Quận Thanh Khê là một địa phương có nhiều tiềm năng để phát triển các loại hình du lịch như cơ sở hạ tầng được đầu tư có quy hoạch, các trung tâm thương mại lớn, bãi biển trải dài, khách
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRƯƠNG BÁ THANH
Đà Nẵng - Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu trong luận văn này là trung thực Nội dung công trình nghiên cứu này chưa từng được ai công bố
Học viên
Đỗ Thị Phương Thảo
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Nguồn số liệu 2
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
8 Kết cấu của luận văn: 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 7
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN DU LỊCH 7
1.1.1 Khái niệm về du lịch 7
1.1.2 Khái niệm và phân loại về khách du lịch 9
1.1.3 Sản phẩm du lịch và những đặc tính của sản phẩm du lịch 11
1.1.4 Tài nguyên du lịch 13
1.1.5 Các loại hình du lịch 15
1.1.6 Vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và môi trường 20
1.2 NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 23
1.2.1 Hoàn thiện quy hoạch 23
1.2.2 Tăng cường cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 24
1.2.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch 29
1.2.4 Tăng trưởng khách du lịch 30
1.2.5 Tăng trưởng doanh thu dịch vụ du lịch 31
1.2.6 Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch 31
Trang 51.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 33
1.3.1 An ninh chính trị, an toàn xã hội 33
1.3.2 Giao thông vận tải 34
1.3.3 Công nghệ thông tin 35
1.3.4 Khả năng tài chính của khách du lịch 36
1.3.5 Văn hóa 36
1.3.6 Chính sách phát triển du lịch 37
1.3.7 Vốn đầu tư 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 40
2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, VĂN HÓA – XÃ HỘI QUẬN THANH KHÊ 40
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 40
2.1.2 Đặc điểm văn hóa, xã hội 41
2.1.3 Đặc điểm cơ sở hạ tầng về hệ thống giao thông 41
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG THỜI GIAN QUA 42
2.2.1 Thực trạng hoàn thiện quy hoạch 42
2.2.2 Thực trạng tăng cường cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 44
2.2.3 Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực du lịch 50
2.2.4 Thực trạng đa dạng hóa và chất lượng sản phẩm du lịch 51
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 64
2.3.1 Thuận lợi 64
2.3.2 Hạn chế, khó khăn 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66
Trang 6CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI QUẬN THANH
KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 67
3.1 CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 67
3.1.1 Căn cứ phát triển 67
3.1.2 Mục tiêu phát triển 69
3.2 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 70
3.2.1 Giải pháp mở rộng quy hoạch 70
3.2.2 Giải pháp phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 71
3.2.3 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 74
3.2.4 Giải pháp mở rộng nguồn vốn 77
3.2.5 Giải pháp tăng cường an ninh chính trị, an toàn xã hội 78
3.2.6 Giải pháp đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch 79
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 87
KẾT LUẬN 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trước tình hình hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế khác, ngành du lịch có những bước phát triển đáng
kể và ngày càng tỏ rõ vị trí quan trọng của mình trong cơ cấu kinh tế chung Nhận thấy tầm quan trọng này, tại Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XXI cũng đã nêu ra 3 bước đột phá, trong đó phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là du lịch được đặt lên hàng đầu
Quận Thanh Khê là một địa phương có nhiều tiềm năng để phát triển các loại hình du lịch như cơ sở hạ tầng được đầu tư có quy hoạch, các trung tâm thương mại lớn, bãi biển trải dài, khách sạn, di tích văn hoá, làng nghề truyền thống…., tuy nhiên trong những năm gần đây, việc khai thác du lịch tại các điểm du lịch còn nhiều hạn chế, chưa thật sự tập trung cho việc phát triển lĩnh vực này, chưa có các giải pháp đồng bộ để phát triển, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa các ban ngành liên quan, người dân tại các khu di tích chưa nhận thức đúng tầm quan trọng và ý nghĩa của hoạt động du lịch đem lại, chưa có quy hoạch tổng thể cho phát triển du lịch tại đây
Vài năm gần đây, địa phương đã bắt đầu chú ý đến vấn đề phát triển du lịch, đặc biệt là phát triển du lịch biển, đưa ra các giải pháp, quy hoạch tổng thể để phát triển Với những tiềm năng sẵn có, nếu có các biện pháp đúng đắn kịp thời chắc chắn trong tương lai không xa du lịch tại đây sẽ phát triển đúng với tiềm năng
Vì vậy, việc làm rõ thực trạng và gợi ý một số giải pháp nhằm phát triển du lịch tại địa phương này là vấn đề cần thiết hiện nay Xuất phát từ tính
thiết thực của vấn đề, tác giả chọn đề tài “Phát triển du lịch tại quận Thanh
Khê, thành phố Đà Nẵng”
Trang 92 Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển du lịch
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch tại quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
- Đưa ra các giải pháp nhằm phát triển du lịch tại đây
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: du lịch tại quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng 3.2 Phạm vi nghiên cứu: là thực trạng phát triển du lịch tại quận
Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2010-2015 và các giải pháp, kiến nghị trong đề tài có ý nghĩa trong thời gian đến năm 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và suy luận
pháp hoàn thiện phù hợp
5 Nguồn số liệu
Số liệu từ Chi cục thống kê quận Thanh Khê, Chi cục thuế quận Thanh Khê, báo, internet, các đề tài khoa học liên quan đến du lịch quận Thanh Khê…
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Với cách tiếp cận hệ thống, đề tài sẽ góp phần đem lại những phương pháp phân tích tổng thể để nhận diện và phân tích toàn diện thực trạng phát triển ngành du lịch và đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm phát triển ngành du lịch tại một địa phương
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả thực tế của đề tài sẽ nhận diện được các hạn chế từ phát triển du lịch tại quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, từ đó
đề xuất các giải pháp cũng như những kiến nghị nhằm phát triển du lịch quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tương xứng với tiềm năng của mình trong thời gian đến
Trang 107 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Theo Báo du lịch, du lịch Việt Nam đã có bước phát triển vững chắc sau 55 năm xây dựng và trưởng thành Năm 2014, Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới (WTTC) xếp Việt Nam ở hạng thứ 16 trong số 184 quốc gia có tiềm năng lâu dài trong phát triển du lịch Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân lực ngành Du lịch ngày một phát triển cả về số lượng và chất lượng Tính đến tháng 6/2015, cả nước có 18.600 cơ sở lưu trú du lịch với trên 355.000 buồng; trong đó có 668 khách sạn từ 3 đến 5 sao với 68.520 buồng
Cả nước có 1.500 doanh nghiệp lữ hành quốc tế, hơn 13.000 doanh nghiệp lữ hành nội địa, hơn 15.500 hướng dẫn viên du lịch và hàng chục nghìn hướng dẫn viên, thuyết minh viên tại điểm với nhiều ngoại ngữ khác nhau Đến năm
2014 đã có gần 700.000 lao động trực tiếp, 1,5 triệu lao động gián tiếp làm việc trong ngành Du lịch, chiếm 4% lao động toàn quốc
Lượng khách liên tục gia tăng, từ năm 2007 đến nay, tốc độ tăng trưởng lượng khách luôn đạt nhịp độ 2 con số; từ 5 triệu lượt khách quốc tế từ năm
2010, đến năm 2014 đạt gần 8,5 triệu lượt khách, khách nội địa từ 28 triệu lượt tăng lên 38 triệu lượt vào năm 2014 Từ năm 2010 đóng góp 3,26% GDP
cả nước, đến năm 2014 đóng góp khoảng 6% GDP cả nước với tổng thu đạt
230 nghìn tỷ đồng Phục vụ trực tiếp cho hoạt động đưa đón khách du lịch hiện nay có khoảng 10.000 xe, tàu, thuyền các loại Cùng với việc đầu tư về sân bay, mở thêm nhiều đường bay trong nước và quốc tế, nhiều tuyến du lịch đường sắt, đường biển, đường sông như tuyến Hà Nội - Lào Cai, Hải Phòng - Quảng Ninh, TP Hồ Chí Minh – Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh - Khánh Hòa,
TP Hồ Chí Minh - Phú Quốc… đã khiến cho việc đi lại được thuận lợi, đem lại sự hài lòng cho du khách
Đầu tháng 7/2015, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 2297/QĐ-BVHTTDL, ngày 03/7/2015 về Kế hoạch hành động thực
Trang 11hiện Chỉ thị số 14/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 02/7/2015 về tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, tập trung khắc phục yếu kém, thúc đẩy phát triển du lịch Trong đó, Bộ đã có kế hoạch cụ thể triển khai chương trình phối hợp hành động với Bộ Giao thông vận tải về nâng cao chất lượng quản lý dịch
vụ phục vụ hành khách; triển khai chương trình phối hợp hành động với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng về tạo thuận lợi cho khách, như đơn giản hóa thủ tục cấp thị thực, ứng dụng công nghệ, bồi dưỡng nâng cao nhận thức và giao tiếp ứng xử thân thiện với du khách; tiếp tục đề xuất mở rộng diện các quốc gia đơn phương miễn thị thực…
Ngày 30/12/2011, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã ký Quyết định số 2473/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" Chiến lược đề ra với những nội dung chủ yếu quan điểm, mục tiêu, giải pháp và chương trình hành động cụ thể
Theo Tạp chí Khoa học và Công nghệ về “Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát triển du lịch Đà Nẵng”chỉ ra rằng Đà Nẵng không chỉ là
trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của miền Trung và Tây Nguyên, mà thành phố này còn là điểm đến hấp dẫn trên con đường di sản miền Trung và
có nhiều bãi biển đẹp Thành phố Đà Nẵng nằm ở trung độ của Việt Nam, là trung điểm của sáu di sản thế giới bao gồm Phong Nha – Kẻ Bàng, Cố đô Huế, Nhã nhạc Cung đình Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nên sẽ là điểm đến và điểm trung chuyển khách du lịch trong và ngoài nước Bên cạnh đó, Đà Nẵng cũng có nhiều danh lam thắng cảnh và các di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng như vùng núi Bà Nà – Núi Chúa, bán đảo Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Viện Cổ Chàm, Thành Điện Hải… cùng những dải cát dài, bằng phẳng, sạch sẽ, chưa bị ô nhiễm của các bãi biển như Mỹ Khê, Thanh Khê, Non Nước, Nam Ô… rất thuận lợi để phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố
Trang 12Lượng khách du lịch đến Đà Nẵng trong giai đoạn 2001-2009 có xu hướng tăng nhanh với tốc độ tăng bình quân là 14% Tốc độ tăng trưởng bình quân của lượt khách du lịch quốc tế đến thành phố trong thời kỳ này là 6% trong khi đó con số này đối với lượt khách nội địa là 17% Doanh thu của ngành du lịch từ các hoạt động dịch vụ luôn giữ mức trên 60% trong tổng doanh thu của ngành du lịch với tốc độ tăng trưởng bình quân năm là 15% Thị trường kinh doanh khách sạn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có quy mô
mở rộng trong giai đoạn 2005-2009, với tốc độ tăng bình quân năm trong giai đoạn này là 9,71% Hoạt động kinh doanh của các khách sạn giai đoạn này đặt mức tăng trưởng đáng kể với công suất sử dụng phòng bình quân tăng cao
từ 76% - 83%
Đề tài “Phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng” của Đinh Quang Cường (2006), Luận văn thạc sĩ đã nêu lên những nội dung cơ bản về phát triển du lịch, đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch Đà Nẵng những năm qua, nhận định những hạn chế đối với sự phát triển du lịch tại đây trong thời gian tới và đề ra các giải pháp kịp thời, cấp thiết và đầy đủ đáp ứng cho phát triển du lịch tại thành phố Đà Nẵng như đa dạng hóa sản phẩm du lịch, mở rộng thị trường, giải pháp về quảng bá du lịch, đẩy mạnh liên kết, liên doanh, hợp tác để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh du lịch, nâng cao chất lượng nguồn lao động trong các doanh nghiệp du lịch, đầu tư xây dựng một số cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch và tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong phát triển du lịch
Đề tài “Phát triển dịch vụ du lịch trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn” của Trần Thị Vân (2011), Luận văn thạc sĩ cũng đã nêu lên các cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ du lịch, nội dung phát triển dịch vụ du lịch và các tiêu chí đánh giá phát triển dịch vụ du lịch Trong phần thực trạng, luận văn đã đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn thông qua
Trang 13số lượng và chất lượng dịch vụ du lịch, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến
sự phát triển dịch vụ du lịch thông qua điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch, tình hình kinh tế - xã hội, các chính sách và cơ chế quản lý, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật du lịch, đầu tư phát triển dịch vụ du lịch, chất lượng nguồn nhân lực và môi trường chính trị - xã hội, môi trường du lịch của đất nước và địa phương Từ đó đưa ra những hạn chế và nguyên nhân của dịch vụ du lịch từ công tác xúc tiến du lịch còn thấp, chiến lược đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực còn yếu, công tác quản lý nhà nước còn lỏng lẻo Cuối cùng đề ra những giải pháp phù hợp cho những hạn chế, yếu kém đó
Đề tài “Phát triển du lịch thành phố Hội An” của Đinh Hùng (2012), Luận văn thạc sĩ đã khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển du lịch như khái niệm du lịch, sản phẩm du lịch, nội dung phát triển du lịch Trong phần nội dung, qua phân tích về điều kiện tự nhiên, văn hóa xã hội, các nguồn lực về tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, và phân tích hoạt động du lịch tại đây, tác giả đã nêu ra những kết quả đạt được, đồng thời nêu rõ những tồn tại và nguyên nhân phát triển du lịch tại thành phố Hội An như du lịch phát triển chưa đều, sản phẩm du lịch còn đơn điệu, tỷ lệ khách lưu trú dài ngày còn ít, cơ sở hạ tầng xuống cấp nghiêm trọng… Từ đó, luận văn đã đưa ra nhiều giải pháp phù hợp với chủ trương đường lối phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hội An, giúp cho ngành du lịch Hội An phát triển xứng đáng là ngành kinh tế mũi nhọn
8 Kết cấu của luận văn:
Nội dung nghiên cứu gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển du lịch
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch tại quận Thanh Khê, thành phố
Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp phát triển du lịch tại quận Thanh Khê, thành phố
Đà Nẵng
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN DU LỊCH
1.1.1 Khái niệm về du lịch
Ngày nay, du lịch đang phát triển rất mạnh mẽ và trở thành hoạt động không thể thiếu của toàn xã hội Thuật ngữ “du lịch” xuất hiện từ rất lâu và có rất nhiều nghiên cứu Cũng vì vậy, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về
du lịch do các nhà nghiên cứu có các cách tiếp cận và quan điểm riêng Có người cho rằng du lịch chỉ là sự đi chơi của các cá nhân trong một khoảng cách nhất định về địa lý Một số khác khi đề cập đến khái niệm “du lịch” thì lại quna tâm đến sự lưu trú qua đêm của du khách Ngoài ra, du lịch còn được
mô tả một cách đa dạng, gắn liền với việc nghỉ ngơi, giải trí, thỏa mãn các nhu cầu khác của con người, về cơ bản, tất cả các hoạt động di chuyển của con người ở trong hay ngoài nước đều bao hàm trong đó ý nghĩa du lịch (trừ việc nhập cư, cư trú chính trị, đi tìm việc làm hay xâm lược)
Khái niệm “du lịch” có ý nghĩa đầu tiên là sự khởi hành và lưu trú tạm thời của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ Tuy nhiên, du lịch
là một hiện tượng kinh tế, xã hội phức tạp và trong quá trình phát triển, nội dung của nó ngày càng mở rộng và ngày càng phong phú Một số tiếp cận khác nhau đã có những khái niệm khác nhau và ngày càng có nhiều tác giả đưa ra quan điểm của mình về du lịch:
Theo Machaud nhà địa lý học người Pháp, khái niệm du lịch được hiểu:
Du lịch là tập hợp những hoạt động sản xuất và tiêu thụ, phục vụ cho việc đi lại và ngủ lại ít nhất một đêm ngoài nơi ở thường xuyên với lý do giải trí, kinh doanh, sức khỏe, hội họp, thể thao và tôn giáo
Theo I.I Pirogionic: Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong
Trang 15thời gian rỗi, liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), một tổ
chức thuộc Liên Hiệp Quốc, Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư
Trong đại hội lần thứ 5 Hiệp hội quốc tế những nhà nghiên cứu khoa học về du lịch đã chấp nhận định nghĩa của Tiến sỹ Hunziker và Giáo sư, tiến
sỹ Kraft như sau: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời”
Khái niệm du lịch được định nghĩa trong Luật Du lịch Việt Nam (2005): Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định,
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch được hiểu trên hai khía cạnh:
- Thứ nhất, du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật Theo nghĩa này, du
Trang 16lịch được xem xét ở góc độ cầu, góc độ người đi du lịch
- Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; cố thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế
Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Hoạt động du lịch vừa
có đặc điểm của ngành kinh tế, vừa có đặc điểm của ngành văn hóa-xã hội
1.1.2 Khái niệm và phân loại về khách du lịch
lạ và thay đổi thu nhập từ một chuyến đi tương đối xa và không thường xuyên
- Năm 1937 Ủy ban thống kê của liên hiệp quốc đưa ra khái niệm về khách quốc tế như sau: Du khách quốc tế là những người thăm viếng một quốc gia ngoài quốc gia cư trú thường xuyên của mình trong thời gian ít nhất
là 24 giờ
- Theo Luật du lịch năm 2005 có đưa ra khái niệm: khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến
Xong xét một cách tổng quát thì đều có một số điểm chung nổi bật như sau:
Trang 17- Khách du lịch phải là người khởi hành rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình
- Khách du lịch có thể khởi hành với mọi mục đích khác nhau, loại trừ mục đích lao động để kiếm tiền ở nơi đến
- Thời gian lưu lại nơi đến ít nhất là 24 giờ, nhưng không được quá một năm Định nghĩa khách du lịch theo Luật du lịch của Việt Nam:
- Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến
b Phân loại
Theo tổ chức Du lịch thế giới (WTO), khách du lịch bao gồm:
+ Khách du lịch quốc tế (International tourist):
* Khách du lịch quốc tế đến (Inbound tourist): là những người từ nước ngoài đến du lịch một quốc gia
* Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourist): là những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài
+Khách du lịch trong nước (Internal tourist): Gồm những người là
công dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ quốc gia đó đi du lịch trong nước
+ Khách du lịch nội địa (Domestic tourist): Bao gồm khách du lịch
trong nước và khách du lịch quốc tế đến Đây là thị trường cho các cơ sở lưu trú và các nguồn thu hút khách trong một quốc gia
+ Khách du lịch quốc gia (National tourist): Gồm khách du lịch trong
nước và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài
Theo Luật du lịch của Việt Nam:
- Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến
- Khách du lịch quốc tế (International tourist): là người nước ngoài,
Trang 18người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch
- Khách du lịch nội địa (Domestic tourist):là công dân Việt nam và người nước ngoài cư trú tại Việt nam đi du lịch trong vi phạm lãnh thổ Việt Nam
1.1.3 Sản phẩm du lịch và những đặc tính của sản phẩm du lịch
a Khái niệm sản phẩm du lịch
Có nhiều khái niệm về sản phẩm du lịch, một trong những khái niệm đó là: “ Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng (Từ điển du lịch – Tiếng Đức NXB Berlin 1984)
Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng hay một địa phương nào đó
Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hóa)
và vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho khách hay nó bao gồm hàng hóa, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch
Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + Các dịch vụ và hàng hóa du lịch Các dịch vụ được sử dụng trong sản phẩm du lịch là :
- Dịch vụ vận chuyển: đưa khách từ nơi cư trú đến các điểm du lịch và trong phạm vi điểm du lịch
- Dịch vụ lưu trú: đảm bảo cho khách nơi ăn ở trong quá trình thực hiện chuyến du lịch
- Dịch vụ giải trí: đảm bảo cho du khách sử dụng một cách hữu ích và thú vị nhất thời gian rỗi trong các chuyến du lịch
- Dịch vụ mua sắm : cũng là một hình thức giải trí, đồng thời đối với
Trang 19nhiều du khách thì việc mua quà lưu niệm cho chuyến đi là không thể thiếu
- Ngoài các dịch vụ trên còn có các dịch vụ trung gian, bao gồm : dịch
Do tính vô hình nên khách du lịch đánh giá chất lượng thông qua địa điểm, người phục vụ, trang thiết bị, thông tin, thương hiệu, giá… Trước khi mua họ cần được cung cấp thông tin đầy đủ, tin cậy; tư vấn một cách chuyên nghiệp
- Tính không tách rời: Quá trình sản xuất phục vụ và quá trình tiêu dùng sản phẩm du lịch diễn ra gần như đồng thời trong cùng một thời gian và không gian Cùng thời gian: thời gian hoạt động của máy bay, tàu, khách sạn, nhà hàng … phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng của khách, hoạt động phục vụ khách diễn ra một cách liên tục không có ngày nghỉ và giờ nghỉ Cùng không gian: khách du lịch phải đến tận nơi để tiêu dùng sản phẩm chứ không thể vận chuyển sản phẩm đến nơi có khách như sản phẩm hàng hóa bình thường
- Không chuyển giao sở hữu, chuyển giao sử dụng: Sản phẩm du lịch chỉ thực hiện quyền sử dụng mà không thực hiện quyền sở hữu, bởi khi đã sử dụng thì mất đi giá trị chỉ trở thành các trải nghiệm của bản thân (yếu tố phi vật chất), không thể sang tên, đổi chủ được
- Tính không đồng nhất: Tính vô hình của sản phẩm du lịch khiến cho các sản phẩm du lịch thường có chất lượng không lặp lại; chỉ khi tiêu dùng sản phẩm, khách hàng mới cảm nhận được; khách hàng không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua gây khó khăn chó việc chọn sản phẩm
Do đó vấn đề quảng cáo trong du lịch rất quan trọng
Trang 20- Tính không dự trữ, tồn kho: Sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống… do đó về cơ bản sản phẩm du lịch không thể tồn kho, dự trữ được
1.1.4 Tài nguyên du lịch
Ngành du lịch là một trong những ngành định hướng tài nguyên rõ rệt Tài nguyên du lịch có ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ du lịch, đến việc hình thành chuyên môn hóa các vùng du lịch, hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch cũng như sự tồn tại và phát triển của ngành du lịch Mặc dù, những ảnh hưởng này chịu sự chi phối của các nhân tố kinh tế - xã hội (phương thức sản xuất, tính chất của quan hệ sản xuất, trình độ phát triển kinh
tế - văn hóa và nhu cầu du lịch) nhung tài nguyên du lịch vẫn đóng vai trò cơ bản trong sự phát triển ngành du lịch Do đó, tài nguyên du lịch được tách ra thành một phân hệ riêng trong hệ thống lãnh thổ du lịch
Theo Pháp lệnh du lịch Việt Nam 1999 : Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động, sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch Là yếu đó cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch, nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch
Như vậy, tài nguyên du lịch được xem như tiền đề để phát triển du lịch Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu Việc bảo vệ tài nguyên du lịch cần phải được đặc biệt quan tâm để không những tạo thành công cho hoạt động du lịch mà còn bảo tồn giá trị cho tương lai
Tài nguyên du lịch không chỉ có giá trị hữu hình mà còn có giá trị vô hình Nó là phương tiện vật chất trực tiếp tham gia vào việc hình thành các sản phẩm du lịch Đây là giá trị hữu hình của tài nguyên du lịch Giá trị vô hình của tài nguyên du lịch được du khách cảm nhận thông qua những cảm
Trang 21xúc tâm lý, làm thỏa mãn nhu cầu tinh thần (thẩm mỹ, văn hóa), một trong những nhu cầu đặc biệt của du khách Giá trị vô hình của tài nguyên du lịch còn được thể hiện thông qua những kênh thông tin (như nghe kể lại, qua các phương tiện truyền thông, qua các chương trình quảng bá sản phẩm du lịch…)
mà khách du lịch cảm nhận được, ngưỡng mộ và mong muốn đến tận nơi để thưởng thức Chính vì thế, giá trị hữu hình và giá trị vô hình được xem là một trong những đặc điểm quan trọng của tài nguyên du lịch, khác với những loại tài nguyên khác
Tài nguyên du lịch là điều kiện cần trong phát triển du lịch Tài nguyên
du lịch có thể do thiên nhiên tạo ra (tài nguyên thiên nhiên) và cũng có thể do con người tạo ra (tài nguyên nhân văn)
- Tài nguyên thiên nhiên
+ Địa hình: Đối với du lịch, điều kiện quan trọng nhất là địa phương
phải có địa hình đa dạng với những đặc điểm tự nhiên như: biển, rừng, sông,
hồ, núi, với những phong cảnh đẹp, những nơi có địa hình và phong cảnh đơn điệu thường được cho là tẻ nhạt và không phù hợp với du lịch
+ Khí hậu: Những nơi có khí hậu điều hoà thường được khách du lịch
ưa chuộng Khách du lịch thường tránh những nơi quá lạnh, quá nóng, quá khô, quá ẩm hoặc nhưng nơi có nhiều gió
+ Thực vật, động vật: Nếu sự phong phú về thực vật (Nhiều rừng, nhiều
hoa, ) tạo ra không khí trong lành, sự yên tĩnh và trật tự cũng như thu hút du khách đến tìm tòi, nghiên cứu thì động vật phong phú, quý hiếm cũng là đối tượng cho săn bắn du lịch và đối tượng để nghiên cứu và lập vườn bách thú
+ Tài nguyên nước: Các nguồn tài nguyên nước như: ao, hồ, sông,
ngòi, đầm, tạo điều kiện để điều hoà không khí, phát triển giao thông vận tải
và tạo điều kiện cho việc phát triển nhiều loại hình du lịch riêng biệt như: du lịch chữa bệnh (bằng nước khoáng, bùn, )
Trang 22+ Vị trí địa lý: Thông thường, vị trí địa lý được coi là thuận lợi đối với
du lịch là: điểm du lịch nằm trong khu vực phát triển du lịch, khoảng cách từ điểm du lịch đến các nguồn gửi khách du lịch không quá xa (đẻ khách có thể tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại trong chuyến du lịch của mình Trong một
số trường hợp, khoảng cách xa lại có sức hút đối với khách du lịch có khả năng thanh toán cao và có tính hiếu kỳ
- Tài nguyên nhân văn:
+ Các giá trị lịch sử là đối tượng quan tâm của khách du lịch có hứng thú hiểu biết Giá trị lịch sử được chia thành 2 nhóm: Nhóm những giá trị lịch
sử gắn với nền văn hoá chung của loài người và nhóm những giá trị lịch sử đặc biệt
+ Các giá trị văn hoá cũng thu hút khách du lịch với mục đích tham quan nghiên cứu như các các trung tâm nghiên cứu, các viện khoa học, thư viện, trường đại học nổi tiếng, các trung tâm tổ chức các hoạt động văn hoá, những công trình kiến trúc độc đáo,
+ Các phong tục tập quán cổ truyền, các thành tựu về kinh tế của đất nước hay của vùng cũng có sức thu hút đối với khách du lịch
1.1.5 Các loại hình du lịch
a Du lịch biển
Du lịch biển là loại hình du lịch gắn liền với biển, thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động tắm biển, nghỉ dưỡng, thể thao biển (bóng chuyền bãi biển, lướt ván…), khám phá, mạo hiểm… phục vụ nhu cầu của khách du lịch Trên
cơ sở khai thác tài nguyên du lịch biển gồm: Tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn
Tài nguyên tự nhiên là các điều kiện về địa hình, mà cụ thể là cảnh quan thiên nhiên ven biển, quần thể sinh vật trên cạn, dưới nước như cây cỏ, tôm, cá…, khí hậu (số ngày mưa, số giờ nắng trung bình, nhiệt độ trung bình
Trang 23của không khí vào ban ngày, nhiệt độ trung bình của nước biển, cường độ gió, hướng gió)
Tài nguyên nhân văn là tổng thể các giá trị văn hóa, lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho sự phát triển của du lịch biển như các viện bảo tàng hải dương học, các làng xã ven biển với nghề thủ công đặc trưng, các di tích đặc trưng của một triều đại hoặc một nền văn minh cổ xưa…
Du lịch biển có nhiều ưu thế phát triển mạnh mẽ hơn so với loại hình
du lịch khác bởi nó có sự hấp dẫn của không khí trong lành, sự sinh động đa dạng của lòng đại dương, sự tự nhiên vốn có của nó mà không cần phải mất công tạo ra, tạo con người cảm giác vui vẻ, thoải mái khi du lịch tại đây
Tuy nhiên, nó gặp phải một số trở ngại lớn đó là tính thời vụ cao, phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên và các hiện tượng thời tiết bất thường Để kéo dài thời vụ du lịch cần có hàng loạt các dự án quy hoạch xây dựng các vùng ven biển, đảo, các khu du lịch sinh thái biển, khu nghỉ biển với đầy đủ tiện nghi và các loại sản phẩm dịch vụ phong phú đáp ưng được nhu cầu của khách du lịch
Khai thác du lịch biển sẽ khai thác được lợi thế về tài nguyên du lịch tự nhiên Du lịch biển kết hợp với du lịch văn hóa vùng ven biển tạo ra sự đa dạng về sản phẩm du lịch đáp ứng được nhu cầu của khách Do vậy, du lịch biển có tốc độ phát triển nhanh và là một trong những loại hình thu hút được đông nhất số lượng khách tham gia so với loại hình du lịch khác
b Du lịch văn hóa
Có thể hiểu du lịch văn hóa là một loại du lịch mà mục đích chính là nâng cao hiểu biết cho cá nhân đáp ứng sự ham hiểu biết qua các chuyến du lịch đến những vùng đất mới tìm hiểu và nghiên cứu lịch sử, kiến trúc, kinh tế, chế độ xã hội, cuộc sống và phong tục tập quán của địa phương đất nước đến
Trang 24du lịch hoặc là kết hợp những mục đích khác nữa
Du lịch không còn hoàn toàn là nghỉ ngơi giải trí đơn thuần (khôi phục
và tái sản xuất sức khỏe khả năng lao động…) mà còn là hình thức nghỉ ngơi tích cực có tác dụng bổ sung tri thức, làm phong phú đời sống tinh thần của con người Đó chính là nội hàm của khái niệm du lịch văn hóa
Văn hóa là nguồn tài nguyên nhân văn quan trọng để phát triển du lịch, đồng thời phát triển du lịch góp phần bảo vệ, phát huy văn hóa dân tộc, giao lưu văn hóa Hầu hết các lễ hội truyền thống của Việt Nam đều được tổ chức tại các di tích lịch sử văn hóa gắn liền với các sự tích hay một sự kiện nào đó Mỗi lễ hội phản ánh một phong tục, tập quán, tín ngưỡng của dân tộc Lễ hội nhằm nhắc lại một sự kiện, một nhân vật lịch sử hay huyền thoại đồng thời biểu hiện ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên, thần thánh Cái cốt lõi trong lễ hội là yếu tố thiêng mang tính truyền thống hướng tới một nhân vật lịch sử văn hóa hội tụ những phẩm chất cao đẹp Lễ hội là dịp tưởng nhớ,
tạ ơn đối với các bậc thần linh đồng thời hướng về cội nguồn, đánh thức cội nguồn, góp phần gìn giữ bảo lưu truyền thống văn hóa
Tùy theo các tiêu thức khác nhau mà người ta có thể phân chia du lịch văn hóa ra nhiều loại:
- Du lịch tìm hiểu bản sắc văn hóa: Khách đi tìm hiểu các nền văn hóa
là chủ yếu mục đích chuyến đi mang tính chất khảo cứu, nghiên cứu Đối tượng khách chủ yếu là các nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên
- Du lịch tham quan văn hóa: Đây là loại hình du lịch phổ biến nhất Du khách thường kết hợp giữa tham quan với nghiên cứu tìm hiểu văn hóa trong một chuyến đi Đối tượng tham gia vào loại hình du lịch này rất phong phú, bên cạnh những khách vừa kết hợp đi để tham quan, vừa để nghiên cứu còn
có những khách chỉ để chiêm ngưỡng để biết, để thỏa mãn sự tò mò hoặc có thể theo trào lưu
Trang 25- Du lịch kết hợp giữa tham quan văn hóa với các mục đích khác mục đích chính của khách là trong chuyến đi nhằm thực hiện công tác hoặc nghề nghiệp nào đó và có kết hợp với tham quan văn hóa
Du lịch văn hóa là loại hình du lịch tiềm năng vì nó ít chịu sự chi phối của yếu tố thời vụ du lịch (thời tiết, khí hậu), nhưng nó phụ thuộc vào đặc điểm nhân khẩu học như: giới tính, độ tuổi, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, tôn giáo… của du khách Khách du lịch văn hóa có thể được coi là khách du lịch thuần túy vì khách có thể chỉ đi vì động cơ văn hóa Tuy nhiên số lượng khách du lịch văn hóa thuần túy trong thực tế thường rất ít mà khách du lịch thường kết hợp giữa loại hình du lịch văn hóa với loại hình du lịch khác trong một chuyến hành trình
c Du lịch làng nghề thủ công truyền thống
Nghề thủ công truyền thống là những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu trong lịch sử, được truyền từ đời này sang đời khác và còn tồn tại đến ngày nay, kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống, và đặc biệt, sản phẩm của nó vẫn thể hiện những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc
Làng nghề: là làng tuy vẫn diễn ra các hoạt động trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ lẻ, cũng có một số nghề phụ khác song đã nổi trội lên một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tâng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường, có hội…
Làng nghề thủ công truyền thống: là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời, có sự liên kết, hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng tổ nghề và các thành viên luôn có ý thức tuân thủ những chế ước xã hội và gia tộc Sự
Trang 26liên kết, hỗ trợ nhau về nghề, kinh tế, kỹ thuật, đào tạo thợ trẻ giữa các gia đình cùng dòng tộc, cùng phường nghề, trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển nghề nghiệp đã hình thành ngày trên đơn vị cư trú, làng xóm truyền thống của họ
Trước đây, thị trường của những sản phẩm làng nghề thủ công truyền thống chưa thực sự ổn định, thường tự phát, chưa có chiến lược xây dựng thị trường nòng cốt rõ ràng, thiếu kế hoạch nghiên cứu và phát triển thị trường tiềm năng Mặc dù, các làng nghề thủ công truyền thống có quá trình tồn tại
và phát triển lâu dài, nhưng còn nhiều bất cập Xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và sự đơn lẻ của các sản phẩm được làm ra nên việc tiêu thụ các sản phẩm này vẫn tiến hành tại chỗ Nhiều địa phương, hoạt động sản xuất của các làng nghề thủ công truyền thống còn mang tính tự cấp, tự túc hoặc thị trường tiêu thụ còn nhỏ hẹp Hiện nay, thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công phong phú và rộng lớn hơn nhưng các làng nghề vẫn gặp nhiều khó khăn khi bước vào cơ chế thị trường, bước vào còn đường phát triển du lịch
Sự tồn tại và phát triển của mỗi làng nghề truyền thống luôn gắn với một vùng văn hóa với những nét đặc sắc và truyền thống riêng Chính sự riêng biệt và đặc thù của mỗi địa phương đã tạo nên những sản phẩm riêng, độc đáo Bắt đầu từ sự ham tìm hiểu, khám phá những điều mới lạ của con người, hoạt động du lịch về các làng nghề truyền thống ngày càng được thúc đẩy Các chương trình du lịch này nhằm mục đích cho khách thấy rõ hơn bản sắc cũng như đặc trưng kinh tế, văn hóa của mỗi vùng Do đó có thể nói, các làng nghề thủ công truyền thống có khả năng thu hút khách du lịch
Du lịch làng nghề không chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tố thời tiết, khí hậu, do đó các hoạt động dịch này thường diễn ra liên tục, quanh năm, không
bị gián đoạn, ít ảnh hưởng đến doanh thu Việc khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên này là vấn đề quan trọng, không chỉ để phát triển du lịch mà
Trang 27còn nhằm gìn giữ và phát huy những truyền thống vốn có của các làng nghề
Phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch không chỉ là phát triển thị trường trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu tại chỗ, đem lại lợi ích kinh
tế to lớn cho làng nghề mà thực chất phát triển làng nghề truyền thống gắn với
du lịch là một cách du lịch văn hóa, là giới thiệu để khách du lịch trong nước
và nước ngoài hiểu thêm những đặc trƣng văn hóa, truyền thống của nước ta cũng như của mỗi làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống đã và đang trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch Hàng thủ công truyền thống là một phần quan trọng của du lịch, là một trong ít mặt hàng phản ánh văn hóa bản địa đặc sắc Hàng thủ công truyền thống có thể được ví như biểu tượng văn hóa và nghệ thuật của một quốc gia, là nhân tố quan trọng để hấp dẫn du khách Xuất khẩu tại chỗ hàng thủ công truyền thống thông qua việc bán cho khách du lịch đã mang lại nguồn ngoại tệ không nhỏ
1.1.6 Vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và môi trường
a Vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế
Hoạt động du lịch có tác dụng làm biến đổi cán cân thu chi của đất nước Du khách quốc tế mang ngoại tệ vào đất nước có địa điểm du lịch, làm tăng thêm nguồn thu ngoại tệ của đất nước đó Ngược lại, phần chi ngoại tệ sẽ tăng lên đối với những quốc gia có nhiều người đi du lịch ở nước ngoài Trong phạm vi một quốc gia, hoạt động du lịch làm xáo trộn hoạt động luân chuyển tiền tệ, hàng hóa, điều hòa nguồn vốn từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kinh tế kém phát triển hơn, kích thích sự tăng trưởng kinh tế ở các vùng sâu, vùng xa
* Tác động tích cực:
- Góp phần làm tăng GDP
Trang 28- Tham gia tích cực vào việc phân phối lại TNQD giữa các vùng của một quốc gia
- Góp phần củng cố sức khoẻ cho ND lao động, góp phần làm tăng NSLĐXH
- Góp phần cân bằng cán cân thanh toán q.tế
- Khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài
- Tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương và quốc gia
- Thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác
b Vai trò của ngành du lịch đối với xã hội
Góp phần giải quyết việc làm : các ngành dịch vụ liên quan đến du lịch đều cần một lượng lớn lao động Du lịch đã tạo ra nguồn thu nhập cho người lao động, giải quyết các vấn đề xã hội
* Tác động tích cực:
- Tạo công ăn việc làm cho người lao động
- Du lịch làm giảm tốc độ đô thị hoá ở các nước phát triển và hạn chế
sự tập trung dân cư căng thẳng ở những trung tâm dân cư
- Du lịch là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo cho nước chủ nhà về thành tựu kinh tế, chính trị, con người, phong tục tập quán, các danh lam thắng cảnh, các di tích văn hoá lịch sử, các làng nghề truyền thống,
- Du lịch làm tăng thêm tầm hiểu biết chung về xã hội của người dân địa phương thông qua khách du lịch đén từ địa phương khác và từ nước ngoài
- Du lịch làm tăng thêm tình đoàn kết hữu nghị, mối quan hệ hiểu biết
Trang 29của nhân dân giữa các vùng với nhau và giữa các quốc gia với nhau
- Các đơn vị kinh doanh du lịch chủ động trong việc bảo vệ môi trường: Trồng cây xanh, tạo khuôn viên cây cảnh, vệ sinh môi trường xung quanh,…
- Các đơn vị đầu tư làm đẹp môi trường: Môi trường trong đơn vị và môi trường chung của xã hội
- Ô nhiễm môi trường: Nước, KK, đất,… bị ô nhiễm do nước thải của các khu du lịch, khí thải từ các phương tiện vận chuyển khách, hệ lụy từ thuốc
Trang 30trừ sâu của các sân gôn,…
- Tiếng ồn của động cơ, của máy móc thiết bị và sinh hoạt của con người có thể ảnh hưởng đến môi trường sống của các loài động vật hoang dã
1.2 NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Có rất nhiều nội dung và tiêu chí để đánh giá sự phát triển du lịch, mỗi nội dung thể hiện một khía cạnh khác nhau và có những biểu hiện khác nhau
Có thể nói, phát triển du lịch là sự phát triển tất cả các nội dung ngoài các yếu
tố bên trong là sự đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, tốc
độ tăng trưởng khách du lịch, tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận du lịch, thì còn các yếu tố bên ngoài như mở rộng quy hoạch, tăng cường cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch
1.2.1 Hoàn thiện quy hoạch
Quy hoạch phát triển du lịch nằm trong quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia, một địa phương theo chiến lược phát triển kinh tế-xã hội trong một giai đoạn nhất định
Quy hoạch du lịch là một phương án tập hợp các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và công nghệ tác động vào các tài nguyên du lịch để hình thành các điểm và khu du lịch nhằm thực hiện mục tiêu đã định trước là thoả mãn nhu cầu đa dạng ngày càng cao của khách du lịch và nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội của địa phương và hoạt động kinh doanh du lịch
Quy hoạch phát triển ngành du lịch gồm quy hoạch tổng thể phát triển
du lịch và quy hoạch cụ thể phát triển du lịch
– Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch được xây dựng cho phạm vi cả nước, vùng du lịch, địa bàn du lịch trọng điểm tỉnh, thành phố
– Quy hoạch cụ thể phát triển du lịch (quy hoạch) được xây dựng cho các khu du lịch quốc gia, khu du lịch địa phương, diểm du lịch quốc gia
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch rất phong phú và đa dạng bao
Trang 31gồm: Khách sạn các hạng, loại, các nhà hàng, các khu vui chơi giải trí, các khu thể thao, v.v Điều quan trọng khi quy hoạch xây dựng các cơ sở vật chất
kỹ thuật phục vụ du lịch cần phải tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng nhu cầu của thị trường để xác định quy mô, cấp, hạng, loại của các cơ sở này, nhằm tạo các tuyến phố chuyên doanh, tránh tình trạng lộn xộn, tập trung các khu vực không đồng đều, gây mất mỹ quan đô thị
1.2.2 Tăng cường cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch
Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch có thể được chia thành 2 loại là hạ tầng giao thông và hạ tầng trực tiếp phục vụ du lịch
- Hạ tầng giao thông được huy động để tham gia vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của khách trong các chuyến hành trình của họ, bao gồm các tố như hệ thống đường xá, phương tiện vận chuyển
- Hạ tầng trực tiếp phục vụ du lịch do các tổ chức, cá nhân tạo ra để khai thác các tiềm năng du lịch, tạo ra sản phẩm dịch vụ, như : hệ thống khách sạn, khu nghỉ dưỡng, cơ sở phục vụ ăn uống, các cơ sở kinh doanh thương mại, các công ty lữ hành, nguồn nhân lực…
a Tăng cường hệ thống khách sạn, khu nghỉ dưỡng, cơ sở phục vụ
ăn uống
* Tăng cường hệ thống khách sạn, khu nghỉ dưỡng
Các cơ sở lưu trú đáp ứng nhu cầu về ở trọ của con người khi rời xa nơi
cư trú thường xuyên của mình Căn cứ và nhu cầu và khả năng thanh toán của con người nhiều loại hình cơ sở lưu trú xuất hiện như: khách sạn các hạng loại, nhà khách, nhà nghỉ, nhà trọ, khu du lịch, biệt thự, bungalows, bãi cắm trại v.v Tất cả các cơ sở có chung bản chất kinh doanh dịch vụ lưu trú (cho thuê buồng để ở trọ) được gọi ngành khách sạn, đối tượng cho thuê là những người cần nơi ở trọ trong đó chỉ một phần là khách du lịch Ngành khách sạn
Trang 32có tính độc lập tương đối với ngành du lịch, muốn phát triển du lịch thì cần phải có ngành khách sạn, nhưng ngược lại khi du lịch chưa phát triển, nhưng
xã hội vẫn cần đến ngành khách sạn để phục vụ nhu cầu ở trọ của con người
Sự hình thành và phát triển hệ thống khách sạn chủ yếu ở những nơi có tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn hoặc ở gần các tài nguyên đó
Vì vậy, phát triển kinh doanh khách sạn có tác dụng khai thác mọi tiềm năng
ở địa phương và góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển
Ngoài ra, với mục đích của con người khi đi du lịch nhằm phục hồi sức khoẻ sau một khoảng thời gian lao động căng thẳng Có những người đi du lịch để chữa các bệnh của thời đại như: stress, mỡ trong máu, áp huyết, tiểu đường v.v Các cơ sở kinh doanh du lịch dựa vào tài nguyên du lịch sẵn có tổ chức các dịch vụ nghỉ dưỡng và chữa bệnh như : Massge, Spa, chữa bệnh bằng nước khoáng, chữa bệnh bằng ngâm bùn, chữa bệnh bằng thuốc dân tộc, bằng chế độ ăn, uống v.v nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Đây là một xu hướng kinh doanh có rất nhiều triển vọng trong tương lai
Do đó, để phát triển hệ thống khách sạn, khu nghỉ mát, nghỉ dưỡng cần phát triển về số lượng và chất lượng mới đem lại lợi thế để phát triển du lịch
Về số lượng, cần có nhiều thành phần kinh tế tham gia kinh doanh lưu trú, kể
cả đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực khách sạn, với việc tăng số lượng khách sạn, khu nghỉ dưỡng, nghỉ mát góp phần làm tăng số lượng phòng để đáp ứng nhiều hơn nhu cầu lưu trú của du khách Về chất lượng, tăng cường số lượng khách sạn từ 3 sao trở lên, các khu resort, nâng tầm khách sạn 1 sao, khách sạn đạt tiêu chuẩn tối thiểu để phù hợp với nhiều thành phần khách du lịch, tạo sự thuận lợi, thoải mái khi đến nghỉ ngơi, lưu trú; đội ngũ nhân viên khách sạn như lễ tân, buồng phòng… cần phải được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, đào tạo ngoại ngữ, cách ứng xử… tạo sự chuyên nghiệp trong quá trình phục vụ; cơ sở vật chất hiện đại, sạch sẽ…
Trang 33* Tăng cường cơ sở phục vụ ăn uống
Ăn uống là nhu cầu thiết yếu và cơ bản nhất của con người để tồn tại và phát triển Cùng với sự phát triển kinh tế, với đời sống nhân dân tăng lên, nhu cầu về các dịch vụ phục vụ ăn, uống tăng nhanh nên các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn, uống phát triển mạnh mẽ và đa dạng (nhà hàng, quán ăn nhanh, bar v.v) và trở thành một ngành kinh doanh có hiệu quả kinh tế cao trong nền kinh tế nói chung và ngành du lịch nói riêng
Ăn uống không chỉ thoả mãn nhu cầu sinh lý của con người tồn tại, mà còn thể hiện nền văn hoá mỗi dân tộc, nên được gọi là “văn hoá ẩm thực” Một trong những nhu cầu quan trọng của khách du lịch là tìm hiểu và thưởng thức các món ăn đặc trưng của mỗi dân tộc, nền văn hoá dân tộc thông qua các món ăn dân tộc
Do đó, mỗi địa phương với những đặc trưng về văn hóa ẩm thực khác nhau sẽ là điểm nhấn thu hút khách du lịch đặc trưng và không dễ bị bắt chước Tuy nhiên, việc phát huy và duy trì các cơ sở nhà hàng, quán ăn vừa đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và đảm bảo các món ăn đa dạng, phong phú là rất khó khăn, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng và các nhà quản lý, điều hành nhà hàng, quán ăn đó
b Tăng cường các cơ sở kinh doanh thương mại
Ngoài nhu cầu lưu trú, ăn uống, giải trí, nhu cầu tiêu dùng một số hàng hoá thiết yếu hàng ngày và hàng lưu niệm trở thành một nhu cầu không thể thiếu được của khách du lịch Chính vì vậy, các cơ sở kinh doanh thương mại (như siêu thị, các cửa hàng bán đồ lưu niệm, thủ công mỹ nghệ kể cả bán thuốc đông y v.v) đã trở thành những điểm tham quan du lịch đồng thời đáp ứng nhu cầu về mua sắm của khách du lịch
Kinh doanh thương mại không chỉ đáp ứng nhu cầu hàng hoá cho khách du lịch có ý nghĩa chiến lược với sự phát triển nền kinh tế nói chung và
Trang 34phát triển ngành du lịch nói riêng, thực hiện chiến lược xuất khẩu tại chỗ hàng hoá thu ngoại tệ với hiệu quả cao, đồng thời thúc đẩy sản xuất phát triển, đặc biệt là khôi phục được các ngành, nghề truyền thống
c Mở rộng hệ thống giao thông, phương tiện vận chuyển
Xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, cải tạo, nâng cấp hệ thống giao thông nội thị tạo điều kiện thúc đẩy ngành du lịch phát triển Nhất là quan tâm quy hoạch, xây dựng và nâng cấp hệ thống giao thông gần các khu
du lịch góp phần tạo thuận lợi cho nhu cầu đi lại của du khách từ trung tâm đến các địa điểm đó
Hơn nữa, nói đến du lịch là sự di chuyển của con người ra khỏi nơi cư trú và làm việc thường xuyên Vì vậy du lịch gắn liền với sự di chuyển và vận chuyển khách du lịch Vận chuyển du lịch giữ vị trí quan trọng đối với sự phát triển ngành du lịch, hệ thống giao thông vận tải càng phát triển, chất lượng các phương tiện vận tải càng tốt, thì ngành du lịch càng phát triển Các nhà kinh tế du lịch đã khẳng định, để phát triển du lịch tại một khu du lịch, một địa phương, một đất nước thì nơi đó phải có ít nhất ba trong năm loại phương tiện vận chuyển khách du lịch tới, đó là: đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường biển và đường sông
Tổ chức vận chuyển khách du lịch theo các hình thức:
– Do các doanh nghiệp vận tải vận chuyển khách du lịch, nghĩa là ngành du lịch ký các hợp đồng với các doanh nghiệp vận tải để vận chuyển khách du lịch Đây là hình thức vận chuyển du lịch chủ yếu và có hiệu quả
– Do các doanh nghiệp du lịch có phương tiện vận chuyển riêng để chuyên chở khách du lịch, áp dụng chủ yếu phương tiện vận chuyển đường ngắn, đi tham quan các điểm du lịch ở địa phương, đưa đón khách Phương tiện vận tải được sử dụng chủ yếu là xe ôtô, xe thô sơ, đường dây cáp treo
Tùy từng địa điểm du lịch để có những chính sách quy hoạch hệ thống
Trang 35giao thông, phương tiện vận chuyển cho phù hợp Phương tiện vận chuyển hành khách đa phần vẫn là các loại xe ô tô, tàu hỏa đáp ứng nhu cầu giao thông đường bộ Việc kêu gọi được các nhà doanh nghiệp vận tải đầu tư sửa chữa, thay thế các loại xe ô tô lưu thông để đảm bảo an toàn cho du khách, tạo
sự tin tưởng, hài lòng của họ đối với các loại phương tiện vận chuyển cũng là thành công lớn trong chính sách phát triển du lịch Với những khu vực du lịch nằm trển các đảo hay gần hệ thống sông ngòi, biển cần phát triển hệ thống giao thông đường thủy như xây dựng cảng biển, các cây cầu hay tập trung đầu
tư các tàu thuyền, ca nô đảm bảo chất lượng, an toàn khi lưu thông để đưa đón khách đi tham quan, nghỉ mát Hệ thống giao thông đường hàng không cần đặc biệt chú trọng, đây là hệ thống giao thông quan trọng góp phần đưa khách
du lịch quốc tế đến gần hơn với sản phẩm du lịch Do đó cần xây dựng, nâng cấp, hoàn thiện hệ thống giao thông này
d Tăng cường các công ty lữ hành
Lữ hành (Travel agency) được dịch từ tiếng Anh, nhưng bản chất của
nó chính là hoạt động của đại lý du lịch gồm:
– Các hoạt động liên quan đến việc nhận dịch vụ vận chuyển khách với
tư cách làm đại lý cho các cơ sở vận chuyển, dịch vụ đăng ký chỗ ở, ăn trong khách sạn với tư cách làm đại lý cho các cơ sở ngành khách sạn, làm dịch vụ thu xếp các yêu cầu của khách (lữ khách)
– Dịch vụ tổ chức các chương trình du lịch trên cơ sở tổng hợp các dịch
vụ đại lý nói trên và trên cơ sở yêu cầu của khách du lịch Các chương trình
du lịch có thể với giá trọn gói và giá của từng dịch vụ Dịch vụ bán buôn, bán
lẻ chương trình du lịch Dịch vụ đưa, đón khách, dịch vụ hướng dẫn du lịch
– Thực hiện các dịch vụ khác liên quan đến việc đi lại của khách như: thủ tục về hộ chiếu, thị thực xuất nhập cảnh, mua vé vận chuyển, mua bảo hiểm, đăng ký chỗ ở khách sạn, ăn ở nhà hàng,…v.v
Trang 36Về bản chất kinh tế các đại lý du lịch sẽ được hưởng hỏa hồng từ các
cơ sở mà họ làm đại lý và được hưởng công dịch vụ từ việc phục vụ khách
Do đó, hệ thống doanh nghiệp kinh doanh du lịch lữ hành góp phần đưa sản phẩm du lịch đến với du khách nhanh và trực tiếp nhất thông qua các loại hình quảng cáo trên ti vi, website, tư vấn trực tiếp hay các chương trình du lịch…
Phát triển du lịch thông qua các công ty lữ hành là phương pháp đơn giản nhưng rất hiệu quả Tuy nhiên, hoạt động lữ hành cần phải liên tục phát triển cả về số lượng và chất lượng Về số lượng, không chỉ gia tăng các đơn vị kinh doanh lữ hành nội địa mà còn phát triển các đơn vị kinh doanh lữ hành quốc tế, góp phần đưa sản phẩm du lịch ra nước ngoài Về chất lượng, các đơn vị phải tổ chức được nhiều chương trình tham quan trong và ngoài nước hấp dẫn, tạo ấn tượng tốt đối với du khách về chất lượng các chương trình tham quan và chất lượng phục vụ của đội ngũ hướng dẫn viên, lái xe du lịch; tăng khả năng tổ chức các tour du lịch quốc tế, đưa khách du lịch nước ngoài vào nước và đưa khách trong nước ra nước ngoài, đưa khả năng khai thác nguồn khách du lịch quốc tế trực tiếp tăng
1.2.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch
Nguồn nhân lực phục vụ du lịch là điều kiện có tính chất quyết định đến việc phát triển hoạt động du lịch Chất lượng của đội ngũ lao động trong lĩnh vực du lịch đánh giá mức độ phát triển của hoạt động du lịch, do du lịch
là ngành dịch vụ, dịch vụ trước hết phụ thuộc vào con người với trí tuệ cao, khả năng sáng tạo các ý tưởng mới lớn
Số lượng lực lượng lao động nhất là lao động có trình độ chuyên môn tham gia vào lĩnh vực du lịch ngày càng tăng lên sẽ góp phần vào sự phát triển của du lịch Du lịch phát triển cần số lượng lớn nguồn nhân lực để đáp ứng nhiều công việc liên quan lĩnh vực du lịch như nhân viên khách sạn,
Trang 37hướng dẫn viên du lịch, nhân viên tại các địa điểm du lịch…
Hơn nữa, con người làm du lịch đòi hỏi phải có kỹ năng nghề nghiệp cao, kỹ năng giao tiếp tốt, có ý thức trách nhiệm cao đối với công việc và giỏi ngoại ngữ Chính vì vậy, đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch là điều kiện không thể thiếu được nhằm phát triển ngành du lịch, đáp ứng nhanh với
sự phát triển của thế giới trong ngành du lịch
Ngành du lịch bao gồm nhiều nghề, lĩnh vực hoạt động kinh doanh khác nhau, nên khi xác định tiêu chuẩn chất lượng cần phải hướng đến từng nhóm : nhóm những người trực tiếp (những người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các doanh nghiệp du lịch, các đơn vị sự nghiệp trong ngành du lịch) và gián tiếp tham gia vào quá trình phục vụ khách du lịch (các cơ quan, các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư nơi khách du lịch đến thăm quan)
- Nhóm gián tiếp (lãnh đạo, quản lý, nhà nghiên cứu, đào tạo…) : phải
có tài trong lãnh đạo, quản lý, sử dụng và biết cách giữ người tài, phải có tâm trong thu phục lòng người, phát huy lòng yêu nghề, khả năng cống hiến và sáng tạo, phải có tầm nhìn xu hướng của ngành du lịch trong mối quan hệ với thế giới và hiện trạng đất nước, dự báo và có kế hoạch sánh ngang, vượt qua đối thủ
- Nhóm trực tiếp (lễ tân, phục vụ buồng, bàn, hướng dẫn viên…) : phải đảm bảo các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng nghề, khả năng sáng tạo, kỹ năng sống, phối hợp công việc, trình độ ngoại ngữ…
Vì vậy, để đánh giá mức độ phát triển du lịch của một địa phương, tùy từng nhóm người cụ thể sẽ có những cách đánh giá khác nhau, tiêu chuẩn khác nhau
1.2.4 Tăng trưởng khách du lịch
Số lượng khách du lịch đến với một đất nước, một thành phố, hay một
Trang 38địa điểm du lịch và doanh thu của nó phản ánh chân thực nhất tình trạng phát triển du lịch tại khu vực đó Quả thật, tốc độ tăng trưởng khách du lịch lớn và tăng dần qua các năm đã thể hiện được sự hấp dẫn của sản phẩm du lịch, sự quảng bá cũng như những chính sách phát triển du lịch đã đạt kết quả
Tuy nhiên, sự sụt giảm về lượng khách trong lĩnh vực du lịch đôi khi chưa hẳn do sự kém quản lý trong công tác phát triển du lịch hay sự lỗi thời của chính sản phẩm du lịch, có thể là do những yếu tố khách quan tác động như dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh…
Ngoài ra, tỷ lệ khách du lịch quốc tế trong tổng lượng khách du lịch đến với địa điểm du lịch cũng là chỉ tiêu đánh giá cho sự phát triển du lịch Số lượng khách du lịch quốc tế tăng và chiếm tỷ lệ lớn không những thể hiện được thành quả của những cố gắng, những bước đi đúng đắn của những nhà quản lý mà còn thể hiện được quy mô mang tầm quốc tế của chính sản phẩm
du lịch đó
1.2.5 Tăng trưởng doanh thu dịch vụ du lịch
Doanh thu dịch vụ du lịch là thu nhập từ các hoạt động vui chơi, giải trí, tham quan của du khách thông qua các hình thức mua vé, nghỉ ngơi, ăn uống, mua sắm Do đó, ngành du lịch đạt doanh thu cao là một trong những chỉ tiêu quan trọng thể hiện được sự phát triển du lịch rõ ràng nhất
Sự đa dạng các sản phẩm du lịch, sự nâng cấp, cải tạo và sự quan tâm của Nhà nước đối với các di tích lịch sử - văn hóa quan trọng của địa phương hay định hướng lâu dài cho ngành du lịch… tất cả đều góp phần tăng doanh thu của ngành, hướng đến phát triển du lịch
1.2.6 Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch
Nhu cầu đi du lịch của con người ngày càng được mở rộng do đời sống con người ngày càng được cải thiện Con người không chỉ làm ra để phục vụ nhu cầu cuộc sống hằng ngày như ăn, mặc, ở, hay tiết kiệm cho tương lai, mà
Trang 39xu hướng đi du lịch để khám phá, để hưởng thụ cuộc sống, để đem lại những trải nghiệm mới cho bản thân Vì vậy, nhu cầu của khách du lịch về các sản phẩm du lịch cũng ngày càng đa dạng, do đó, các sản phẩm du lịch cũng phải được đa dạng hóa và nâng cao chất lượng để theo kịp nhu cầu đó
Tại mỗi địa phương, tùy từng đặc điểm cụ thể, việc tổ chức tour đưa khách du lịch đi thăm quan các di tích lịch sử, các công trình kiến trúc văn hoá, tôn giáo, ở các công viên, sở thú, vườn bách thảo, viện bảo tàng, lễ hội dân gian, làng quê, làng nghề, nơi danh lam thắng cảnh, các vùng sinh thái tự nhiên hấp dẫn v.v là một hoạt động cơ bản và cốt lõi của du lịch Tuy nhiên, con người khi đi du lịch bao giờ họ cũng có nhu cầu mở mang nhận thức về thế giới chung quanh của mình và đây là điểm cốt lõi của các chương trình du lịch Để đáp ứng nhu cầu của khách đòi hỏi các nhà kinh doanh du lịch phải
có trí tuệ và sức sáng tạo để biến các tài nguyên du lịch trở thành điểm tham quan hấp dẫn có sức thu hút mọi người đến tham quan lớn Mặt khác, tại các nơi khách đến tham quan, các cơ sở kinh doanh dịch vụ tại đây phải đảm bảo chất lượng phục vụ cao nhằm không ngừng nâng cao danh tiếng, uy tín của điểm đến
- Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, bao gồm phát triển cả du lịch biển,
du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa và du lịch làng nghề tạo nên
sự hấp dẫn níu chân du khách
* Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch: là nâng cao chất lượng các dịch vụ cho khách du lịch, hay nâng cao độ hài lòng trên một dịch vụ cung
Trang 40cấp cho khách du lịch
Để nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, địa phương phải thường xuyên xây dựng mới, nâng cấp, bảo tồn… cho các sản phẩm du lịch và đổi mới phương thức phục vụ Đồng thời, tại mỗi điểm du lịch, các công ty du lịch cần phải thường xuyên tìm hiểu nhu cầu, tâm lý của du khách để đáp ứng đúng và phù hợp với nhu cầu của khách ngày càng tốt hơn Đội ngũ nhân viên cần phải có sự chuyên nghiệp, sự hiếu khách, thân thiện Môi trường du lịch phải được vệ sinh, an toàn Hơn nữa, cần phát triển các sản phẩm du lịch mang phong cách mới lạ, độc đáo, góp phần mang lại sự hài lòng cho du khách
Ngoài ra, việc đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch, ngoài việc phân tích mức độ tăng trưởng về số lượng và chủng loại sản phẩm du lịch, mà còn phải đánh giá được mức độ hài lòng, sự thỏa mãn của khách du lịch và gia tăng khả năng thu hút khách hàng
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.3.1 An ninh chính trị, an toàn xã hội
Đây là điều kiện quyết định cho các hoạt động du lịch phát triển Chiến tranh, các cuộc xung đột vũ trang trong từng khu vực, sự bất ổn định về chính trị đã hạn chế rất lớn đến việc phát triển du lịch Điều này được minh chứng rằng, du lịch trên thế giới chỉ phát triển mạnh mẽ sau chiến tranh thế giới lần thứ II(1945), đất nước Irăc mặc dù nổi tiéng với vườn treo Bavilion, là trung tâm của nền văn minh Trung Đông, nhưng do chiến tranh và nội chiến nên hoạt động du lịch không thể phát triển Ở Việt Nam, trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hoạt động du lịch rất hạn chế
Bất cứ một đất nước hoặc một vùng lãnh thổ hoặc địa phương nào không đảm bảo được điều kiện về an ninh, an toàn cho khách du lịch thì không thể phát triển hoạt động du lịch Con người đi du lịch với nhiều mục