, ông tìm mọi cách để can ngăn nhưng không được nên chẳng bao lâu ông xin từ chức

Trang 21

Từ đó, ông đi chu du các nước chư hầu như: Tề, Vệ, Sở, Tống Ông mang đạo lý của mình đi giúp đời nhưng đi đến nước nào vua nước ấy cũng không biết tin dùng Năm 68 tuổi, Khổng Tử về lại nước Lỗ mở trường dạy học và soạn sách

Ông đã đào tạo rất nhiều thế hệ học trò, theo thống kê, Khổng Tử có khoảng 3000 học trò nhờ công lao dạy dỗ của ông mà thành tài, có địa vị quan trọng trong xã hội lúc bấy giờ, vào bậc cao hiền được 72 người (thất thập nhị hiền), trong đó Nhan Hồi và Tăng Sâm là giỏi hơn cả Do đó, Khổng Tử được tôn vinh là Vạn Thế Sư Biểu ( người thầy tiêu biểu của muôn đời)

1.2 Nội dung cơ bản quan niệm “Lễ” của Khổng Tử

1.2.1 Khái niệm “Lễ” của Khổng Tử

Quan niệm “Lễ” là một trong những phạm trù đạo đức có ý nghĩa phổ biến trong đời sống tinh thần của người dân Trung Quốc Lễ được xem là một trong những đức tính cơ bản nhất của con người Tuy vậy, bộ Kinh Lễ lại ra đời muộn nhất so với tất cả các kinh điển của Nho gia Thời gian ra đời của bộ Kinh Lễ này cho đến nay vẫn là là một câu hỏi chưa có lời giải đáp Tuy vậy có thể khẳng định Lễ xuất hiện vào đầu thời kỳ nhà Hạ (khoảng năm 2205 - 1766 TCN), sau

đó, Lễ trở nên hưng thịnh nhất vào thời kỳ đầu nhà Chu (khoảng thế kỷ XI TCN) Thời gian Kinh Lễ được ghi chép thành sách rất dài, có thể từ thời Chiến Quốc đến giữa thời kỳ Tây Hán

Quan niệm “Lễ” thời kỳ Trung Quốc cổ đại có những ý nghĩa khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi thời kỳ nhất định:

Từ thượng cổ, người Trung Hoa cũng giống như những giống người khác cuộc sống chủ yếu dựa vào tự nhiên, do đó, họ thường tiến hành cúng tế thần linh, xuất phát từ hành động này, có thể nói, họ đã làm các việc gọi là Lễ Đến thời Tây Chu, Lễ mới trở thành thông dụng trong các mối quan hệ xã hội Căn cứ

Trang 22

vào kinh tịch cổ, nghi thức tế lễ là do Chu Công chế tác, quan niệm “Lễ” được xuất hiện lần đầu tiên trong thiên Lạc cáo (Kinh Thư) viết đều có ý nghĩa là cúng

tế Tuy nhiên, việc cúng tế ở thời kỳ này không còn tính chất thuần túy tôn giáo nữa Chu Công chế định Lễ với mục đích là để duy trì trật tự giai cấp trong xã hội “tông pháp” của Tây Chu Do đó, quan niệm “Lễ” từ đây mang nhiều ý nghĩa chính trị nhằm duy trì trật tự xã hội Điều này thể hiện qua một số việc làm của Chu Công cho rằng: “chỉ có thiên tử mới được dùng vũ “bát dật”, chư hầu chỉ được dùng vũ “lục dật”, đại phu chỉ được dùng vũ “tứ dật” hoặc ông chế định rằng chỉ vua Lỗ mới được làm tế “lũ” ở núi Thái Sơn (trên đất Lỗ), đại phu không được làm tế ở đó; thì sự quy định đó là quy định một trật tự xã hội, nó là một pháp điền” [33, tr 173, 174]; việc quy định các tước công, hầu, bá tử, nam, quy định số đất đai họ được phong tặng, số binh lính mà họ có được, cũng là để phân biệt tôn ti trật tự trong xã hội, thuộc về pháp điển và cũng gọi là Lễ, ai không tuân theo những quy định đó thì sẽ bị khinh thường, không biết Lễ Ngoài

ra, ở thời Chu Công, việc chôn cất người chết cũng có những quy định nghiêm ngặt: thiên tử, vua chư hầu thì tang lễ phải ra sao, bậc đại phu thì quan, quách dùng bao nhiêu, thường dân thì dày bao nhiêu đó cũng là quan niệm Lễ

Như vậy, tới đời Chu Công, quan niệm “Lễ” đã có hai nghĩa: nghĩa cũ là

tế lễ, có tính chất tôn giáo; nghĩa mới là pháp điển phong kiến do Chu Công chế định, có tính cách chính trị, dùng để duy trì trật tự kỷ cương trong xã hội Sau dùng rộng ra ý nghĩa của Lễ nói đến cả phong tục tập quán Qua đời Đông Chu, nhất là từ Khổng Tử, quan niệm “Lễ” có một nội dung mới, nội dung luân lý, chỉ

sự kỷ luật về tinh thần: người có Lễ là người biết tự chủ, khắc kỷ

Khổng Tử từ thời thanh niên rất nổi tiếng về học giỏi, thông minh, đặc biệt

là có niềm đam mê nghiên cứu về Lễ, khi đến kinh đô nhà Chu, đem những hiểu biết của mình về Lễ để hỏi Lão Tử, hỏi nhạc ở Trành Hoằng, sau quá trình thông

Trang 23

hiểu về Lễ, ông đem kiến thức thu được của mình truyền lại cho các học trò Thông qua các câu nói của ông, đặc biệt là đối với học trò thể hiện trong Luận Ngữ và Lễ Ký, chúng ta có thể hiểu quan niệm “Lễ” như sau:

Thứ nhất, Lễ là một phương cách biểu tả hòa khí

Đây là cơ sở giúp tề gia, trị quốc Hữu Tử, một đồ đệ của Khổng Tử nói:

"Lễ chi dụng, hòa vi quý Tiên vương chi đạo, tư vi mỹ; tiểu đại do chi Hữu sở bất hành Tri hòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành giã" [12, Luận ngữ, Học nhi, tr 10] Điều này có nghĩa là: Trong việc giữ lễ, có niềm hòa khí là quý trọng Đạo của những vị vua xưa rất tốt ở chỗ đó, từ những việc lớn cho chí những việc nhỏ, các ngài dùng niềm hòa khí mà phổ cập vào Lễ Nhưng có việc này chẳng nên làm: biết rằng hòa là quý, rồi trong mỗi việc, cứ dùng lấy hòa, chớ chẳng dùng Lễ mà kiềm chế, như vậy là phóng đãng xí xóa quá Đó là việc không nên làm

Thứ hai, Lễ biểu hiện chính nền đạo đức

Theo Khổng Tử, căn bản của Lễ không có chi khác hơn là chính nền đạo đức Ðạo nhân, đạo nghĩa, đạo tín (tức chân thành)…là những đức tính căn bản của Lễ Khổng Tử viết: “Nhơn nhi bất nhân, như lễ hà? Nhơn nhi bất nhân, như

nhạc hà?” [12, Luận ngữ, Bát dật, tr 32] Một người thiếu Lễ, không thể là người

quân tử Trung, hiếu thực ra chỉ là những quy tắc tất yếu xây dựng trên nhân, nghĩa, và tín, trong khi Lễ là một phương thế biểu hiện những đức tính trên Khi ông Lâm Phỏng hỏi về gốc Lễ, Khổng Tử trả lời rằng: “Đại tai vấn! Lễ dữ kỳ xa giã, ninh kiệm; tang, dữ kỳ dị giã, ninh thích” [12, Luận ngữ, Bát dật, tr 32] Có nghĩa là: Trong những dịp vui sướng, may mắn, người ta hay bày cuộc lễ với mọi sự xa xỉ, ngỡ rằng có vẻ sang trọng mới gọi là lễ Nhưng gốc lễ ở tại nơi vừa phải, chớ xa xỉ cũng chớ bỏn sẻn Trong lúc tống táng, người ta hay làm cho lớn

Trang 24

đám để lấy thể diện, ngỡ rằng đó là đúng lễ Nhưng trong dịp này, gốc lễ ở tại lòng đau thương

Thứ ba, Lễ là những quy định về nghi thức tế lễ mà mỗi người phải tuân theo

Điều này có nghĩa là, tùy theo nơi chốn, tùy theo địa vị, tùy theo tương quan giữa chúng ta với những người ta gặp Trong chương Thuật Nhi, Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh tới nghi thức cũng như thái độ ta phải có khi cúng tế, khi thụ tang, khi gặp thiên tai… Khổng Tử viết: “Sanh, sự chi dĩ lễ, tử, táng chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ” [12, Luận ngữ, Vi chính, tr 16] Điều này có nghĩa là: Hễ làm con, khi cha mẹ còn sống phải phụng sự cho có lễ, khi cha mẹ mãn phần, phải chôn cất cho có lễ, rồi những khi cúng tế, cũng phải giữ đủ lễ phép nghiêm trang

Thứ tư, quan niệm “Lễ” nghĩa là nguyên tắc trật tự trong xã hội

Điều này có nghĩa là trong các mối quan hệ xã hội, các bên cần phải ứng

xử với nhau cho đúng mực, như cha mẹ thì phải hiền từ nhân ái để đối xử với con cái, dạy con cái những điều hay, lẽ phải, khi con cái sai lầm thì phải giúp con cái sửa sai, phải dùng tình thương để nuôi dạy con cái; con cái thì phải biết kính trọng, vâng lời ông bà, cha mẹ, không được cãi lại lời ông bà, cha mẹ; anh chị

em trong gia đình thì phải hiếu thuận với nhau, em thì kính anh, anh thì phải biết yêu thương, chăm sóc, che chở cho em mình; bạn bè với nhau thì cần phải có sự tôn trọng, đặc biệt để giữ được mối quan hệ bạn bè bền vững thì cần có thái độ trung thực, trung thành với nhau; là thần dân thì phải kính vua, không được làm trái ý vua đặt ra, một lòng một dạ tôn thờ vua cho dù vua có làm điều gì không đúng đồng thời vua cũng phải biết yêu thương dân chúng, lấy lòng nhân ái mà đối xử với nhân dân của mình để dân tôn kính Khổng Tử cho rằng, vua là người đặt ra Lễ nhưng đồng thời cũng phải biết tuân theo Lễ Đây cũng là cách cai trị đất nước hiệu quả nhất: “Năng dĩ lễ nhượng vi quốc hồ, hà hữu ? Bất năng dĩ lễ

Trang 25

nhượng vi quốc, như lễ hà” [12, Luận ngữ, Lý Nhân, tr 56] Điều này có nghĩa là: Nhà cầm quyền nếu biết dùng lễ nhượng trong cuộc cai trị đất nước, thì cai trị khó gì ? Còn như chẳng biết dùng lễ, nhượng trong cuộc cai trị đất nước, thì làm sao mà có lễ được ? Lễ đạo và khiêm nhượng đã chẳng biết mà giữ, nói chi đến việc trị nước Tự người bề trên không có lễ phép, thì người bề dưới là sao theo lễ phép Do vậy, việc trị nước làm sao được nếu người bề trên không tuân theo khuôn phép

Quan niệm “Lễ” của Khổng Tử sau này được các nhà nho như Mạnh Tử

và Tuân Tử tiếp tục chuyên tâm nghiên cứu và đưa ra những ý nghĩa khác nhau Tuy vậy, quan niệm “Lễ” dù có thể hiểu theo khía cạnh nào, theo từng thời kỳ phát triển của lịch sử thì vẫn lấy quan niệm “Lễ” của Khổng Tử làm tiền đề lý luận bởi mục đích của Nho gia nói chung và của Khổng Tử nói riêng đều giáo dục con người tuân theo các quy tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội lúc bấy giờ, nhằm ổn định trật tự trong xã hội, tạo điều kiện cho xã hội phát triển

1.2.2 Nội dung quan niệm “Lễ” của Khổng Tử

Thứ nhất, Lễ là những quy định về nghi thức tế lễ

Lễ ở đây có tính chất tôn giáo, mô tả hoạt động tế tự của nó cũng như các nghi thức tiết lễ khác Nhiều chương trong sách “Lễ ký” đã thảo luận về kiểu dáng lễ phục, mô tả đồ tế, nghi thức tang lễ Quan niệm về Lễ ngoài việc bàn đến vấn đề nghi thức sùng bái tôn giáo, còn vô hình chung bàn đến cả các vũ điệu nông thôn, săn bắn, yến ẩm và các vấn đề xã giao thông thường khác

Khổng Tử cho rằng, những nghi thức do đời trước quy định cần phải được

tôn trọng một cách đầy đủ Trong tác phẩm Luận Ngữ, Khổng Tử phê phán

những hành vi vi phạm Lễ Ông nói đến trường hợp của đại quan nước Lỗ tên là Quý Khương cho múa điệu Bát dật (điệu múa có 8 hàng vũ công) ở sân đình của mình là trái với Lễ nhà Chu Bởi vì, theo quy định Thiên tử mới được múa Bát

Trang 26

dật, Chư hầu chỉ được múa Lục dật (điệu múa có 6 hàng vũ công), còn quan đại phu chỉ được múa Tứ dật (điệu múa có 4 hàng vũ công) Ba nhà quý tộc quan đại phu nước Lỗ là Mạnh Tôn, Quý Tôn và Thúc Tôn đã cho tụng thơ Ung ở nơi miếu đường của mình là trái với Lễ nhà Chu, theo Lễ nhà Chu thì Thiên tử mới làm được việc đó

Theo Khổng Tử, Lễ cần phải tiết kiệm chứ không phải xa hoa, trong tang

lễ thì phải thể hiện sự đau buồn chứ không phải là sự phô trương về hình thức Ông Lâm Phỏng, người nước Lỗ hỏi về gốc Lễ, Khổng Tử nói rằng: “Ngươi biết tìm gốc mà bỏ ngọn Ý nghĩa câu hỏi ấy lớn thay! Trong cuộc lễ vui, nếu xa hoa thì thái quá, thì kiệm ước còn hơn Trong việc tang khó, nếu lòe loẹt thái quá, thì lòng đau xót còn hơn” [12, Luận ngữ, Bát dật, tr 33] Có nghĩa là: Trong những dịp vui sướng, may mắn, người ta hay bày cuộc lễ với mọi sự xa xỉ, ngỡ rằng mọi sự sang trọng mới gọi là lễ Nhưng gốc lễ ở tại nơi vừa phải, chớ xa xỉ cũng chớ bỏn xẻn Trong lúc tống táng, người ta nay làm cho lớn đám để lấy thể diện, ngỡ rằng đó là đúng lễ Nhưng trong dịp này, gốc lễ ở tại nơi đau thương

Ngoài ra, Khổng Tử còn cho rằng, trong việc tế lễ, điều quan trọng là phải tôn nghiêm: “Tế như tại; Tế thần như thần tại” [12, Luận ngữ, Bát dật, tr 38], có nghĩa là, việc cúng tổ tiên thì phải thật cung kính, dường như có tổ tiên ở hiện tại thì việc cúng tế mới đúng với kiểu cách, ý nghĩa trang nghiêm của nó

Thứ hai, Lễ là đường lối trị nước và luật lệ quốc gia

Khổng Tử cho rằng, trong xã hội tồn tại có thứ bậc, do đó phải phân định

rõ ràng trật tự xã hội trên dưới cho phân minh Sự phân biệt trật tự, thứ bậc trong

xã hội là cơ sở để cho mọi người ý thức được vị trí, vai trò của mình trong các mối quan hệ xã hội, đồng thời, đây là cơ sở để nhà cầm quyền dễ dàng quản lý

xã hội theo ý muốn của mình

Trang 27

Trong xã hội tồn tại các mối quan hệ vua - tôi, cha - con, vợ - chồng, bạn

bè, ngoài ra còn có người thân kẻ sơ, có việc phải việc trái Cho nên, theo Khổng

Tử, phải có Lễ để phân định cho rõ ràng những trật tự ấy, chỉ có Lễ mới làm cho con người giữ đúng chuẩn mực của mình trong các mối quan hệ xã hội ấy:

“người giữ lễ là người có thể xác định được thân hay sơ, giải quyết được hiềm nghi, phân biệt được đồng và dị, rõ ràng được đúng và sai” [56, tr 37] Như vậy,

Lễ chủ yếu là để phân định trật tự, khiến cho vạn vật xáo trộn, mỗi vật đều thực hiện đúng vai trò, vị trí của mình, nếu không có Lễ thì “kẻ tiểu nhân nghèo quá thì thúc ước bắt chước, khi giàu thì lại kiêu ngạo Thúc ước quá thì (dễ) sinh ra trộm cắp, kiêu ngạo quá thì (dễ) xảy ra làm loạn” [56, tr 241]

Muốn cho xã hội thoát khỏi loạn lạc, trở nên phồn vinh, thịnh trị nên thánh nhân đã đạt ra Lễ “Lễ là vì cái tình người mà áp dụng tiết chế phòng ngừa cho dân Vì vậy, thánh nhân tiết chế quá sự giàu quý, khiến cho dân giàu nhưng không đủ kiêu ngạo, nghèo nhưng không đến nỗi quá tiết kiệm thắt buộc, quý nhưng không phạm đến bậc trên, nhờ vậy loan tự hết” [56, tr 141] Khổng Tử cho rằng, nếu không có Lễ thì làm sao mà biết trời đất quỷ thần cho phải, lấy gì

có thể phân biệt được nghĩa vua - tôi, trên dưới cho hợp đạo lý Ông cho rằng:

“không có lễ thì không có tiết độ ý nghĩa để thờ trời đất thần linh, không có lễ thì không phân biệt đâu là tình trai gái, cha con, anh em, hoặc những người giao tình

xa gần, hôn nhân Bậc quân tử vì thế mà phải tôn kính Lễ; sau đó mới dùng tài năng của mình dạy dỗ trăm họ để đừng bỏ mất tiết lễ” [56, tr 221] Như vậy, Lễ dùng để phân biệt tôn ti, trật tự, phép tắc để tổ chức mối quan hệ luân lý trong gia đình, xã hội, thậm chí “Lễ” còn được xem là chuẩn mực đạo đức chung của con người

Thứ ba, Lễ là chuẩn mực đạo đức của con người trong xã hội

Trang 28

Trong quá trình phát triển của lịch sử, quan niệm “Lễ” đã có sự biến đổi, nhưng dù có biến đổi đến đâu đi nữa thì Lễ cũng mang trong mình nó những giá trị đạo đức nhất định Khổng Tử coi Lễ như là bản tính khiến cho con người khác với con vật, Lễ luôn gắn liền với cuộc sống của mọi con người, giai cấp thống trị sử dụng Lễ như một công cụ đắc lực để thống trị xã hội lúc bấy giờ Khổng Tử cho rằng, nhà vua phải dựa vào phép tắc để xem xét đạo đức, đạo đức

là cơ sở để đánh giá công lao thần dân, đồng thời dùng đạo đức để quản lý xã hội

Khổng Tử cho rằng, công dụng căn bản của Lễ không có gì khác hơn chính là nền đạo đức Đạo nhân, đạo nghĩa, đạo tín là những đức tính căn bản của Lễ Một người thiếu Lễ thì không thể nào trở thành người quân tử được Bởi

vì, Lễ là việc làm cần thiết của mỗi con người trong các mối quan hệ xã hội, nếu con người không có Lễ thì không thể nào tồn tại trong xã hội được vì xã hội coi thường danh dự của những người đó Do vậy, trung, hiếu, thực ra chỉ là những quy tắc tất yếu xây dựng trên nhân, nghĩa và tín, trong khi Lễ là một phương thức biểu hiện những đức tính trên

Lễ còn được biểu hiện ở những nghi thức khi cúng tế, khi thụ tang Khổng

Tử cho rằng, những nghi thức này không phải từ trên trời rơi xuống, cũng không phải từ dưới đất chui lên, con người muốn nắm được Lễ đó thì phải học tập Ông còn nhấn mạnh tới nghi thức cũng như thái độ của con người khi đã hiểu Lễ thì

có thể làm được tất cả các việc trong xã hội Như vậy, Lễ là quy tắc mà con người bắt buộc phải theo trong xã hội lúc bấy giờ Khổng Tử cho rằng, những người khi đã hiểu Lễ rồi thì sẽ có một cuộc sống toàn diện, có nghĩa là lối sống

đó đòi hỏi mọi người phải theo để có thể bảo tồn sự sống và xã hội con người

Ngoài ra, Khổng Tử còn chủ trương lấy Lễ làm nền tảng cho tất cả các nền đạo đức Lễ mang tính chất như một thước đo lường, cái thước xuất phát từ nội

Trang 29

tâm nhưng có thể đo lường được con người dựa vào hình thức bên ngoài Cho nên, nếu nhân là cái bản chất của đạo đức thì nghĩa là cái thước đo, là cái mức, cái hình mà chỉ theo đó ta mới cảm nhận ra được nhân Ông cho rằng: “Phi lễ phi thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động”, nghĩa là, “sắc chi không hạp lễ thì mình đừng ngó, tiếng chi chẳng hạp lễ thì mình đừng nghe, lời chi chẳng hạp lễ thì mình đừng nói, việc chi chẳng hạp lễ thì mình đừng làm” [12, Luận ngữ, Nhan Uyên, tr 180] Lễ chỉ là những hình thức, nghi thức nhưng nếu nghi thức đó áp dụng sai, hay cho những người không xứng đáng thì một nghi lễ như vậy mất hết cả ý nghĩa của nó, và nó không thể phát huy được tinh thần của

Lễ Người hiểu Lễ trở thành người có đạo đức cho nên Lễ luôn phải đi đôi với nghĩa, nhân phải có nghĩa, và ngay cả đạo cũng cần phải có nghĩa mới có thể thực hiện được

Như vậy, Lễ là chuẩn mực đạo đức trước hết phải thể hiện trong gia đình,

đặc biệt là cha mẹ đã sinh ra mình, tiếp theo đó là chuẩn mực đạo đức thể hiện trong cách ứng xử của những người có chức quyền, bạn bè trong xã hội

Thứ tư, Lễ là công cụ tiết chế hành vi của con người

Khổng Tử rất coi trọng tình cảm của con người Vì thế, ông cho rằng, các thánh nhân phải dạy cho con người những đạo lý tốt đẹp nhất để cho con người hình thành những tình cảm tốt đẹp với nhau

Dựa trên quan điểm bản tính của con người vốn đặc trưng là thiện, Khổng

Tử cho rằng, con người sinh ra thích sự an tĩnh, nhưng trong quá trình tồn tại con người bị môi trường xung quanh làm cho động Con người khi mới sinh ra giống như một tờ giấy không có vết tích của sự yêu và ghét, thế nhưng sau đó môi trường sống bắt đầu vẽ lên tờ giấy kia sự yêu và ghét Quá trình đó làm cho yêu

và ghét hình thành trong mỗi con người Về bản chất, yêu và ghét không có tiết

độ bên trong nhưng bên ngoài thì chịu sự tác động của môi trường sống làm cho

Trang 30

mê muội dẫn đến không làm chủ được bản thân mình Nếu như con người làm chủ được bản thân không để cho sự mê muội làm chủ bản thân thì còn biết phân biệt phải trái Ngược lại, nếu chỉ làm theo sự ham muốn của bản thân thì thiên lý

ắt bị tiêu diệt Trong sách Kinh Lễ, thiên Nhạc ký nói rằng: “Nhân sinh nhi tĩnh, thiên chi tính dã Cảm ư vật nhi động, tính chi dục dã Vật chi tri tri, nhiên hậu hiếu ố hình yên Hiếu ố vô tiết ư nội, tri dụ ư ngoại, bất năng phản cung thiên lý diệt hỹ” [49, tr 171] Điều này có nghĩa là, người ta sinh ra vốn tĩnh, đó là tính trời, cái tính ấy cảm xúc với ngoại vật mà động, tính động thì thành ra tình Tình thì tồn tại trong mỗi con người, nhưng nếu không có cái gì để tiết chế thì sẽ làm cho mất cái thiên tính đó đi

Theo Khổng Tử, tình cảm của con người khó nắm bắt được, do vậy phải hướng tình cảm của con người tới những giá trị đạo đức cao cả, tốt đẹp nhất Trên quan điểm đó, chúng ta có thể hiểu con người thường tình hễ có thừa thì xa

xỉ, khi thiếu thốn thì dè sẻn, nếu không ngăn cấm hành vi thì dẫn tới dâm đãng Cái tình của con người không bộc lộ ra bên ngoài mà nó được ẩn khuất bên trong nên rất khó nắm bắt Chỉ có thể dùng Lễ mới có thể ngăn cấm được sự ẩn khuất bên trong đó vì “cái đại dục của người ta là ở việc ăn uống trai gái, bao giờ cũng

có Cho nên dục ố, là cái mối lớn của tâm vậy, người ta dấu kín cái tâm, không biểu hiện ra ngoài Nếu muốn tóm lại làm một để biết cho cùng mà bỏ lễ thì lấy

gì mà biết được” [31, tr 144] Khổng Tử cho rằng, các triều đại đã qua sở dĩ trị được thiên hạ, là vì họ hiểu được tính tình của con người cho nên mới đặt ra các quy cũ phép tắc bao hàm Lễ và nghĩa để phân biệt cái lợi và hại là cho dân biết kính

Theo Khổng Tử, việc sử dụng Lễ để giáo hóa con người có tác dụng rất tích cực, đem lại thành quả tốt đẹp Sự giáo hóa của Lễ giống như phép màu nhiệm, ngăn cấm những suy nghĩ lệch lạc ngay lúc chưa hình thành ra kiến

Trang 31

người ta ngày càng đến gần với điều thiện, tránh xa tội lỗi mà tự mình không biết Như vậy, Lễ là cấm sự loạn sinh ra: “Người giàu sang biết lễ thì không dâm

tà, không kiêu căng; người bần tiện biết lễ thì không nản chí, không làm bậy Người làm vua làm chúa có biết lễ thì mới trị nước yên dân” [31, tr 145]

Khổng Tử chủ trương dùng Lễ để giáo hóa tính tình của con người với mục đích là tạo thành một không khí lễ nghĩa, khiến cho xã hội có chung một quan niệm đạo đức, tập quán để làm việc thiện, việc đúng đắn Mục đích cuối cùng là đưa xã hội từ vô đạo trở về với có đạo để xây dựng một xã hội tiến bộ hơn

Khổng Tử cho rằng, bản tính con người vốn không thiện không ác, con người trở nên bất thiện là do không có Lễ Chính vì thế, phải lấy Lễ để điều khiển hành vi của con người ta có chuẩn mực đạo đức trong các mối quan hệ giữa người với người Điều đặc biệt là ông nhấn mạnh đến vai trò của người quân tử phải biết làm cho sáng cái Lễ, phải biết cung kính tuân theo tiết độ của

Lễ để mọi người học tập và làm theo

1.2.3 Vai trò quan niệm “Lễ” của Khổng Tử

Thứ nhất, quan niệm “Lễ” của Khổng Tử đóng vai trò quan trọng trong

việc đưa Nhân, Nghĩa vào cuộc sống hàng ngày, đưa Nhân, Nghĩa trở thành quy tắc, đi sâu vào tâm lý của con người, giáo dục con người tự nguyện tuân theo để duy trì trật tự kỷ cương trong xã hội

Lễ được xem là chuẩn mực đạo đức của con người Những tính tốt như cung kính, dũng cảm, cẩn thận, ngay thẳng mà không tuân theo Lễ thì đều là những hành vi xấu Khổng Tử cho rằng: “cung nhi vô lễ, tắc lao; thận nhi vô lễ, tắc tỹ; dũng nhi vô lễ, tắc loạn; trực nhi vô lễ, tắc giảo” [12, Luận ngữ, Thái Bá,

tr 120,] Điều này có nghĩa là: Cung kính quá lễ thành ra lao nhọc thân hình; cẩn thận quá lễ thành ra nhát gan; dũng cảm quá lễ thành ra loạn nghịch; ngay thẳng

Trang 32

quá lễ thành ra gắt gỏng, cấp bách Hoặc là, “phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động” [12, Luận ngữ, Nhan Uyên, tr 180] Nghĩa là, sắc chi chẳng hạp lễ thì mình đừng ngó, tiếng chi chẳng hạp lễ thì mình đừng nghe, lời chi chẳng hạp lễ thì mình đừng nói, việc chi chẳng hạp lễ thì mình đừng làm

Lễ là toàn bộ những quy tắc ứng xử, mang tính nghi thức và nội dung văn hóa yêu cầu mọi người phải luôn tuân theo Lễ đòi hỏi mọi thành viên trong xã hội từ vua quan đến hạng thứ dân, ai cũng phải xác định đúng vị thế của mình trong xã hội, gọi đúng chức danh, làm đúng phận sự của mình Lễ được diễn ra

từ việc tế lễ thần thánh, thờ cúng tổ tiên, đến mọi quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh em, bạn bè, đến những nghi thức trong ma chay, cưới xin, cúng giỗ, tết, đến cung cách đi đứng, chào hỏi, ăn uống, trang phục…tất cả đều phải

có Lễ, phải tuân theo Lễ

Thứ hai, Lễ tạo ra tình cảm thiện mỹ

Trong không khí lễ nghi, với những trang phục nghiêm túc, con người không thể không vươn tới hoặc trở về với tính thiện, nghĩ tới điều nhân Lễ tiết chế con người sống có đức độ, đó là, những cái thường tình ở con người nếu có thừa thì thường hay xa xỉ, nếu thiếu thốn thì lại dè xẻn, nếu ngăn cấm thì hoang dâm, không tiết độ thì tổn thất, buông thả lòng dục Vì vậy, trong ăn uống thì phải có hạn, y phục thì phải có tiết chế, nhà cửa đúng kiểu cách…là đề phòng nguyên nhân gây nên loạn Lễ giúp con người giữ đúng đạo phải trái, trật tự trên dưới: “Đạo đức nhân nghĩa không có lễ không thành, dậy bảo sửa đổi phong tục không lễ không đủ, xử việc phân tranh kiện tụng không lễ không không quyết, vua tôi trên dưới, cha con, anh em không lễ không định, học tập nhờ thầy không

lễ không thân thiết, xếp đặt triều chính, điều hành quân lính, ở chốn công đường không lễ không nghiêm…Bởi thế người quân tử (người có lễ) dung mạo phải ung dung, trong lòng phải kính cẩn, giữ gìn phép tắc, xử thế nhường nhịn để làm

Trang 33

sáng rõ lễ” [16, tr 184, 185] Lễ còn dạy cho con người biết rõ thân sơ, quyết sự hiềm nghi, làm sáng rõ phải trái, trên dưới có thứ bậc rõ ràng, làm cho con người

có lòng khoan dung, độ lượng, nhân ái…

Khổng Tử là người đề cao Lễ nên ông yêu cầu mọi người, từ vua quan đến thường dân đều phải nghiêm khắc với chính bản thân mình trong lời nói lẫn việc làm, kể cả việc nhỏ nhất trong sinh hoạt hàng ngày Khổng Tử không những kêu gọi mọi người thực hiện theo Lễ mà bản thân ông cũng là người luôn tuân thủ chấp hành theo Lễ

Như vậy, Lễ của Khổng Tử là đạo lý, là phép tắt, là hành vi chính trị, qua

đó giúp con người duy trì, phân rõ tôn ti trật tự trong gia đình, ngoài xã hội, quốc gia Lễ có ý nghĩa giúp cho con người phòng ngừa trước những điều xấu xảy ra, hướng con người làm những điều thiện, điều hay, lẽ phải cho xã hội Người có

Lễ là người biết tự chủ, kiềm chế bản thân trước điều xấu, hòa đồng đúng mực với mọi người Người không học Lễ sẽ không biết lập thân, không có được khuôn phép trong gia đình và ngoài xã hội Ngoài ra, quan niệm “Lễ” của Khổng

Tử còn huy động dư luận xã hội phê phán những người không tuân theo Lễ, nghĩa là không biết liêm sĩ, làm điều xấu, không tuân theo tôn ti trật tự thứ bậc Nếu con người vi phạm Lễ thì sẽ cắn rứt lương tâm, do đó nó có tác dụng tích cực đến con người, yêu cầu con người phải luôn ngay thẳng, trung thực, làm điều đúng cho xã hội

1.2.4 Mối quan hệ giữa quan niệm “Lễ” với Nhân, Nghĩa, Pháp, Nhạc, Hòa

Thứ nhất, mối quan hệ giữa Lễ với Nhân

Chữ Nhân bao gồm hai chữ nhân và nhị hợp lại thành một chữ, nghĩa là nói về lòng yêu thương con người Theo Luận Ngữ thì Nhân có ý nghĩa rất phức

Trang 34

tạp, nhưng xét lại cho cùng về mặt phương diện chính trị thì Nhân có thể được hiểu:

- Khi Phàn Trì hỏi về đức Nhân, Khổng Tử đáp: “Ái nhơn” (Nhân là thương người) [12, Luận ngữ, Nhan Uyên, tr 192]

- Khi Nhan Uyên hỏi Khổng Tử về đức Nhân, Khổng Tử trả lời rằng:

“Khắc kỷ, phục lễ vi nhân Nhứt nhựt khắc kỷ, phục lễ, thiên hạ qui nhân yên Vi nhân do kỷ, nhi do nhơn hồ tai ?” [12, Luận ngữ, Nhan Uyên, tr 180] Điều này

có nghĩa là, làm nhân là khắc kỷ, phục lễ, tức là chế thắng lòng tư dục, vọng niệm của mình mà theo lễ tiết Ngày nào mà mình khắc kỷ, phục lễ ngày đó mọi người trong thiên hạ tự nhiên cảm hóa mà theo về đức Nhân Vậy làm Nhân do nơi mình, chớ há do ai sao ?

- Khi học trò tên là Trọng Cung hỏi về đức Nhân, Khổng Tử đáp rằng:

“Xuất môn như kiến đại tân; sử dân, hư thừa đại tế; kỷ sở bất dục, vật thi ư nhơn Tại bang vô oán, tại gia vô oán” (Khi ra khỏi nhà, mình phải giữ cho trang nghiêm kính cẩn dường như sắp gặp khách quí; khi sai dân làm việc công, mình sốt sắng thận trọng dường như thừa hành một cuộc cúng tế lớn Trong nước ai chẳng oán mình; ở nhà, ai chẳng ghét mình Đó là hạnh của người nhân) [12, Luận ngữ, Nhan Uyên, tr 180]

- Khi Tử Trương hỏi đức Khổng Tử về cách làm Nhân, Khổng Tử cho rằng: “Năng hành ngũ giả ư thiên hạ, vi nhân hỹ cung, khoan, tín, mẫn, huệ Cung tắc bất vũ; Khoan tắc đắc chúng; tín tắc nhơn nhậm yên; mẫn tắc hữu công; huệ tắc túc dĩ sử nhơn” [12, Luận ngữ, Dương Hóa, tr 272] Điều này có nghĩa là: Khổng Tử đáp với học trò rằng, người nhân là người có thể làm cho năm điều đức hạnh phổ cập trong thiên hạ đồng thời giải thích năm điều đó là:

Tự mình nghiêm trang tề chỉnh, có lòng rộng lượng, có đức tín thật, mau mắn siêng năng, thi ân bố đức Nếu mình có lòng rộng lượng, thì mình thu phục lòng

Trang 35

người Nếu mình có đức tín thật, thì người ta tin cậy mình Nếu mình mau mắn siêng năng, thì làm được công việc hữu ích Nếu mình thi ân bố đức, thì mình sai khiến người được

- Khi Tử Cống hỏi về người Nhân: “Như hữu bác thí ư dân, nhi năng tế chúng, hà như ? Khả vị nhân hồ ?” Khổng Tử trả lời: “Hà sự ư nhân ? Tất giã thánh hồ Nghiêu, Thuấn kỳ do bệnh chư! Phù, nhân giả, kỷ dục lập nhi lập nhơn; kỷ dục đạt nhi đạt nhơn; năng cận thủ thí; khả vị nhân chi phương giả dĩ” [12, Luận ngữ, Ung Dã, tr 96] Có nghĩa là, Tử Cống hỏi Khổng Tử rằng, ví như

có người thi ân bố đức cho khắp cả dân gian, lại hay cứu thế cho đại chúng, thì nên nghĩ cho người ấy như thế nào ? Có nên gọi là người nhân chăng ? Khổng

Tử trả lời rằng, Sao chỉ gọi là người nhân thôi ? Phải gọi họ là thánh mới xứng Vua Nghiêu, vua Thuấn cũng khó mà làm xong những việc ấy Người Nhân hễ muốn tự lập lấy thân mình thì cũng lo mà thành lập cho người; hễ muốn làm cho mình thông đạt thì cũng lo làm cho người được thông đạt; hễ xử với mình như thế nào thì cũng xử với người xung quanh mình như thế ấy Đó là những phương pháp phải thi hành để trở thành người đức Nhân

Nhân biểu hiện trong tất cả các mối quan hệ xã hội, từ chỗ con cái yêu thương cha mẹ (hiếu), em hòa thuận với anh chị (đễ), bề tôi “trung” với vua, vua yêu thương bề tôi, cha mẹ yêu thương con cái (từ) Trong đó, hiếu đễ là gốc, bởi

vì, nếu môt người mà không biết yêu quý cha mẹ, anh chị em của mình thì không thể có lòng yêu quý người khác, nếu có cũng chỉ là giả dối, vị kỷ mà thôi

Nhân và Lễ có mối quan hệ với nhau, không tách rời nhau, phụ thuộc lẫn nhau, có cái này thì phải có cái kia và ngược lại Người có Nhân không thể không theo về với Lễ và người đã theo đúng Lễ là người có Nhân Trong mối quan hệ này, Khổng Tử cho đức Nhân là gốc của Lễ và Nhạc Ông viết “Nhơn nhi bất nhân như lễ hà? Nhơn nhi bất nhân như nhạc hà?” [12, Luận ngữ, Bát

Trang 36

Dật, 32] Có nghĩa là, người ta mà chẳng có lòng Nhân, làm sao mà thi hành lễ tiết Con người chẳng có lòng Nhân làm sao mà thi hành âm nhạc Điều này thể hiện Lễ gốc ở kính, người bất Nhân chẳng có niềm cung kính, đâu có thể hành lễ cho nghiêm trang Nhạc chủ ở hòa, người bất Nhân chẳng có niềm hòa khí thì đâu có thể nào trổi nhạc cho tinh vi được Do đó người không có đức Nhân thì

Lễ là vô nghĩa và nhạc cũng chẳng để làm gì

Lễ là hình thức biểu hiện của Nhân Con người sẽ không đạt được Nhân

nếu như nghe, nhìn, nói, làm trái Lễ Khi Nhan Uyên hỏi Khổng Tử về điều mục của người đức nhân, Khổng Tử trả lời rằng: “Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động” (sắc chi chẳng hạp lễ thì mình đừng ngó, tiếng chi chẳng hạp lễ thì mình đừng nghe, lời chi chẳng hạp lễ thì mình đừng làm Bốn điều ấy là điều mục của đức nhân đó) [12, Luận ngữ, Nhan Uyên, tr 180]

Theo Khổng Tử, Lễ không phải là một nội dung hoàn toàn độc lập mà là một biểu hiện đạo đức luôn gắn liền với Nhân Trong mối quan hệ giữa Nhân và

Lễ thì Nhân là gốc, là nội dung, còn Lễ là biểu hiện của Nhân Nếu không có Nhân mà dùng Lễ thì Lễ chỉ là hình thức sáo rỗng mà thôi, bởi vì Khổng Tử quan niệm rằng, trong các Lễ, việc xa xỉ chẳng bằng tiết kiệm, trong tang lễ, đầy

đủ tang lễ chẳng bằng việc thương xót người đã mất Như vậy, ở đây, Khổng Tử khẳng định trong việc thực hành Lễ thì không gì bằng tấm lòng đức Nhân của con người

Khổng Tử cho rằng, người không có lòng Nhân thì Lễ chỉ là hình thức mà thôi Nhà cầm quyền nếu không có đức Nhân mà càng trọng Lễ thì càng thủ cựu, càng trở nên độc tài Pháp điển mà không lập theo tình Nhân thì dễ hóa ra tàn khốc Do đó, Lễ là để giữ sự tôn ti, phân biệt trên dưới, giai cấp Nhân là tình người, nếu không có tình người thì làm sao mà hòa hợp nhau được, người này

Trang 37

người khác, giai cấp này với giai cấp khác chỉ coi nhau như kẻ thù, người trên ức hiếp người dưới, người bề dưới chống đối người bề trên

Như vậy, để đạt được Nhân thì con người cần phải có Lễ, Lễ là hình thức biểu hiện của Nhân, con người sẽ không đạt được Nhân nếu như: xem, nghe, nói, làm điều trái Lễ Do đó, Nhân và Lễ là hai mặt của một vấn đề, Nhân là chuẩn để quy định Lễ, Lễ là phương tiện để thực hiện Nhân Nhân và Lễ là hạt nhân trong

tư tưởng đạo đức của Khổng Tử, từ Nhân và Lễ có thể dịch ra cả một hệ thống các khái niệm đạo đức như trung, hiếu, nghĩa, tín

Thứ hai, mối quan hệ giữa Lễ với Nghĩa

Trong học thuyết của mình, Khổng Tử ít bàn luận đến Nghĩa nhưng ông luôn hành động theo Nghĩa Theo Khổng Tử, Nghĩa là lẽ phải, là điều hay, điều đúng, hợp đạo lý mà con người phải làm, không hề mưu tính đến lợi ích cá nhân Việc nên làm mà không làm là bất Nghĩa, còn việc không nên làm mà làm cũng

là bất Nghĩa Theo ông, bậc quân tử làm việc cho đời, không có việc gì mà người

ấy cố ý làm, không có việc gì người ấy cố ý bỏ, hễ hợp nghĩa thì làm, nếu không làm theo điều Nghĩa thì không đáng mặt là đấng quân tử: “Phi kỳ quỉ nhi tế chi, siễm giả Kiến nghĩa bất vi, vô dõng giả” (thấy việc đáng làm để giúp người, thế

mà không chịu ra tay, người như vậy là nhát gan, không đáng mặt quân tử) [12, Luận ngữ, Vi chính, tr 28] hay “quân tử chi ư thiên hạ giã, vô thích giã, vô mịch giã, nghĩa chi dữ tỷ” (bậc quân tử làm việc cho đời, không có việc gì mà người

cố ý làm, không có việc gì người cố ý bỏ, hễ hợp nghĩa thì làm) [12, Luận ngữ,

Lý nhân, 54]

Nghĩa có mối quan hệ với Lợi, con người ta sinh sống được trong xã hội dựa vào Nghĩa và Lợi, Lợi để nuôi cuộc sống con người về mặt thể chất, Nghĩa nuôi cuộc sống con người về mặt tâm hồn Tâm không có Nghĩa thì không vui được, thân không có Lợi không yên Cái Nghĩa nuôi sống người ta lớn hơn cái

Trang 38

Lợi Cho nên, thấy cái Lợi phải nghĩ đến điều Nghĩa, không nên vì Lợi mà làm mất Nghĩa

Khổng Tử luôn đặt Nghĩa đối lập với Lợi, ông cho rằng: “Quân tử dụ ư nghĩa; tiểu nhơn dụ ư lợi” (Bậc quân tử tinh tường về việc nghĩa, kẻ tiểu nhơn rành rẽ về việc lợi” [12, Luận ngữ, Lý nhân, tr 58] Theo Khổng Tử, đã là người quân tử thì không bao giờ thấy điều Lợi mà bỏ việc Nghĩa Nếu làm việc phi Nghĩa mà được giàu sang thì đành chịu nghèo khổ còn hơn: “Phạn sơ tự, khúc quăng nhi chẩm chi, lạc diệc tại kỳ trung hỹ Bất nghĩa nhi phú thả quí, ư ngã như phù vân” (Ăn cơm thô, uống nước lã, co cánh tay mà gối đầu, ở trong cảnh đơn bạc như vậy, nhà đạo đức cũng lấy làm vui Chớ do nơi những cuộc hành vi bất nghĩa mà trở nên giàu có và sang trọng, thì ta coi cảnh ấy như mây nổi) [12, Luận ngữ, Thuât nhi, tr 106]

Khổng Tử còn cho rằng, bậc quân tử nên dung hòa Nhân Nghĩa và tài lợi Nếu mình chỉ biết lợi cho mình, cho nhà mình, cứ lo vơ vét của cải của dân về cho mình thì dân sẽ oán hận mình và có thể hại mình: “Phỏng ư lợi nhi hành, đa oán” (Kẻ nào nương theo lợi mà thi hành, ắt có nhiều người oán thù) [12, Luận ngữ, Lý nhân, tr 54]

Theo Khổng Tử, giữa Lễ và Nghĩa có mối quan hệ mật thiết với nhau Điều này thể hiện rõ trong hình ảnh bậc quân tử: “Quân tử nghĩa dĩ vi chất, lễ dĩ hành chi, tốn dĩ xuất chi, tín dĩ thành chi Quân tử tai” (Người quân tử làm việc chi cũng lấy nghĩa làm gốc Người noi theo tiết lễ mà thi hành, người phát biểu công việc mình bằng đức khiêm tốn và người thành tựu nhờ lòng tín thật Làm một việc mà có đủ đức tánh: Nghĩa, lễ, tốn tín như vậy, thật là quân tử thay!) [12, Luận ngữ, Vệ Linh Công, tr 246]

Như vậy, có thể nhận thấy, Nghĩa là căn cứ để hình thành Lễ, còn Lễ là tiêu chuẩn để xác định hành vi đó có Nghĩa hay không

Trang 39

Thứ ba, mối quan hệ giữa Lễ với Pháp

Việc cai trị xã hội cần phải có một quy tắc, phương pháp, quy định nhất định để mọi người trong xã hội tuân theo Trong thời kỳ xã hội phong kiến Trung Quốc có hai nhà tư tưởng đối lập nhau về cách cai quản xã hội đó là tư tưởng Đức trị của Nho gia (tiêu biểu là Khổng Tử), tư tưởng dùng Pháp trị để cai trị xã hội của Pháp gia (tiêu biểu là Hàn Phi Tử)

Tư tưởng Đức trị của Nho gia ra đời thời Xuân Thu do Khổng Tử khởi xướng dùng để duy trì trật tự xã hội, nêu ra năm tư tưởng đạo đức cơ bản của người quân tử: Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí - Tín, trong đó ông đặc biệt nhấn mạnh Nhân và Lễ, giúp cho con người biết ý thức được bản thân, tuân theo các quy tắc, phong tục do xã hội đặt ra Khổng Tử cho rằng, Đức trị muốn đạt được hiệu quả cao thì phải đi đôi với Lễ trị, ông nhấn mạnh vai trò của Lễ trị như sau: “Thị cố,

lễ giả quân chi đại bính dã Sở dĩ biệt hiềm minh vi, bân quỷ thần, khảo chế độ, biệt nhân nghĩa; sở dĩ trị chính an quân dã” [23, tr 274], có nghĩa là: Lễ là công

cụ trị nước của quân vương, dùng để phán đoán thị phi, quan sát sáng tối, kính phụng quỷ thần, khảo sát chế độ, đảm bảo luân thường; dùng để thúc đẩy chính

sự, củng cố chính quyền

Ngược lại với tư tưởng Đức trị của Khổng Tử, tư tưởng Pháp trị được khởi xứng từ Quản Trọng, Thận Đáo, Thân Bất Hại, Thương Hưởng và được hoàn thiện bởi Hàn Phi Tử Theo Hàn Phi Tử, muốn cai trị đất nước thì cần đến ba yếu

tố cơ bản:

- Pháp: Là hiến lệnh chép ở công đường để bầy tôi theo đó làm việc, công khai rõ ràng ở chỗ trăm họ, để họ biết mà tuân theo, phải xử lý nghiêm minh những người vi phạm quy định đã đề ra, với tinh thần xử lý: Không khoan nhượng với người mình yêu thương, đồng thời, không khắc nghiệt với người mình ghét

Trang 40

- Thế: Mọi người trong nước phải tuân theo pháp lệnh của nhà vua, kể cả lời nói và tư tưởng Ở đây thuyết Pháp trị sử dụng nội dung “chính danh” của Nho giáo, theo đó, vua phải làm tròn phận sự của mình, các quan lại, dân chúng tùy theo danh phận của mình mà làm tròn công việc của mình Trong đó chỉ có vua mới là người có thể cai trị thiên hạ

- Thuật: Là phương pháp điều hành Thuật bao gồm ba nội dung: bổ nhiệm, kiểm tra và thưởng phạt

Pháp cùng với Lễ là cơ sở để xây dựng trật tự kỷ cương xã hội Nếu như Khổng Tử chủ trương quản lý xã hội bằng đạo đức thì Hàn Phi chủ trương quản

lý xã hội bằng pháp luật

Tuy chủ trương việc cai trị xã hội bằng Đức trị của Nho gia (đại diện là Khổng Tử) và Pháp trị của Pháp gia (đại diện là Hàn Phi) là khác nhau nhưng có mối liên hệ với nhau Pháp luật phong kiến là pháp luật thể hiện tất cả các quan điểm đạo đức, lễ nghi được thể chế hóa vào trong pháp luật, là những đặc trưng quan trọng của pháp luật phong kiến Trung Quốc Pháp luật Trung Quốc có sự kết hợp giữa đức và pháp, giữa lễ và hình Xét đến cùng, Pháp trị cũng chỉ là một hình thức của Đức trị mà thôi Bởi vì muốn thi hành được chủ trương của Pháp gia đưa ra, xã hội cũng cần có một đấng minh quân, một nhà vua sáng suốt, am hiểu nguyên tắc Pháp trị và chịu khép mình theo nguyên tắc Lễ nghĩa của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ

Tóm lại, trong suốt thời kì phong kiến Trung Quốc, hai quan điểm cai trị

xã hội là Đức trị và Pháp trị đã cùng tồn tại với nhau, tương hỗ nhau Tuy nhiên,

ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì mức độ ảnh hưởng của hai học thuyết này

có khác nhau Nhìn chung thì thuyết Đức trị của Nho giáo (đại diện là Khổng Tử) giữ vị trí thượng tôn, thuyết Pháp trị của Pháp gia (đại diện là Hàn Phi Tử)

Ngày đăng: 28/11/2017, 12:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w