LÊ THỊ KHUYÊNQUAN ĐIỂM CỦA PLATON VỀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Đà Nẵng - 2015... Qua các tác phẩm của Platon như
Trang 1LÊ THỊ KHUYÊN
QUAN ĐIỂM CỦA PLATON VỀ ĐỜI SỐNG
TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng - 2015
Trang 2LÊ THỊ KHUYÊN
QUAN ĐIỂM CỦA PLATON VỀ ĐỜI SỐNG
TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM
CHUYÊN NGÀNH: Triết học
MÃ SỐ: 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
Đà Nẵng – 2015
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Đà Nẵng, tháng … năm 2015
Tác giả luận văn
Lê Thị Khuyên
Trang 41.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
5 Kết cấu của luận văn 5
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5
CHƯƠNG 1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA SỰ HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM CỦA PLATON VỀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI 10
1.1.NHỮNG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PLATON 10
1.2 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG PLATON VỀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CON NGƯỜI 20
1.3 CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA PLATON 24
1.3.1 Về thân thế và cuộc đời của Platon 24
1.3.2 Về sự nghiệp của Platon 30
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35
CHƯƠNG 2 KHÁI LƯỢC MỘT SỐ TÁC PHẨM VÀ NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA PLATON VỀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI 37
2.1 KHÁI LƯỢC MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA PLATON CÓ BÀN ĐẾN VẤN ĐỀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI 37
2.1.1 Tác phẩm “Chính thể cộng hòa” 37
2.1.2 Tác phẩm “Phaidon” 39
2.1.3 Tác Phẩm “Apologia” (Biện giải) và “Crito” 40
Trang 5ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI 43
2.2.1 Về khái niệm và cấu trúc của đời sống tinh thần 44
2.2.2 Về sự bất tử của linh hồn 47
2.2.3 Về nhận thức và giáo dục 51
2.2.4 Về hạnh phúc và đạo đức 66
2.2.5 Về mối quan hệ của đời sống tinh thần đối với cấu trúc giai cấp xã hội và công việc quản lý đất nước 71
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 74
CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA QUAN ĐIỂM PLATON VỀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI 76
3.1 NHỮNG ĐÓNG GÓP CÓ GIÁ TRỊ DÀI LÂU CỦA QUAN ĐIỂM PLATON VỀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI 76
3.2 MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA QUAN ĐIỂM PLATON VỀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM 83
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 90
KẾT LUẬN 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Hy Lạp là cái nôi của văn minh phương Tây Nhờ có điều kiện tự nhiên thuận lợi, khí hậu ôn hòa, những đồng bằng trù phú và các thành phố lớn như Athens, Sparta, Corinth và Thebec ra đời sớm Thương mại cũng phát triển từ rất sớm với các hải cảng và đảo rải rác trên biển Êgiê (Aegian Sea) Đó là nơi hội tụ và kết tinh những giá trị tinh hoa của một nền văn hóa rực rỡ nhất thời
cổ đại Đó cũng là nơi tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của khoa học,
kỹ thuật, thiên văn, y học và triết học
Trước khi triết học ra đời, thần thoại Hy Lạp đã thống trị và trở thành thế giới quan của con người.Người Hy Lạp đã sử dụng thần thoại không chỉ
để giải thích cội nguồn của thế giới, mà còn để giải thích vì sao thế giới này luôn vận động, biến đổi và từ sự vận động, biến đổi đó dẫn đến sự tồn tại vĩnh hằng của thế giới và của sinh linh vạn vật trong thế giới ấy Thần thoại phản ánh khát vọng chinh phục tự nhiên của con người Với người Hy Lạp cổ đại, thần thoại còn được coi là những khuôn mẫu ứng xử hay là những chuẩn mực đạo đức trong đời sống cá nhân và xã hội của con người Thần thoại Hy
Lạp được ví như “Nghìn lẻ một đêm” của người Ả - rập được lưu truyền và
yêu thích cho đến tận ngày nay
Triết học ra đời đã chấm dứt vai trò thế giới quan của thần thoại Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến lâu dài và sâu sắc các quan hệ xã hội Đó là sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử - chế độ chiếm hữu nô lệ Người ta thường nhắc đến điểm mạnh của triết học Hy Lạp cổ đại là triết học của khoa học, tư duy lý luận và phép biện chứng Trên thực tế triết học Hy Lạp cổ đại đã có nhiều nỗ lực trong việc tìm hiểu đời sống tinh thần của con người, khai thác vấn đề tinh thần, tâm trí và linh hồn của con người Thế hệ sau này, đã ngợi ca sự vĩ đại của nền văn
Trang 7minh Hy Lạp cổ đại và xem nó là nền tảng của văn minh nhân loại Như lời
Ph Ăngghen đã nhận xét: “Không có chế độ nô lệ thì không có quốc gia Hy Lạp, không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp, không có chế độ nô lệ thì không có Đế chế La Mã Mà không có cái cơ sở của nền văn minh Hy Lạp và
Đế chế La Mã thì không có châu Âu hiện đại” [18, tr 254]
Nếu về mặt huyền thoại, người Hy Lạp tôn sùng thần Zeus là chúa tể của các vị thần ngự trên đỉnh Olympia, thì trong lĩnh vực tư tưởng người ta ngợi ca Platon là một thiên tài triết học, một nhà tư tưởng lỗi lạc Ông là biểu tượng sáng ngời là tấm gương người công dân mẫu mực, là một nhân cách đức độ và tài năng hiếm có Khi nói về thời gian, ngạn ngữ Eskimo có câu:
“Quá khứ là tro tàn; tương lai là gỗ Chỉ ngày hôm nay là lửa sáng chói lòa” [73] Xem ra điều này là không đúng khi nói về văn minh Hy Lạp cổ đại nói chung và triết gia Platon nói riêng Bụi thời gian không thể xóa nhòa những tư tưởng tiến bộ vượt trước thời đại của ông Tư tưởng Platon in dấu ấn sâu đậm trong văn hóa phương Tây, thậm chí cho đến tận ngày nay, các tác phẩm của ông và tư tưởng của ông vẫn còn là nguồn cảm hứng cho nhiều học giả và nhà nghiên cứu trên thế giới
Platon là nhà triết học đa tài, tư tưởng triết học của ông bao trùm lên rất nhiều lĩnh vực như: chính trị, xã hội, nhà nước, giáo dục, mỹ học Tuy nhiên, Platon là một nhà duy tâm khách quan nên ông đặc biệt quan tâm nghiên cứu đời sống tinh thần của con người và coi đó là điểm xuất phát và nền tảng của việc nghiên cứu tất cả các vấn đề khác
Platon sinh ra và lớn lên, trải qua những biến cố của cuộc đời, bản thân ông cũng đã từng bị bắt bán ở chợ nô lệ, cũng đã từng chịu hệ lụy của những biến cố chính trị và kể cả những thói xấu xa của cuộc đời phơi bày trước mắt Hơn ai hết, Platon đã thấu hiểu những suy tư trăn trở của người Hy Lạp làm
Trang 8sao có được một xã hội tốt đẹp, công bằng và làm sao để con người ngày càng sống tốt hơn, yêu thương nhau hơn
Qua các tác phẩm của Platon như: “The Republic” (Chính thể cộng hòa), “Phaedrus”, “Euthyphro”, “Apologia” (Biện giải), “Crito”, “Phaidon”,
v.v., Platon đã cho chúng tôi thấy rõ những quan điểm cơ bản của ông về đời sống tinh thần của con người một cách toàn diện Đó là những vấn đề về khái niệm và cấu trúc đời sống tinh thần (tâm hồn) của con người, về sự bất tử của linh hồn, về nhận thức và giáo dục, về hạnh phúc và đạo đức và về mối quan
hệ giữa đời sống tinh thần với cấu trúc giai cấp của xã hội và công việc quản
lý đất nước
Mặc dù Platon không thể vượt qua giới hạn những điều kiện lịch sử chi phối, song những vấn đề mà ông đặt ra trong tác phẩm thật sự có ý nghĩa đối với chúng ta Đó là sự đề cao, quan tâm và giáo dục đời sống tinh thần của con người một cách hài hòa như là thước đo cơ bản để chứng minh xã hội lý tưởng và tốt đẹp nhất Đó còn là khát vọng của một người công dân mẫu mực luôn trăn trở và mưu cầu hạnh phúc cho mọi người Đó còn là hình ảnh của một con người khao khát chinh phục và luôn tìm kiếm chân lý đích thực trong cuộc đời
Quan điểm của Platon về đời sống tinh thần tuy không tránh khỏi một
số hạn chế nhất định do thời đại và lập trường triết học của ông, tuy nhiên, bên trong cái vỏ duy tâm thần bí, hệ thống triết học của ông chứa đựng nhiều giá trị tích cực có ý nghĩa lâu dài trong thời đại ngày nay Do vậy, việc đi sâu một số tác phẩm để nghiên cứu một cách sâu sắc quan điểm của ông về đời sống tinh thần con người là một việc làm rất cần thiết không chỉ đối với sự phát triển của triết học nói chung, mà còn còn ý nghĩa đối với các lĩnh vực chính trị, văn hóa, nhất là vấn đề giáo dục, quản lý con người, vấn đề phân công lao động xã hội hiện nay
Trang 9Chính vì thế, tôi chọn vấn đề “Quan điểm của Platon về đời sống tinh
thần của con người qua một số tác phẩm” làm đề tài luận văn thạc sĩ của
mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích của luận văn
Luận văn có mục đích phân tích quan điểm của Platon về đời sống tinh
thần của con người qua một số tác phẩm như: “Chính thể cộng hòa”,
“Phaidon”, “Crito”, “Biện giải”, “Phaedrus”, “Euthyphro”, qua đó vạch ra
những giá trị và hạn chế của quan điểm đó, đồng thời chỉ ra những vấn đề có
ý nghĩa lâu dài trong thời đại ngày nay
- Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
+ Trình bày một cách khái quát bối cảnh lịch sử và những tiền đề lý luận cho sự ra đời quan điểm của Platon về đời sống tinh thần của con người
+ Phân tích những nội dung chủ yếu của quan điểm của Platon về đời
sống tinh thần của con người qua một số tác phẩm như: “Chính thể cộng
hoà”, “Phaidon”, “Crito”, “Biện giải”, “Phaedrus” và “Euthyphro”
+ Nhận xét về những giá trị và hạn chế của quan điểm đó, đồng thời chỉ
ra những vấn đề còn có ý nghĩa lâu dài trong thời đại ngày nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu là quan điểm cơ bản của Platon về bản chất, cấu trúc, vai trò của đời sống tinh thần; vấn đề linh hồn và sự bất tử của linh hồn; vấn đề hạnh phúc và giáo dục con người, mối quan hệ giữa cấu trúc đời sống tinh thần với phân công lao động xã hội
+ Phạm vi nghiên cứu là một số tác phẩm: “The Republic” (Chính thể cộng hoà), “Phaidon”, “Crito”, “Apologia” (Biện giải), “Phaedrus” và
“Euthyphro” của ông Luận văn căn cứ trên các tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt của dịch giả Đỗ Khánh Hoan (“Cộng hòa” và “Ngày cuối trong đời
Trang 10của Socrates”, Nhà xuất bản Thế giới, 2013), và có đối chiếu với một số bản
dịch tiếng Anh của tác phẩm để hiểu một cách chính xác hơn Ngoài ra, luận văn còn tham khảo một số tài liệu khác về Platon
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn được thực hiện trên nền tảng lý luận của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại xã hội
và ý thức xã hội, về đời sống tinh thần của con người
- Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử Ngoài ra luận văn còn sử dụng kết hợp phương lịch sử và phương pháp lôgic, phân tích và tổng hợp, hệ thống hoá và
so sánh…
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có nội dung chính gồm 3 chương (7 tiết)
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Chỉ có thể nói rằng, nếu bước chân vào lĩnh vực triết học, mà không nghiên cứu về Platon thì đó là một thiếu sót lớn trong cuộc đời Cũng giống
như người ta nói rằng đến Trung Quốc mà chưa đến “Vạn lý trường thành” thì
xem như là chưa đến Trung Quốc Không phải là ngẫu nhiên khi cuộc đời và
sự nghiệp của Platon nói chung và tư tưởng của ông nói riêng được sự quan tâm của rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu trên thế giới trong đó có Việt Nam
Vì thế chúng ta dễ nhận ra rằng ở trên thế giới, các công trình nghiên cứu về lịch sử triết học nói chung trong đó có triết học Platon nói riêng tương đối nhiều, bởi lẽ, muốn xây dựng học thuyết của mình, bao giờ các nhà triết học cũng phải nghiên cứu lịch sử triết học trước đó Tuy nhiên, có một thực tế
Trang 11rằng, công trình nghiên cứu về Platon nhiều là thế, song ở Việt Nam những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài được dịch ra tiếng Việt còn quá khiêm tốn
Trước tiên chúng ta có thể kể ra một số công trình nghiên cứu về triết học Hy Lạp cổ đại và triết học Platon ở Liên Xô trước đây Aleksei Losev là người nghiên cứu một cách có hệ thống về cuộc đời và sự nghiệp sáng tạo của Platon trong lĩnh vực triết học và nghệ thuật Tập thể các nhà triết học thuộc
Viện Triết học, Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô với các công trình: “Lịch sử
triết học phương Tây” [54] và “Lịch sử phép biện chứng” gồm 6 tập [52], trong đó tập I (Phép biện chứng cổ đại) chủ yếu trình bày lịch sử ra đời và phát triển của phép biện chứng cổ đại, bao gồm tư tưởng biện chứng của Platon
Ở nước ngoài, trong các công trình nghiên cứu Platon và tư tưởng chính trị của ông tương đối nhiều và đa dạng Trước hết là trong các bách khoa toàn thư (encyclopedia) đều có những mục nghiên cứu ít nhiều sâu sắc
về triết học Platon và tư tưởng chính trị của ông, như “Bách khoa toàn thư
triết học trên internet” (Internet Encyclopedia of Philosophy), “Bách khoa toàn thư triết học Stanford” (Stanford Encyclopedia of Philosophy), “Bách khoa toàn thư Britanica” (Encyclopaedia Britanica),“Bách khoa mở Wikipedia” (Wikipedia, the free Encyclopedia) Benjamin Jowett với những
công trình biên dịch các tác phẩm Platon trong đó có “Republic” (Chính thể
cộng hòa) và được công bố trên “The Internet Classics Achives” Benjamin
Jowett và M.J Knight là chủ biên của công trình “Platon chuyên khảo” (Nxb
Văn hóa - Thông tin dịch, 2008) [13]; Trong tác phẩm này, các tác giả trình bày tư tưởng của Platon dưới dạng các hội thoại Samuel Enouch Stumpt với
tác phẩm “Lịch sử triết học và các luận đề” (Nxb Lao động, 2004) [46]
Trang 12Trong tác phẩm này, quan niệm của Platon được trình bày theo các chủ đề lý luận nhận thức, triết học đạo đức, triết học chính trị và vũ trụ quan
Ở trong nước, ngay từ khá sớm đã có công trình “Lịch sử triết học
phương Tây” của Đặng Thai Mai (1950) [20] trong đó có đề cập đến tư tưởng
chính trị Platon Ở miền Nam trước giải phóng đã có một số bản dịch tiếng Việt các tác phẩm Platon của Trịnh Xuân Ngạn, Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn
Nghiêm trong đó có tác phẩm “Cộng hòa” do Trần Thái Đỉnh dịch (Sài Gòn,
học Platon: “Triết học Hy Lạp cổ đại” (1987) do Thái Ninh biên soạn [31],
“Triết học cổ đại Hy Lạp - La Mã” (1993) do Hà Thúc Minh chủ biên [22],
“Triết học Hy Lạp cổ đại” (1999) của Đinh Ngọc Thạch [48] Đối với Platon,
các tác giả phân tích một cách toàn diện trong đó có tư tưởng chính trị (học thuyết về nhà nước)
Ngoài ra phải kể đến một loạt các công trình nghiên cứu về lịch sử triết học, trong đó các tác giả dành một phần quan trọng cho việc phân tích tư
tưởng triết học của Platon Đó là, “Lịch sử triết học” [57] do Nguyễn Hữu Vui (chủ biên); “Lịch sử triết học” do Bùi Thanh Quất và Vũ Tình (chủ biên) [43], “Lịch sử triết học phương Tây” - Tập I: Thời kỳ khai nguyên triết lý Hy
Lạp của Lê Tôn Nghiêm [29]; “Lịch sử triết học”, tập 1, Triết học cổ đại, do
Nguyễn Thế Nghĩa, Doãn Chính (chủ biên) [28]; “Lịch sử triết học phương
Tây” của Nguyễn Tiến Dũng [4]; “Đại cương về lịch sử triết học phương
Trang 13Tây” của Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn [9]; Lịch sử triết học phương Tây: Từ triết học Hy Lạp cổ đại đến triết học cổ điển Đức, của
Nguyễn Tấn Hùng [10] Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả có
đề cập một cách khái quát các quan điểm của Platon về lý luận nhận thức, phép biện chứng, đạo đức học và chính trị học, nhưng chưa đi sâu vào một tác phẩm nào
Sẽ là một thiếu sót nếu không nhắc đến một số dịch thuật về lịch sử
triết học trong đó có cả triết học của Platon như “Tuyển tập danh tác triết học
từ Platon đến Derrida” của Forrest E Baird Góp vào việc nghiên cứu Platon,
còn có thêm một số bản dịch các tác phẩm của Platon do dịch giả Nguyễn Văn Khoa, Trần Xuân Ngạn và Trần Thái Đỉnh [41], [42], [35], [36], [37] và [38] Đặc biệt, trong những năm gần đây, dịch giả Đỗ Khánh Hoan đã có
nhiều công trình dịch thuật các tác phẩm của Platon Tác phẩm “Cộng hòa” [7] được Đỗ Khánh Hoan dịch từ bản tiếng Anh “The Republic”, trong đó ông
không chỉ chuyển ngữ mà còn giới thiệu tương đối đầy đủ về cuộc đời và sự nghiệp của Platon Dịch giả còn tóm tắt những nội dung chính của mỗi
chương và đưa ra những lời bình luận khá sắc sảo Tác phẩm “Ngày cuối
trong đời của Socrates” [8], là một bản dịch bốn tác phẩm của Platon gồm
“Euthyphro”, “Apologia” (Biện giải), “Crito” và “Phaedo” (Phaidon) Đây là
những cuộc đối thoại giữa Socrates và những người khác trong những ngày cuối đời ông, trong đó thể hiện quan niệm của Platon đời sống tinh thần, đạo đức, hạnh phúc, về linh hồn, kiếp sau, v.v…
Trong những năm gần đây, Platon đã thu hút sự quan tâm đặc biệt và hứng thú của các học viên khi chọn Platon làm luận văn nghiên cứu của mình
có thể kể đến như:“Quan niệm của Platon về nhà nước lý tưởng” của Nguyễn Thị Quyết [44]; “Tư tưởng giáo dục của Platon qua tác phẩm Nền cộng hòa”
của Phạm Bá Điền [6], Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, luận
Trang 14văn đã bảo vệ năm 2011 và 2012 “Tư tưởng triết học chính trị của Platon
trong tác phẩm Chính thể cộng hòa” của Trịnh Ngọc Tú [50], Trường Đại
học Kinh tế Đà Nẵng, năm bảo vệ 2013
Nói tóm lại các công trình nghiên cứu về Platon ở nước ta tuy nhiều nhưng chủ yếu chỉ giới thiệu khái quát các quan niệm của Platon về ý niệm,
về linh hồn bất tử, về đạo đức Trừ một số công trình đi sâu vào lĩnh vực chính trị, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu quan điểm Platon về đời sống tinh thần của con người một cách có hệ thống và đầy đủ
Thông qua các tác phẩm dịch, nghiên cứu và giới thiệu quan điểm của Platon đã nêu trên và có tham khảo một số tài liệu tiếng nước ngoài, chúng tôi chọn lọc, khái quát, hệ thống lại và đi sâu hơn vào vấn đề đời sống tinh thần của con người, rút ra những giá trị và hạn chế của nó Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài trên làm công trình nghiên cứu của mình
Trang 15CHƯƠNG 1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN
CỦA SỰ HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM CỦA PLATON
VỀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI
1.1.NHỮNG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PLATON
Hy Lạp cổ đại là một quốc gia ở khu vực Địa Trung hải
(Mediterranean Sea), có lãnh thổ rộng, bao gồm miền lục địa Hy Lạp (Nam bán đảo Balkan), miền đất ven bờ Tiểu Á, và những đảo thuộc biển Êgiê (Aegian Sea) Bờ biển Hy Lạp dài có những đặc trưng địa hình riêng ở hai nửa Đông - Tây Bờ phía Tây gồ ghề, lởm chởm không thuận tiện cho việc xây dựng các cảng Bờ phía Đông lại khúc khuỷu, hình răng cưa, tạo ra nhiều vịnh, nhiều hải cảng tự nhiên, an toàn, thuận tiện cho sự đi lại của tàu thuyền
Bờ biển phía Tây của miền Tiểu Á cũng có những điều kiện tự nhiên tương tự như ở phía Đông miền lục địa Hy Lạp Còn vùng đất liền ven bờ Tiểu Á, là vùng đất trù phú, tạo thành cầu nối, nối thế giới Hy Lạp với các nền văn minh
cổ đại phương Đông Hy Lạp cổ đại có nhiều đảo lớn nhỏ nằm rải rác trên vùng biển Êgiê (Aegian Sea) thuộc Địa Trung hải, tạo thành một hành lang cầu nối giữa miền lục địa Hy Lạp với Tiểu Á Ở phía Nam Hy Lạp có đảo Crete trên biển Êgiê (Aegian Sea), một trung tâm thương mại, đồng thời cũng
là trung tâm của nền văn minh tối cổ - văn minh Crete - Mycenae trong lịch
sử Hy Lạp Phần lớn lãnh thổ Hy Lạp giáp biển, nên điều kiện tự nhiên mưa thuận gió hòa quanh năm, con người vô cùng phóng khoáng, tư tưởng cấp tiến
và tự do
Cũng giống như các quốc gia cổ đại khác, điều kiện tự nhiên đã có những tác động đáng kể tới khuynh hướng phát triển của nền kinh tế cũng như thiết chế
Trang 16nhà nước của quốc gia cổ đại Hy Lạp Vì thế Hy Lạp rất thuận lợi trong việc phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, giao thông, thương mại và các ngành khoa học, làm tiền đề cho văn minh Hy Lạp ra đời và phát triển rực rỡ
Những tộc người Hy Lạp trên bốn vùng cư trú kể trên đã cùng nhau xây dựng nên lịch sử các quốc gia thành thị Hy Lạp Họ tự nhận có cùng chung một nguồn gốc, cùng chung một ngôn ngữ, tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục tập quán Họ tự coi là những con cháu của thần Hellene và gọi quốc gia của
họ là Hellas
Vào khoảng thời đại Homere (thế kỷ XI - IX TCN), ở Hy Lạp đã chớm bắt đầu quá trình tan rã của công xã thị tộc, được thúc đẩy bởi sự phân công lao động, diễn ra trong nông nghiệp, giữa trồng trọt và chăn nuôi Bước sang thế kỷ VIII (TCN), kinh tế ở các thị quốc Hy Lạp tiếp tục phát triển với nhịp
độ nhanh chóng Thủ công tách khỏi nghề nông và tiến những bước đáng kể Ngành đóng tàu được khuyến khích nhằm phục vụ cho thương nghiệp và chiến tranh Sự hưng thịnh của kinh tế kích thích quá trình vượt biển tìm đất mới, xâm chiếm lãnh thổ các nước láng giềng, bắt người làm nô lệ
Như vậy, chính sự tích lũy tư hữu, phát triển quan hệ hàng hóa, tiền tệ,
sự tan rã của kinh tế tự nhiên, sự phân hóa giàu nghèo, sự đối kháng giữa các lực lượng xã hội, sự thôn tính đất đai, sử dụng lao động nô lệ… khiến cho chế
độ thị tộc tan rã và bị thay thế bởi một thiết chế xã hội mới Đó là chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời, trong đó giai cấp chủ nô có toàn quyền, còn nô lệ chỉ
là người phục dịch sản xuất Có thể nói đây là chế độ xã hội tàn bạo và khốc liệt nhất trong các xã hội loài người, nơi mà con người được xem như một vật hàng hóa, bị đem ra trao đổi buôn bán giữa chợ, nơi mà người nô lệ bị đối xử
chỉ như con vật biết nói, bị đem ra làm trò tiêu khiển cho những “thú vui”
man rợ và độc ác của những người giàu có Trong chế độ đó, tính mạng và quyền sống của người nô lệ được đặt ở mức thấp nhất trong lịch sử nhân loại
Trang 17“Dù là nô lệ của tư nhân hay của nhà nước, luật pháp Athens quy định nô lệ là
sở hữu riêng, tài sản riêng của chủ nô Nô lệ là “công cụ biết nói” - không có
tài sản, không có gia đình, không có tên gọi (thường được gọi theo quê quán)
Để phân biệt và nhận biết nô lệ của mình, chủ nô thường khắc dấu trên trán mỗi nô lệ Chủ nô bỏ tiền ra mua nô lệ, nô lệ hoàn toàn thuộc về sở hữu của họ,
có nghĩa vụ lao động sản xuất và phục dịch Luật pháp thừa nhận và bảo vệ quyền sở hữu này, chủ nô có quyền bán, mua, nhượng đổi, thừa kế cho người
khác nô lệ của họ, hành hạ đánh đập, thậm chí có thể giết chết nô lệ của mình
Việc bán, mua, đổi chác nô lệ là việc thường ngày, công khai và đậm tính
thương mại Nô lệ ở Athens đã trở thành một món hàng hóa Athens có những chợ chuyên bán nô lệ Nô lệ được đem bán như người ta bán gia súc Người
mua xem xét, xoi mói từ dáng dấp, cái răng, cái tóc đến những khả năng có thể
có của nô lệ Giá cả không ổn định, phụ thuộc vào số tù binh có được sau mỗi cuộc chiến, số lượng người bị bắt trong các vụ cướp biển…” [30]
Chính do sự phát triển của kinh tế - xã hội, nền chính trị Hy Lạp cũng bắt đầu có những xáo trộn, xã hội Hy Lạp được phân thành những khuynh hướng chính trị mâu thuẫn với nhau, tạo nên sự đấu tranh, tranh giành quyền lực của hai phái: chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc Những cuộc đấu tranh này được phản ánh rõ rệt trong lịch sử triết học Hy Lạp Ngoài sự phân chia giai cấp, trong xã hội còn có sự phân chia rõ rệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay, xuất hiện những người chuyên tâm lao động trí óc Sau khi chế
độ đẳng cấp này ra đời, đời sống xã hội phát triển, các thành thị Hy Lạp cũng dần dần được thành lập với mục đích làm nơi điều khiển, bảo vệ những quyền lợi của giai cấp thống trị và là trung tâm văn hóa, khoa học, nghệ thuật
Nói tóm lại, triết học Hy Lạp phát triển trong điều kiện sự hưng thịnh của chế độ nô lệ, sự phân chia lao động giữa lao động trí óc và lao động chân tay, sự tranh giành quyền lực của các thế lực chính trị cùng với sự xuất hiện
Trang 18các trung tâm thành thị và sự phát triển rực rỡ của văn hóa, khoa học, nghệ thuật Đó là điều kiện khách quan của sự xuất hiện các triết gia và trường phái triết học Triết học - hình thức tư duy lý luận đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại, ra đời, thay thế cho tư duy huyền thoại và tôn giáo nguyên thuỷ
Thuật ngữ “triết học” do người Hy Lạp nêu ra (philosophia) theo nghĩa hẹp là
“yêu mến sự thông thái”, còn theo nghĩa rộng, là khát vọng vươn đến tri thức; nói khác đi, là “quá trình tìm kiếm chân lý” Tuy nhiên với thời gian triết học
được hiểu theo nghĩa rộng: đó là thứ tri thức phổ quát, tìm hiểu các vấn đề chung nhất của tồn tại và tư duy Ở buổi đầu lịch sử tri thức triết học là tri
thức bao trùm, là “khoa học của các khoa học”
Hy Lạp cổ đại được xem là quê hương của triết học Các nhà triết học tiêu biểu, các trường phái triết học tiêu biểu cũng ra đời từ đây Triết học là sự phản ánh thời đại bằng tư duy lý luận Khi t
C Mác đã
[15, tr 157]
[15, tr 156]
thông qua
Hy Lạp cổ đại ví như đỉnh “Elbrus” của người phương Tây, là “suối
nguồn” của văn minh nhân loại, đã sinh ra và nuôi dưỡng Platon Trong tác
phẩm “Chính thể cộng hòa” tới Phần VIII, Platon đề cập các thể chế chính trị
đương thời đó là: chế độ “vị danh” hay “tài bản” (timarcratia), chế độ quả đầu hay đầu sỏ (oligarchia), chế độ dân chủ (demokratia) và chế độc độ tài (tyrannia) Xã hội Hy Lạp thời cổ đại được chia thành những đẳng cấp rõ rệt được phản ánh trong các tác phẩm của ông
Trang 19Nói về thành bang Sparta là một thành bang được xây dựng sớm nhất trong lịch sử Hy Lạp (ngay từ thế kỉ IX TCN) Nằm trên đồng bằng Laconi thuộc phía nam Peloponnesia, Sprata có lợi thế phát triển nông nghiệp và chăn nuôi Đồng bằng Laconi được tạo nên bởi sông Eurotas với những cánh đồng màu mỡ, phì nhiêu xung quanh lại có những dãy núi cao che chắn, bảo
vệ Laconi là nơi có trữ lượng sắt lớn vào bậc nhất lục địa Hy Lạp
Về mặt xã hội, thành Sparta có ba tập đoàn người cùng sinh sống nhưng quyền lợi và nghĩa vụ hoàn toàn khác nhau Thứ nhất là thành phần quí
tộc quân phiệt của Sparta được gọi là spartiates; họ sống kỷ luật, song tự hào
là người dân Sparta làm chủ đất nước Họ là giai cấp thống trị ở Sparta Họ không tham gia các hoạt động sản xuất (không làm ruộng, không làm thợ thủ công và không tham gia buôn bán) Họ sống bằng sự nô dịch, bóc lột sức lao
động của người perioikoi và người heilotes Người Sparta chỉ có chức năng
cai trị, và tham gia vào lực lượng quân đội (để xâm lược hoặc bảo vệ đất
nước) Thứ hai là perioikoi, theo luật pháp Sparta, coi người perioikoi là người
tự do, nhưng phải thực hiện nghĩa vụ tham gia các hoạt động kinh tế (nông nghiệp, thủ công nghiệp, chăn nuôi và buôn bán) nộp thuế để nuôi người Sparta Ngoài ra họ cũng phải tham gia quân đội được biên chế thành những
đơn vị Họ không được hưởng quyền chính trị Thứ ba là heilotes (theo số liệu
lịch sử có khoảng 200.000 người chiếm một tỷ lệ nhất trong dân cư Sparta) là thành phần bị trị, nô lệ phải lao động, phục vụ, không có tư hữu và quyền lợi
Đám heilotes là nô lệ phục vụ cho chủ nhân spartiates; họ có thể bị trưng binh
phục vụ chiến tranh, trong số thỉnh thoảng có người được trả tự do, song tổng quát mà nói họ không được coi là công dân và không có quyền hoặc lợi gì hết Giết nô lệ không bị coi sát nhân Khác với nô lệ ở Athens, nô lệ ở Sparta không
có quyền lợi chính trị, thân thể, tư pháp nhưng lại được phép có gia đình riêng,
lệ thuộc vào chủ nô nhưng là tài sản chung của thành bang
Trang 20Như đã nói ở trên người perioikoi và người heilotes chiếm số đông
trong dân cư Sparta Họ cũng là đối tượng bị bóc lột, vì vậy mâu thuẫn đã xảy
ra giữa chủ nô và nô lệ Giai cấp chủ nhân sống với đa số nô lệ, luôn luôn lo
sợ nổi dậy và đã có nhiều trường hợp đã xảy ra, thành phần spartiates theo lối
sống đặc biệt Họ là giai tầng quân phiệt, trong đó cá nhân tuyệt đối phục tùng cộng đồng Mỗi công dân là một chiến binh Giáo dục, hôn nhân, nhiều mặt sinh hoạt thường nhật áp dụng khe khắt nhằm duy trì khả năng quân sự Trong cuốn “History of Greece” (Lịch sử Hy Lạp), J.B Bury ghi:
“Đến tuổi hai mươi tất cả trẻ trai tập dượt trong ngôi trường khổng lồ theo mô hình quân đội Tại đây đám trẻ thụ huấn dưới sự hướng dẫn của thanh niên tuổi từ hai mươi đến ba mươi, số này vẫn chưa tới tuổi được công nhận là công dân chính thức Đến hai mươi tuổi đám trẻ thụ huấn quân sự và được phép lập gia đình; nhưng tất cả vẫn phải sống trong doanh trại, chỉ thỉnh thoảng lẻn về thăm vợ.” [59, tr 132]
“Kỷ luật cũng áp dụng với thiếu nữ Sinh hoạt chung với thiếu niên, thiếu nữ tập thể dục Khi tập tất cả đều ở trần, dẫu thế họ không coi là bất nhã
… Tuy nhiên, nếu chính quyền chỉ thị sinh con cho thành quốc, họ tuân lệnh tức thì không hề thắc mắc, dù biết việc làm đó vi phạm, chà đạp tính cách thiêng liêng của liên hệ hôn phối đòi hỏi.” [59, tr 133]
Thành bang Sparta đem toàn bộ ruộng đất chia thành khoảng 10.000
mảnh đất bằng nhau, mỗi khoảng độ 20 ha, cùng với số người perioikoi và người heilotes, cho mỗi gia đình người spartiates Những gia đình được phép
hưởng số thu hoạch, nhưng không được quyền chiếm hữu số ruộng đó và số
nô lệ canh tác, không được phép bán chuyển nhượng vì ruộng đất và nô lệ là
sở hữu chung của nhà nước Ở thành Sparta, người dân không được phép sở
hữu của cải dưới hình thức vàng hoặc bạc, họ sử dụng tiền bằng sắt Mọi hình thức xa hoa đều bị cấm nên cuộc sống của họ thật đơn giản Cá nhân không
Trang 21có chỗ đứng trong thành quốc Mọi người dân không có đời tư, lợi ích riêng
Họ sống trong doanh trại theo kỷ luật nhà binh, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu
vì thành quốc Bởi thế thuở đó mặc dù không gây hấn, dân Sparta là đội quân hùng hậu khắp Hy Lạp
Chế độ nhà nước Sparta bao gồm vương quyền thế tập, bầu cử phổ thông, tuyển chọn pháp quan và Hội đồng trưởng lão, đặc biệt kính trọng tuổi tác và kinh nghiệm; thành viên Hội đồng là người trên sáu mươi, muốn làm
vệ quốc tuổi phải năm mươi Tổ chức thành quốc Sparta khiến nhiều người khắp Hy Lạp, trong lục địa, trên hải đảo chú ý; hoàn chỉnh và đơn giản làm nhiều người ưa thích, nhưng ít người muốn sống trong đó
Thành bang Athens là quốc gia thành thị xuất hiện trên vùng bán đảo Attica (Trung Hy Lạp) Đó là một vùng đồng bằng hẹp đất đai phì nhiêu, nhiều đồi núi, khí hậu lại khô khan, lượng mưa hằng năm không đáng kể Nhà nước Athens được xây dựng và hòa thiện theo hướng xây dựng thiết chế nhà nước dân chủ chủ nô Một thể chế hết sức đề cao, và đảm bảo những quyền lợi kinh tế, chính trị của những công dân tự do Người đặt nền móng cho nhà nước Athens theo truyền thuyết là Theseus
Vào năm 594 TCN, Solon được cử giữ chức vụ chấp chính quan Solon
đã thực hiện một loạt những cải cách xã hội tiến bộ Người Hy Lạp gọi những
cải cách của Solon là “Seisachtheia” tiếng Hy Lạp cổ có nghĩa là “trút gánh
nặng” Solon tuyên bố xóa tuyên bố xóa bỏ mọi nợ nần, những ruộng đất của
nông dân đem nộp cho quý tộc để gán nợ được hoàn trả cho nông dân Những nông dân phải bán mình làm nô lệ vì nợ được giải phóng khỏi thân phận nô lệ, thành người tự do Nhà nước cấm tuyệt đối việc lấy thân mình hoặc vợ con mình làm vật để trừ nợ (kể cả việc kí văn tự vay nợ lấy bản thân con nợ làm vật thế chấp)
Trang 22Solon còn thực hiện một loạt biện pháp kinh tế và tài chính khác nhằm khuyến khích và thúc đẩy sự phát triển của thủ công nghiệp và của thương nghiệp, như thực hành cải cách chế độ tiền tệ, thừa nhận quyền tự do di sản cho bất cứ ai theo ý muốn (trước kia, tài sản của người quá cố đương nhiên thuộc quyền sở hữu của thị tộc của người đó), cấm chỉ xuất cảng nông sản phẩm ra nước ngoài (trừ rượu vang và dầu ô liu), tìm những thợ giỏi ở nước ngoài đem về Athens, thực hành tiết kiệm, hạn chế việc ăn tiêu xa xỉ của bọn quý tộc lúc cưới xin hay ma chay, tang lễ…
Những cải cách quan trọng nhất của Solon là cuộc cải cách nhằm thủ tiêu những đặc quyền của giai cấp quý tộc thị tộc và xác định địa vị xã hội của mỗi người công dân theo mức tài sản tư hữu của họ Theo cải cách đó, thì tất
cả công dân Athens, không phân biệt thành phần quý tiện, đều chia thành bốn đẳng cấp, căn cứ theo mức thu nhập hằng năm của mỗi người cao hay thấp:
những người thu nhập hàng năm từ 500 mêđim (médimme) thóc trở lên (mỗi
mêđim ước chừng 52,5 lít) thì thuộc đẳng cấp thứ nhất Những người có từ
300 mêđim thóc trở lên thì thuộc đẳng cấp thứ hai Những người thu hoạch từ
200 mêđim thóc trở lên thì thuộc đẳng cấp thứ ba, tức tầng lớp trung nông
“dơgit” (zeugites) Và cuối cùng, những người còn lại, không có hoặc có ít
ruộng đất, thu hoạch thấp thì xếp vào đẳng cấp thứ tư, tức tầng lớp bần nông
tá điền “tetơ”(thètes) Hai tầng lớp trên hưởng đầy đủ những quyền lợi chính
trị và có thể được giữ chức vụ cao nhất trong bộ máy nhà nước Athens, kể cả chức chấp chính quan, nhưng đẳng cấp thứ nhất thì có nghĩa vụ đóng góp nhiều cho nhà nước để xây dựng hạm đội, kiến thiết đô thành, tổ chức tế thần… Còn đẳng cấp thứ hai thì có nghĩa vụ phục vụ trong kỵ binh nên thường được gọi là đẳng cấp kỵ sĩ Quyền lợi chính trị của đẳng cấp thứ ba có
bị hạn chế một phần nào, như là không được bầu làm chấp chính quan và do
đó mà không thể trở thành ủy viên Hội đồng areopago được; họ phục vụ trong
Trang 23bộ binh và phải tự túc về quân trang Người thuộc ba đẳng cấp trên đây đều có quyền được bầu vào Hội đồng bốn trăm đại biểu nhân dân, do Solon đặt ra để hạn chế quyền của Hội đồng quý tộc areopago Đẳng cấp thứ tư chỉ được quyền tham gia Đại hội nhân dân và bầu cử người sung các chức vụ công cộng, nhưng không được quyền ứng cử; trong bộ binh, họ thuộc hạng lính thường, vũ trang sơ sài
Sau cải cách của Solon, thành bang Athens còn chứng kiến những cải cách khác của Clixten, Ephiantent và của Piriclet trong đó có pháp lệnh quy định chức năng của các cơ quan nhà nước và quyền dân chủ của công dân Cũng như trước kia bộ máy của nhà nước Athens gồm bốn cơ quan chủ yếu: Đại hội nhân dân, Hội đồng 500 người, Tòa án nhân dân và Hội đồng 10
tướng lĩnh Trong tác phẩm “Chính thể cộng hòa” và “Ngày cuối trong đời
Socrates”, Platon cũng đã nói rất rõ về cơ cấu bộ máy quyền lực của Nhà
nước Athens Trong đó chỉ rõ rằng, Đại hội đồng là cơ quan tối cao quyết định mọi việc điều hành thành quốc Dưới Đại hội đồng là Hội đồng điều hành gồm 500 hội viên Hội đồng điều hành chia thành ủy ban, mỗi ủy ban gồm 50 hội viên, có nhiệm vụ hành xử công việc một phần mười thời gian trong năm Chức năng Hội đồng điều hành quan trọng, song quyền hành trong thực tế do pháp luật quyết định: công dân rút thăm chọn người đại diện, hội viên tại chức một năm, không công dân nào là hội viên quá hai lần Bởi thế Hội đồng điều hành không bao giờ trở thành cơ quan liên tục với chính sách riêng biệt Đại hội đồng là cơ quan quyền lực tối cao Tòa án cũng do dân chúng kiểm soát Mọi xử kiện đều diễn ra công khai trước bồi thẩm đoàn, số này hình thành qua bốc thăm và dân chúng lựa chọn; ngay cả pháp quan cũng
có thể bị bồi thẩm đoàn xét xử nếu phạm luật trong khi tại chức
Chế độ dân chủ Athens có từ 500 năm trước Công nguyên (TCN), được đánh giá là chế độ dân chủ đầu tiên của nhân loại T.Z.Lavine trong “Từ
Trang 24Socrates đến Sartre: sự tìm kiếm triết học” đã coi chế độ dân chủ Athens là kiểu mẫu và lý tưởng của thế giới phương Tây [62, tr 10] Theo giáo sư Robert Dahl (Nhà lý luận về chính trị học, giáo sư danh dự tại đại học Yale, Hoa Kỳ) đã cho rằng một trong những lý luận về dân chủ nổi bật nhất của thời
nay, xã hội dân chủ hiện đại khởi đầu từ bốn nguồn gốc: xã hội dân chủ trực
tiếp thời cổ đại Hy Lạp, chủ nghĩa cộng sản ở các thành quốc La Mã Trung cổ
và Phục hưng, lý thuyết và sự áp dụng thực tiễn của chính quyền đại nghị, và khái niệm bình đẳng chính trị
Bên cạnh những mặt tiến bộ, chế độ dân chủ Athens còn tồn tại một số mặt hạn chế Thucydides(460 - 395 TCN), một sử gia Hy Lạp cổ đại và tác giả quyển Lịch sử chiến tranh Peloponnesus kể lại cuộc chiến ở thế kỷ V
chủ Athens như là: “Cơ chế trao việc điều hành quốc sự cho đám đông mặc
sức thao túng” Platon đã từng tỏ ý không ưa chế độ dân chủ Athens Theo
ông, đối với vấn đề chính trị, dân chúng thường nhận định non nớt, thiếu sót, sai lầm Hơn thế dân chúng không có kinh nghiệm hoặc hiểu biết về ngoại giao, kinh tế, quân sự, văn hóa, khoa học Dân chúng nhận xét theo cảm tính hoặc thành kiến Do vậy, lựa chọn không xác đáng, kết quả lợi ít hại nhiều
Nói tóm lại, nền văn minh Hy Lạp vô cùng rực rỡ, phát triển phong phú, đa dạng và toàn diện, đỉnh cao của văn minh cổ đại, mẫu mực của nhiều văn hóa trong các thời kỳ lịch sử khác nhau Văn minh Hy Lạp tồn tại và phát triển trước hết và chủ yếu trên nền tảng của sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế (nhất là kinh tế công thương nghiệp và mậu dịch hàng hải), trên nền tảng của nền chính trị ưu việt của thế giới cổ đại - nền dân chủ chủ nô và đặc biệt trên cơ sở của sự phát triển đến cao độ, điển hình của chế độ chiếm hữu
nô lệ Về văn học người Hy Lạp cổ đại đã sáng tạo ra “thần thoại” được ví
như: “là miếng đất màu mỡ nuôi dưỡng nghệ thuật Hy Lạp… là tiền đề… vật
Trang 25liệu của nghệ thuật Hy Lạp” Ngày nay, “thần thoại” Hy Lạp đã vượt ra khỏi
biên giới Hy Lạp có mặt hầu hết các nước trên thế giới “Thần thoại” Hy Lạp
là nguồn cảm hứng của nhiều môn nghệ thuật trong đó có hội họa, thơ ca,
điêu khắc và điện ảnh Thần thoại Hy Lạp là bài ca “ru ngủ” được yêu thích
của nhiều thiếu nhi trên khắp thế giới Về thơ ca, người Hy Lạp có hai bản
trường ca vĩ đại là Iliad và Odyssey của nhà thơ Homer có ảnh hưởng đến văn
nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau của khoa học tự nhiên (thiên văn học, địa
lý, toán học, vật lý, sinh vật, y dược), là nơi sản sinh ra những con người khổng lồ, kiến thức uyên bác, với những thành tựu đáng giá đóng góp cho kho tàng khoa học tự nhiên của lịch sử nhân loại Ở lĩnh vực toán học có Thales, Pitagor, Euclid… đã vượt qua cách tính nhân, chia, cộng, trừ, vươn tới khái quát thành định đề, định lý, nguyên lý vẫn được sử dụng trong toán học hiện đại Về lĩnh vực y học có Hippocrates được coi là ông tổ của ngành y là người
đã đả phá mạnh mẽ những tư tưởng mê tín dị đoan trong chữa bệnh, đề ra việc chữa bệnh bằng phương pháp khoa học và yêu cầu đạo đức, trách nhiệm, lương tâm của người thầy thuốc
Ngoài những thành tựu kể trên, Hy Lạp còn là nơi mà trường đại học đầu tiên trên thế giới được thành lập, đó là Học viện hay Viện Hàn lâm (Academia) ở Athens, được coi là trường đại học đầu tiên của thế giới phương Tây Dù cho sau này, Hy Lạp bị Đế quốc La Mã xâm chiếm nhưng sau đó lại
bị Hy Lạp đồng hóa về mặt văn hóa, đây cũng là cơ sở cấu thành nên tồn tại
xã hội quyết định đến ý thức xã hội trong giai đoạn này
1.2 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG PLATON VỀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CON NGƯỜI
Cơ sở lý luận cho sự ra đời quan điểm của Platon về đời sống tinh thần của con người xuất phát từ lập trường triết học duy tâm khách quan của ông
Trang 26và chịu sự ảnh hưởng lớn của nhiều triết gia tiền bối Nếu đi về quá khứ, ta thấy tư tưởng của Pythagoras về linh hồn và đời sống tinh thần của con người
có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng Platon Cả Pythagoras và Platon đều chịu ảnh hưởng tư tưởng thần bí của tôn giáo Orphic ở Hy Lạp cổ đại
Dựa trên cơ sở và nền tảng là học thuyết ý niệm và học thuyết linh hồn, Platon đã xây dựng nên quan điểm về đời sống tinh thần của con người với nhiều kiến giải mang tính duy tâm thần bí Tuy nhiên, quan điểm của Platon cho rằng, trong một xã hội tốt đẹp cần phải đề cao, giáo dục và chăm
lo một cách toàn diện đời sống tinh thần của con người là một đóng góp lớn của ông trong lĩnh vực tư tưởng nhân loại
Về học thuyết ý niệm, Platon là nhà triết học duy tâm khách quan; ông cho rằng ý niệm là cái tồn tại trước, là nguyên mẫu còn sự vật, hiện tượng của thế giới là cái có sau, là bản sao của ý niệm Từ điểm xuất phát này, Platon đã xây dựng nên toàn bộ hệ thống triết học của mình Về học thuyết linh hồn (hay tâm hồn) theo Platon, linh hồn con người do thượng đế tạo ra, linh hồn mang bản chất vô hình, phi vật chất, siêu trần thế Đời sống tinh thần của con người bao gồm ba bộ phận: lý trí, lòng dũng cảm, sự thèm khát dục vọng Ba
bộ phận này luôn thống nhất với nhau, trong đó bộ phận lý trí nắm quyền điều khiển và bất tử, hai bộ phận còn lại chịu sự điều khiển của lý trí và chết cùng với thể xác Platon cũng cho rằng linh hồn trước khi nhập vào thể xác, bộ phận linh hồn lý trí đã nhận thức được ý niệm và chân lý, nhưng khi nhập vào thể xác nó sẽ quên hết những gì nó đã chiêm nghiệm trước đây, song linh hồn
lý trí lại có khả năng hồi tưởng lại những gì đã biết Từ cấu trúc ba bộ phận của linh hồn này Platon đã xây dựng ba tầng lớp của xã hội đó là tầng lớp nhà cai trị, những người lính và tầng lớp nông dân, thợ thủ công
Như chúng tôi đã nghiên cứu, trước Socrates, các triết gia cổ đại Hy Lạp chỉ chuyên nghiên cứu về những vấn đề tự nhiên, nguồn gốc của vạn vật
Trang 27vũ trụ mà chưa mấy quan tâm tới vấn đề cuộc sống xã hội loài người Thỉnh thoảng mới bắt gặp một vài vấn đề liên quan đến đời sống tinh thần của con người như là vấn đề linh hồn bất tử Chỉ từ Socrates trở về sau, nền triết học
Hy Lạp mới thực sự nghiên cứu về loài người trong đó có những vấn đề về đời sống tinh thần của con người dưới các góc độ khác nhau Chúng tôi có thể điểm qua sơ lược vài tư tưởng đó của các nhà triết học để làm sâu sắc thêm vấn đề nghiên cứu
Pythagoras (571 - 497 TCN) là nhà triết học khoa học tự nhiên nổi tiếng
Hy Lạp cổ đại Về mặt triết học, Pythagoras là nhà duy tâm tôn giáo, xây dựng những tư tưởng huyền bí về ý nghĩa cuộc sống và bản nguyên vũ trụ, mang đậm dấu ấn huyền học phương Đông Bản tính của con người, theo ông, có tính chất nhị nguyên: thể xác khả tử, linh hồn bất tử Ý nghĩa cao cả của cuộc đời là tẩy sạch linh hồn khỏi những cái nhơ bẩn, những điều ác trong lòng, hòa mình vào linh hồn vũ trụ, giải thoát Triết lý vì vậy là hành trình của sự giải thoát Trong tư tưởng của Pythagoras, những con số đóng vai trò chủ đạo Cái gì đo được thì tồn tại, cái gì tồn tại thì đo được, vì thế chính những con số định hình nên thế giới, diễn đạt sự vật, thậm chí là bản chất và chuẩn mực của chúng Triết lý là nhận thức quy luật vận động của vũ trụ thông qua những con số Khi
ta nói “linh hồn hòa điệu” thì đó là sự hòa điệu của các con số
Chính những tư tưởng về linh hồn bất tử của Pythagoras và tư tưởng về
“sự tẩy sạch” của linh hồn, về “sự giải thoát” của linh hồn khỏi những ràng buộc của cơ thể vật chất đã ảnh hưởng đến lý luận về thuyết linh hồn của Platon [48, tr 31]
Socrates (469 - 399 TCN) là một trong những nhà triết học đạo đức nổi tiếng thời Hy Lạp cổ đại Socrates sinh tại Athens, trong một gia đình cha làm nghề điêu khắc, mẹ là bà đỡ Có thể nói rằng chính Socrates là người có ảnh hưởng lớn đến cả cuộc đời và tư tưởng của Platon Từ những vấn đề học hỏi
Trang 28được cho đến cái chết bất công của Socrates đã hình thành nên quan điểm về đời sống tinh thần của Platon Vấn đề triết học Socrates quan tâm nhiều nhất, trăn trở nhiều nhất, rao giảng các môn đệ nhiều nhất là vấn đề đạo đức Tư tưởng triết học của Socrates khác với các tư tưởng triết học trước đó Socrates dành phần lớn vào việc nghiên cứu về con người, về đạo đức, về nhân sinh quan Bắt đầu từ Socrates, đề tài con người trở thành một trong những chủ đề trọng tâm của triết học phương Tây Vì vậy quan điểm triết học của ông bàn đến vấn đề con người trong xã hội mà trước hết là hành vi đạo đức
Ông đã từng cho rằng, triết học là phương tiện dạy con người sống, là tri thức về con người, dành cho con người, nói cách khác tri thức đó là tri thức
về cái Thiện Nếu đạo đức là hành động, là xử thế đẹp, thì đạo đức cũng phải
trở thành một tri thức, một khoa học, gọi là khoa học về cái Thiện, dạy con
người tự hoàn thiện mình tức là dạy con người hiểu bản chất sự vật và hành động phù hợp với cái Thiện, theo sự hướng dẫn của lý trí Cái Thiện vì là đối tượng của triết học đạo đức, nên trở thành cái Thiện phổ quát, một khái niệm dùng để giảng nghĩa hành vi con người trong hoạt động sống của mình Đức hạnh và những biểu hiện của nó như lương tri, gan dạ, sự ngoan đạo, sự công
bằng… đều là tri thức, giúp lựa chọn điều lành và tránh xa điều dữ… “Không
có gì mạnh hơn tri thức, nó thường xuyên và khắp mọi nơi kiềm chế mọi lạc thú và những thứ (thiếu lành mạnh) khác” Socrates cũng nhấn mạnh bốn đức
hạnh chính của con người bao gồm: khôn ngoan, tiết độ, can đảm và khiêm tốn Socrates cũng tin rằng linh hồn là bất tử và thần linh ở trong ta, hiện hữu
ở chính những hành vi cao cả, do linh hồn dẫn dắt Làm điều tốt là làm điều
thiêng liêng [48, tr 90 - 97]
Socrates được phương Tây so sánh với Khổng Tử ở phương Đông Tư
tưởng đạo đức cùng với đức hạnh và lối sống của Socartes là tấm gương mà Platon luôn luôn noi theo Socrates đồng nhất giữa đạo đức và tri thức; theo
Trang 29ông, “Hiểu biết điều thiện thì sẽ làm điều thiện” (To know the good is to do the good) được các nhà triết học phương Tây coi như là “chủ nghĩa duy trí” (intellectualism) về đạo đức, đã có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng của Platon
về đời sống tinh thần và đạo đức của con người
1.3 CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA PLATON
1.3.1 Về thân thế và cuộc đời của Platon
Platon (tiếng Hy Lạp: Πλάτων đọc là Platôn, tiếng Anh: Plato; tiếng Pháp: Platon đọc là Platông) sinh khoảng năm 424 (có tài liệu: 428 TCN trong một gia đình quý tộc ở Athens, qua đời khoảng năm 348 (hoặc 347) TCN, là một nhà triết học Hy Lạp xuất sắc, một môn đệ của Socrates (Xôcrat), người thầy của Aristoteles (Arixtôt) và là người sáng lập Học viện hay còn gọi là Viện Hàn lâm (Academia) ở Athens năm 387 TCN, được phương Tây coi là trường đại học đầu tiên
Nếu như ở phương Đông và các quốc gia ảnh hưởng của Nho giáo,
người ta tôn sùng và coi Khổng Tử như là “vạn thế sư biểu” (người thầy tiêu
biểu của muôn đời), thì ở phương Tây, người ta đã đánh giá rất cao về Platon khi cho rằng: “Nếu ai đạt được danh hiệu là người thầy của nhân loại thì người đó là Platon” [4, tr.107]
Cho đến nay, các tài liệu nói về thân thế và cuộc đời của một nhà triết học nổi tiếng như Platon còn quá ít Tưởng chừng như sự nổi tiếng về tài năng
và đức độ thì mọi chi tiết về cuộc đời và sự nghiệp phải sáng tỏ như “ngọn
đèn”, thế nhưng truyền thống thường không chắc chắn và còn nhiều vấn đề
gây tranh luận về năm sinh và nơi sinh của Platon Được sinh ra vài năm sau khi bùng nổ cuộc chiến Peloponnesia được sử sách ghi khác nhau: 430, 428 hoặc 427 trước Công nguyên (TCN); nơi sinh là Athens hoặc đảo Êgiê, năm mất 348 hoặc 347 TCN Vì năm sinh và nơi sinh không chính xác nên tuổi thọ của ông khoảng là 80 hoặc 83 tuổi mới qua đời Vậy nếu lấy năm 430 là năm
Trang 30sinh của ông, thì ông ra đời 121 năm sau Khổng Tử (551 - 479 TCN) là nhà tư tưởng phương Đông nổi tiếng Nếu lấy năm 428 làm năm sinh, thì ông chào đời 135 năm sau Buddha (563 - 483 TCN) là người sáng lập ra Phật giáo nổi tiếng Nếu lấy năm 427 làm năm sinh, thì ông chào đời 424 năm trước Jesus Christ, người sáng lập ra Thiên chúa giáo, và khoảng 4 năm sau cuộc chiến Peloponnesia (431 - 404 TCN)
Theo sử sách ghi lại thì nét đặc biệt về triết gia này là mắt sáng, vai rộng, cao lớn, khỏe mạnh, đầu óc phi thường, lối sống thanh tao, văn gia bút pháp uyển chuyển, đa dạng, từ lúc trẻ mang biệt danh Platon (người có vai rộng) Tên thực của ông là Aristocles, giống tên ông nội, nếu vậy theo phong tục xứ sở là con trưởng và cháu đích tôn Nhưng sự thật có phải hoàn toàn như thế hay không người sau cũng thực tình không rõ! Là con ông Ariston, cháu ông Aristocles, Platon có hai anh trai, một em gái Người sau không biết
gì về gia đình bên nội, trừ một số thân nhân bên ngoại Mẹ của Platon có tên
là Perictione thuộc dòng dõi quí tộc, trong đó nổi tiếng là Solon (638 - 558 TCN) pháp quan Athens Em họ bà Perictione là Critias, thủ lãnh nhóm “Ba mươi bạo chúa”; em trai bà là Charmides cũng hăng say tham gia chính trị với nhóm “Ba mươi bạo chúa”, song thất bại thảm hại Anh trai của Platon là Adeimantus và Glaucon, hai người được lấy làm nhân vật trong nhiều đối thoại của Platon Cháu Platon có Charmides và Speusippus (con của người em gái Platon) là những người kế vị Platon điều hành Học viện Sau khi người cha qua đời, lúc Platon còn rất nhỏ, mẹ tái giá với ông Pyrilampes và sinh người con trai tên Antiphone, em cùng mẹ khác cha với Platon Tuy Platon có liên hệ mật thiết với tầng lớp quí tộc Athens nhưng mối liên hệ không khiến đầu óc ông trở nên hẹp hòi, thiển cận, trái lại ông vẫn giữ thái độ cơ bản của người trí thức: ngay thẳng, khách quan trong lối sống cũng như trong sáng tác
Trang 31Kết luận chung của các nhà nghiên cứu lịch sử triết học từ trước tới nay, những sự kiện kể trên tuy có thể coi là xác đáng cũng chỉ đủ cấu thành nét phác tả tổng quát sơ sài, không đủ để minh định một cách chắc chắn Những đối thoại của ông, mặc dù cảnh trí đặt ở thời đại ông sống, người tham
dự là nhân vật nổi tiếng, kể cả những người anh của ông, cũng không đóng góp gì vào việc làm rõ hơn bức tranh tiểu sử Còn những lá thư mà nội dung
có liên quan đến cuộc đời Platon thì phần nhiều bị một số nhà nghiên cứu trước đây cho là giả mạo hoặc do đệ tử ông viết Ngược lại, George Grote một nhà nghiên cứu thế kỷ XIX trong “Platon và những người bạn đồng hành khác của Socrates” (Plato and the Other Companions of Socrates) (gồm 3 tập, tập I xuất bản 1867) đã không ngần ngại đưa số thư đó vào sáng tác của Platon Với biện luận vững chắc, Grote đã thuyết phục nhiều nhà nghiên cứu khác chấp nhận
Sinh ra và lớn lên, tận mắt chứng kiến những biến cố của lịch sử nước nhà, Platon đã không ít lần đau xót trước cảnh chiến tranh và cái chết của người Thầy kính trọng: sau cuộc chiến Peloponnesia (431 - 404), thành quốc Athens bị Sparta thôn tính; tiếp theo là cuộc cai trị ngắn ngủi của nhóm “Ba mươi bạo chúa” đứng đầu là Critias (cậu Platon) và Theramenes Chính quyền chuyên chế của nhóm này bị Thrasybulus lật đổ, chế độ dân chủ ngày trước tái lập Năm 399 TCN diễn ra vụ xử gây chấn động dư luận cả lục địa lẫn quần đảo, Hội đồng Athens kết án tử hình Socrates vì tội không tôn kính thần linh, làm đồi trụy giới trẻ
Năm 346 TCN người Thebes thỉnh cầu vua xứ Macedonia là Philip
II giúp họ đánh quân Phocis, tạo cơ hội cho Vương quốc Macedonia lần đầu tiên can thiệp vào Hy Lạp cổ Sau trận Mantinea, lịch sử Hy Lạp lại thay đổi, vua Philip (382 - 336 TCN) vùng Macedonia, mạn nam bán đảo Balkan dần
Trang 32dần ngoi lên làm chủ trên chính trường Trong vòng hơn một năm trước khi băng hà, do tiêu diệt phe Phocion, Philip nắm quyền bá chủ Hy Lạp
Hậu quả của những biến cố chính trị và những cuộc chiến tranh liên miên nhằm thôn tính, chém giết lẫn nhau đã có tác động rất lớn đến tư tưởng của Platon Hơn nữa Platon là người có đầu óc thông minh, nhanh nhạy và khả năng quan sát rồi đưa ra những nhận định vô cùng chính xác được thể hiện trong tác phẩm “Chính thể cộng hòa” và trong nhiều tác phẩm khác Tuy thế, trong thâm tâm ông không cảm thấy thích hợp với cuộc đời chính trị Tuy ông có nhiều lợi thế mà thanh niên cùng trang lứa không có, như con nhà giàu
có, gia đình quí tộc, dòng họ quyền thế, thân thể cường tráng, tiếp thu đầy đủ giáo dục thời đại, nhưng người đời sau không hề nghe nói ông có ý định dấn thân bước lên vũ đài chính trị ngoài lời lẽ bày tỏ trong lá thư thứ bảy
Cũng chính trong thư này, Platon cho biết ông được thân nhân và thân hữu trong nhóm “Ba mươi bạo chúa” mời tham dự chính trường, điều hành quốc sự, ông muốn nhập bọn để khỏi phụ lòng mong mỏi; nhưng khi thấy nhóm vẫn duy trì tình trạng bất công, tàn bạo, thất đức, nhất là khi chứng kiến nhóm tìm cách, song không thành công, ép buộc Socrates bức hại một công dân Cảm thấy hụt hẫng, ngán ngẩm, ông nhất định quay lại cuộc đời bình thường Khi cơ chế dân chủ tái lập, ông cũng có ước muốn tương tự, dấn thân vào chính sự phục vụ thành quốc, song lại chứng kiến các sự việc thô bạo diễn ra tràn lan, và cuối cùng bản án bất nhẫn kết liễu đời Socrates Hầu như tuyệt vọng, ông quyết định vĩnh biệt chính trị
Năm 399 TCN, Socrates bị chính quyền Athens (do lân bang Sprata -
kẻ thắng trận trong cuộc chiến Peloponesia dựng lên) kết án tử hình, với hình phạt buộc uống một loại độc dược tại nhà tù Sau khi tự nguyện uống độc dược và bình thản nằm chờ cái chết đến với mình, Socrates còn đàm đạo với học trò và những người khác về ý nghĩa của cuộc sống và cái chết Platon
Trang 33người học trò trung thành của Socrates, viết khá nhiều về cái chết của người
thầy mình Trong tác phẩm “Ngày cuối trong đời Socrates” của dịch giả Đỗ
Khánh Hoan, cái chết ấy được mô tả như sự tuẫn tiết vì tự do tâm linh Ngay
cả diện mạo xấu xí của Socrates cũng được thanh minh rất khéo: “Một tâm
hồn đẹp trong một thể xác xấu” Chính cái chết của Socrates đã khiến Platon
day dứt khôn nguôi và kết quả dẫn tới thái độ cự tuyệt đối với chính trị, và thái độ đó đã đặc biệt ảnh hưởng đến tâm trí Platon Khi Socrates qua đời, Platon mới 28 tuổi Đó là độ tuổi con người ta có nhiều đam mê, khao khát và
lý tưởng nhất Đó cũng là độ tuổi được xem như là mùa xuân của cuộc đời
Sự ra đi của người Thầy là niềm tiếc thương vô hạn và sự mất mát không gì
bù đắp nổi về mặt tinh thần - chính sự kiện này đã ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời và sự nghiệp của Platon Người ta không biết một cách chắn chắn rằng, ai
là cha đẻ thật sự của hình thức đối thoại này? Song người ta chắc chắn rằng, Platon đã kế thừa nó từ Socrates Socrates là người đã sử dụng hình thức đối thoại trong các cuộc trò chuyện, đàm đạo và giảng dạy cho học trò dưới hình thức truyền miệng Dù suy tư của Platon có cách xa suy nghiệm quen thuộc của Socrates, Platon vẫn vững tin ông trung thành bước theo nguyên tắc hoặc phương pháp Socrates đã giảng dạy và sử dụng để diễn giải điều đó được thể hiện rất rõ trong các tác phẩm dưới hình thức đối thoại của ông
Sau khi Socrates vĩnh biệt cõi đời năm 339 TCN, Platon cùng với các học trò khác của ông, trước tiên đã tới Megara, thành phố trong vùng Megaris nằm giữa vịnh Corinth và vịnh Saronic còn gọi là vịnh Aegina gặp gỡ thân hữu từng theo học Socrates Người sau không rõ ông lưu lại đó bao lâu, song nghe nói suốt khoảng thời gian sau khi Socrates qua đời, ông đi chu du nhiều nơi, xuôi nam tới thành phố Cyrene trong vùng Cyrenaica thuộc địa Bắc Phi diện kiến nhà toán học Eudoxus, sang đông tới Ai - cập, qua tây đến Italia và đảo Sicily thăm viếng triết phái Pythagoras Trong khi ở đảo Sicily, Platon
Trang 34đến thành phố Syracuse, ông tiếp xúc ngay với Dion, em vợ Dionysius, và có
lẽ với cả đương kim bạo chúa Dionysius I đang ở cực đỉnh quyền thế Trong
lá thư thứ bảy (327a), Platon kể lại cuộc gặp gỡ và ấn tượng đối với người thanh niên này, nhưng không hiểu vì sao và do đâu, khi quan hệ giữa đôi bên căng thẳng, bạo chúa trẻ tuổi lại kiếm cớ đưa ông lên thuyền đem đến đảo Aegina bán làm nô lệ Nhưng đến nơi Platon được người quen bỏ tiền ra chuộc, nhờ thế thoát hiểm và trở về Athens
Sau khi quay trở về Athens, vào năm 387 TCN Platon thành lập Học viện (Academia, dịch là Học viện hay viện Hàn lâm) nhằm truyền bá khoa học và triết học trong khu rừng ven biển thành phố Từ đó trở đi ông theo đuổi
sự nghiệp, trừ hai lần gián đoạn đáng kể, trong tư thế vị thầy khả kính, lừng danh, thời gian kéo dài khoảng 40 năm Cũng như Socrates, dạy học ông không lấy tiền, và khi dạy ông thường thể hiện qua đối thoại, đàm đạo Tiếng thơm lan tràn hầu như khắp Địa Trung hải, Tiểu Á, Bắc Phi, vượt xa, át hẳn nhiều triết gia đương thời; ông thu hút nhiều đệ tử; thanh niên từ nhiều nơi, nhiều đảo ùn ùn kéo tới hy vọng thọ giáo, trong số nổi tiếng hơn hết sau này trở thành đối thủ đáng gờm trong làng triết học là Aristoteles từ Macedonia xuống, thân phụ là ngự y cho đương kim quân vương, mới mười tám xin thụ huấn, sống ở đó hai mươi năm liền tới khi Platon qua đời
Khi Dionysius I qua đời, Dionysius II lên nối ngôi, Platon cũng không ngần ngại thăm viếng Syracuse với ý định giúp Dionysius II trong chuyện chính sự và cũng nhằm giành lấy cơ hội thực hiện quan điểm lý tưởng chính trị của mình Chuyện viếng thăm lần này kể tỉ mỉ trong lá thư thứ bảy Chuyến đi không thành công vì Platon tỏ ra không mặn nồng với việc điều hành quốc sự của Dionysius II Sau ít lâu, mặc dù không bị đối xử tàn tệ, Platon trở về Athens Dẫu vậy ông vẫn lại thăm Dionysius lần nữa, nhưng ông lại thất vọng Phần đời còn lại Platon dành cho việc sáng tác, và tiếp tục giảng
Trang 35dạy triết học ở Học viện cho môn sinh bốn phương Platon đã trút hơi thở cuối cùng không rõ vào năm 348 hay năm 347 TCN Theo sử gia Pausanias, Platon được mai táng bên cạnh Học viện
1.3.2 Về sự nghiệp của Platon
Platon là nhà triết gia vĩ đại, tư tưởng triết học của ông rất đặc sắc, phong phú, bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống con người Vì thế, Platon được các học giả phương Tây bỏ ra nhiều công sức và thời gian nghiên cứu và thiết lập thứ tự sáng tác các đối thoại Có thể kể đến Thrasyllus xứ Alexandria (Thế kỉ I Sau công nguyên) - một trong các nhà nghiên cứu Platon đầu tiên,
đã sắp xếp các đối thoại của Platon thành chín bộ tứ đàm (tetralogies = quadriloques, mỗi bộ gồm bốn đối thoại), vì ông tin rằng triết gia đã sáng tác giống như cách các thi sĩ đương thời viết kịch, khi họ phải dựng một loạt bốn
vở kịch để dự thi tại bốn cuộc so tài nhân dịp lễ hội Dionysia hằng năm nhằm vinh danh thần Dionysia Cách sắp xếp truyền thống này đã quy định việc xuất bản các tập đối thoại của Platon từ bấy giờ cho đến gần đây bao gồm:
1 Euthyphro, The Apology of Socrates, Crito, Phaedo
2 Cratylus, Theaetetus, Sophits, Statesman
3 Parmenides, Philebus, The Symposium, Phaedrus
4 First Alcibiades, Second Alcibiades, Hipparchus, Rival Lovers
5 Theages, Charmides, Laches, Lysis
6 Euthydemus, Protagoras, Gorgias, Meno
7.Greater Hippias (Major), Lesser Hippias (Minor), Iron, Menexenus
8 Cleitophon, The Republic, Timaeus, Critias
9 Minos, The Laws, Epinomis, Epistles
Nhiều nhà Platon học sau đó cũng đã thử sắp xếp phần trước tác này của triết gia dựa trên nhiều tiêu chuẩn khác như: vết tích của tác giả đã ảnh hưởng lên ông (Karl Friedrich Herman, 1804 - 1855), sự triển khai những tư
Trang 36tưởng siêu hình ở Platon (Lewis Campell, 1830 - 1908), mức độ hoàn hảo của tác phẩm (Friedrich Schleirmacher, 1768 - 1834), sự tiến hóa của bút pháp (Wilhelm Dittenberger, 1840 - 1906), Wincenty Lutoslawski, 1863 - 1954), vvv… Nhưng ngày nay, với ý muốn phân biệt rõ hơn hai mảng đối
thoại “sắc Socrates” và “đặc Platon”, trình tự sáng tác của tác giả được xem
là tiêu chuẩn thích đáng nhất, tuy vậy việc định kỳ các tác phẩm cũng đầy khó khăn Từ xưa qua nhiều thế kỷ, các học giả giới phương Tây đã xác định
“Luật pháp” là tác phẩm dở dang Platon chưa hoàn tất thì qua đời Một số đối
thoại dường như tiếp nối đối thoại đã xuất hiện trước đó cho thấy sáng tác có thứ tự hẳn hoi Ngoài chỉ dấu như thế, các học giả về sau chỉ còn biết căn cứ
vào thời điểm tương đối dành cho “Biện giải”, nét tương đồng và khác biệt
giữa các sáng tác theo hình thức, nội dung, chi tiết về văn phong và từ ngữ sử dụng để sắp xếp các tác phẩm Thứ tự các sáng tác xem ra có vẻ quan trọng vì
nó liên hệ tới vấn đề phát triển tư tưởng của Platon Mặc dù không có sự nhất quán, nói chung, các bản đối thoại của Platon được xem là đã lần lượt xuất hiện qua bốn giai đoạn dưới đây, và chỉ có hai thời kỳ đầu (khoảng 399 - 385)
là ít nhiều còn mang tư tưởng của Socrates
1 Khoảng (399 - 390): Hippias minor, Euthyphro, Ion, Laches, Charmides, Apology of Socrates, Crito, Protagoras
2 Khoảng 390 - 385: Gorgias, Meno, Hippias Major, Euthydemes, Lysis, Menexenus
3 Khoảng 385 - 370: The symposium, Cratylus, Phaedo, The Republic, Phaedrus
4.Khoảng 370 - 347: Theartetus, Parmenides, Sophist, Statesman, Timaeus, Critias, Philebus, The Law
Theo dịch giả Nguyễn Văn Khoa, Platon là một triết gia hàng đầu, không những thế, hầu như ở mỗi thời đại đều có nhiều bản dịch mới cho cùng
Trang 37một tác phẩm trong cùng một thứ tiếng Do đó để tiện việc đối chiếu các trích đoạn hay dẫn chứng, trong giới nghiên cứu về Platon có sự đồng thuận cùng lấy một bản ấn cổ làm chuẩn đấy là bộ Platon toàn tập in ở Geneva vào năm
1578 bởi nhà in và nhà nhân văn nổi tiếng Henri Ensteinne (1528 - 1598), còn được biết dưới tên Latin Stephanus Ấn phẩm này gồm có ba quyển, các trang được đánh số liên tục từ đầu đến cuối mỗi quyển; mỗi trang được chia làm hai cột, một cho bản Hy Lạp gốc, và một cho bản dịch Latin của Jean de Serres
Các sáng tác của Platon phần lớn đều có hình thức đối thoại Với một
số lượng sáng tác đồ sộ gồm khoảng 35 - 36 tập đối thoại (tuy nhiên chỉ có khoảng 25 đối thoại được khẳng định là chân thực của Platon) và một số thư, các công trình này đã đưa tên tuổi của Platon lên hàng những người nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử nhân loại, nhất là trong lịch sử tư tưởng phương Tây Tuy vậy người sau lại biết rất ít về ông, ngay cả trong nước Hy Lạp, quê hương ông, biết rất ít một cách kỳ lạ so với những gì người sau hy vọng muốn biết Khi tìm hiểu cuộc đời của bông hoa ngát hương trong vườn triết học, người sau chỉ biết ông sống trong giai đoạn lịch sử đặc biệt, liên hệ tới biến cố
và nhân vật người sau biết qua kho tàng tài liệu phong phú khác thường: sinh thời ông nổi tiếng, ông lập trường dạy học, ông đi du thuyết, ông sống khá lâu, ông viết rất nhiều, sáng tác truyền lại đều ở tình trạng hoàn hảo khiến người sau nghĩ toàn bộ đã được bảo tồn cẩn thận ngay từ đầu Tuy nhiên, người đời sau lại không tìm thấy liên hệ giữa tác phẩm với cuộc đời của tác giả vì trong các sáng tác của mình, Platon không đả động gì đến bản thân
Về trình tự thời gian, các tập đối thoại của Platon thường được chia ra thành ba thời kỳ: đầu, giữa và cuối Những tập đối thoại thời kỳ đầu trình bày
ý định của Platon muốn truyền đạt tư tưởng triết học và phong cách biện chứng của Socrates Các tập đối thoại thời kỳ giữa và cuối phản ánh sự phát triển tư tưởng triết học của chính Platon Các trước tác thời kỳ giữa bao gồm
Trang 38tập Phaidon (nói về quang cảnh cái chết của Socrates, trình bày học thuyết về
ý niệm, về bản chất của linh hồn và về vấn đề sự bất tử); tập Hội thảo là thành
tích nổi bật về kịch của Platon trong đó có nhiều phát biểu về cái đẹp và tình yêu Socrates trong lời phát biểu của mình đã khẳng định mục đích cao nhất của tình yêu là trở thành nhà triết học, theo nghĩa đen, một người yêu mến sự
thông thái Chính thể cộng hoà là tập đối thoại trong thời kỳ này Các tập đối
thoại thời kỳ cuối bao gồm: Theaetetus (phủ nhận việc đồng nhất tri thức với tri giác cảm tính); Parmenides (sự đánh giá có phê phán về học thuyết ý
niệm); Sophist (tiếp tục xem xét học thuyết về ý niệm); Philebus (thảo luận về
mối quan hệ giữa khoái lạc và cái thiện); Timaeus (trình bày quan điểm của Platon về khoa học tự nhiên và vũ trụ quan); Luật pháp (phân tích hơn nữa về
mặt thực tiễn các vấn đề chính trị và xã hội [10, tr.133 - 134]
Cho đến ngày nay, các nhà nghiên cứu về Platon vẫn chưa có sự thống nhất về một số tác phẩm được cho là của Platon, còn những tác phẩm khác mang tên Platon là giả mạo Trong “Platon chuyên khảo”, Benjamin Jowet và M.J.Knight cũng đã cho rằng: “Ngay cả một học giả Hy Lạp cũng xác nhận vài tác phẩm đúng là giả nhưng được mang tên Platon! Các nhà phê bình hiện nay đôi khi nhất trí, đôi khi bởi một đa số áp đảo, đã bác bỏ một số lượng còn lớn hơn! Những người khác vẫn đang còn kiểm tra và trong số những tác phẩm này, như đã xảy ra trước đây khi mới xuất hiện Ast và Socher, được biết như một tác phẩm bị bác bỏ có ảnh hưởng đáng kể về những hiểu biết của chúng ta về triết lý của Platon Mặc cho sự nghiên cứu về vấn đề này, nó vẫn vượt quá các giới hạn của chuyên luận hiện nay… Trong số những tác phẩm được truyền lại cho chúng ta được coi là của Platon, những tác phẩm thường được Aristotles bình phẩm nhất, có sự lưu ý liên tục cả về tác giả lẫn đối thoại, là ba tác phẩm có tính chất giải thích - The Republic (Chính thể cộng hòa), Timaeus và The Law (Luật pháp) Bên cạnh những tác phẩm này,
Trang 39Phaidon chỉ được ông chọn cốt để coi là tác phẩm của Platon Phaedrus cũng
có phần được chỉ định, và hai lần được nêu ra trong Platon Phát biểu của Aristophanes trong “The Symposium” được nhìn nhận theo cách tiền giả định tính xác thực của đối thoại ấy! Và ám chỉ cả với Gorgias, Meno và Lesser Hippias Thực sự thì Theaatetus không được kể đến, nhưng các đoạn văn được viện dẫn là từ các tác phẩm của Platon, những tác phẩm mới chỉ được tìm thấy Cũng thế, Philebus không được Aristotles định danh…” [13, tr 17 - 19]
Theo các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều có nhận định chung
là các sáng tác cách đây hai ngàn bốn trăm năm của Platon đã có ảnh hưởng lớn lao trong lịch sử tư tưởng phương Tây từ thời cổ đại cho đến hiện đại Đặc biệt là những tư tưởng đặc sắc của Platon về chính trị, đời sống tinh thần của con người và giáo dục còn ảnh hưởng dài lâu trong văn hóa nhân loại Không
phải ngẫu nhiên mà ở thế kỷ XX, nhà triết học người Anh Alfred North
Whitehead (1861 - 1947) đã từng tỏ lòng tôn kính bằng cách mô tả lịch sử của
Triết học chỉ là “một loạt những chú thích về Platon ” [10, tr.143]
Trang 40TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Hy Lạp là quê hương yêu dấu đã sinh ra và nuôi dưỡng nhiều thiên tài trong các lĩnh vực khoa học trong đó có Platon Quê hương đối với Platon
không chỉ là “chùm khế ngọt” mà còn là “chùm khế chua” Những biến cố
chính trị ở Hy Lạp cổ đại cùng với những cuộc chiến tranh và những thói xấu
xa của cuộc đời đã in hằn lên cuộc đời và sự nghiệp của Platon Hy Lạp cổ đại còn là ngọn nguồn cảm hứng sáng tác nghệ thuật hội họa, thi ca, triết học và khoa học phát triển rực rỡ
Sau nhiều nỗ lực nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Platon người đời sau vẫn còn nhiều tiếc nuối về những điều chưa sáng tỏ về cuộc đời
và sự nghiệp sáng tác của ông Đặc biệt là chưa làm rõ được năm sinh, năm mất, có gia đình vợ và con hay không? Một số tác phẩm mang tên ông còn nhiều vấn đề gây tranh luận được cho là không phải của ông? Và còn nhiều câu hỏi liên quan đến diễn biến trong cuộc đời và sự nghiệp của ông? Ước muốn của nhiều học giả phương Tây là khám phá và vén bức màn còn bí ẩn
đó, nhưng lực bất tòng tâm - điều đó vượt giới hạn của các nhà nghiên cứu ngày nay Đỗ Khánh Hoan trong phần giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của Platon trong “Chính thể cộng hòa” đã nói rõ điều đó: “Số sáng tác đồ sộ đã đưa tên tuổi ông lên hàng quen thuộc bậc nhất trong lịch sử nhân loại, nhất là lịch sử tư tưởng ở Tây phương cũng như Đông phương Tuy vậy, người sau lại biết rất ít về ông, ngay cả trong nước Hy Lạp, quê hương ông, biết rất ít một cách kỳ lạ so với những gì người sau hy vọng muốn biết… Cuộc đời rạng
rỡ như thế vậy mà người sau vẫn không biết cuối cùng ông thế nào Và cũng chẳng ai hay buổi đầu ông có lập gia đình, có vợ, có con không, mà chỉ biết mấy chục triết phẩm để lại cho đời, trong số đó Cộng hòa giữ vai trò quan trọng!” [7, tr 8 - 20]