Trong khi đó bán đảo Sơn Trà có tiềm năng du lịch rất lớn, là “một bán đảo có đầy đủ tiềm năng để trở thành địa điểm du lịch nổi tiếng trên thế giới nếu có được một quy hoạch khoa học, l
Trang 1MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong bối cảnh của nền kinh tế thế giới hiện nay gặp nhiều khó khăn nhưng nhu cầu về du lịch không ngừng tăng lên Con người muốn tìm đến với cảnh vật thiên nhiên, cảnh vật hoang dã, để tận hưởng không khí trong lành, tìm hiểu những nét sinh hoạt của người dân bản địa,… Do đó, nhu cầu du lịch sinh thái (DLST) của người dân ngày càng phát triển Đây là dấu hiệu đầy hứa hẹn về sự phát triển ngành
du lịch trong tương lai Cùng với xu thế du lịch quốc tế đang phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu, ngành du lịch Việt Nam đã và đang phát triển các loại hình du lịch sinh thái trên cả nước
Trong khi đó bán đảo Sơn Trà có tiềm năng du lịch rất lớn, là “một bán đảo
có đầy đủ tiềm năng để trở thành địa điểm du lịch nổi tiếng trên thế giới nếu có
được một quy hoạch khoa học, lâu dài và sự đầu tư tương xứng” (Tiến sĩ Erich Kaub, Tập đoàn ĐT&PT du lịch quốc tế Gato, Đức) nhưng trong thời gian qua việc
nghiên cứu để phát triển các loại hình dịch vụ du lịch tại đây vẫn chưa được quan tâm đúng mức; hầu như chỉ mới tập trung cho việc hình thành các khu du lịch Vì vậy việc tiến hành nghiên cứu phát triển loại hình du lịch tại Sơn trà để tạo ra nhiều sản phẩm du lịch mới hấp dẫn, cuốn hút và lôi kéo du khách ở lưu trú lâu hơn với thành phố Đà Nẵng là cần thiết và cấp bách
Một lý do nữa để phát triển du lịch sinh thái tại bán đảo Sơn Trà còn góp phần quan trọng cho định hướng phát triển kinh tế, đảm bảo lợi ích của cộng đồng địa phương vốn bị coi là còn nghèo nàn tại bán đảo Sơn Trà đồng thời gắn với đảm bảo an ninh quốc phòng
Trước những vấn đề còn hạn chế trong việc phát triển loại hình du lịch sinh thái tại đây với mong muốn khai thác một cách tối ưu tiềm năng du lịch tại bán đảo Sơn Trà nhằm phát triển kinh tế xã hội với bảo vệ tốt tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên môi trường biển, đảm bảo phát triển bền vững
Chính vì những lí do trên, tôi chọn đề tài “PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH SINH THÁI TẠI KHU DU LỊCH BÁN ĐẢO SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG” cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Trang 22 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích tiềm năng, thế mạnh của loại hình DLST, thực trạng phát triển loại hình du lịch sinh thái tại bán đảo, cơ hội và thách thức trong việc phát triển các loại hình du lịch sinh thái tại bán đảo, từ đó xây dựng các giải pháp nhằm phát triển các loại hình du lịch sinh thái tại bán đảo Sơn Trà
Mục đích cụ thể là:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về du lịch sinh thái
- Phân tích những nguồn lực phát triển loại hình du lịch sinh thái tại khu du lịch sinh thái bán đảo Sơn Trà
- Đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm phát triển du lịch sinh thái tại bán đảo Sơn Trà theo hướng bền vững
Nhiệm vụ nghiên cứu: Nhiệm vụ quan trọng của đề tài là tập trung nghiên cứu và làm rõ các vấn đề sau:
- Lý luận về du lịch sinh thái, phát triển bền vững Đây là những vấn đề lý luận làm căn cứ cho việc phát triển du lịch sinh thái tại Bán Đảo Sơn Trà
- Phân tích đầy đủ các nguồn lực phát triển du lịch sinh thái tại Bán Đảo Sơn Trà
- Thực trạng hoạt động du lịch tại Ban Quản lý bán đảo Sơn Trà
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch sinh thái tại bán đảo Sơn Trà
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phát triển loại hình du lịch sinh thái tại bán đảo Sơn Trà bao gồm các điều kiện phát triển du lịch sinh thái trên cạn và dưới nước tại tại bán đảo
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Nhằm xác định cụ thể nội dung của đề tác giả nghiên
cứu bán đảo thông qua Ban Quản Lý Bán Đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch Đà
Trang 3Nẵng để làm số liệu nghiên cứu cho đề tài của mình.
- Phạm vi về không gian:
+ Bán đảo Sơn Trà: Bao gồm khu du lịch sinh thái tại bán đảo Sơn Trà như: khu du lịch sinh thái Trường Mai, bãi biển Tiên Sa, Bãi Bắc, Bãi Nam, Bãi Bụt, Bãi Đá…
- Phạm vi về thời gian: Số liệu thống kê, và các vấn đề liên quan được sử dụng từ năm 2007 đến năm 2010 tại Ban Quản lý Bán Đảo Sơn Trà và các bãi biển
cờ, Bách niên Đại Thụ Đa… cũng được tác giả đưa vào không gian và đối tượng nghiên cứu của mình
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp
Để có được cái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu, luận văn đã thu thập các thông tin, các dữ liệu cơ bản từ các nguồn nghiên cứu về du lịch sinh thái, các quan điểm về phát triển bền vững, các tài liệu liên quan đến bán đảo Sơn Trà Sau đó tiến hành phân tích dữ liệu, đánh giá tổng hợp rồi đưa ra những kết luận có căn cứ
- Phương pháp nghiên cứu là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Các phương pháp cụ thể được vận dụng là:
Tiếp cận vấn đề nghiên cứu theo hệ thống, từ đơn giản đến phức tạp, từ sơ bộ đến chi tiết Sau đó tiến hành nghiên cứu kỹ về mặt lý thuyết và thực tiễn bằng các nguồn tài liệu ở thư viện, Ban Quản lý bán đảo Sơn Trà và một số nguồn khác Bên cạnh đó, một số nội dung không có điều kiện thu thập được đầy đủ thông tin thì sử dụng phương pháp phân tích và suy luận logic, lấy ý kiến chuyên gia
Trang 45 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Luận văn đã phân tích, đánh giá tình hình thực trạng, kết hợp với những đề xuất về môi trường phát triển du lịch sinh thái trong tương lai, đề phát triển loại hình du lịch sinh thái tổng thể tại bán đảo sao cho phù hợp với điều kiện hiện tại Những đề xuất của đề tài có thể dùng tham khảo cho các nhà quản trị của ban quản
lý và những nhà đầu tư du lịch quan tâm
6 BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của luận văn bao gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và phát triển loại hình du lịch
sinh thái
Chương 2: Thực trạng phát triển loại hình du lịch sinh thái tại khu du lịch
Bán đảo Sơn Trà Thành Phố Đà Nẵng
Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch sinh thái tại
khu du lịch Bán đảo Sơn Trà Thành Phố Đà Nẵng
Trang 5CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH SINH THÁI VÀ
PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH SINH THÁI
1.1 DU LỊCH SINH THÁI
1.1.1 Định nghĩa du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã mau chóng thu hút được sự quan tâm của xã hội trong nhiều lĩnh vực khác nhau Đây là một khái niệm rộng, được hiểu khác nhau theo những góc độ khác nhau Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam có nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch sinh thái, xong nhìn chung đề có những điểm giống nhau trong việc làm nổi bật bản chất
của loại hình du lịch này là ”Chỉ có du lịch dựa vào thiên nhiên, được quản lý bền vững, hỗ trợ bảo tồn và có giáo dục môi trường”
Theo định nghĩa của hiệp hội du lịch sinh thái quốc tế: Du lịch sinh thái là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường
và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương
Tại hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở
Việt Nam” năm 1999 đã đưa ra định nghĩa về du lịch sinh thái: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” [01, tr 79 – 80]
Nhìn chung, có thể coi du lịch sinh thái là một quan điểm du lịch theo hướng bền vững, lựa chọn những mặt tích cực của một số loại du lịch, và có thể biểu diễn bằng sơ đồ kết hợp giữa các thành phần du lịch thiên nhiên và văn hóa bản địa, du lịch ủng hộ bảo tồn, du lịch có giáo dục môi trường và du lịch hỗ trợ cộng đồng
DLST còn có thể được biết đến dưới nhiều tên gọi khác nhau:
- Du lịch dựa vào thiên nhiên (Natural – based tourism)
- Du lịch môi trường (Environmental tourism)
- Du lịch xanh (Green tourism)
- Du lịch có trách nhiệm (Responsible tourism)
Trang 6- Du lịch bền vững (Sustainable tourism)
Hình 1.1 Mô hình cấu trúc du lịch sinh thái
Nguồn: Phạm Trung Lương, Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam 2002
1.1.2 Đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái
- DLST Là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên về văn hoá bản địa
- Các đơn vị liên quan tham gia vào DLST có trách nhiệm tích cực bảo vệ môi trường sinh thái, giảm thiểu tác động tiêu cực của du lịch đối với môi trường và văn hoá
- Các phương tiện phục vụ DLST gồm: các trung tâm thông tin, đường mòn
tự nhiên, cơ sở lưu trú, ăn uống sinh thái, các tài liệu in ấn khác
- Các hướng dẫn viên vừa thực hiện chức năng thuyết minh giới thiệu, vừa giám sát các hoạt động của du khách
- Thông qua hoạt động DLST, du khách được giáo dục và nâng cao nhận thức và ý thức tôn trọng về môi trường thiên nhiên, nền văn hóa dân tộc
Du lịch ủng hộ bảo tồn
Du lịch hỗ trợ cộng đồng địa phương
Trang 7- Hoạt động DLST phải đem lại lợi ích về kinh tế -xã hội cho cộng đồng địa phương, thu hút người dân địa phương tham gia bảo vệ môi trường [03, tr 27 - 28 ]
* Lưu ý: Phát triển DLST bền vững cần bảo đảm kết hợp hài hoà lợi ích của
4 bộ phận quan trọng tham gia: Khách du lịch sinh thái; Các nhà tổ chức điều hành
du lịch sinh thái; Các nhà quản lý khu bảo tồn; Dân cư địa phương
1.1.3 Nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái
- Nâng cao hiểu biết cho du khách về môi trường tự nhiên; du khách có các hoạt động góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường, bản sắc văn hoá
- Khách DLST chấp nhận điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh tự nhiên với những hạn chế của nó
- Tạo thêm việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương
- Lượng du khách luôn kiểm soát điều hoà
- Phải đảm bảo lợi ích lâu dài, hài hòa cho tất cả các bên liên quan
- Người hướng dẫn viên và các thành viên tham gia DLST phải có nhận thức cao về môi trường sinh thái, am hiểu về điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội
- Cần có sự đào tạo đối với tất cả các thành viên, đối tác tham gia vào DLST
1.2 LOẠI HÌNH DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH SINH THÁI
1.2.1 Sản phẩm du lịch và loại hình du lịch
1.2.1.1 Khái niệm sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hoá cung cấp cho du khách được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực như cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng miền, hay một quốc gia nào đó [03, tr 27 ]
- Cơ cấu của sản phẩm du lịch:
+ Những thành phần tạo lực hút (lực hấp dẫn đối với du khách) gồm nhóm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn
+ Cơ sở du lịch (Điều kiện vật chất để phát triển ngành du lịch) gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch
Trang 8+ Dịch vụ du lịch: là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa những tổ chức cung ứng du lịch và khách du lịch và thông qua các hoạt động tương tác đó để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và mang lại lợi ích cho tổ chức cung ứng du lịch.
1.2.1.2 Những bộ phận cấu thành của một sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch bao gồm những hàng hóa và dịch vụ kết hợp nhau; được tạo nên bởi những bộ phận cấu thành như sau: [03, tr 27 ]
a Dịch vụ
- Dịch vụ vận chuyển: Nhằm đưa khách từ nơi cư trú đến các điểm du lịch,
giữa các điểm du lịch và trong phạm vi một điểm du lịch Để thực hiện nhiệm vụ này, người ta có thể sử dụng các loại phương tiên khác nhau như máy bay, tàu hỏa, tàu thủy, ô tô
- Dịch vụ lưu trú, ăn uống: Nhằm đảm bảo cho khách du lịch nơi ăn, nghỉ
trong quá trình thực hiện chuyến du lịch Khách du lịch có thể chọn một trong các khả năng: Khách sạn, nhà trọ, nhà nghỉ, người quen ngoài ra, việc tạo ra dịch vụ lưu trú còn bao gồm cả việc ho thuê đất để cắm trại và các hình thức thương tự khác Để thỏa mãn nhu cầu ăn uống, khách du lịch có thể tự mình chuẩn bị bữa ăn, đến nhà hàng để ăn, hay được mời
- Dịch vụ vui chơi giải trí: Đây là một bộ phận không thể thiếu được của sản
phẩm du lịch Khách du lịch muốn đạt được sự thú vị cao nhất trong suốt chuyến du lịch của mình Để thỏa mãn, họ có thể chọn nhiều khả năng khác nhau: đi tham quan, vãn cảnh, đến khu di tích, xem văn nghệ, chơi cờ bạc , vì thời gian rảnh rỗi còn lại trong ngày của khách du lịch thường rất nhiều, vì vậy cho dù hài lòng về bữa
ăn ngon về chỗ ở tiện nghi, du khách vẫn chán vùng du lịch nếu họ không tham gia
và thưởng thức các tiết mục vui chơi giải trí
- Dịch vụ mua sắm: Mua sắm cũng là hình thức giải trí, đồng thời đối với
nhiều du khách du lịch thì mang quà lưu niệm có chuyến đi là không thể thiếu được Dịch vụ này bao gồm các hình thức bàn lẻ hàng lưu niệm, hàng thủ công mỹ nghệ, tạp hóa, vải vóc, hàng có giá trị kinh tế
Trang 9- Dịch vụ trung gian và dịch vụ bổ sung: Dịch vụ thu gom, sắp xếp các dịch
vụ riêng lẻ thành sản phẩm du lịch trọn gói; dịch vụ bán lẻ sản phẩm du lịch (cung cấp thông tin và bán lẻ sản phẩm du lịch cho khách); dịch vụ sửa chữa, y tế
b Hàng hoá
Gồm hàng tiêu dùng và hàng lưu niệm
Việc phối hợp các bộ phận hợp thành một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh và cung ứng (bán) cho khách du lịch là quá trình phúc tạp và đa dạng, cần thiết phải tổ chức quản lý một cách đồng bộ, chặc chẽ Từ đó đòi hỏi sự cần thiết ra đời các tổ chức sản xuất dịch vụ trung gian:
Dịch vụ thu gôm, sắp xếp các dịch vụ riêng lẻ thành một sản phẩm du lịch :
Cơ sở mua lại các dịch vụ khác nhau, sắp xếp, phối hợp chúng thành một chương trình du lịch trọn gói hoặc đơn giản
- Dịch vụ bán lẻ sản phẩm du lịch: Cung cấp thông tin và bán lẻ các sản phẩm du lịch trực tiếp cho khách du lịch
1.2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm du lịch sinh thái
Sản phẩm du lịch trên cơ sở lý thuyết bao gồm ba thành phần cơ bản: tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch và chất lượng dịch vụ Như vậy để đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch phải phân tích mối quan hệ giữa chất lượng du lịch thông qua đánh giá của khách hàng (hay sự thỏa mãn của khách hàng) và 3 yếu tố nêu trên
Trong thực tế, có nhiều nhà nghiên cứu đã thiết lập mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn khách hàng như Cronin & Tayler (1992); Spreng & Mackoy (1996); Nguyễn Đình Thọ (2003)…
Hai khái niệm chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn khách hàng lại cùng được nghiên cứu, đo lường và đánh giá dựa trên việc so sánh với ý kiến của khách hàng trước và sau khi sử dụng dịch vụ Sự thỏa mãn khách hàng chịu tác động bởi mức
độ hài lòng về chất lượng dịch vụ trong quá trình tiêu dùng Nói cách khác, để đánh giá chất lượng dịch vụ hay sự thỏa mãn khách hàng, chúng ta phải dựa trên những mức độ kỳ vọng của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ trước khi tiêu dùng và cảm nhận của họ sau khi sử dụng
Trang 10Trong phạm vi bài nghiên cứu này sẽ xem xét mối quan hệ giữa chất lượng sản phẩm du lịch sinh thái được cảm nhận (sự thỏa mãn của du khách) với các yếu
tố cấu thành nên sản phẩm du lịch và yếu tố nhân khẩu học của du khách Sau đây
là một số cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa sự thỏa mãn và yếu tố nhân khẩu học
Quan hệ giữa giá và sự thỏa mãn
Tác động của giá lên sự thỏa mãn nhận được sự quan tâm ít hơn nhiều so với vai trò của sự kỳ vọng và các cảm nhận sau khi sử dụng sản phẩm/dịch vụ, nhưng các đề xuất dựa vào giá đối với sự thỏa mãn được đề nghị nghiên cứu và thực hành khá rộng rãi Tuy nhiên, các ấn phẩm về sự thỏa mãn chỉ cung cấp một cái nhìn rất hạn chế liên quan đến tác động có thể có của các quyết định về giá lên sự thỏa mãn của người tiêu dùng Từ đó, Voss và các đồng nghiệp (1998) đã xác định vai trò của giá đối với sự thỏa mãn Họ cho rằng các cảm nhận về giá sau khi mua có tác động dương lên sự thỏa mãn và bản thân nó chịu ảnh hưởng dương của các cảm nhận về giá trước khi mua, mặt khác cảm nhận giá trước khi mua cũng có tác động dương lên sự thỏa mãn
Mối quan hệ giữa kinh nghiệm đi du lịch; học vấn và sự thỏa mãn của du khách
Kinh nghiệm trước đó của con người có ảnh hưởng rất nhiều đến sự kì vọng của họ Kinh nghiệm có đuợc do học hỏi và sự từng trải, mức độ kinh nghiệm gia tăng thì kì vọng cũng tăng theo Tương tự vậy, khi trình độ học vấn càng cao thì người ta càng kì vọng nhiều hơn vào chất lượng của các dịch vụ Mặt khác, dịch vụ nhận được là những gì mà khách hàng thực sự nhận được khi họ sử dụng xong dịch
vụ Do dịch vụ có tính vô hình, không đồng nhất, không lưu giữ và tiêu thụ đồng thời nên khách hàng nhận biết được dịch vụ sau khi đã so sánh với kì vọng của mình, qua đó nhận thức về chất lượng các dịch vụ mà mình đã sử dụng Chính vì vậy, khi mức độ kì vọng càng cao, người ta thường có xu hướng đánh giá về chất lượng dịch vụ khắt khe hơn những đối tượng khác
Loại du khách ảnh hưởng đến nhân tố sự thỏa mãn
Nơi cư trú thường xuyên của du khách là cơ sở để chúng ta phân loại khách (gồm 2 loại là khách quốc tế và khách nội địa) Khoảng cách giữa nơi cư trú thường
Trang 11xuyên của du khách với điểm đến du lịch là một trong những nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự thỏa mãn và các nhận định khác của khách Bởi lẽ, khi khoảng cách càng lớn thì sự khác biệt về khí hậu, thời tiết, văn hóa, phong tục tập quán, tính cách dân tộc… sẽ càng lớn Do vậy du khách thường có tâm lý đánh giá cao các giá trị vật chất - tinh thần mà đối với họ đó thật sự là những điều mới lạ Điều này cũng
đã được kiểm chứng thông qua nghiên cứu của 2 tổ chức là ISTC và ATLAS:
“Không hề ngạc nhiên rằng văn hóa dường như là một phần quan trọng tạo nên sự thỏa mãn của mọi người sau khi du hành bởi lẽ khám phá những nền văn hóa khác
là động cơ quan trọng nhất của các chuyến đi Đặc biệt, những người từng trải hơn
cả cho biết họ hiểu biết hơn về các nền văn hóa khác qua các chuyến đi và thường thích tiếp xúc với người dân địa phương”
Thu nhập du khách liên quan đến sự thỏa mãn của họ khi đi du lịch
Theo John Maynard Keynes thì quy luật tâm lý cơ bản là ở chỗ con người có thiên hướng tăng tiêu dùng cùng với tăng thu nhập, nhưng không tăng theo cùng một tốc độ của tăng thu nhập Nhìn chung phần đông du khách có thu nhập cao sẽ chi cho các dịch vụ nhiều hơn Và khi đó họ cũng mong muốn được nhận lại sự phục vụ có chất lượng cao Điều này đồng nghĩa với việc gia tăng sự kì vọng, và như vậy sự thỏa mãn sẽ khó đạt được hơn
Mối quan hệ giữa tuổi của du khách và sự hài lòng của du khách
Mỗi một lứa tuổi mang một tâm lý đặc trưng, tức là tâm lý ở các nhóm tuổi khác nhau là khác nhau Chẳng hạn, du lịch Cần Thơ chỉ phát triển loại hình du lịch sinh thái – văn hóa, loại hình này thường thích hợp với những người ở tuổi trung niên trở lên, họ muốn được nghỉ dưỡng và tìm hiểu văn hóa dân tộc, cội nguồn Còn nhóm tuổi thanh thiếu niên hiếu động lại thiên về xu hướng du lịch khám phá, tham gia các trò chơi mạo hiểm, cảm giác mạnh…Do đó, nghiên cứu này mong đợi tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa tuổi và sự hài lòng của du khách
Riêng đối với yếu tố “giới tính”, đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào chứng minh được sự khác biệt trong quá trình cảm nhận chất lượng dịch vụ giữa hai giới nam và nữ
Trang 121.2.2 Phát triển loại hình du lịch sinh thái
1.2.2.1 Khái niệm loại hình du lịch
“Loại hình du lịch là một tập hợp các sản phẩm du lịch có đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn các nhu cầu, động cơ du lịch tương tự nhau, hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc chúng được xếp chung theo một mức giá bán nào đó” [03, tr 64 ]
1.2.2.2 Điều kiện phát triển loại hình Du lịch sinh thái
a Điều kiện về sự phát triển kinh tế - xã hội
Để đảm bảo có thể thu hút và khai thác khách du lịch nói chung và khách du lịch sinh thái nói riêng thì điều quan trọng là chính trị ổn định và an ninh đảm bảo Nền kinh tế tăng trưởng và phát triển cũng làm cho nhu cầu du lịch sinh thái tăng lên
b Điều kiện về con người
Trong du lịch, thì ngoài các yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến việc khai thác và phục vụ khách thì yếu tố quan trọng và quyết định cho sự thành công của các doanh nghiệp lữ hành đó chính là con người Chính sự sáng suốt, năng động cũng như sự hiểu biết và nhanh nhẹn của các nhân viên là yếu tố để doanh nghiệp thành công
Nguồn nhân lực phục vụ du lịch đặc biệt là du lịch sinh thái phải có đầy đủ những kiến thức về môi trường, sinh thái cũng như nghiệp vụ lành nghề của nhân viên phục vụ du lịch và trình độ ngoại ngữ cao Có như vậy mới đảm bảo chất lượng dịch vụ phục vụ du khách Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục
vụ du lịch sinh thái là một trong những vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển
du lịch sinh thái
Hiểu biết và đánh giá đúng cũng như biết huy động tối đa các nguồn lực sẽ thúc đẩy quá trình phát triển du lịch sinh thái ở mỗi địa phương, mỗi quốc gia Để phát triển du lịch sinh thái theo hướng bền vững cần phát hiện và sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn lực sẵn có và tận dụng các nguồn lực từ bên ngoài
Trang 13Do vậy, các doanh nghiệp lữ hành cần phải biết quan tâm đến nhân viên của mình, đưa ra những đãi ngộ, những tưởng thưởng xứng đáng cho những nhân viên làm việc tốt, nhiệt tình và những biện pháp phạt cho những nhân viên cố tình gây tổn thất cho doanh nghiệp.
c Điều kiện về tài nguyên du lịch
Đây là yếu tố cần thiết để phát triển chương trình du lịch sinh thái Tài nguyên du lịch sinh thái là một bộ phận cấu thành trong tài nguyên du lịch, bao gồm các giá trị của tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời khỏi hệ sinh thái tự nhiên đó Một số loại tài nguyên du lịch sinh thái chính thường được khai thác và phục vụ nhu cầu của khách như:
- Các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù: vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu dự trữ sinh quyển,
- Hệ sinh thái nông nghiệp: vườn trái cây, làng hoa,
- Các giá trị văn hóa bản địa có sự hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của hệ sinh thái tự nhiên: phương thức canh tác, lễ hội, sinh hoạt truyền thống dân tộc,
d Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ khách du lịch
Bao gồm nguồn vốn, khoa học kỹ thuật và công nghệ, cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch như hệ thống vận tải, giao thông, đường sá, nhà hàng, khách sạn, các khu vui chơi giải trí phục vụ nhu cầu du khách, các chính sách phát triển du lịch của các đơn vị kinh doanh du lịch từ nhà hàng, khách sạn, công ty lữ hành cho đến các chính sách của cơ quan, chính quyền địa phương Các chính sách đóng vai trò quan trọng để lựa chọn chiến lược phát triển du lịch phù hợp với từng điều kiện trong từng giai đoạn cụ thể
1.2.2.3 Sự cần thiết và xu hướng phát triển loại hình du lịch sinh thái
Ngày nay, xu hướng chung của toàn thế giới coi du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng như là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá Du lịch sinh thái đã
và đang trên đà trở mình và đã trở nên phổ biến đối với những người yêu thiên
Trang 14nhiên Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đời sống con người ngày càng được nâng cao nhưng họ thường làm việc trong môi trường rất căng thẳng, thường
dễ dẫn đến sự mệt mỏi Chính vì những lý do đó mà họ thích tham gia vào những chuyến du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái Vì thời gian thường hạn hẹp, tình trạng
ô nhiễm môi trường, thời tiết ngày càng khắc nghiệt nên họ thường tìm đến các khu
du lịch sinh thái hoặc mua các chương trình du lịch sinh thái thông qua công ty lữ hành Đó là điều kiện để phát triển và mở rộng loại hình này
1.3 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH SINH THÁI
Phát triển DLST không thể tách rời với việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên Vì vậy định hướng phát triển DLST phải bắt nguồn từ những đặc điểm riêng
có, những sản phẩm đặc thù có thể có từ tài nguyên du lịch Dù vậy, chúng ta không thể tạo ra một sản phẩm để du khách tự tìm đến mà trên cơ sở phân tích nhu cầu thị hiếu của thị trường để có phương thức khai thác tài nguyên du lịch phù hợp với nhu cầu thị trường du lịch
Đây chính là quan điểm marketing hướng đến thị trường và là đặc điểm của marketing hướng đến thị trường của một khu du lịch
Đối với việc phát triển một khu du lịch sinh thái mang tính đặc thù cao thì việc tiếp cận hướng tới thị trường cần phải được xem xét từ những giá trị độc đáo riêng có của tài nguyên du lịch Những sản phẩm du lịch này không thể thay đổi, chỉ
có thể làm cho tốt hơn, sâu sắc hơn, ấn tượng hơn bằng việc nâng cao chất lượng sản phẩm thông qua việc nâng cao trình độ tổ chức, các dịch vụ thông tin chỉ dẫn Cùng với việc tổ chức cung ứng tốt các dịch vụ thiết yếu nêu trên phù hợp với nhu cầu thị trường sẽ cho phép chúng ta khai thác có hiệu quả tiềm năng tài nguyên của một khu du lịch sinh thái Do đó nội dung chủ yếu để khai thác tiềm năng của khu
du lịch sinh thái đặc thù là:
1.3.1 Xác định xứ mệnh của khu Du lịch sinh thái
Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch với ưu thế nổi bật về cảnh quang thiên nhiên, được quy hoạch đầu tư phát triển nhằm thảo mãn nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường (khoản 5 điều 10 – Pháp lệnh du lịch)
Trang 15Theo cách phân loại hiện nay của Tổng cục Du lịch, thì có hai loại khu du lịch:
- Khu du lịch có ý nghĩa quốc gia và quốc tế: Là khu du lịch có khả năng thu
hút khách quốc tế và khách từ các vùng khác nhau của đất nước bởi sự độc đáo về tài nguyên du lịch
- Khu du lịch có ý nghĩa vùng và địa phương: là khu du lịch chỉ có khả năng
thu hút khách du lịch trong nước đến từ các địa phương trong tỉnh hoặc vùng bởi tài nguyên du lịch không thật đặc sắc hoặc khoảng cách đến trung tâm gởi khách quá xa
Khu du lịch có ý nghĩa quốc gia và quốc tế do TCDL xác định Khu du lịch
có ý nghĩa vùng và địa phương do tỉnh, thành trực thuộc TW xác định Việc xác định tính chất của khu du lịch trên được thể hiện trong Quy hoạch tổng thể phát triển Việt Nam và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch các vùng, các địa phương
đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt Đây chính là xứ mệnh của khu du lịch
1.3.2 Đánh giá tài nguyên và khả năng phát triển của khu du lịch sinh thái
1.3.2.1 Xác định thị trường mục tiêu
a Phân đoạn thị trường
Phân đoạn thị trường là một quá trình phân chia một thị trường tổng thể thành một số đơn vị nhỏ khác biệt với nhau (gọi là khúc, đoạn, lát thị trường) Nhưng trong mỗi đơn vị lại có sự đồng nhất với nhau về nhu cầu, đặc tính hoặc hành vi ứng xử của khách hàng Như vậy, mỗi đoạn thị trường sẽ tập hợp và bao gồm một số người tiêu dùng có những phản ứng tương tự hoặc giống nhau dưới những tác động và kích thích nhất định từ phía doanh nghiệp
Việc phân chia thị trường theo những nhóm người tiêu dùng khác nhau cho phép doanh nghiệp tập trung nỗ lực hướng vào việc thỏa mãn một số nhu cầu nhất định của một hoặc một số phân đoạn thị trường nhất định Nó là cơ sở để doanh nghiệp lựa chọn chính xác thị trường mục tiêu và đánh giá kịp thời các cơ hội thị
Trang 16trường Đồng thời tạo ra những căn cứ và điều kiện cho sự nghiên cứu và xác lập các chính sách Marketing thích ứng, phù hợp với từng phân đoạn lựa chọn.
Để tiến hành phân đoạn thị trường, người ta thường căn cứ vào 2 nội dung chủ yếu là: Xác định các tiêu thức phân đoạn và xác định yêu cầu và phương pháp phân đoạn
b Lựa chọn thị trường mục tiêu
- Đánh giá các phân đoạn thị trường:
Quá trình đánh giá lợi ích tiềm tàng của các phân đoạn thị trường thường dựa trên các nhân tố cơ bản sau:
+ Qui mô và tốc độ phát triển của phân đoạn thị trường: Cần đánh giá được qui mô tiềm tàng và qui mô hiện tại của nhu cầu trên từng đoạn thị trường qua từng thời kỳ và dự đoán được tốc độ tăng trưởng của chúng so với tốc độ bình quân chung của thị trường
+ Cơ cấu và sự thu hút của các đoạn thị trường: Tính hấp dẫn của mỗi đoạn thị trường còn tiềm ẩn và phụ thuộc rất lớn vào sự tác động của các tác nhân chủ yếu trong nó, đó là:
Sức mạnh của nhà cung ứng
Rào chắn của sự thâm nhập và thoát ly
Sức mạnh và cơ cấu của các đối thủ cạnh tranh
Vai trò và sức mạnh quyền lực của khách hàng
Mục đích kinh doanh và nguồn tài lực của doanh nghiệp trong mối quan hệ với từng phân đoạn:
Trong thực tế, nhiều phân đoạn thị trường hấp dẫn, có tầm cỡ vẫn có thể bị loại trừ nếu chúng không phù hợp với mục đích kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp, không làm tăng sức mạnh tổng hợp của họ trong tương lai và thậm chí vượt quá năng lực cần thiết hiện có của doanh nghiệp Không nên gia nhập môt phân đoạn, một thị trường nào đó mà doanh nghiệp không thể thành công, không thể phát huy được những lợi thế hơn hẳn so với đối thủ và không thể đưa ra được những sản phẩm có giá trị vượt trội, hơn hẳn trên đoạn thị trường đó
Trang 17- Lựa chọn thị trường mục tiêu:
Dựa trên kết quả phân tích và đánh giá tiềm năng của mỗi phân đoạn thị trường, doanh nghiệp quyết định chọn lựa một hoặc một số phân đoạn có triển vọng nhất để quyết định thâm nhập và phục vụ
- Định vị trong thị trường mục tiêu:
Sau khi đã chọn lựa được những khúc tuyến trọng điểm, doanh nghiệp cần có những quyết định cụ thể về vị trí và chiến lược thâm nhập, nhằm đạt được những mục tiêu xứng đáng và lợi thế cạnh tranh trên thị trường
Định vị thị trường, về thực chất, là những hành động nhằm hình thành tư thế cạnh tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp, là những cố gắng xếp đặt để những cống hiến của doanh nghiệp chiếm được những vị trí xứng đáng trên thị trường và khắc họa được những hình ảnh đậm nét, khó quên trong tâm trí những khách hàng trọng điểm mà mình đặc biệt chú ý và lựa chọn phục vụ, trong sự so sánh tương quan với các cống hiến của đối thủ cạnh tranh trên thị trường
Vị trí của một sản phẩm là một tập hợp những ấn tượng, khái niệm và cảm giác của khách hàng về loại sản phẩm đó so với các sản phẩm cạnh tranh cùng loại
Để cho vị trí sản phẩm cạnh tranh của doanh nghiệp không bị phó mặc may rủi cho khách hàng định đoạt, những chuyên gia Marketing cũng cần có kế hoạch chủ động định vị trí sản phẩm với những lợi thế cạnh tranh nhất định trong những khúc tuyến thị trường trọng điểm đã lựa chọn, đồng thời dự kiến những chiến lược và chính sách Marketing thích hợp để đạt được những vị trí dự kiến đó
c Định vị sản phẩm trong thị trường mục tiêu
Kế hoạch định vị cho một sản phẩm mới hay một sản phẩm đang lưu hành của doanh nghiệp cần tuân thủ những bước chủ yếu sau :
- Bước 1: Phân tích và đánh giá vị trí hiện tại của sản phẩm doanh nghiệp và sản phẩm cạnh tranh trên các mặt: Đặc tính chủ yếu của sản phẩm; đặc điểm của khách hàng mục tiêu; sự thích ứng giữa những yêu cầu của khách hàng với những đặc tính nổi bật của sản phẩm
Trang 18- Bước 2: Dự đoán độ lớn của nhu cầu về những kết hợp có thể có trong các thuộc tính khác nhau của sản phẩm tương ứng với vị trí hoặc doanh số của các đối thủ cạnh tranh Cụ thể là lựa chọn các thuộc tính kết hợp, vị trí sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh và độ lớn về nhu cầu từng loại của họ.
- Bước 3: Lựa chọn vị trí cho sản phẩm doanh nghiệp, có thể chọn một trong hai vị trí sau:
+ Định vị kế sau các đối thủ và tìm mọi cách tăng tỷ lệ chiếm lĩnh thị trường Giải pháp này rất hữu hiệu khi doanh nghiệp có thể đưa ra một loại sản phẩm tốt hơn đối thủ, thị trường đủ lớn cho cả hai doanh nghiệp cùng khai thác, doanh nghiệp có nguồn tài nguyên mạnh hơn đối thủ hoặc vị trí này thích hợp với thế mạnh của doanh nghiệp
+ Định vị bằng cách đưa ra một sản phẩm mới chưa hề có mặt trên thị trường Khi lựa chọn giải pháp này cần phân tích: Về mặt tính chất, đặc điểm doanh nghiệp cho phép đưa ra loại sản phẩm đó, về mặt kinh tế đảm bảo cho sản phẩm có giá cả hợp lý, về mặt khách hàng có đủ lượng đáng kể, ưa thích sử dụng và chấp nhận sản phẩm mới
- Bước 4: Quyết định chiến lược định vị sản phẩm
Doanh nghiệp có thể dựa trên một trong số các chiến lược định vị chủ yếu sau:
+ Đinh vị theo sản phẩm: dựa vào một thuộc tính nào đó, hoặc một lợi ích mang lại cho khách hàng, hoặc một công dụng nhất định của sản phẩm
+ Định vị theo tầng lớp người sử dụng sản phẩm
+ Định vị theo đối thủ cạnh tranh bằng cách so sánh trực tiếp với một số đối thủ nào đó, hoặc nhằm thay thế cho sản phẩm cạnh tranh
+ Định vị theo các sản phẩm liên quan khác
1.3.2.2 Phát triển điểm, tuyến du lịch sinh thái
a Phát triển điểm du lịch sinh thái
Theo nghĩa chung nhất, điểm du lịch là một địa danh du lịch mà khách du lịch hướng đến và lưu lại
Trang 19Như vậy điểm du lịch khác với điểm tham quan ở chỗ có sự lưu lại.
Cũng theo định nghĩa trên thì để được thừa nhận là điểm du lịch phải bao gồm 3 yếu tố cơ bản sau:
+ Là nơi tập trung một loại tài nguyên du lịch nào đó (tự nhiên, văn hóa hặc kinh tế xã hội)
Đây là yếu tố hấp dẫn, thu hút du khách (khách hướng đến)
+ Thuận lợi cho việc đi lại đảm bảo giao thông cho khách đến điểm du lịch+ Có cơ sở hạ tầng và xã hội bảo đảm việc lưu lại của khách và hoạt động của các doanh nghiệp du lịch Đó là các cơ sở ăn uống, cơ sở lưu trú và các cơ sở phục vụ vui chơi giải trí
* Xây dựng một điểm du lịch cần lưu ý
Như chúng ta đã biết, điểm du lịch không đơn giản là một điểm tài nguyên
Đi với điều kiện tài nguyên ấy là những điều kiện về đi lại, lưu trú, mặt khác điểm
du lịch bao giờ cũng chiếm một diện tích không gian thuộc phạm vi lãnh thổ một địa phương, một vùng, một quốc gia Hơn nữa khi nói đến điểm du lịch không thể không thể đề cập đến tình hình hoạt động du lịch diễn ra ở đó và hiệu quả kinh tế
xã hội đem lại
Vì tất cả những lý do trên, khi xây dựng một điểm du lịch cần phải tính đến những khía cạnh sau một cách trọn vẹn:
* Tài nguyên du lịch (điều kiện cần)
Điều kiện tất yếu phải có:Tài nguyên du lịch là một đại lượng xác định không đổi
Cần xem xét khả năng tài nguyên du lịch có đến đâu thông qua số lượng, chất lượng của nó Liệu có đủ sức hấp dẫn du khách không? Xác định quy mô điểm
du lịch ra sao với khối lượng, chất lượng tài nhuyên thực có
b Phát triển tuyến du lịch sinh thái
Là một hành trình qua nhiều điểm tham quan và điểm du lịch
Các tuyến du lịch có thể là tuyến nội vùng (á vùng, tiểu vùng, trung tâm) hoặc tuyến liên vùng
Trang 20Khái niệm tuyến du lịch thường đi liên với khái niệm chương trình du lịch Chương trình du lịch thường phản ảnh tính chất đặc trưng của một loại tuyến Song trên một tuyến cũng có thể có nhiều chương trình
Do tính chất phong phú của tài nguyên du lịch (tao nên sự đa dạng của các điểm du lịch) cùng với tính đa dạng của nhu cầu du lịch, thể loại du lịch nên tuyến
du lịch với những chương trình du lịch gắn liền với tuyến cũng được hình thành một cách phong phú, đa dạng
Sự khác nhau của mỗi loại chương trình du lịch biểu hiện ở các yếu tố sau:
- Thời gian của cuộc hành trình
- Không gian những điểm du lịch, tham quan có trong chương trình
- Nội dung chương trình
- Chất lượng và giá cả các dịch vụ cung ứng
Khi xây dựng một tuyến du lịch với chương trình cụ thể phải đảm bảo được những yêu cầu cơ bản:
- Phù hợp với yêu cầu của thị trường
- Có tính khả thi cao
- Phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp
Căn cứ vào nguôn gốc phát sinh sẽ có một số loại tuyến gắn với chương trình
du lịch như:
1 Tuyến du lịch bị động: Hình thành từ nhu cầu, nguyện vọng của khách, khách đề ra yêu cầu sau đó công ty lữ hành dựa trên cơ sở này để xây dựng tuyến, chương trình
2 Tuyến du lịch chủ động: Công ty lữ hành chủ động nghiên cứu tuyến du lịch
c Phát triển sản phẩm du lịch sinh thái
Sản phẩm du lịch thường giống nhau đối với những khu vực có điều kiện tự nhiên tương tự tạo nên sản phẩm đơn điệu, nhàm chán, khó hấp dẫn được du khách
Vì vậy cần xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương Trên cơ sở sản phẩm du lịch đã được khai thác, đặc điểm đối tượng khách tiềm năng cùng lợi thế
về điều kiện tự nhiên, văn hoá xã hội
Trang 211.3.3 Xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch sinh thái
Cơ sở hạ tầng nhìn chung có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh du lịch (như là khai thác tiềm năng du lịch, nâng cao chất lượng phục vụ du lịch,…)
Mạng lưới và phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, hệ thống các công trình cấp điện nước, các cơ sở y tế, hệ thống các cửa hàng thương nghiệp, các dịch
vụ ngân hàng,… là những nhân tố quan trọng trong cơ sở hạ tầng của hoạt động du lịch
Cơ sở hạ tầng là một điều kiện quan trọng để đón tiếp và phục vụ du khách,
để xây dựng loại hình du lịch trở thành một khu du lịch sinh thái tổng hợp
- Mạng lưới và phương tiện giao thông
Du lịch gắn với việc di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định Sự đi lại này phụ thuộc vào mạng lưới đường xá và phương tiện giao thông Không thể khai thác một đối tượng du lịch khi thiếu yếu tố giao thông Mạng lưới đường giao thông mở rộng, sự tăng nhanh số lượng, chất lượng phương tiện vận chuyển (ô tô, tàu thuỷ, máy bay…), sự an toàn cao, tiện lợi, tốc độ nhanh, giá rẻ…
sẽ tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy con người đi du lịch Mạng lưới và phương tiện giao thông càng hoàn thiện thì càng giảm bớt thời gian đi lại, tăng thời gian nghỉ ngơi và du lịch
- Thông tin liên lạc: Điện thoại, điện tín, telex, fax… là điều kiện đảm bảo
giao lưu, liên lạc cho du khách trong nước và quốc tế một cách nhanh chóng, kịp thời, chính sác
- Hệ thống các công trình cấp, điện, nước
Phục vụ trực tiếp cho nghỉ ngơi giải trí của du khách, đòi hỏi phải đủ, phải sạch
- Cơ sở y tế: Phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp dịch vụ bổ sung tại các
điểm du lịch
- Hệ thống cửa hàng thương nghiệp phong phú, đa dạng, chất lượng hàng hoá tốt.
- Hệ thống dịch vụ ngân hàng
Trang 221.3.4 Tuyên truyền quảng bá, an ninh trật tự, vệ sinh môi trường
Công tác xúc tiến du lịch vừa nhằm quảng bá hình ảnh, sản phẩm du lịch sinh thái để thu hút khách; vừa góp phần lưu giữ khách du lịch
Đẩy mạnh công tác xúc tiến du lịch dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng
để thu hút lượng khách du lịch đến với loại hình du lịch sinh thái ngày càng tăng
Phát triển các chuyến bay
Xúc tiến, quảng bá hình ảnh du lịch sinh thái đến với nhân dân các địa phương trong nước thông qua các phương tiện khác nhau, hình thức khác nhau
Tìm hiểu và xác định thị trường tiềm năng, thị trường mới ở khu vực Châu Á
- Thái Bình Dương Mỗi thị trường cần xúc tiến quảng bá theo cách khác nhau, phù hợp với văn hóa, tập quán của người dân địa phương
Ứng dụng những tiến bộ của khoa học - kỹ thuật, đặc biệt, tiến bộ của CNTT vào công tác xúc tiến, quảng bá du lịch
Nâng cao trình độ ngoại ngữ, khả năng hiểu biết về văn hóa, tập quán của người dân trong và ngoài nước cho cán bộ, nhân viên làm công tác xúc tiến, quảng
+ UBND các cấp tương ứng (quản lý ngạch ngang, quản lý địa bàn)
* Khách thể quản lý: Tồn tại các doanh nghiệp kinh doanh du lịch (Vận
chuyển lữ hành, khách sạn, các dịch vụ khác), các doanh nghiệp này có thể là những doanh nghiệp chuyên kinh doanh du lịch hoặc có thể là doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp
Trang 23* Công cụ quản lý:
+ Việc hoạch định chiến lược, chính sách phát triển du lịch
+ Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch
+ Công cụ khác như: Công cụ kinh tế (đòn bẩy kinh tế, lương, thuế)
+ Pháp luật có liên quan đến việc phát triển du lịch
(Hiến pháp, luật, văn bản dưới Luật như Nghị định, Nghị quyết, Chỉ thị và Luật du lịch,…)
1.3.5.2 Đảm bảo điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật
Phải tồn tại một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch để đảm bảo mọi tiện nghi và làm dễ dàng cho khách trong quá trình du lịch Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch bao gồm CSHTXH và CSVCKT ngành du lịch [03, tr 167-
170 ]
* CSVCKT ngành du lịch: Là toàn bộ điều kiện về vật chất tham gia vào quá
trình sản xuất, phục vụ nhằm tạo ra các hàng hoá, dịch vụ thoả mãn nhu cầu của du khách
Nếu phân theo chức năng thì CSVCKTDL có cấu trúc 5 thành phần cơ bản:
- CSVCKT phục vụ lưu trú: Khách sạn; Motel; Bungalow; Camping; Nhà nghỉ…
- CSVCKT phục vụ ăn uống: Nhà hàng, bar…
- CSVCKT phục vụ dịch vụ vận chuyển, điều kiện vật chất (Nhà ga, bến cảng…, phương tiện vận chuyển
- CSVCKT phục vụ trung gian: Thường thuộc về lữ hành như Văn phòng đại diện du lịch, đại lý du lịch với nhà cửa, trang thiết bị cần có
- CSVCKT phục vụ các dịch vụ bổ sung như cơ sở vật lý trị liệu, thẩm mỹ, khu tập thể dục thể thao, vui chơi… Phòng, hiệu cắt tóc, giặt là, cơ sở y tế…
Các điều kiện vật chất kỹ thuật du lịch có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo
ra và thực hiện toàn bộ sản phẩm du lịch, kết hợp đồng bộ các điều kiện VCKTDL
sẽ góp phần nâng cao tính đồng bộ của sản phẩm du lịch, tính hấp dẫn của điểm du lịch
Trang 241.3.6 Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương
- DLST nên khởi đầu với sự giúp đỡ của những thông tin cơ bản nhưng đa dạng của cộng đồng và cộng đồng nên duy trì việc kiểm soát sự phát triển của du lịch
- Sử dụng và bảo vệ tài nguyên một cách bền vững: bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên, xã hội, văn hóa Việc sử dụng bền vững tài nguyên là nền tẳng cơ bản nhất của việc phát triển DLST
- Chương trình giáo dục và huấn luyện để cải thiện, quản lý di sản và các tài nguyên thiên nhiên nên được thành lập Giảm tiêu thụ, giảm chất thải một cách triệt
để nhằm nâng cao chất lượng môi trường
- Duy trì tính đa dạng về tự nhiên, văn hóa
- Lồng ghép các chiến lược phát triển du lịch của địa phwuowng với quốc gia
Phải hỗ trợ kinh tế địa phương, tránh gây thiệt hại cho các hệ sinh thái ở đây
- Phải thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương Điều này không chỉ đem lại lợi ích cho cộng đồng, cho môi trường sinh thái mà còn nhằm tăng cường khả năng đáp ứng các thị hiếu của du khách
- Phải biết tư vấn các nhóm quyền lợi và công chúng Tư vấn giữa công nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương, các tổ chức và cơ quan, nhằm đảm bảo cho sự hợp tác lâu dài cũng như giải quyết các xung đột có thể nảy sinh
- Đào tạo các cán bộ, nhân viên phục vụ trong hoạt động kinh doanh du lịch nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch
Nghiên cứu hỗ trợ cho du lịch Phải cung cấp cho du khách những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm nhằm nâng cao sự tôn trọng của du khách đến môi trường
tự nhiên, xã hội và văn hóa khu du lịch, qua đó góp phần thỏa mãn các nhu cầu của
du khách
Trang 25Tác giả cũng phân tích được để phát triển cho một khu du lịch nào thì cần phải phát triển loại hình, sản phẩm, tuyến điểm, hệ thống cơ sở lưu trú…vấn đề quan trọng trong việc phát triển du lịch sinh thái trên lãnh bán đảo Với việc phân tích tài nguyên du lịch bán đảo tuy đa dạng nhưng rất dễ bị tổn thương để từ đó đưa ra việc phát triển du lịch sinh thái trên lãnh thổ bán đảo phải gắn với bảo tồn và phát triển bền vững.
Trang 26CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH SINH THÁI
TẠI KHU DU LỊCH BÁN ĐẢO SƠN TRÀ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG2.1 GIỚI THIỆU VỀ DU LỊCH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1.1 Sơ lược về thành phố Đà Nẵng
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Đà Nẵng nằm ở 15o55' đến 16o14' vĩ Bắc, 107o18' đến 108o20' kinh Đông, Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông giáp Biển Đông
Nằm ở vào trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc - Nam về đường
bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, cách Thủ đô Hà Nội 764km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam Ngoài ra, Đà Nẵng còn là trung điểm của 4 di sản văn hoá thế giới nổi tiếng là cố đô Huế, Phố cổ Hội
An, Thánh địa Mỹ Sơn và Rừng quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
Trong phạm vi khu vực và quốc tế, thành phố Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua Hành lang kinh tế Đông Tây với điểm kết thúc là Cảng biển Tiên Sa Nằm ngay trên một trong những tuyến đường biển và đường hàng không quốc tế, thành phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững
2.1.1.2 Diện tích, dân số, các quận huyện của thành phố
a Diện tích
Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 1.255,53 km2; trong đó, các quận nội thành chiếm diện tích 213,05km2, các huyện ngoại thành chiếm diện tích 1.042,48 km2
b Dân số
Thông kê dân số đến 31/12/2007 là 814 551 người
Trang 27c Các quận, huyện của thành phố
Thành phố Đà Nẵng - đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, đô thị loại
I - bao gồm 5 quận nội thành: Quận Hải Châu, quận Thanh Khê, quận Cẩm Lệ, quận Sơn Trà, quận Ngũ Hành Sơn, quận Liên Chiểu, 1 huyện ngoại thành: Huyện Hòa Vang và 1 huyện đảo: Huyện Hoàng Sa
Bảng 2.1 Các quận huyện trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng
Đơn vị hành chính
Diện tích (km²) (2009)
Dân số (người) (2009)
Mật độ (người/km²)
Huyện Hòa Vang (1 thị trấn + 14 xã) 737.5 154.300 209
Nguồn: Sở văn hóa thể thao và du lịch Đà Nẵng 2010
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển du lịch Đà Nẵng
Trước năm 1954, dưới thời Pháp thuộc: Năm 1889 Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập thành phố Tourane (Đà Nẵng) thuộc tỉnh Quảng Nam và được xếp thành phố cấp 2 Đến ngày 19-9-1905, Đà Nẵng tách khỏi Quảng Nam thành lập một đơn vị hành chính độc lập gồm 19 xã Tourane được Pháp xây dựng thành đô thị kiểu phương Tây với cơ sở hạ tầng khá phát triển là một trong những trung tâm thương mại lớn của nước ta thời bấy giờ cùng với Hải Phòng và Sài Gòn Nhiều thương nhân trong và ngoài nước, các viên chức người Pháp, những người nước ngoài giàu có đến Việt Nam để du lịch, nghỉ ngơi và làm
ăn Để phục vụ các đối tượng này, người Pháp đã cho xây dựng một số biệt thự tại
TP Đà Nẵng, hình thành quần thể biệt thự, nhà hàng, tiện nghi giải trí tại Bà Nà
Sau năm 1954 - 1975, tư nhân đã xây dựng một số khách sạn, nhà trọ, nhà cho thuê và một số cơ sở dịch vụ phục vụ lính viễn chinh, sỹ quan Mỹ và sỹ quan
Trang 28chế độ cũ Số lượng cơ sở lưu trú là 9 khách sạn, 20 nhà trọ và nhiều dinh thự nhưng chất lượng, tiện nghi còn khá đơn giản.
Giai đoạn 1975 - 1989, lượng khách đến Đà Nẵng trong giai đoạn này tăng đáng kể nhưng chủ yếu là khách nội địa Khách quốc tế vào Đà Nẵng bình quân hàng năm ở mức 8000 khách/năm, chủ yếu khối XHCN Đông Âu và Liên Xô Hoạt động du lịch nặng về phúc lợi xã hội hơn là hiệu quả kinh doanh với việc xây dựng hàng loạt nhà nghỉ, nhà khách của công đoàn ngành Toàn thành phố có khoảng 30 khách sạn, nhà khách và một số nhà trọ tư nhân với tổng số giường khoảng 1000 nhưng trang thiết bị, tiện nghi còn lạc hậu Một số công ty du lịch đã được hình thành trong giai đoạn này
Giai đoạn sau 1990, sự phát triển du lịch ở giai đoạn này bắt đầu khởi sắc không chỉ thể hiện ở việc tăng nhanh số lượng, cơ sở lưu trú và tiện nghi, cơ sở kinh doanh du lịch dịch vụ mà còn phát triển cả loại hình du lịch, sản phẩm du lịch
Giai đoạn 1991 - 1995, lượng khách du lịch đến Đà Nẵng tiếp tục gia tăng, tốc độ trung bình đạt 56.41%
Giai đoạn 1996 - 1998, do khủng hoảng tài chính lượng khách du lịch đến thành phố giảm làm tốc độ tăng bị suy giảm
Giai đoạn 1998 - 2000, với các nỗ lực của thành phố trong việc thu hút khách du lịch do vậy mức tăng trưởng đã phục hồi và đạt 24.23%
Giai đoạn từ 2001 đến 2005, cùng với sự phát triển của du lịch Việt Nam, doanh thu từ du lịch của thành phố không ngừng gia tăng với tốc độ trung bình 11.97%
Lượng khách đến thành phố năm 2009 đạt 1.350.000 tăng 6% so với cùng kỳ năm 2008 và vượt kế hoạch thành phố giao 4% Tổng doanh thu chuyên ngành ước đạt 900 tỷ đồng tăng 3% cùng kỳ năm 2008 vượt kế hoạch 6% Thu nhập xã hội từ hoạt động du lịch ước đạt 2.250 tỷ đồng
2.1.3 Thực trạng phát triển du lịch Đà Nẵng giai đoạn 2007 - 2010
2.1.3.1 Tình hình phát triển nguồn khách giai đoạn 2007 - 2010
Trang 29Với nhiều nỗ lực của thành phố trong việc thu hút khách du lịch như: sự khởi động mạnh mẽ các dự án đầu tư du lịch, đẩy mạnh công tác xúc tiến du lịch (tập trung vào thị trường ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, du lịch đường biển, du lịch nghỉ biển và thị trường khách nội địa), đổi mới việc tổ chức các sự kiện du lịch để tạo sức thu hút khách cao và môi trường du lịch được cải thiện đáng kể, giai đoạn
2007 - 2010 ngành du lịch đã đạt được những kết quả tương xứng Năm 2007, năm đầu tiên thành phố đạt ngưỡng 1 triệu lượt khách, với sự tăng trưởng đột biến về du lịch đường bộ, đường biển lẫn đường hàng không Sang năm 2008, thành phố đã nâng số lượt khách du lịch đến Đà Nẵng lên 1.459.516 tăng 22,31% so với năm
2007 Số lượt khách đến Đà Nẵng giai đoạn 2007 - 2010 có tỷ trọng gia tăng đáng kể so với cả nước
Bảng 2.2 Lượng khách du lịch đến Đà Nẵng giai đoạn 2007 - 2010
ĐVT: Lượt khách
NĂM
SỐ LƯỢT KHÁCH
SỐ NGÀY
gian lưu trú bình quân
Số ngày khách (Ngày khách)
Tốc độ tăng trưởng liên hoàn (%)
Tổng số lượt khách của Việt Nam
Tỷ trọng
số lượt khách
Trang 30Trong giai đoạn 2007 - 2010, số lượng khách gia tăng chủ yếu từ khách du lịch nội địa Năm 2009 lượt khách du lịch nội địa đã tăng gấp 1,2 lần đạt 77,78% trong tổng lượt khách du lịch đến Đà Nẵng Ngược lại, khách du lịch quốc tế đến Đà Nẵng lại tương đối ổn định và tỷ trọng khách du lịch quốc tế trong tổng số lượt khách đến Đà Nẵng có xu hướng giảm trong năm 2008 và tăng mạnh vào năm
2009 Năm 2010 lượng khách tăng lên đột biến
Bảng 2.3 Cơ cấu nguồn khách đến Đà Nẵng giai đoạn 2007 - 2010
ĐVT: Lượt khách
NĂM
TỔNG SỐ
LƯỢT KHÁCH
KHÁCH QUỐC TẾ KHÁCH NỘI ĐỊA Số lượt
khách
Tỉ trọng (%)
Số lượt khách
Tỉ trọng (%)
2010 1.770.000 370.000 20,90 1.400.000 79.10
(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đà Nẵng, năm 2010)
Nguyên nhân của thực trạng trên có nhiều, tuy vậy có một số nguyên nhân quan trọng và chủ yếu sau đây:
- Sức hấp dẫn của du lịch Đà Nẵng trên thị trường du lịch quốc tế còn hạn chế Du lịch biển là thế mạnh, nhưng mới hình thành và chưa đủ mạnh để cạnh tranh trong vùng và quốc tế Việc xác định sản phẩm chủ lực, sản phẩm đặc trưng của Đà Nẵng còn chậm Các di tích lịch sử, văn hoá, bảo tàng chưa được đầu tư, tôn tạo đúng mức để tạo ra sản phẩm du lịch hấp dẫn
- Các dịch vụ vui chơi, giải trí còn thiếu và kém chất lượng Các cơ sở hiện
có chỉ phục vụ được khách nội địa là chủ yếu Điều này ảnh hưởng đến nỗ lực kéo dài thời gian lưu trú của khách
- Hàng lưu niệm còn đơn điệu chỉ với một mặt hàng chủ lực là đá mỹ nghệ Non Nước Các mặt hàng khác chưa có thương hiệu trên thị trường và chưa được du khách quan tâm nhiều
Trang 31- Thành phố còn thiếu các khách sạn có quy mô lớn, chất lượng cao, Các khách sạn từ 2 sao trở xuống chiếm 71% tổng số khách sạn trên địa bàn thành phố nên chỉ đón khách chi trả thấp và phát triển du lịch hội nghị, hội thảo cũng gặp khó khăn Sức cạnh tranh của doanh nghiệp lữ hành không cao, chủ yếu là nối tour cho các hãng lữ hành tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội.
- Công tác xúc tiến quảng bá du lịch còn hạn chế
- Môi trường sinh thái và cảnh quan thiên nhiên bị ô nhiễm; tình hình chèo kéo khách, vệ sinh môi trường tại các bãi biển và điểm tham quan có tiến bộ nhưng chưa được đảm bảo thường xuyên
2.1.3.2 Thu nhập du lịch giai đoạn 2007 - 2010
Thu nhập từ hoạt động du lịch của thành phố gia tăng qua các năm, đồng thời tỷ trọng của ngành du lịch trong tổng sản phẩm trong nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng gia tăng mạnh từ 7% năm 2006 lên đến 24% năm 2008 Điều này, cho thấy ngành du lịch mang đến một nguồn thu lớn và chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong tổng thu ngân sách của thành phố Đồng thời, qua đó cho thấy thành phố đang có chiến lược đầu tư lâu dài để phát triển ngành du lịch tại địa phương
Trong cơ cấu thu nhập từ hoạt động du lịch, thu nhập từ ngành kinh doanh khách sạn chiếm tỷ trọng cao nhất Nhưng tốc độ gia tăng chậm và có xu hướng giảm tỷ trọng trong tổng thu nhập từ ngành du lịch của thành phố Năm 2004, doanh thu ngành kinh doanh khách sạn đạt 260,6 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 64,9% trong tổng thu nhập du lịch Năm 2008, doanh thu khách sạn đạt 469 tỷ đồng nhưng chỉ chiếm tỷ trọng 61,16% Ngành kinh doanh lữ hành có tỷ trọng doanh thu lớn thứ hai trong tổng thu nhập từ hoạt động du lịch Giai đoạn 2005 - 2008, doanh thu lữ hành tăng qua các năm nhưng tốc độ tăng chậm Vì vậy, tỷ trọng doanh thu lữ hành trong tổng thu nhập ngành du lịch giảm mạnh, năm 2005 đạt 29,1% đến năm 2008 chỉ đạt 24,17% Ngược lại, thu nhập từ ngành vận chuyển có tỷ trọng tăng đáng kể, năm
2005 ngành vận chuyển đạt 24,1 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 6% đến năm 2008 doanh thu đạt 118,82% chiếm tỷ trọng 14,65% trong tổng thu nhập du lịch
Trang 32Tình hình doanh thu và thu nhập xã hội từ hoạt động du lịch cho thấy ngành
du lịch Đà Nẵng phát triển mạnh và cơ cấu ngành có sự biến đổi theo chiều hướng giảm tỷ trọng ngành kinh doanh khách sạn và tăng tỷ trọng ngành kinh doanh vận chuyển Thành phố đã khai thác tốt thế mạnh về vị trí giao thông, với việc phát triển mạnh ngành kinh doanh vận chuyển du lịch sẽ góp phần thúc đẩy toàn ngành phát triển mạnh và bền vững trong tương lai
Bảng 2.4: Doanh thu và thu nhập xã hội từ hoạt động du lịch TP Đà Nẵng
NĂM
DOANH THU (Tỷ đồng)
THU NHẬP
XH TỪ HOẠT ĐỘNG
DL (Tỷ đồng)
Doanh
thu
% Doanh số
Doanh thu
% Doanh số
Doanh thu
% Doanh số (tỷ
đồng)
(tỷ đồng)
(tỷ đồng)
2008 469 57,84% 196 24,17% 118,82 14,65% 810,9 1.969,50
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đà Nẵng, năm 2010
2.2 TÌNH HÌNH THU HÚT KHÁCH ĐẾN BÁN ĐẢO SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG (2007 – 2010)
2.2.1 Kết quả hoạt động thu hút khách đến bán đảo Sơn Trà (2007 – 2010)
Trang 33Bảng 2.5 Cơ cấu nguồn khách theo phạm vi lãnh thổ
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Khách nội địa Khách quốc tế
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu nguồn khách theo phạm vi lãnh thổ
Trang 34Bảng 2.6 Cơ cấu lượt khách theo mục đích chuyến đi
Tổng số lượng khách 134.000 100 139.000 100 145.000 100 160.000 100 103,73 104,31 110,34
Khách theo tour 1.800 1,34 2.100 1,51 3.800 2,62 4.200 2,63 116,66 180,95 110,52Khách đi tự do 3.500 2,60 4.100 2,95 4.500 3,10 4.950 3,09 117,14 109,75 110,00Khách tham quan chùa Linh
Ứng, Khu nhà hàng ven Bán
Đảo
68.000 54,74 70.000 50,36 72.500 50,00 80.350 50,21 102,94 103,57
110,82Khách tham quan, tắm biển
(tại các bãi biển Du lịch ĐN) 60.700 45,29 62.800 45,18 64.200 44,27 70.500 44,06 102,22 102,70 109,81
Trang 353.500 4.100 4.500
4.950
0 20.000
Biểu đồ 2.2: Tổng lượt khách theo mục đích chuyến đi
Tỷ trọng của khách du lịch quốc tế đang ngày càng có xu hướng tăng: Năm
2007 đón 1,890 chiếm 1,41% tăng lên 1,93% trong năm 2010, khách nội địa có phần bình ổn, năm 2007 đón 132110 lượt khách chiếm 98,58%, năm 2008 đón
136520 không tăng đạt 98,21%, năm 2009 giảm, 2010 tăng lên không đáng kể 98,06% Nguyên nhân được cho là bán đảo còn hoang sơ, chưa có nhiều loại hình
du lịch phát triển, có chăng chỉ mang tính tự phát, các công ty lữ hành khai thác sản phẩm nhưng vẫn chưa có gì để khách tiêu tiền, chất lượng dịch vụ còn nhiều hạn chế, chưa đáp thỏa mãn được nhu cầu của du khách, cho nên số lượng khách quay trở lại không nhiều
Khác với thị trường khách thông qua các công ty du lịch, khách đi tự do ngày càng biết nhiều đến Sơn Trà Lợi thế là cách trung tâm thành phố không xa, giao thông thuận tiện, dễ đi lại cả về mặt vị trí địa lý và văn hoá Chính vì vậy lượng khách này chiếm tỷ trọng lớn trong những năm gần đây
Trang 36Số lượng khách luôn chiếm tỷ trọng ổn định trong 4 năm qua đó là khách tham quan chùa Linh Ứng, do ngày càng được nhiều người dân địa phương và cả du lịch quan tâm đến tín ngưỡng Họ đến đậy cầu mong được những điều may mắn, hạnh phúc đến cho họ Chính vì vậy lượng khách du lịch này luôn tăng và chiếm tỷ trọng ổn định.
Lượng khách tham quan tại các bãi biển du lịch cũng tăng đều đặng qua các năm Nếu du lịch Sơn Trà phát triển chắc chắn sẽ kéo theo phát triển loại hình du lịch này, điển hình là nhưng những năm qua đều tăng trưởng ổn định (năm 2007 là
60700 lượt khách, sang đến năm 2010 đã tăng lên 62800 lượt khách) Đây là một thị trường hứa hẹn sẽ đem lại nguồn lợi nhuận khá lớn đối với du lịch Đà Nẵng trong những năm tới, khi mà bán đảo Sơn Trà được đầu tư qui hoạch đúng mức theo hướng tích cực
2.2.2 Số lượt khách du lịch tham quan bán đảo Sơn Trà (2007-2010)
Bảng 2.7 Số lượt khách tham quan theo hình thức tổ chức
+ Khách theo đoàn 2.000 25 21.400 47,55 83.450 70,73 90.000 37,73+ Khách tự do 6.000 75 23.600 52,45 34.550 29,27 69.000 43,39
II Tổng khách tham gia
+ Khách theo đoàn 617 72,58 646 64,6 5.450 77,85 6.180 71,44+ Khách chơi thể thao đi tự do 233 27,42 354 35,4 1.550 22,14 2.470 28,55
(Nguồn: Ban Quản Lý bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch Đà Nẵng)
Trang 37Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Khách lên chùa Khách vòng quanh ST
Tổng khách tham gia tour đường biển
Biểu đồ 2.3: Biểu đồ nguồn khách tham quan theo hình thức tổ chức
Nhìn vào bảng số liệu trên chúng ta thấy rằng lượng khách đường bộ đến bán đảo tăng mạnh qua các năm cả về qui mô lẫn tỷ trọng Chi tiết hơn, chúng ta thấy rằng năm 2008 có 57000 lượt khách đi theo đường bộ đến tham quan bán đảo (tăng hơn 300% so với năm 2007), chiếm 3,35% tổng lượt khách Cho đến năm 2009 đón
160000 khách du lịch tham quan và trong năm 2010 khách đến bán đảo 206350 lượt (tăng 46350 lượt khác và tăng 128,96% so với năm 2009), chiếm khoảng 1,28% tổng lượt khách năm 2010, đây thực sự là những con số ấn tượng mà Ban Quản lý
và các ban ngành đã nỗ lực đạt được trong thời gian qua Đồng thời qua bảng số liệu trên, cho ta thấy số lượng khách đến bán đảo trong những năm gần đây tăng lên đáng kể, điều này cho thấy du khách ngày càng quan tâm tìm hiểu hơn về môi trường và muốn tiếp cận nhiều hơn với thiên nhiên và những nét sinh hoạt trong cộng đồng cư dân
Trang 38Trong năm 2007 Sơn Trà đón tiếp gần 17000 lượt khách tham quan, một con
số ít ấn tượng trong khi DLST bắt đầu bùng nổ ở Việt Nam Tuy nhiên điều đó cũng thực sự dễ hiểu khi mà đây mới là thời điểm mà bán đảo bắt đầu tham gia vào đầu
tư khai thác nhằm thu hút khách Đến năm 2008 Sơn Trà đã thu hút một lượng khách đạt được thành công khi đón tiếp tới 57000 lượt khách du lịch và đạt được mức tăng trưởng thực sự ấn tượng Tiếp nối thành công trong năm 2008 Ban Quản
lý đã có thêm bước phát triển mạnh mẽ trong năm 2008 khi đón tiếp tới hơn 160000 lượt khách du lịch, đó thực sự là một bước tiến lớn của du lịch Sơn Trà Đà Nẵng
Để có được thành công đó là nhờ vào sự quan tâm đúng mức của Ban Quản lý bán đảo Sơn Trà và các bãi biển cũng như chính quyền thành phố Đà Nẵng Loại hình
du lịch tại đây ngày càng đa dạng, nhiều tuyến điểm du lịch mới đã được Ban Quản
lý khai thác và đưa vào chương trình du lịch phục vụ du khách DLST Về giá cả, Ban Quản lý và các ban ngành đã có những chính sách giá khác biệt với các khu du lịch sinh thái hiện nay là thực hiện chính sách không thu phí và bán vé tham quan dành cho cá nhân và những đoàn khách khác Ngoài ra trong năm 2009 Ban Quản lý
đã đẩy mạnh hoạt động quảng cáo, xúc tiến bán bằng việc phát tờ rơi, brochures đến các doanh nghiệp, Ban Quản lý đã tổ chức hội nghị hội thảo, qua đó loại hình du lịch tại bán đảo cũng được nhiều công ty du lịch khai thác đầu tư Đến năm 2010 cho dù kinh tế thế giới có nhiều biến động xấu nhưng không vì vậy mà hoạt động thu hút du khách đến tham quan bán đảo lại bị chùng xuống, bằng chứng cụ thể là trong năm 2010 Sơn Trà đã đón hơn 206350 lượt khách, con số này đang dần cho thấy Sơn Trà đã được nhiều du khách biết đến và quan tâm Đạt được thành công như vậy là do Ban Quản lý không ngừng nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển các loại hình du lịch trên cạn cũng như dưới nước một cách hiệu quả hơn
Trang 392.3 THỰC TRẠNG VỀ PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH SINH THÁI TẠI KHU DU LỊCH BÁN ĐẢO SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.3.1 Tài nguyên du lịch sinh thái tại bán đảo Sơn Trà thành phố Đà Nẵng
Hình 2.1 Bán đảo Sơn Trà chụp từ vệ tinh 2.3.1.1 Địa chất, thổ nhưỡng
+ Địa chất
Sơn Trà được hình thành từ tiền kỷ CamBi cách đây khoảng 2000 triệu nămKiểu hình và đồi núi thấp, cấu tạo bởi Macma axit chạy theo đường kinh tuyến có độ cao tuyệt đối là 696m Các đỉnh đồi và núi ở đây thường nhọn và có sườn dốc lớn
Độ cao trung bình của bán đảo là 350m
Thảm thực vật tự nhiên là rừng lá rộng thường xanh trảng cây bụi và trảng
cỏ Với sự tác động của các yếu tố ngoại cảnh và nội tại, Sơn Trà tạo ra một lướp vỏ phong hóa kiểu Feralit Macma axit granit Quá trình hình thành chính là rửa trôi các chất kim loại kiềm, kiềm thổ silic Tích lũy sắt, nhôm của sản phẩm phong hóa tàn tích và sườn tích
BÁN ĐẢO SƠN TRÀ
- Diện tích : 4.439ha
- Cao độ: 696m
- Thực vật: 985 loài
- Động vật: 287 loài
Trang 40DẠNG ĐỊA HÌNH
DẠNG ĐỊA THẾ DẠNG ĐẤT
DẠNG KHÍ HẬU
1 N- BfA.2 131 Núi thấp Bằng dông đỉnh
dưới 30
Đất vàng nâu
đá granit dưới 30cm
Khô
2 N- Fa.2 14,74 Núi thấp Phẳng dông 3-70 Đất vàng nâu
đá granit dưới 30cm
Mát
3 N-Sfa.2 63,64 Núi thấp Sườn thoải 8-150 Đất vàng nâu
đá granit trên 80cm
Ẩm
4 N-Sfa.1 463,09 Núi thấp Sườn dốc 16-250 Đất vàng nâu
đá granit dưới 30cm
Ẩm
5 N-DFa.1 106,75 Núi thấp Sườn dốc 26-350 Đất vàng nâu
đá granit trên 80cm
Ẩm
6 N-Dfa.1 125,25 Núi thấp Sườn dốc 26-350 Đất vàng nâu
đá granit trên 80cm
Ẩm
Nguồn: Ban Quản Lý bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch Đà Nẵng
Tổ hợp đất cát ven biển:
Phân bố: Ở chân biển
Diện tích: 14,74 ha, chiếm 0,33% tổng diện tích tự nhiên