1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Phân tích sự ảnh hưởng của sở hữu nhà nước đến khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt N am giai đoạn 2008 - 2013.

107 140 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Thông qua việc nghiên cứu và phân tích các dữ liệu về mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và cạnh tranh giữa các NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2013, tìm hiểu và đo

Trang 1

-

TRẦN THỊ CẨM TÚ

PHÂN TÍCH SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA SỞ HỮU

NHÀ NƯỚC ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 2008 - 2013

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Đà Nẵng – Năm 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

-

TRẦN THỊ CẨM TÚ

PHÂN TÍCH SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA SỞ HỮU

NHÀ NƯỚC ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 2008 - 2013

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Mã số: 60.34.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS VÕ THỊ THÚY ANH

Đà Nẵng – Năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trần Thị Cẩm Tú

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Giả thuyết nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5

6 Kết cấu đề tài 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA SỞ HỮU NHÀ NƯỚC ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6

1.1 TỔNG QUAN VỀ SỰ CẠNH TRANH VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6

1.1.1 Khái niệm cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại 6

1.1.2 Khái niệm khả năng cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng thương mại 10

1.1.3 Các cấu trúc cạnh tranh của thị trường 17

1.1.4 Các phương pháp phân tích cấu trúc cạnh tranh của ngành 20

1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA SỞ HỮU NHÀ NƯỚC ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 26

1.2.1 Khái niệm về sở hữu nhà nước trong ngân hàng thương mại 26

1.2.2 Tác động của sở hữu nhà nước đến ngân hàng thương mại 28

1.3 MÔ HÌNH CHỈ SỐ H CỦA PANZAR – ROSSE (1987) VỀ ĐO LƯỜNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH 30

1.3.1 Mô hình chỉ số H của Panzar – Rosse (1987) 30

Trang 5

1.3.2 Các nghiên cứu thực nghiệm ứng dụng của mô hình Panzar –

Rosse (1987) trong đo lường khả năng cạnh tranh giữa các NHTM 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39

CHƯƠNG 2 MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA SỞ HỮU NHÀ NƯỚC ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 40

2.1 XÁC ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 40

2.1.1 Mục đích nghiên cứu 40

2.1.2 Mô hình nghiên cứu 42

2.1.3 Dữ liệu nghiên cứu 49

2.2 ƯỚC LƯỢNG VÀ KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 51

2.2.1 Phương pháp ước lượng 51

2.2.2 Các kiểm định mô hình 52

2.3 CHỈ SỐ H VÀ Ý NGHĨA CHỈ SỐ H 54

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH MÔ HÌNH 57

3.1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2013 57

3.1.1 Tổng quan về hệ thống NHTM Việt Nam 2008 – 2013 57

3.1.2 Thực trạng sở hữu nhà nước trong hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2013 59

3.2 KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG VÀ KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH 61

3.2.1 Mô tả thống kê các biến đầu vào và biến tổng thu nhập 61

3.2.2 Ước lượng và kiểm định mô hình hồi quy 1 65

3.2.3 Ước lượng và kiểm định mô hình hồi quy 2 69

3.3 XÁC ĐỊNH VÀ PHÂN TÍCH Ý NGHĨA CHỈ SỐ H 73

3.3.1 Xác định giá trị chỉ số H 73

Trang 6

3.3.2 Phân tích ý nghĩa chỉ số H 74

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 81

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 82

4.1 KẾT LUẬN 82

4.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Agribank : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn

BIDV : Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

CSH : Chủ sở hữu

ESH : Phương pháp cấu trúc - hiệu quả

(The efficient structure hypothesis) HTNH : Hệ thống ngân hàng

MHB : Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long

NHNN : Ngân hàng Nhà nước

NHTM : Ngân hàng thương mại

SCP : Phương pháp cơ cấu - hành vi - hiệu quả kinh doanh của ngành

(Structure - Conduct - Performance paradigm)

Vietcombank : Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

Vietinbank : Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam

Trang 8

3.6 Kết quả ước lượng và kiểm định các hệ số sau khi

loại biến LOG(UPF) cho mô hình 1 68 3.7 Kết quả kiểm định đa cộng tuyến cho mô hình 2 70 3.8 Kết quả kiểm định tự tương quan cho mô hình 2 70 3.9 Kết quả ước lượng và kiểm định các hệ số 71

3.10 Kết quả ước lượng và kiểm định các hệ số sau khi

loại biến LOG(UPF) cho mô hình 2 72

Trang 9

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Số hiệu

1.1 Mối quan hệ giữa các biến được đánh giá trong mô hình

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

3.1 Tổng thu nhập trung bình trong giai đoạn 2008 – 2013

của các NHTM có sở hữu nhà nước tại Việt Nam 61

3.2 Tổng thu nhập trung bình trong giai đoạn 2008 – 2013

của các NHTM trên toàn hệ thống 61

3.3 Cơ cấu tổng thu nhập trong hệ thống NHTM Việt Nam

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Sở hữu nhà nước là một vấn đề thực tiễn quan trọng và phức tạp mà nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước luôn quan tâm Sở hữu nhà nước được hiểu là Nhà nước đại diện chủ sở hữu đối với các tài sản, của cải, các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, KHKT, ngoại giao, quốc phòng, an ninh thuộc sở hữu toàn dân Trong một xã hội có Nhà nước thì điều tất yếu là tồn tại sở hữu nhà nước Tuy nhiên, Nhà nước nên can thiệp, sở hữu những tài sản nào, lĩnh vực nào và mức độ can thiệp như thế nào luôn là vấn đề được bàn luận nhiều cũng như tồn tại nhiều ý kiến trái chiều Theo Dương Đức Chính (2013), tại Việt Nam, các doanh nghiệp Nhà nước tạo thành một bộ phận vô cùng quan trong của nền kinh tế quốc dân, là lực lượng vật chất to lớn giúp Nhà nước giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xã hội phức tạp của đất nước trong thời gian qua Vậy trong lĩnh vực ngân hàng, liệu việc Nhà nước sở hữu một vài NHTM có tốt hay không Sở hữu nhà nước có nên giữ vai trò chủ đạo trong lĩnh vực Ngân hàng để tạo chỗ dựa vững chắc và đưa ra các hướng phát triển phù hợp với chính sách kinh tế, chính trị của quốc gia hay nên giảm bớt

sự can thiệp, rút dần sở hữu nhà nước trong các NHTM để ngành Ngân hàng phát triển theo định hướng của thị trường Hiện nay, ở Việt Nam có 4 ngân hàng có vốn đầu tư của nhà nước là Agirbank, Vietcombank, Vietinbank và BIDV Trong khi đó, Vietcombank, Vietinbank và BIDV cũng là những ngân hàng có kết quả hoạt động kinh doanh tốt và năng lực cạnh tranh cao trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong suốt nhiều năm liền Vậy, việc

có sở hữu nhà nước có phải là một trong những nguyên nhân giúp những ngân hàng này có khả năng cạnh tranh trong ngành tốt như vậy không Làm rõ vấn

đề này sẽ giúp những nhà nghiên cứu về hoạt động ngân hàng có thể xác định

Trang 11

những chiến lược hoạt động hợp lí hơn để tăng cao khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Ở Việt Nam hiện nay có nhiều nghiên cứu cũng như hội thảo bàn về vấn đề này Để xác định sở hữu nhà nước ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các NHTM Việt Nam theo chiều hướng nào, bài viết

sử dụng phương pháp phân tích kỹ thuật sử dụng chỉ số H của Panzar và Rosse (1987) Phương pháp này được sử dụng nhiều và hiệu quả trên nhiều phương diện để xác định cấu trúc cạnh tranh thị trường ngân hàng (Hamza, 2010) Mô hình đưa ra dựa theo nghiên cứu đo lường mối quan hệ giữa sở hữu chéo và khả năng cạnh tranh của các NHTM ở Ý (Trivieri, 2005) và nghiên cứu đo lường khả năng cạnh tranh giữa NHTM và ngân hàng tiết kiệm

ở Tây Ban Nha (Luis Gutiérrez de Rozas, 2007)

2 Mục tiêu nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu và phân tích các dữ liệu về mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và cạnh tranh giữa các NHTM tại Việt Nam giai đoạn

2008 – 2013, tìm hiểu và đo lường mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và cạnh tranh giữa các NHTM tại Việt Nam, để từ đó đưa ra kết luận về vai trò của sở hữu nhà nước trong hệ thống NHTM, nhằm khai thác tối đa lợi thế của các NHTM có sở hữu nhà nước và tăng khả năng cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng hiện nay Xuất phát từ mục đích trên, nhiệm vụ đặt ra cho đề tài này là:

- Làm rõ khái niệm về khả năng cạnh tranh của NHTM và sở hữu nhà nước trong hệ thống NHTM

- Xác định mô hình và phương pháp ước lượng mô hình cho phép nghiên cứu ảnh hưởng của sở hữu nhà nước đến khả năng cạnh tranh của hệ thống NHTM

- Dùng mô hình phân tích để xác định có hay không sự tồn tại của mối quan hệ tác động giữa hai yếu tố này và rút ra các mặt lợi ích cũng như hạn chế của sự tác động này đối với hệ thống các NHTM Việt Nam

Trang 12

- Đề xuất các hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng, các nhà hoạch định chính sách trong nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM

3 Giả thuyết nghiên cứu

Các thuyết nghiên cứu được đặt ra trong luận văn là:

- Có tồn tại mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và khả năng cạnh tranh trong hệ thống NHTM

- Hệ thống NHTM tại Việt Nam đang hoạt động trong tình trạng cạnh tranh độc quyền

- Khả năng cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam bị suy giảm khi tồn tại yếu tố sở hữu nhà nước

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Ảnh hưởng của sở hữu nhà nước đến khả năng cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

a Nội dung nghiên cứu

Chỉ nghiên cứu tác động của sở hữu nhà nước đến khả năng cạnh tranh của hệ thống NHTM

b Không gian nghiên cứu

Nghiên cứu hệ thống các NHTM (không kể các ngân hàng NHTM

nước ngoài) tại Việt Nam

c Thời gian nghiên cứu

Từ năm 2008 đến năm 2013, là giai đoạn xảy ra khủng hoảng tài chính

và phục hồi sau khủng hoảng

4.3 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp thực hiện nghiên cứu

- Phần lý thuyết: Tham khảo các tài liệu nghiên cứu và các quan điểm

Trang 13

lí luận về cạnh tranh và sở hữu nhà nước trong hệ thống NHTM để đưa ra các kết luận trên lý thuyết

- Mô hình nghiên cứu: Dùng phương pháp chỉ số H, sử dụng mô hình hồi quy với phương pháp ước lượng OLS với dữ liệu đầu vào là dữ liệu bảng

Dữ liệu lất từ các kết quả trong báo cáo tài chính hợp nhất được công bố của các NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2013 Mô hình nghiên cứu được sử dụng là mô hình hồi quy tuyến tính Log các giá trị đầu vào và đầu ra của hoạt động kinh doanh của ngân hàng và chỉ số H của Panzar và Rosse (1987) để đo lường mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước với cạnh tranh giữa các NHTM Việt Nam

b Cơ sở vận dụng mô hình vào thực tiễn Việt Nam

Mô hình Panzar – Rosse được phát triển để phân tích khả năng cạnh tranh của hệ thống ngân hàng đặt trong một đặc trưng cơ cấu ngành nhất định Tại Việt Nam, ngành ngân hàng trong giai đoạn từ 2008 – 2013 đã khá phát triển với nhiều NHTM hoạt động cạnh tranh lẫn nhau Theo cấu trúc sở hữu

có thể chia các NHTM trong hệ thống NHTM Việt Nam làm 2 loại: NHTM

có sở hữu nhà nước và NHTM không có sở hữu nhà nước Đây là những điều kiện cần thiết để áp dụng mô hình Panzar – Rosse vào nghiên cứu thực nghiệm Với quy mô ngành khá lớn, nhiều ngân hàng hoạt động cạnh tranh lẫn nhau, việc tìm hiểu và phân tích xem sự cạnh tranh có đồng đều hay không giữa hai nhóm ngân hàng này là cấp thiết và quan trọng để đánh giá vai trò của sở hữu nhà nước trong hệ thống NHTM hiện nay

c Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu phân tích được tổng hợp từ báo cáo tài chính hợp nhất thường niên tại 32 NHTM trong nước đang hoạt động tại Việt Nam trong 6 năm, từ

2008 đến 2013, trong đó chỉ quan tâm đến các chỉ số tài chính cần được phân tích trong mô hình chủ yếu như kết quả hoạt động kinh doanh và các số liệu

Trang 14

về nhân viên, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu,…

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Tại Việt Nam, mặc dù có nhiều nghiên cứu đưa ra bàn về việc nên hay không nên duy trì sở hữu nhà nước trong hệ thống NHTM tại Việt Nam cũng như khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các NHTM sở hữu nhà nước trong nền kinh tế hiện hiện đại Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu định lượng nào chỉ ra mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước đối với khả năng cạnh tranh của các NHTM và xem xét khả năng cạnh tranh giữa hai nhóm NHTM có hoặc không có sở hữu nhà nước Mục tiêu của bài viết thông qua phân tích các NHTM trên toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam, xem xét liệu các NHTM hiện nay đang hoạt động trong môi trường cạnh tranh hay độc quyền và giữa hai nhóm NHTM có hoặc không có sở hữu nhà nước, nhóm ngân hàng nào đang hoạt động cạnh tranh mạnh hơn, từ đó mang lại thông tin cần thiết cho các nhà nghiên cứu về hoạt động ngân hàng có thể đưa ra kết luận nên hay không nên duy trì sở hữu nhà nước trong hoạt động ngân hàng nhìn từ góc độ của sự cạnh tranh trong hệ thống

6 Kết cấu đề tài

Nội dung chính của luận văn được chia thành 4 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực nghiệm về ảnh hưởng của sở hữu nhà nước đến khả năng cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại

Chương 2: Mô hình và phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của sở hữu nhà nước đến khả năng cạnh tranh của hệ thống NHTM

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Kết luận và hàm ý chính sách

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA SỞ HỮU NHÀ NƯỚC ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH

CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 TỔNG QUAN VỀ SỰ CẠNH TRANH VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1 Khái niệm cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại

a Khái niệm cạnh tranh

Cạnh tranh là một khái niệm rất phổ biến của kinh tế và là đặc trưng của nền kinh tế hàng hóa Cạnh tranh xảy ra khi hai hoặc nhiều doanh nghiệp hoạt động độc lập để cung cấp sản phẩm của họ đến cùng một nhóm người tiêu dùng Cạnh tranh, hiểu theo cấp độ doanh nghiệp, là việc đấu tranh hoặc giành giật khách hàng, thị phần hay nguồn lực từ một số đối thủ của các doanh nghiệp Tuy nhiên, ngày nay bản chất cạnh tranh không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh Cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (Michael Porter, 1996)

Trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng (người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng

Trang 16

muốn mua rẻ), giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn, giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ

Ngày nay, dưới sự hoạt động của cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước, khái niệm cạnh tranh có thay đổi đi nhưng về bản chất nó không hề thay đổi: Cạnh tranh vẫn là sự đấu tranh gay gắt, sự ganh đua giữa các tổ chức, các doanh nghiệp nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh để đạt được mục tiêu của tổ chức hay doanh nghiệp đó Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh là một điều kiện

và là yếu tố kích thích sản xuất kinh doanh, là môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động và tạo đà cho sự phát triển của xã hội Cạnh tranh là qui luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường Sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng hoá bán

ra càng nhiều, số lượng người cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt Kết quả cạnh tranh sẽ có một số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường trong khi một số doanh nghiệp khác tồn tại và phát triển hơn nữa Cạnh tranh sẽ làm cho doanh nghiệp năng động hơn, nhạy bén hơn trong việc nghiên cứu, nâng cao chất lượng sản phẩm giá cả và các dịch vụ sau bán hàng nhằm tăng vị thế của mình trên thương trường, tạo uy tín với khách hàng

và mang lại nguồn lợi nhuận cho doanh nghiệp

b Quan điểm về cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM)

Bản thân NHTM cũng là một doanh nghiệp, tuy nhiên là doanh nghiệp đặc biệt (thể hiện ở lĩnh vực kinh doanh, điều kiện hoạt động, cơ quan quản lý…) Cạnh tranh giữa các NHTM là cạnh tranh trong nội bộ ngành Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm hàng hóa – dịch vụ nào đó Cạnh tranh trong nội bộ

Trang 17

ngành dẫn đến sự hình thành nên giá cả thị trường trên cơ sở giá trị xã hội của loại hàng hóa dịch vụ đó Những doanh nghiệp có lợi thế trong cạnh tranh sẽ

mở rộng quy mô hoạt động của mình trên thị trường, ngược lại những doanh nghiệp kém lợi thế trong cạnh tranh sẽ phải thu hẹp phạm vi kinh doanh, thậm chí còn có thể bị giải thể, phá sản

Các NHTM không những chịu áp lực cạnh tranh của các NHTM khác

mà còn có áp lực đến từ các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác đang hoạt động trên thị trường Cạnh tranh trong NHTM có các đặc thù sau:

- Cạnh tranh phải tuân thủ theo pháp luật, không thể cạnh tranh bằng mọi giá, bất chấp thủ đoạn: Kinh doanh tiền tệ là lĩnh vực hết sức nhạy cảm, chịu tác động bởi rất nhiều yếu tố về kinh tế, chính trị, xã hội,… Mỗi một nhân tố này có sự thay đổi dù là nhỏ nhất cũng có tác động rất nhanh chóng

và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh chung Việc cạnh tranh là để mở rộng khách hàng, thị phần nhưng cũng không thể kinh doanh bằng mọi giá, sử dụng mọi thủ đoạn, bất chấp pháp luật để thôn tính đối thủ của mình, bởi vì đối thủ là các NHTM khác bị suy yếu dẫn tới sụp đổ, thì những hậu quả mang lại thường rất lớn, thậm chí dẫn đến đổ vỡ luôn chính ngân hàng của mình do tác động dây chuyền

- Cạnh tranh nhưng luôn hợp tác với nhau: Vì đặc thù rủi ro hệ thống và

sự liên quan lẫn nhau của hoạt động tiền tệ mà các NHTM cạnh tranh lẫn nhau vẫn phải hỗ trợ, hợp tác với nhau để xây dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh, tránh sự sụp đổ dây chuyền

- Cạnh tranh trong sự giám sát của NHNN: Do doạt động của các NHTM có liên quan đến tất cả các chủ thể, đến mọi mặt hoạt động kinh tế -

xã hội, cho nên để tránh sự mạo hiểm trong cạnh tranh của các NHTM dẫn đến rủi ro hệ thống, NHNN luôn giám sát chặt chẽ hoạt động này và đưa ra các cảnh bảo sớm để phòng ngừa rủi ro

Trang 18

c Vai trò của cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng thương mại

Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ, là cơ sở khẳng định vị trí của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có thể mang lại những hậu quả xấu đối với nền kinh tế, nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng Hoạt động ngân hàng là hoạt động mang nhiều rủi ro, những hậu quả từ hành vi cạnh tranh không lành mạnh phát sinh từ hoạt động ngân hàng không chỉ ảnh hưởng đến luồng chu chuyển vốn trong nền kinh tế mà nó còn làm ảnh hưởng đến mục tiêu an toàn hệ thống Cạnh tranh là điều bất khả kháng đối trong nền kinh tế thị trường Cạnh tranh có thể được coi là cuộc chạy đua khốc liệt mà các NHTM trong hệ thống không thể tránh khỏi mà phải tìm mọi cách vươn lên để chiếm ưu thế và chiến thắng Cạnh tranh buộc các NHTM phải luôn tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, thay đổi kiểu dáng mẫu mã đáp ứng nhu cầu của khách hàng Cạnh tranh khuyến khích các NHTM áp dụng các công nghệ mới, hiện đại , tạo sức ép buộc họ phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mình để giảm giá thành, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, tạo ra các sản phẩm mới khác biệt có sức cạnh tranh cao

Có rất nhiều quan điểm ủng hộ sự cạnh tranh trong ngành ngân hàng Theo nghiên cứu của Guzman (2000) về tác động tiêu cực đến hoạt động ngân hàng trong môi trường độc quyền (không có cạnh tranh) khi xem xét hai nền kinh tế tương tự nhau, ông đã nhận ra rằng đối với nền kinh tế có một ngân hàng độc quyền, khả năng tăng trưởng vốn của nền kinh tế giảm sút hẳn so với nền kinh tế có các ngân hàng hoạt động cạnh tranh lẫn nhau Có hai nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự ảnh hưởng đó Một là nếu có các điều kiện giới hạn tín dụng thì mức giới hạn trong môi trường độc quyền sẽ cao hơn so với môi trường cạnh tranh giữa các ngân hàng Hai là khi không tồn tại các điều kiện giới hạn tín dụng, theo Guzman lập luận, trong môi trường độc

Trang 19

quyền, mặc dù không có sự hạn chế trong hạn mức cũng như tỷ suất vay tín dụng, sức mạnh động độc quyền vẫn không thể hoạt động hiệu quả vì nó sẽ dẫn đến yêu cầu giám sát quá mức đối với các khoản vay Thực tế cho thấy khi một ngân hàng độc quyền cho vay với mức lãi suất cao hơn khả năng trả

nợ của doanh nghiệp, khả năng vỡ nợ cũng sẽ tăng cao Do đó, các ngân hàng độc quyền phải sử dụng chi phí cao hơn để thực hiện giám sát, ngăn ngừa các rủi ro xảy ra

Như các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế thị trường, các NHTM luôn đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt không chỉ từ các ngân hàng khác mà từ tất cả các tổ chức tín dụng đang cùng hoạt động kinh doanh để thu hút khách hàng, gia tăng thị phần và lợi nhuận Nhưng so với các loại hình kinh tế khác, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng có những đặc thù riêng Hoạt động ngân hàng mang tính hệ thống cao, các NHTM vừa phải cạnh tranh để từng bước thu hút khách hàng, mở rộng thị phần, nhưng cũng không thể cạnh tranh bất chấp pháp luật để thôn tính đối thủ của mình, vì nếu đối thủ là các NHTM khác bị suy yếu dẫn đến sụp đổ, thì hậu quả đem lại thường rất to lớn, thậm chí dẫn đến đổ vỡ luôn chính NHTM này do tác động dây chuyền (Nguyễn Trọng Tài, 2008)

1.1.2 Khái niệm khả năng cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng thương mại

a Khái niệm khả năng cạnh tranh

Khái niệm khả năng cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1990 Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh

Trang 20

nghiệp” Năm 1998, Bộ thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa:

“Đối với doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”

Tuy nhiên, khái niệm khả năng cạnh tranh đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất Theo Buckley (1988), khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cần được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp với 3 yếu tố: các giá trị chủ yếu của doanh nghiệp, mục đích chính của doanh nghiệp và các mục tiêu giúp các doanh nghiệp thực hiện chức năng của mình Điểm lại các tài liệu trong và ngoài nước, có nhiều cách quan niệm về năng Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn

Trước hết, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và

mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó khả năng cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với các đối thủ và lợi nhuận mà doanh nghiệp đó đạt được Hai là, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn công của doanh nghiệp khác Quan niệm về khả năng cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lượng Ba là, khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh

tế (OECD), khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế Theo M Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về khả năng cạnh tranh Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu

Trang 21

và nhiệm vụ của doanh nghiệp Bốn là, khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh Chẳng hạn, tác giả Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, tác giả Trần Sửu (2005) cũng có ý kiến tương tự: “Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững” Theo tác giả Lê Đăng Doanh trong tác phẩm Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thời hội nhập: “Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước” Theo tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm trong tác phẩm Thị trường, chiến lược, cơ cấu nêu lên tầm quan trọng của việc gia tăng giá trị nội sinh và ngoại sinh của doanh nghiệp, đây chính là khả năng cạnh tranh mà mỗi doanh nghiệp cố gắng đạt được, là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện các chiến lược kinh doanh của mình Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp với khả năng kinh doanh

Như vậy, cho đến nay quan niệm về khả năng cạnh tranh vẫn chưa được hiểu thống nhất Để có thể đưa ra quan niệm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp, cần lưu ý một số vấn đề sau đây: Một là, quan niệm khả năng cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh và trình độ phát triển trong từng thời kỳ Trong điều kiện kinh tế tri thức hiện nay, cạnh tranh đồng nghĩa với mở rộng, doanh nghiệp phải cạnh tranh không gian, cạnh tranh thị trường, và do vậy quan niệm về khả năng cạnh tranh cũng phải phù hợp với điều kiện mới Đối với Việt Nam hiện nay, với trình độ phát triển kinh tế còn thấp, nhưng lại đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh gay gắt, việc đưa ra khái niệm khả năng cạnh tranh cho phù hợp với bối cảnh hiện

Trang 22

nay là không đơn giản Hai là, khả năng cạnh tranh cần thể hiện khả năng đua tranh, tranh giành giữa các doanh nghiệp không chỉ về khả năng thu hút và sử dụng các yếu tố sản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa, mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm, khả năng sáng tạo sản phẩm mới Ba

là, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện được phương thức cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và các phương thức hiện đại – không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế cạnh tranh, dựa vào quy chế

Từ những yêu cầu trên, có thể đưa ra khái niệm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp như sau: Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững Như vậy, khả năng cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm doanh nghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp Khả năng cạnh tranh là khả năng dành chiến thắng trong

sự ganh đua giữa các chủ thể trong cùng một môi trường và khi cùng quan tâm tới một đối tượng Trên giác độ kinh tế, khả năng cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như khả năng cạnh tranh quốc gia, khả năng cạnh tranh doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh của sản phẩm

Như vậy, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên khả năng cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo ra và có được các lợi thế cạnh tranh cho riêng mình

Trang 23

Nâng cao khả năng cạnh tranh của một doanh ngiệp, thực chất là nâng cao quy mô, trình độ và chất lượng nguồn lực về kinh tế, kỹ thuật, quản lý và thương mại của doanh nghiệp: tăng khả năng của doanh nghiệp trên các phương diện tài chính, công nghệ, nhân lực, quản lý, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Nhờ lợi thế, doanh nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh

b Khả năng cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng thương mại

Khả năng cạnh tranh của ngân hàng thương mại là khả năng do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở nắm bắt kịp thời các cơ hội để duy trì và phát triển những lợi thế vốn có nhằm củng cố và mở rộng thị phần, gia tăng lợi nhuận, chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh hoặc sức ép của các lực lượng cạnh tranh

Hay một cách diễn đạt khác, khả năng cạnh tranh của NHTM là sức mạnh nội tại của bản thân ngân hàng đó để có thể đưa ra các sản phẩm (dịch vụ) đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng và duy trì, thu hút khách hàng,

mở rộng thị phần nhằm gia tăng lợi nhuận Sức mạnh nội tại đó thể hiện qua khả năng sử dụng các chi phí đầu vào một cách hiệu quả nhất để đạt được lợi nhuận đầu ra mong đợi

Đối với lĩnh vực tài chính – ngân hàng, khả năng cạnh tranh của có thể được tóm tắt lại như sau: “Khả năng cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và

mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành

và liên tục tăng đông thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biếnđộng bất lợi của môi trường xung quanh”

Trang 24

c Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại

Khả năng tài chính: Khả năng tài chính của ngân hàng thương mại không chỉ là nguồn lực tài chính đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại mà còn là khả năng khai thác, quản lý và sử dụng các nguồn lực đó phục vụ hiệu quả cho hoạt động kinh doanh

Vốn chủ sở hữu và mức độ an toàn vốn: Nguồn vốn chủ sở hữu là toàn

bộ nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, của các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong công ty cổ phần, kinh phí quản lý

do các đơn vị trực thuộc nộp lên, Mức độ an toàn vốn thể hiện số vốn chủ

sở hữu để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Ngân hàng càng chấp nhận nhiều rủi ro (ví dụ như trong phạm vi một danh mục cho vay) thì càng đòi hỏi phải có nhiều vốn chủ sở hữu để hỗ trợ hoạt động của ngân hàng

và bù đắp tổn thất tiềm năng liên quan đến mức độ rủi ro cao hơn

Khả năng sinh lời: Các nhà đầu tư, các cổ đông và các nhà quản lý tài chính đặc biệt chú ý tới khả năng sinh lãi của các công ty.Việc phân tích lợi nhuận có thể bắt đầu bằng việc nghiên cứu cách thức một công ty sử dụng cơ cấu vốn.Các nhà quản lý giỏi sử dụng có hiệu quả tài sản của mình Thông qua việc tăng hiệu quả sản xuất, các công ty có thể giảm hoặc kiểm soát được các chi phí Tỷ lệ lợi nhuận do bất kỳ một công ty nào đạt được là quan trọng nếu các nhà quản lý của công ty đó mong muốn thu hút vốn và thực hiện việc tài trợ thành công cho sự phát triển của công ty.Nếu tỷ lệ lợi nhận của một công ty tụt xuống dưới mức có thể chấp nhận được, thì P/E (giá trên thu nhập)

và giá trị các cổ phiếu của công ty giảm xuống – điều đó giải thích tại sao việc đánh giá khả năng sinh lời lại đặc biệt quan trọng đối với một công ty

Khả năng ứng dụng công nghệ: Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu

Trang 25

là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội Ngân hàng thuộc lĩnh vực dịch vụ tài chính, hầu hết các mảng hoạt động của khu vực ngân hàng đề gắn liền với việc tiếp nhận và xử lý thông tin, do vậyviệc ứng dụng công nghệ thông tin có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững và có hiệu quả của từng ngân hàng nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng

Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và khả năng của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và để có thể lượng hoá được trong công tác kế hoạch hoá ở nước ta được quy định là một bộ phận của dân số, bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam (nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến hết 55 tuổi)

Trình độ quản lý và cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức là một khái niệm cơ bản của khoa học quản lý, cơ cấu tổ chức được nhiều tác giả quan tâm đề cập đến.Từ những cách tiếp cận khác nhau mà mỗi tác giả lại có những quan niệm khác nhau về cơ cấu tổ chức Tuy nhiên, ta có thể nhìn nhận cơ câu tổ chức là tổng hợp các bộ phận được chuyên môn hóa, có quyền hạn và trách nhiệm cụ thể, được bố trí theo một cách thức nhất định và có mối liên hệ qua lại với nhau nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu, chức năng và nhiệm vụ đã định trước

Thương hiệu: Thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm với dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên mặt, lên bao bì hàng hoá nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ sản phẩm.Thương hiệu thường gắn liền với quyền sở hữu của nhà sản xuất và thường được uỷ quyền cho người đại diện thương mại chính thức Thương hiệu - theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí

Trang 26

tuệ thế giới (WIPO): là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức

Hệ thống phân phối: có rất nhiều khái niệm về hệ thống kênh phân phối Tuỳ theo những góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta có thể đưa ra nhữngkhái niệm khác nhau về kênh phân phối

1.1.3 Các cấu trúc cạnh tranh của thị trường

Dựa vào hình thái, tính chất của cạnh tranh trên thị trường, cấu trúc cạnh tranh được chia thành các loại chính:

a Độc quyền hoàn toàn

Thị trường độc quyền hoàn toàn chỉ có duy nhất một người bán Họ sản xuất ra một loại sản phẩm hoặc cung cấp một loại dịch vụ riêng biệt, không có sản phẩm khác thay thế tốt cho sản phẩm này Do là doanh nghiệp duy nhất cung cấp toàn bộ sản phẩm cho thị trường, với sức mạnh độc quyền quá lớn nên cạnh tranh về giá và phi giá là điều không cần thiết đối với doanh nghiệp độc quyền hoàn toàn Và những doanh nghiệp nào muốn gia nhập thị trường này cũng rất khó khăn và gần như không thể do bị những rào cản lớn như:

- Độc quyền do Chính phủ tạo ra: Trong nhiều trường hợp, các doanh nghiệp độc quyền hình thành do Chính phủ trao cho một cá nhân hoặc doanh nghiệp nào đó đặc quyền trong việc ma bán một hàng hóa hoặc cung cấp một dịch vụ nhất định

- Độc quyền về bằng phát minh sáng chế hoặc sở hữu nguồn lực then chốt: Độc quyền xuất hiện khi doanh nghiệp nào đó sở hữu một nguồn lực then chốt Tuy nhiên, cần chú ý các nền kinh tế trong thực tế thường rất lớn và ngày nay hàng hóa thường được trao đổi trên phạm vi quốc tế, nên qui mô tự nhiên của thị trường của các nguồn lực thường vô cùng rộng và nguồn lực thường được nhiều người sở hữu

Trang 27

- Độc quyền tự nhiên: Do có lợi thế về qui mô nên doanh nghiệp này

có chi phí trung bình thấp và từ đó tự nhiên hình thành rào cản lớn đối với các doanh nghiệp khác muốn tham gia vào thị trường Ví dụ tiêu biểu cho loại độc quyền này là dịch vụ vận chuyển hàng hóa và hành khách bằng xe lửa Để thực hiện dịch vụ này, doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống đường ray cho

cả quốc gia Nếu có nhiều doanh nghiệp tham gia thì mỗi doanh nghiệp phải xây dựng đường ray riêng và chi phí cố định trung bình rất lớn Do đó, chi chí trung bình cho mỗi người khách hoặc một đơn vị hàng hóa vận chuyển sẽ cao hơn nhiều so với một doanh nghiệp thực hiện

b Cạnh tranh hoàn hảo

Cạnh tranh hoàn hảo hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rất nhiều người bán, người mua nhỏ, không ai trong số họ đủ lớn để bằng hành động của mình ảnh hưởng đến giá cả dịch vụ Điều đó có nghĩa là không cần biết sản xuất được bao nhiêu, họ đều có để bán được tất cà sản phẩm của mình tại mức giá hiện hành Vì vậy, một hãng trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo không có lí do gì để bán rẻ hơn mức giá thị trường Hơn nữa, sẽ không tăng giá của mình cao lên hơn giá của thị trường vì nếu thế thì hãng cũng sẽ chẳng bán được gì Nhóm người tham gia vào thị trường này chỉ có cách là thích ứng với mức giá bởi vì cung cầu trên thị trường được tự do hình thành, giá cả theo thị trường quyết định, tức là ở mức số cầu thu hút được tất

cả số cung có thể cung cấp Đối với thị trường cạnh tranh hoàn hảo sẽ không

có hiện tượng cung cầu giả tạo, không bị hạn chế bởi biện pháp hành chính của nhà nước Vì vậy trong thị trường này giá cả thị trường sẽ dần tới mức chi phí sản xuất

c Cạnh tranh không hoàn hảo

Trên thực tế, thị trường độc quyền hoàn toàn và thị trường cạnh tranh hoàn không tồn tại mà chỉ có những thị trường trung gian, là sự kết hợp của 2

Trang 28

hình thái thị trường trên, gọi là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo Đây là loại hình cạnh tranh rất phổ biến trong giai đoạn hiện nay Cạnh tranh không hoàn hảo thể hiện ở hai mức độ:

- Cạnh tranh độc quyền:

Thị trường này có pha trộn giữa độc quyền và cạnh tranh nên gọi là thị trường cạnh tranh độc quyền, là cạnh tranh trên thị trường mà ở đó một số người bán một số sản phẩm thuần nhất hoặc nhiều người bán một loại sản phẩm không đồng nhất Đặc điểm của thị trường này là có nhiều người bán, cạnh tranh nhau để thu hút cùng một nhóm khách hàng; mỗi doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm có khác biệt so với sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác, nhưng những sản phẩm nãy cũng dễ dàng bị thay thế bởi các sản phẩm cùng loại do không có sự khác biệt quá lớn; các doanh nghiệp có thể tự

do gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường mà không có bất kì sự trở ngại nào Thị trường này không giống với thị trường cạnh tranh hoàn hảo ở chỗ các sản phẩm trên thị trường có sai biệt

- Độc quyền nhóm (độc quyền theo tập đoàn):

Khi đó thị trường chỉ có vài doanh nghiệp bán những sản phẩm đồng nhất (độc quyền tập đoàn thuần tuý) hoặc phân biệt (độc quyền tập đoàn phân biệt) Đặc điểm của độc quyền tập đoàn là chỉ có ít daonh nghiệp cạnh tranh trực tiếp, các doanh nghiệp phụ thuộc chặt chẽ, mỗi doanh nghiệp khi ra quyết định phải cân nhắc cẩn thận xem hành động của mình ảnh hưởng như thế nào tới đối thủ cạnh tranh và sẽ phải ứng xử như thế nào Các hãng đang ở trong thị trường có thể hành động chiến lược để ngăn chặn sự gia nhập của hãng mới Tính kinh tế theo qui mô làm cho nhiều hãng cùng tồn tại trong một thị trường là không có lợi Bằng phát minh sáng chế hoặc khả năng sử dụng công nghệ có thể loại trừ những đối thủ cạnh tranh tiềm năng

Trang 29

1.1.4 Các phương pháp phân tích cấu trúc cạnh tranh của ngành

a Phương pháp cơ cấu – hành vi – hiệu quả kinh doanh của ngành (Structure – Conduct – Performance paradigm – SCP)

Trong những năm 1930, một nhóm các nhà kinh tế bắt đầu phát triển một cách tiếp cận các mối quan hệ giữa môi trường hoạt động của một công

ty, hành vi của nó và hiệu suất Mục tiêu ban đầu của việc này là để mô tả các điều kiện mà theo đó, cạnh tranh hoàn hảo không thể phát triển được trong một ngành công nghiệp Hiểu mô hình này nhằm hỗ trợ cho quan điểm chính phủ nên tác động nhằm gia tăng sự cạnh tranh trong nền kinh tế Phương pháp

cơ cấu – hành vi – hiệu quả kinh doanh (SCP) lần đầu tiên được giới thiệu bởi Mason (1939) như một công cụ để thống kê hoạt động của các tổ chức và thị trường, mô tả sự tương quan đối ứng giữa các điều kiện cạnh tranh (cơ cấu thị trường) với chính sách hành vi của doanh nghiệp và lợi ích thu được từ thị trường (hiệu quả kinh doanh) Các mô hình SCP được coi là một trụ cột của

lý thuyết tổ chức công nghiệp và là lý thuyết khởi đầu cho sự phân tích thị trường và các ngành công nghiệp, không chỉ về kinh tế mà còn trong các lĩnh vực quản lý kinh doanh và kiểm soát Công trình nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh của M Porter cũng được dựa trên cơ sở là mô hình này

Quan điểm chủ đạo của phương pháp này là cấu trúc của thị trường quyết định hành vi của doanh nghiệp và tiếp theo đó, hành vi doanh nghiệp sẽ quyết định hiệu quả của doanh nghiệp Trong một ngành công nghiệp, các công ty có rất ít lựa chọn và phải đối mặt với rất nhiều khó khăn Cấu trúc của ngành công nghiệp hoàn toàn quyết định cả hành vi và hiệu suất hoạt động dài hạn của công ty

Các yếu tố chính của mô hình:

- Cơ cấu thị trường: những thiết lập của các biến tương đối ổn định theo thời gian và ảnh hưởng đến hành vi của người bán và / hoặc người mua

Trang 30

Cách thức mà thị trường không tuân theo các điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, phụ thuộc về cơ bản ở mức độ: nồng độ cung cấp, tập trung nhu cầu, sự phân biệt sản phẩm và các rào cản lối vào thị trường Ngoài ra, cấu trúc của thị trường sẽ luôn luôn được xác định bởi tính chất của sản phẩm và các công nghệ có sẵn

- Hành vi: Cách thức mà người mua và người bán cư xử với nhau và với đối phương Doanh nghiệp lựa chọn hành vi riêng của họ để vạch ra chiến lược, đầu tư nghiên cứu, phát triển, mức độ quảng cáo,…

- Hiệu suất: Nó được đo bằng só ánh các kết quả của các công ty cùng ngành về hiệu quả và các tỷ lệ được sử dụng để đánh giá mức độ lợi nhuận khác nhau Các biến được đánh giá như chất lượng sản phẩm, giá thành sản phẩm, hiệu quả sản xuất,…

Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các biến được đánh giá trong mô hình SCP

Các hành vi động của người mua và người bán có ảnh hưởng trên thị trường làm cho nó khó khăn hơn để dự đoán và thiết lập cơ cấu thị trường cố định Vì vậy, mô hình này gặp khó khăn trong thực tế sử dụng khi cố giải thích các biến do thiếu dữ liệu và sự mở rộng của thị trường Trên thực tế, vấn

Trang 31

đề chính khi sử dụng phương pháp này là khó khăn trong việc xác định các giới hạn và ranh giới một ngành công nghiệp nhất định

Dự báo chính của mô hình này là việc tập trung nguồn lực vào một hoặc một vài doanh nghiệp lớn trong ngành sẽ dẫn đến sự thông đồng, rào cản gia nhập tăng lên, làm biên độ giá chi phí của các công ty này cũng tăng Ngoài ra, mô hình này còn xem xét mối quan hệ giữ sự tập trung này với tỷ số giá/lợi nhuận, và sự ảnh hưởng của nó đến khả năng sử dụng vốn tối ưu của doanh nghiệp Mối quan hệ giữa sự tập trung nguồn lực và tỷ số giá/lợi nhuận thể hiện ở chỗ các doanh nghiệp chi phối (hơn một nửa thị phần và không có đối thủ tương đương) sẽ kiểm soát giá trên cơ sở nhu cầu riêng của ho và các đối thủ nhỏ hơn phải tuân theo Việc này còn dẫn đến một lý thuyết khác đó là

sự độc quyền nhóm, dựa trên hiệu quả của sự thông đồng giữa các doanh nghiệp chi phối trong ngành, cho dù là ngấm ngầm hay rõ ràng Tuy nhiên, độc quyền nhóm để làm giá cao lại không mang đến mức lợi nhuận cao hơn như mong đợi Lợi nhuận cao có thể biến mất vì sự dư thừa công suất hoặc do các chi phí khác mà các doanh nghiệp chi phối phải bỏ ra trong nỗ lực bảo vệ hoặc tăng thị phần của họ Như vậy, mô hình này chỉ ra việc đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành phải xem xét thông qua mối quan hệ giữa sự tập trung nguồn lực với giá chứ không phải thông qua lợi nhuận

b Phương pháp cấu trúc – hiệu quả (The efficient structure hypothesis – ESH)

Phương pháp cấu trúc – hiệu quả chỉ ra rằng các công ty hoạt động hiệu quả hơn trong thị trường sẽ cạnh tranh tốt hơn, phát triển và tăng trưởng nhanh về quy mô, do đó dẫn đến sự gia tăng mức độ tập trung của thị trường Phương pháp này cũng giả định rằng các công ty mà hoạt động hiệu quả và gia tăng quy mô lớn hơn như vậy sẽ đạt được lợi nhuận cao hơn và hoạt động

Trang 32

càng hiệu quả hơn do duy trì thị phần cao trong ngành Những doanh nghiệp lớn hơn trên thị trường có xu hướng hoạt động mạnh mẽ và có hiệu quả hơn

và dẫn đến sự tăng trường trong quy mô của những doanh nghiệp đó Những hành vi này cho phép các doanh nghiệp lớn trên thị trường cho phép họ kiếm được lợi nhuận cao hơn và ngày càng mở rộng thị phần của mình Những công ty đó có thể tối đa hóa lợi nhuận bằng cách duy trì mức giá và năng lực hiện tại hoặc giảm giá và mở rộng quy mô doanh nghiệp theo nhu cầu của họ

Mô hình này chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa lợi nhuận đạt được và sự giảm chi phí nhờ vào nâng cao trình độ quản lý cấp cao và cải tiến quy trình sản xuất Nguyên nhân là do các doanh nghiệp lớn hơn có ưu thế về thương hiệu, công nghệ và quy mô nên mang lại hiệu quả kinh doanh lớn hơn so với các doanh nghiệp nhỏ Những doanh nghiệp lớn hơn và nắm quyền kiểm soát

có thể tối đa hóa lợi nhuận bằng cách duy trì mức giá cả hiện tại và quy mô của doanh nghiệp hoặc giảm giá và mở rộng quy mô kinh doanh Theo đó, ESH nói rằng mối quan hệ tích cực giữa lợi nhuận và sự tập trung của thị trường thể hiện ở sự giảm chi phí thông qua việc quản lý và quy trình sản xuất hiệu quả của các doanh nghiệp lớn trong thị trường Sự khác biệt về hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong thị trường ngày càng tạo ra mức độ tập trung nguồn lực cao hơn Tỷ lệ tập trung cao trong thị trường này giúp thị trường hoạt động tốt hơn việc phân chia đều nguồn lực

Tuy nhiên, lý thuyết này cũng chỉ ra, khi một thị trường hoạt động ở mức độ tập trung cao, thì các doanh nghiệp nắm quyền kiểm soát trong thị trường đó sẽ gặp một số vấn đề: Những nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định tài chính rủi ro hơn để giảm sự thay đổi trong thu nhập và bảo vệ vị trí của họ, các nhà quản lý doanh nghiệp có thể thiết lập các mức giá vượt quá mức độ cạnh tranh với một áp lực thấp hơn để duy trì chi phí hoạt động, các chi phí chính trị có thể tăng để duy trì vị thế hiện tại, việc thực thi các quyết

Trang 33

định không hiệu quả của các nhà quản lý hoặc giữ lại các nhà quản lý yếu kém để duy trì một môi trường yên tĩnh và bảo đảm sức mạnh thị trường

Do đó, mô hình kết luận mức độ tập trung thị trường càng cao thì thị trường càng hoạt động hiệu quả Phương pháp này chỉ ra sự khác biệt trong các cấu trúc hoạt động của từng công ty mang lại hiệu quả cạnh tranh khác nhau trong một ngành

c Phương pháp phân tích kỹ thuật sử dụng chỉ số H của Panzar – Rosse (1987)

Mô hình kinh tế lượng của thống kê Panzar và Rosse (1987) là phương pháp phân tích kỹ thuật đầu tiên được đưa ra dựa trên các lý thuyết mới về doanh nghiệp và áp dụng phổ biến nhất cho ngành ngân hàng Mô hình đưa ra cách đo lường sức mạnh thị trường và khả năng cạnh tranh trong cùng một ngành, dựa vào biểu thức mối quan hệ giữa thu nhập với vector các biến chi phí đầu vào là giá các yếu tố sản xuất và các biến điều khiển khác

Để đo lường năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp ngân hàng, Panzar và Rosse (1987) sử dụng Hệ số canh tranh H Mô hình dựa trên ý tưởng rằng các ngân hàng sử dụng các chiến lược kinh doanh khác nhau dựa trên giá cả, để đáp ứng những thanh đổi của chi phí đầu vào trong phạm vi thị trường mà họ hoạt động Mô hình được khái quát bởi phương trình sau:

Trang 34

Nghiên cứu đã xác định hệ số cạnh tranh H là tổng của độ co giãn của các chi phí đầu vào trong mối quan hệ với độ co giãn của doanh thu được xác định trong mô hình Vì vậy, đưa ra chỉ số H được xác định là tổng hệ số hồi quy của tổng thu nhập với chi phí đầu vào:

Khi chỉ số H là âm hoặc bằng 0 thì cấu trúc cạnh tranh của thị trường là độc quyền Trong trường hợp độc quyền thì khi tăng giá đầu vào sẽ làm tăng chi phí cận biên, giảm sản lượng cân bằng dẫn đến giảm tổng thu nhập Khi

H = 1 được coi là cạnh tranh hoàn hảo, khi gia tăng bất kỳ một yếu tố đầu vào nào cũng sẽ làm tăng doanh thu tương ứng Cuối cùng, nếu cấu trúc thị trường được đặc trưng bởi cạnh tranh độc quyền thì doanh thu sẽ tăng ít hơn tỷ lệ tăng của chi phí đầu vào Giá trị của chỉ số H nằm trong khoảng 0 < H < 1 thể hiện các mức độ cạnh tranh khác nhau, giá trị của H càng cao chứng tỏ sự cạnh tranh càng mạnh mẽ hơn so với giá trị thấp

Hai phương pháp tiếp cận cạnh tranh ESH và SCP có nhược điểm khi phân tích sự cạnh tranh trong ngành ngân hàng, đó là ước lượng cạnh tranh bằng cách ước lượng độ lệch từ giá cả cạnh tranh Hai phương pháp này chỉ đánh giá hiệu quả kinh doanh của công ty từ dự đoán ba phương trình nhu cầu, cung cấp và giá cả

Những thiếu sót của các phương pháp SCP và ESH được khắc phục trong phương pháp này Đây cũng là phương pháp được sử dụng nhiều nhất

để xác định bản chất của cấu trúc cạnh tranh cũng như khả năng cạnh tranh của các ngân hàng trong thị trường Chỉ số H cung cấp một đánh giá định lượng về cấu trúc cạnh tranh của thị trường, đưa ra một cái nhìn tổng thể về các đối thủ cạnh tranh hiện hành trên thị trường

Vì vậy, sau khi tìm hiểu ưu điểm, nhược điểm của cả ba phương pháp, đề

Trang 35

tài quyết định sử dụng phương pháp phân tích kỹ thuật sử dụng chỉ số H của Panzar – Rosse (1987) để phân tích cấu trúc cạnh tranh và xác định ảnh hưởng của sở hữu nhà nước đến khả năng cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam

1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA SỞ HỮU NHÀ NƯỚC ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1 Khái niệm về sở hữu nhà nước trong ngân hàng thương mại

Sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật Việt Nam là hình thức sở hữu mà Nhà nước là người đại diện cho nhân dân quản lý, nắm giữ tư liệu sản xuất, là chủ sở hữu đối với tài sản quy định tại điều 53, Hiến pháp 2013: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”

Hiện nay, tại Việt Nam chưa có một định nghĩa thống nhất nào về các doanh nghiệp có sở hữu nhà nước Trên thế giới, vấn đề định nghĩa về State Ownership Enterprise (Doanh nghiệp sở hữu nhà nước – SOEs) cũng không được phổ biến rộng rãi Trong nghiên cứu thường niên của Hội đồng Cạnh tranh Monaco (2014) về mối quan hệ giữa Doanh nghiệp sở hữu nhà nước và

sự cạnh tranh đã chỉ ra một vài định nghĩa về SOEs được một số quốc gia đưa

ra Tại khu vực Liên minh châu Âu, SOEs được định nghĩa là một doanh nghiệp nằm dưới sự kiểm soát của cơ quan công quyền một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, nắm quyền chi phối về quyền sở hữu, tham gia vào hoạt động tài chính hoặc đưa ra các quy tắc chi phối doanh nghiệp đó Quyền chi phối này thể hiện ở việc nhà nước nắm giữ phần quan trọng trong vốn điều lệ của doanh nghiệp, hoặc nắm một lượng cổ phần chi phối hoặc có thể chỉ định nhiều hơn một nửa số thành viên của Hội đồng quản trị doanh nghiệp Quyền chi phối này thể hiện ở việc nhà nước nắm giữ phần quan trọng trong vốn

Trang 36

điều lệ của doanh nghiệp, hoặc nắm một lượng cổ phần chi phối hoặc có thể chỉ định nhiều hơn một nửa số thành viên của Hội đồng quản trị doanh nghiệp Pháp luật Tây Ban Nha quy định về doanh nghiệp nhà nước theo hai trường hợp: hoặc là doanh nghiệp mà trong đó Nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia đóng góp vốn vượt 50% tổng số vốn nhưng không thực hiện bất

kì quyền hạn về hành chính nào, hoặc là doanh nghiệp mà Nhà nước tuy không góp vốn nhưng nắm quyền chi phối bằng cách chỉ định Ban lãnh đạo của doanh nghiệp Ở Morocco, Doanh nghiệp nhà nước được định nghĩa là doanh nghiệp

có 100% nguồn vốn chủ sở hữu thuộc nhà nước Ngoài ra, còn có các doanh nghiệp công cộng là những doanh nghiệp có ít nhất 50% vốn đầu tư của Nhà nước hoặc ít nhất 50% nguồn vốn chủ sở hữu thuộc Nhà nước

Nền kinh tế Việt Nam tồn tại nhiều loại hình doanh nghiệp Theo các thông lệ định nghĩa trên thế giới, có thể xác định thuật ngữ sở hữu nhà nước được dùng cho các doanh nghiệp sau: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là Nhà nước, công ty cổ phần có cổ phần chi phối của nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có phần vốn góp chi phối của Nhà nước, tổng công ty nhà nước, tập đoàn kinh tế nhà nước

Nói về vấn đề sở hữu nhà nước trong ngân hàng thương mại tại Việt Nam, hiện nay, cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền sở hữu vốn Nhà nước của NHNN tại các NHTM được quy định tại khoản 10, Điều 4 Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 là NHNN có nhiệm vụ, quyền hạn “Thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng có vốn Nhà nước theo quy định của pháp luật; được sử dụng vốn pháp định để góp vốn thành lập doanh nghiệp đặc thù nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.”

Vì ở Việt Nam hiện nay không có một quy định cụ thể về sở hữu nhà

Trang 37

nước trong NHTM nên đề tài tiếp cận từ quan điểm của châu Âu về sở hữu nhà nước trong doanh nghiệp, xác định các NHTM có sở hữu nhà nước là những NHTM có cổ phần chi phối được nhà nước nắm giữ

1.2.2 Tác động của sở hữu nhà nước đến ngân hàng thương mại

Trong tài liệu “Thất bại của chính phủ trong khu vực tài chính” của Ngân hàng Thế giới đã chỉ ra rằng, việc nhà nước sở hữu hay khống chế quá nhiều hệ thống ngân hàng (thương mại) ở các nước đang phát triển sẽ làm cho

hệ thống tài chính kém phát triển và không thực hiện tốt chức năng của mình,

từ đó làm giảm tăng trưởng Tuy nhiên, kinh nghiệm một số nước cũng cho thấy việc tư nhân hóa một cách ồ ạt các các ngân hàng, trong khi các thể chế cần thiết còn yếu kém, có thể làm gia tăng gánh nặng ngân sách và nguy cơ khủng hoảng Giữa hai quan điểm trên, vấn đề là xác định được sự cân bằng trong mỗi giai đoạn phát triển

Cũng như sự có mặt của Nhà nước tại các lĩnh vực khác, Nhà nước can thiệp vào HTNH do sự thất bại của thị trường, thể hiện ở các mặt sau:

Thứ nhất, khi thể chế yếu kém và có tình trạng thông tin bất cân xứng (điều này luôn xảy ra, nhất là tại các thị trường tài chính đang phát triển), Chính phủ có thể phân bổ nguồn vốn hiệu quả cao hơn tư nhân Trong một nền kinh tế với thể chế (nhất là thể chế tài chính) yếu kém, các ngân hàng tư nhân sẽ không thể khắc phục được những thiếu sót về thông tin và việc ký kết hợp đồng, và nếu có khắc phục được cũng mất nhiều thời gian và tiền của (chi phí giao dịch cao)

Thứ hai, vấn đề độc quyền Người ta quan ngại rằng, thông qua sở hữu

tư nhân, việc tích tụ tư bản quá mức trong tay một số ngân hàng lớn với vị thế siêu quyền lực (độc quyền) có thể hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng của nhiều bộ phận trong xã hội

Thứ ba, ngoại tác tiêu cực Do lạm dụng và các vướng mắc trong quản

Trang 38

trị nội bộ của các ngân hàng tư nhân sẽ làm cho các ngân hàng này dễ bị sụp

đổ, dẫn tới khủng hoảng tài chính

Thứ tư, chính phủ thông qua các NHTM có sở hữu nhà nước tài trợ các khoản thâm hụt ngân sách và chính phủ thường phải nắm quyền sở hữu các ngân hàng khi xảy ra khủng hoảng tài chính

Tuy nhiên, vấn đề thường nhận thấy là tỷ lệ sở hữu nhà nước trong HTNH tại nhiều nước, nhất là các nước phát triển, thấp hơn đáng kể so với

sở hữu tư nhân Vậy nên hay không nên tồn tại sở hữu nhà nước trong HTNN, và sự tồn tại ấy có giúp ích gì cho sự cạnh tranh giữa các ngân hàng – một động lực cho phát triển Theo tổng kết của Ngân hàng thế giới, sở hữu nhà nước trong các ngân hàng có khuynh hướng: làm giảm phát triển tài chính, giảm cạnh tranh, hạn chế tiếp cận tín dụng, nguy cơ khủng hoảng cao, gây xung đột giữa lợi ích và động cơ Tuy nhiên, sở hữu nhà nước không phải lúc nào cũng tác động không tốt đối với tăng trưởng

Những quan điểm ủng hộ sở hữu nhà nước cho rằng: do sự yếu kém của các tổ chức và thông tin bất cân xứng nghiêm trọng, sẽ xảy ra “thất bại thị trường” Do vậy, chính phủ có thể phân bổ vốn hiệu quả hơn tư nhân, đặc biệt tại các nước đang phát triển Lý do thứ hai, nếu tư nhân sở hữu ngân hàng thì

có thể dẫn đến độc quyền, hạn chế khả năng tiếp cận vốn cho các hoạt động trong nền kinh tế Lý do thứ ba, tư nhân hóa ồ ạt các ngân hàng có thể xảy ra ngoại tác tiêu cực: do tổ chức tư nhân có nguy cơ bị sụp đổ cao hơn, dễ dẫn đến khủng hoảng tài chính

Những người mang quan điểm không ủng hộ cũng có lập luận của mình: các ngân hàng do nhà nước sở hữu dễ bị chi phối bởi các yếu tố chính trị và áp lực của các nhóm lợi ích, dẫn đến kết quả chệch hướng khỏi mục tiêu

đề ra Hơn thế, khu vực nhà nước không có động cơ mạnh mẽ để phân phối vốn hiệu quả, những người nắm giữ trọng trách thường bị thúc đẩy bởi việc

Trang 39

tranh giành vị trí trong chính trị và đưa ra những quyết định có lợi cho những người ủng hộ mình, động cơ đó mâu thuẫn với mục tiêu phân bổ nguồn lực của ngân hàng Mâu thuẫn giữa chức năng sở hữu kinh doanh tiền tệ và quản

lý tiền tệ có thể xảy ra Do một bộ phận của chính phủ thực hiện chức năng kinh doanh, nhưng lại có bộ phận chịu trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, làm cho hoạt động giám sát của nhà nước trở nên yếu đi Bên cạnh đó, sở hữu nhà nước dễ nảy sinh lạm dụng quyền lực, nguồn gốc của nạn tham nhũng, quan liêu, làm phát sinh nhiều thủ tục rườm rà, tăng chi phí giao dịch

Theo Andrei Shleifer (1998), sở hữu tư nhân nên được ủng hộ hơn so với sở hữu nhà nước Ông bác bỏ ý kiến cho rằng cần phải có sở hữu nhà nước để giải quyết các vấn đề xã hội khi mà các doanh nghiệp tư nhân không quan tâm đến vấn đề này Bởi vì nhà nước có thể thông qua các quy định và cam kết của chính phủ để điều chỉnh mà không cần phải dùng đến quyền sở hữu của mình

Như vậy, nhà nước cần đảm bảo vừa thực hiện hiệu quả quyền của cổ đông trong các ngân hàng này để quyết định các vấn đề quan trọng như bổ nhiệm cán bộ quản lý chủ chốt, quyết định chiến lược kinh doanh mà không can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đồng thời thực hiện nhiệm vụ của cơ quan quản lý Nhà nước là giám sát để bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước và đảm bảo các ngân hàng hoạt động theo quy định của pháp luật hiện hành

1.3 MÔ HÌNH CHỈ SỐ H CỦA PANZAR – ROSSE (1987) VỀ ĐO LƯỜNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH

1.3.1 Mô hình chỉ số H của Panzar – Rosse (1987)

Mô hình kinh tế lượng của Panzar và Rosse (1987) là phương pháp phân tích kỹ thuật đầu tiên được đưa ra dựa trên các lý thuyết mới về doanh nghiệp và áp dụng phổ biến nhất cho ngành ngân hàng Mô hình đưa ra cách

Trang 40

đo lường sức mạnh thị trường và khả năng cạnh tranh trong cùng một ngành, dựa vào biểu thức mối quan hệ giữa thu nhập với vector các biến đầu vào là chi phí của các yếu tố sản xuất và các biến điều khiển đặc trưng của ngành

Mô hình dựa trên ý tưởng rằng các ngân hàng sử dụng các chiến lược kinh doanh khác nhau dựa trên giá cả, để đáp ứng những thay đổi của chi phí đầu vào trong phạm vi thị trường mà họ hoạt động Mô hình được khái quát bởi phương trình sau:

Khi chỉ số H là âm hoặc bằng 0 thì cấu trúc cạnh tranh của thị trường là độc quyền Trong trường hợp độc quyền thì khi tăng giá đầu vào sẽ làm tăng chi phí cận biên, giảm sản lượng cân bằng dẫn đến giảm tổng thu nhập Khi H

= 1 được coi là cạnh tranh hoàn hảo, khi gia tăng bất kỳ một yếu tố đầu vào

Ngày đăng: 28/11/2017, 11:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Dương Đức Chính (2013), “Pháp luật điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước - Thực trạng và một vài kiến nghị”, Tạp chí dân chủ pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Pháp luật điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước - Thực trạng và một vài kiến nghị”
Tác giả: Dương Đức Chính
Năm: 2013
[2] Phạm Minh Chính, Vương Quân Hoàng (2009), Kinh tế Việt Nam thăng trầm và đột phá, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam thăng trầm và đột phá
Tác giả: Phạm Minh Chính, Vương Quân Hoàng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
[3] Trần Minh Đạo (2010), Sở hữu nhà nước, kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay, lấy từ trang web http://thongtinphapluatdansu.edu.vn, ngày lấy 10/06/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở hữu nhà nước, kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Trần Minh Đạo
Năm: 2010
[4] Viên Thế Giang (2014), “Quản lý Nhà nước đối với hoạt động Ngân hàng hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 7/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước đối với hoạt động Ngân hàng hiện nay”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Viên Thế Giang
Năm: 2014
[5] Nguyễn Đứu Mậu và Nguyễn Xuân Thành (2012), Cấu trúc sở hữu trong khu vực NHTM Việt Nam, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fullbright Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc sở hữu trong khu vực NHTM Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đứu Mậu và Nguyễn Xuân Thành
Năm: 2012
[6] Nguyễn Hồng Nga (2007), “Sở hữu nhà nước trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Ngân hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở hữu nhà nước trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Nguyễn Hồng Nga
Năm: 2007
[8] Nguyễn Trọng Tài (2008), “Cạnh tranh của các NHTM nhìn từ góc độ lý luận và thực tiễn tại Việt Nam”, Tạp chí Ngân hàng số 3/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cạnh tranh của các NHTM nhìn từ góc độ lý luận và thực tiễn tại Việt Nam”, "Tạp chí Ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Trọng Tài
Năm: 2008
[9] Lê Hải Trung (2014), “Mức độ tập trung và cạnh tranh thị trường tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam”, Tạp chí Công nghệ ngân hàng số 23/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mức độ tập trung và cạnh tranh thị trường tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam”, "Tạp chí Công nghệ ngân hàng
Tác giả: Lê Hải Trung
Năm: 2014
[10] Andrei Shleifer (1998), “State versus Private Ownership”, National Bureau of Economic Resesearch Working paper No.6665, July 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: State versus Private Ownership”, "National Bureau of Economic Resesearch Working
Tác giả: Andrei Shleifer
Năm: 1998
[7] Vũ Văn Phúc (2014), Sở hữu nhà nước và vai trò chủ đạo của kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy từ trang web https://luatminhkhue.vn, ngày lấy 11/06/2015 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w