1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Phân tích rủi ro tài chính của các doanh nghiệp ngành chế biến lương thực thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

122 465 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả đã phân tích rủi ro tài chính thông qua các chỉ tiêu như: độ biến thiên của ROE, thông qua đòn bẩy tài chính, thông qua khả năng thanh toán, thông qua độ nhạy cảm với lãi suất, b

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

-

PHẠM QUANG TUẤN

PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA

CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC THỰC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đà Nẵng – Năm 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

-

PHẠM QUANG TUẤN

PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA

CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC THỰC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: KẾ TOÁN

Mã số: 60.34.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐƯỜNG NGUYỄN HƯNG

Đà Nẵng – Năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận văn

PHẠM QUANG TUẤN

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBLTTP Chế biến lương thực thực phẩm

TTCK Thị trường chứng khoán

BCTC Báo cáo tài chính

HOSE Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

SGDCK Sở giao dịch chứng khoán

PSSSTĐ Phương sai sai số thay đổi

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục đề tài 4

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 12

1.1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO CỦA DOANH NGHIỆP 12

1.1.1 Khái quát chung về rủi ro 12

1.1.2 Nguyên nhân gây nên rủi ro 13

1.2 PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 16

1.2.1 Các quan điểm về phân tích rủi ro tài chính của doanh nghiệp 16

1.2.2 Ý nghĩa của nhận diện rủi ro tài chính trong doanh nghiệp 19

1.3 CÁC CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 20

1.3.1 Phân tích qua độ biến thiên 20

1.3.2 Phân tích qua các chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán 23

1.3.3 Phân tích qua các chỉ tiêu đòn bẩy tài chính và khả năng trả nợ lãi vay 25

1.4 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẾN RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 26

1.4.1 Ảnh hưởng của các yếu tố đến sự biến thiên khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp 26

1.4.2 Ảnh hưởng của các yếu tố đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp 31

Trang 6

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36 CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC THỰC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 37

2.1 GIỚI THIỆU VỀ NGÀNH CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC THỰC PHẨM VIỆT NAM 37 2.1.1 Tổng quan chung về ngành chế biến lương thực thực phẩm Việt Nam 37 2.1.2 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành chế biến lương thực thực phẩm giai đoạn 2010-2014 38 2.2 PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC THỰC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 41 2.2.1 Phân tích tình hình sử dụng nợ của các doanh nghiệp ngành chế biến lương thực thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 41 2.2.2 Phân tích rủi ro tài chính của các doanh nghiệp ngành chế biến lương thực thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 44

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 51 CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC THỰC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 52

3.1 ĐO LƯỜNG RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC THỰC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 52 3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 53 3.2.1 Các giả thuyết nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến sự biến thiên khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu 53 3.2.2 Các giả thuyết nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến khả năng thanh toán 56

Trang 7

3.2.3 Mô hình nghiên cứu 59

3.2.4 Mô tả các biến trong mô hình 60

3.2.5 Chọn mẫu và thu thập dữ liệu 61

3.2.6 Phương pháp nghiên cứu 62

3.3 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 64

3.3.1 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến sự biến thiên khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu 64

3.3.2 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán 71

3.4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG CỦA MÔ HÌNH 79

3.4.1 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến sự biến thiên khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu 80

3.4.2 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán 81

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 85

CHƯƠNG 4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÀI CHÍNH 86

4.1 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGÀNH CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC THỰC PHẨM VIỆT NAM 86

4.1.1 Xây dựng cơ cấu nguồn vốn hợp lý 86

4.1.2 Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản 87

4.1.3 Tăng cường quản lý chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh 87

4.2 GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC VÀ CƠ QUAN CHỨC NĂNG 88

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 90

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất của ngành chế biến lương thực

48

Bảng 3.1 Mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến sự biến thiên khả

Bảng 3.2 Mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán 61

Bảng 3.5 Kết quả hồi quy độ lệch chuẩn ROE với các biến độc

Bảng 3.6 Kết quả hồi quy biến hệ số biến thiên ROE sau khi bỏ

Bảng 3.10 Kết quả hồi quy theo phương pháp FGLS 70

Trang 9

Bảng 3.11 Kết quả kiểm định White sau khi dùng phương pháp

Bảng 3.13 Mô tả ma trận tương quan các biến 72

Bảng 3.14 Kết quả hồi quy hệ số khả năng thanh toán hiện hành

Bảng 3.15 Kết quả hồi quy hệ số khả năng thanh toán hiện hành

Bảng 3.17 Kết quả hồi quy hệ số khả năng thanh toán hiện hành

với các biến độc lập theo REM sau khi bỏ biến thừa 75

Bảng 3.21 Kết quả phân tích thực nghiệm sự ảnh hưởng của các

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu ngành chế biến lương thực thực phẩm 38 Hình 2.2 Biến thiên của các chỉ tiêu liên quan đến ROE 45 Hình 2.3 Biến thiên ROE và các chỉ tiêu liên quan có ĐBTC < 1 46 Hình 2.4 Biến thiên ROE và các chỉ tiêu liên quan có ĐBTC > 1 47 Hình 2.5 Biến động các hệ số khả năng thanh toán 49

Hình 3.1 Mô hình đề xuất đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự

biến thiên khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu 59

Hình 3.2 Mô hình đề xuất đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến

Hình 3.3 Biểu đồ tần số Histogram của phần dư 67 Hình 3.4

Biểu đồ tần số Histogram khảo sát phân phối chuẩn của phần dư (đối với mô hình hệ số khả năng thanh toán hiện hành)

76

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập vào sân chơi chung của toàn cầu như hiện nay, đặt ra những cơ hội cũng như thách thức đan xen lẫn nhau, chịu tác động của sự cạnh tranh và hội nhập của nền kinh tế thị trường, cho nên các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro Vì vậy

mà vấn đề phân tích rủi ro của doanh nghiệp đã trở thành vấn đề thu hút được

sự quan tâm của mọi người và ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Đặc biệt, trong giai đoạn vừa qua nền kinh tế Việt Nam có sự biến động

to lớn về nhiều mặt ảnh hưởng đến đa số ngành nghề kinh doanh, trong đó có ngành chế biến lương thực thực phẩm Đi từ suy thoái kinh tế nặng nề năm

2008, 2009 khi cuộc khủng hoảng kinh tế và lạm phát xảy ra, cho đến khi nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi trở lại Theo nhận định của Bộ Công Thương, giai đoạn 2006 – 2010 đã ghi nhận được nỗ lực của ngành công nghiệp trong việc chuyển dịch cơ cấu toàn ngành với cán cân nghiêng về công nghiệp chế biến Năm 2010 tỷ trọng công nghiệp chế biến chiếm hơn 80% trong tổng giá trị sản xuất của ngành và cơ cấu hàng xuất khẩu cũng tăng hàm lượng chế biến lên 40% so với năm 2009 Sang giai đoạn 2011-2015 công nghiệp chế biến vẫn sẽ là điểm nhấn trong kế hoạch phát triển của ngành, với mục tiêu tăng trưởng bình quân của nhóm ngành công nghiệp chế biến đạt 9,88% và tiếp tục phát triển theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu

Bên cạnh đó, với vấn đề thu hút FDI thì ngành chế biến lương thực thực phẩm được xem là ngành thu hút vốn FDI nhiều nhất và chiếm tỷ lệ đáng kể sản lượng đầu ra của ngành công nghiệp nói chung và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) nói riêng, hằng năm luôn chiếm khoảng 15% GDP Do đó, ngành chế biến lương thực thực phẩm được xem là một ngành công nghiệp trọng điểm

Trang 12

của đất nước Bên cạnh những sự phát triển đó, các doanh nghiệp ngành chế biến lương thực thực phẩm luôn phải đối đầu với những khó khăn và rủi ro khó lường trước từ bản thân doanh nghiệp hay môi trường kinh doanh như: giá nguyên vật liệu chủ yếu phụ thuộc nhập khẩu, nhu cầu tiêu dùng không ổn định, yêu cầu về chất lượng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Những điều

đó đã gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp trong ngành từ doanh nghiệp lớn cho đến những doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trong điều kiện các doanh nghiệp phải đối mặt ngày càng nhiều với rủi

ro, bên cạnh việc phân tích hiệu quả để có thể xem xét, đánh giá một cách đầy

đủ, chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp thì việc đo lường phân tích các rủi ro để hạn chế tổn thất và phát huy hiệu quả được thế mạnh của ngành

là vấn đề cần được quan tâm và cần thiết hiện nay Với ý nghĩa quan trọng của việc phân tích rủi ro của doanh nghiệp và xuất phát từ thực tế như trên, tôi

đã chọn đề tài “Phân tích rủi ro tài chính của các doanh nghiệp ngành chế

biến lương thực thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu hướng đến ba mục tiêu chính:

Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản nhất về rủi ro tài

chính và những yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính của các doanh nghiệp ngành chế biến lương thực thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Thứ hai, phân tích, đánh giá và xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng

đến rủi ro tài chính của các doanh nghiệp ngành chế biến lương thực thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Thứ ba, dựa trên các kết quả nghiên cứu để đưa ra một số giải pháp

nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tài chính của các doanh nghiệp ngành chế biến lương thực thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 13

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những yếu tố

ảnh hưởng đến rủi ro tài chính của các doanh nghiệp ngành chế biến lương thực thực phẩm

Phạm vi nghiên cứu: Các doanh nghiệp ngành chế biến lương thực thực

phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập thông tin:

Trên cơ sở các báo cáo tài chính đã được kiểm toán từ năm 2010 – 2014 của 51 doanh nghiệp ngành chế biến lương thực thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, tác giả sẽ thu thập số liệu của các chỉ tiêu cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu Các số liệu này được thu thập chủ yếu từ

website của Công ty chứng khoán Bảo Việt bvsc.com.vn, website của Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh www.hsx.vn và của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội www.hnx.vn

Trang 14

ro tài chính của các doanh nghiệp ngành chế biến lương thực thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chương 4: Một số kiến nghị nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tài

chính

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Nhiều tác giả trong và ngoài nước đã xuất bản các giáo trình, tài liệu có liên quan đến rủi ro tài chính của doanh nghiệp Trong đó, các tác giả đã đề cập đến những quan điểm khác nhau về khái niệm rủi ro tài chính doanh nghiệp, việc phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính Bên cạnh các giáo trình, tài liệu nghiên cứu liên quan đến rủi ro tài chính, cho đến nay thì đề tài nghiên cứu của các tác giả về phân tích rủi ro tài chính, đặc biệt

là đề tài phân tích rủi ro tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam vẫn chưa đề cập nhiều Sau đây là một số

đề tài nghiên cứu và bài báo có liên quan đến chủ đề của đề tài mà tác giả đã tìm hiểu

Đề tài: “Rủi ro tài chính đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu Việt

Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế và các biện pháp phòng ngừa” của tác giả

Nguyễn Thanh Tâm (2008) có nội dung như sau:

Tác giả tập trung vào việc tổng hợp các vấn đề lý luận về phân tích rủi ro trong doanh nghiệp, dựa trên những cơ sở lý thuyết về rủi ro để nhận diện các

Trang 15

loại rủi ro ảnh hưởng đến doanh nghiệp xuất nhập khẩu như: rủi ro về giá cả, hối đoái, lãi suất, rủi ro từ các hoạt động và giao dịch hợp đồng, đàm phán với đối tác kinh doanh Từ những thực trạng rủi ro tài chính của doanh nghiệp, tác giả đã đưa ra các dự báo, các giải pháp trong công tác quản trị rủi ro cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu như: xây dựng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn thống nhất đối với rủi ro tài chính, cải thiện cơ chế xây dựng chính sách phù hợp với thực tiễn, định hướng phát triển đa dạng và phát triển các kênh huy động vốn

Đề tài: “Quản trị rủi ro tài chính các doanh nghiệp ngành thuốc bảo vệ

thực vật” của tác giả Phan Văn Tròn (2011) có nội dung như sau:

Tác giả mới chỉ dừng lại ở phân tích và đánh giá thực trạng rủi ro tài chính thông qua các biến lãi suất, giá cả, hối đoái, rủi ro từ các đối tác giao dịch bằng cách dùng phương pháp nghiên cứu định tính với việc phỏng vấn sâu cán bộ quản trị doanh nghiệp ngành thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam

Từ đó đưa ra một số kiến nghị với mục đích nâng cao quản trị rủi ro tài chính đối với doanh nghiệp và Nhà nước Đề tài của tác giả chỉ đi sâu vào công tác quản trị rủi ro tài chính, chứ cũng chưa đi vào phân tích và xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính của ngành thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam

Đề tài:“Phân tích rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính tại Công ty cổ

phần Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hải Yến

(2011) có nội dung như sau:

Tác giả đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính của doanh nghiệp Tác giả đã đi phân tích rủi ro kinh doanh thông qua các chỉ tiêu như: đòn bẩy kinh doanh, mức

độ phân phối giữa chi phí biến đổi và chi phí cố định, phương sai, độ lêch chuẩn, hệ số biến thiên và các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro kinh doanh như:

Trang 16

sự biến đổi nhu cầu thị trường, sự biến đổi giá bán, sự biến đổi giá cả và các yếu tố đầu vào, khả năng thay đổi giá bán khi có sự thay đổi của giá đầu vào Tác giả đã phân tích rủi ro tài chính thông qua các chỉ tiêu như: độ biến thiên của ROE, thông qua đòn bẩy tài chính, thông qua khả năng thanh toán, thông qua độ nhạy cảm với lãi suất, biến động giá cả và tỷ giá và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính như: rủi ro kinh doanh, tỷ lệ nợ, lãi suất, tỷ giá, giá cả Từ đó, tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm kiểm soát các rủi ro của công ty như: lựa chọn chính sách phù hợp để giảm bớt tỷ lệ nợ, phát hành thêm cổ phiếu, huy động vốn trong nội bộ của công ty, hạn chế sự biến động của chi phí lãi vay, sử dụng hiệu quả nguồn vốn của công ty, các giải pháp nhằm giảm rủi ro về tỷ giá hối đoái

Đề tài:”Phân tích rủi ro tài chính và rủi ro phá sản của các doanh

nghiệp thuộc nhóm ngành nhựa – bao bì niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Lê Thị Mỹ Dung (2013) có nội dung như sau:

Tác giả đã tổng hợp các vấn đề lý luận về phân tích rủi ro tài chính và rủi

ro phá sản Dựa trên những cơ sở lý luận của mình, tác giả chỉ dừng lại ở mức

độ căn bản về việc tính các chỉ tiêu tài chính có liên quan đến rủi ro tài chính

và rủi ro phá sản, chứ chưa đi sâu vào phân tích các nhân tố ảnh hưởng Theo

đó, tác giả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính dựa trên cơ sở suy luận từ cách thức đo lường chỉ tiêu ROE, các mối quan hệ giữa ROE với các yếu tố có liên quan trong quá trính quản lý, quá trình sử dụng vốn của doanh nghiệp

Cụ thể, phân tích rủi ro tài chính thông qua chỉ tiêu sự biến thiên khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu của 22 doanh nghiệp ngành nhựa – bao bì niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, với việc phân chia doanh nghiệp ra thành hai nhóm dựa vào đòn bẩy tài chính và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến thiên khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu như: quy mô doanh

Trang 17

nghiệp, mức độ đầu tư vào tài sản dài hạn, mức độ vay vốn, tốc độ tăng trưởng của tài sản, mức độ hiệu quả của hoạt động kinh doanh

Đối với việc phân tích rủi ro phá sản tác giả tập trung đánh giá về rủi ro mất khả năng thanh toán ngắn hạn, dài hạn và sử dụng mô hình chỉ số Z-score

để đánh giá rủi ro phá sản của doanh nghiệp Từ những phân tích về rủi ro tài chính và rủi ro phá sản, tác giả đã đưa ra các biện pháp như: kiểm soát tốc độ tăng trưởng tài sản, lập quỹ dự phòng tài chính, xác định cơ cấu vốn hợp lý để đối phó với rủi ro tài chính Các biện pháp như: quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản, quản lý và sắp xếp các khoản nợ theo trật tự ưu tiên, tăng chỉ số Z để giảm thiểu khả năng phá sản, kiểm soát chặt chẽ dòng tiền, để đối phó với rủi

ro phá sản của các doanh nghiệp ngành nhựa – bao bì niêm yết

Đề tài:“Nghiên cứu rủi ro tài chính tại các doanh nghiệp công nghiệp

Việt Nam” của tác giả Vũ Thị Hậu (2013) có nội dung như sau:

Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với bảng câu hỏi

để phỏng vấn chuyên sâu cán bộ quản trị doanh nghiệp và phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính của 105 doanh nghiệp doanh nghiệp công nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007-

2011 Tác giả đã xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính của doanh nghiệp công nghiệp với các biến như sau:

Biến phụ thuộc: đo lường thông qua các hệ số khả năng thanh toán (hệ

số khả năng thanh toán tổng quát, hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn, hệ số khả năng thanh toán nhanh)

Biến độc lập bao gồm: (1) cơ cấu nợ, đo lường bởi hệ số nợ ngắn hạn trên nợ dài hạn, (2) khả năng sinh lời, đo lường bởi tỷ suất sinh lời của doanh thu (ROS), tỷ suất lợi nhuận trước thuế và lãi vay, tỷ suất sinh lời kinh tế của

Trang 18

tài sản, tỷ suất sinh lời của tài sản, tỷ suất lợi nhuận giữ lại, (3) hiệu suất hoạt động, đo lường bởi vòng quay hàng tồn kho, vòng quay tài sản cố định, vòng quay tài sản, vòng quay các khoản phải thu, (4) cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản, đo lường bởi tỷ suất tự tài trợ, tỷ suất đầu tư tài sản cố định, (5) lãi suất, hai biến giả là ngành cấp 1 và trạng thái kiểm soát

Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy rủi ro tài chính có quan hệ ngược chiều với khả năng sinh lời, hiệu suất hoạt động, cơ cấu nguồn vốn, không có mối tương quan tuyến tính với cơ cấu nợ, quy mô dữ liệu của yếu tố lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng đối với ngành công nghiệp còn hạn chế cho thấy những đánh giá tác động của lãi suất đến rủi ro tài chính không đủ căn cứ Cũng theo nghiên cứu này, rủi ro tài chính còn có thấy sự khác biệt giữa các lĩnh vực công nghiệp Cụ thể, trong ba ngành của phân ngành cấp 1, thì các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo có mức rủi ro tài chính cao nhất, tiếp đến là doanh nghiệp ngành khai khoáng và cuối cùng là các doanh nghiệp ngành điện, khí, nước Từ những kết quả nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra một số giải pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro tài chính như: nâng cao nhận thức về rủi ro và quản trị rủi ro, nâng cao tính minh bạch

về thông tin doanh nghiệp, xây dựng cơ cấu vốn hợp lý, nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản

Đề tài “Cơ cấu vốn và rủi ro tài chính trong doanh nghiệp” của tác giả

Lê Hoàng Vinh (2014) có nội dung như sau:

Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với bảng câu hỏi

để phỏng vấn chuyên sâu cán bộ quản trị doanh nghiệp và phương pháp nghiên cứu định lượng với mục đích xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính theo phương pháp phân tích hồi quy dữ liệu bảng (Panel Data) theo mô hình các yếu tố tác động cố định (FEM) và mô hình các yếu tố tác động ngẫu nhiên (REM) để nghiên cứu về mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và các biểu hiện của rủi

Trang 19

ro tài chính đối với 230 doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010-2013 Tác giả đã xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính của doanh nghiệp công nghiệp với các biến như sau:

Biến phụ thuộc là rủi ro tài chính được xem xét qua hai khía cạnh:

Thứ nhất là mức độ phân tán lợi nhuận dành cho chủ sở hữu được đo

lường bởi tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Thứ hai là rủi ro kiệt quệ tài chính do phải thanh toán các khoản nợ gốc

và lãi vay cho chủ nợ, đo lường thông qua hệ số khả năng thanh toán hiện hành (CR) và hệ số khả năng thanh toán lãi vay (ICR)

Biến độc lập là cơ cấu vốn, tập trung vào khía cạnh sử dụng nợ hình thành đòn bẩy tài chính, được đo lường thông qua tỷ số nợ (DEBT_R) Ngoài

ra, luận văn còn đưa thêm vào các biến kiểm soát như: Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), chi phí sử dụng nợ bình quân sau thuế (RD_AT), quy mô tài sản ngắn hạn đo lường bởi logarit tài sản ngắn hạn (CA), hiệu quả sinh lời trên toàn bộ vốn đầu tư trước thuế và lãi vay đo lường bởi tỷ lệ hoàn vốn (ROI), chi phí lãi vay phát sinh đo lường bởi chi phí sử dụng nợ bình quân trước thuế (RD_BT) Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy mức độ sử dụng nợ trong

cơ cấu vốn có ảnh hưởng cùng chiều đáng kể đến lợi nhuận dành cho chủ sở hữu, nhưng lại có ảnh hưởng ngược chiều đáng kể đến khả năng thanh toán hiện hành và khả năng thanh toán lãi vay

Nhóm tác giả Gang Fu,Weilan Fu and Dan Liu (2012)”Empirical study

on financial risk factors: Capital structure, operation ability, profitability, and solvency – evidence from listed companies in China”

Nghiên cứu này đã sử dụng mô hình của Alexander Bathory để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính với mẫu quan sát là 216 doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thâm Quyến, Trung Quốc trong năm 2010 Với việc sử dụng bằng phần mềm Excel

Trang 20

2003 và SPSS 16.0, nhóm tác giả đã sử dụng thống kê mô tả và suy luận để phân tích dữ liệu Các biến trong mô hình hồi quy của nghiên cứu này như sau:

Biến phụ thuộc là rủi ro tài chính, được đo lường bằng mô hình Alexander Bathory Với mô hình Bathory như sau:

Cơ cấu nợ, được đo lường bởi hệ số nợ ngắn hạn trên nợ dài hạn

Khả năng thanh toán, đo lường bởi hệ số khả năng thanh toán hiện thời,

hệ số khả năng thanh toán nhanh và tỷ số nợ

Hiệu quả kinh doanh, đo lường bởi tỷ suất sinh lời của doanh thu, tỷ suất sinh lời của tài sản

Hiệu quả hoạt động, đo lường bởi vòng quay hàng tồn kho, vòng quay tài sản cố định, vòng quay tài sản, vòng quay các khoản phải thu

Cơ cấu nguồn vốn, đo lường bởi tỷ suất tự tài trợ

Kết quả phân tích hồi quy và thực hiện các kiểm định, nhóm tác giả đã nhận định rằng các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính bao gồm các nhân tố bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp

Rủi ro tài chính có mối quan hệ ngược chiều (-) với tỷ suất sinh lời doanh thu, tỷ suất tự tài trợ, tỷ suất đầu tư TSCĐ

Trang 21

Rủi ro tài chính ít tương quan với vòng quay tài sản, vòng quay TSCĐ Rủi ro tài chính không có tương quan với cơ cấu nợ, vòng quay hàng tồn kho, vòng quay các khoản phải thu

Amalendu Bhunia (2012)“Financial risk measurement of small and

medium – sized companies listed in Bombay Stock Exchange” Nghiên cứu này

cũng sử dụng mô hình của Alexander Bathory để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính với mẫu là 513 doanh nghiệp vừa và nhỏ niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Bombay, Ấn Độ trong giai đoạn 2001–2011 Kết quả phân tích hồi quy và thực hiện các kiểm định cho thấy:

Rủi ro tài chính có quan hệ ngược chiều (-) với hiệu quả kinh doanh, cụ thể là với tỷ suất lợi nhuần ròng trên doanh thu

Rủi ro tài chính có quan hệ ngược chiều (-) với cơ cấu nguồn vốn

Rủi ro tài chính không có quan hệ với cơ cấu nợ và hiệu suất hoạt động Rủi ro tài chính có quan hệ ngược chiều (-) với khả năng thanh toán, cụ thể là hệ số khả năng thanh toán hiện hành

Trên cơ sở các giáo trình, tài liệu nghiên cứu như trên, tác giả đã cố gắng tổng hợp những lý thuyết, để trình bày các quan điểm khác nhau về định nghĩa phân tích rủi ro tài chính của doanh nghiệp, những nguyên nhân gây ra rủi ro tài chính, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính Từ đó, tác giả sẽ đi sâu vào việc phân tích rủi ro tài chính và xây dựng mô hình hồi quy nhằm mục đích đánh giá sự ảnh hưởng các yếu tố đến rủi ro tài chính của các doanh nghiệp ngành chế biến lương thực thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2010-2014 Sau cùng, tác giả

sẽ dựa trên các kết quả thu được từ việc chạy mô hình hồi quy, để đưa ra một

số giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tài chính cho các nhà quản trị doanh nghiệp chế biến lương thực thực phẩm Việt Nam

Trang 22

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA

DOANH NGHIỆP

1.1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO CỦA DOANH NGHIỆP

1.1.1 Khái quát chung về rủi ro

Cho đến nay vẫn chưa có được một định nghĩa thống nhất nào về rủi ro Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau trên thế giới đều đưa ra những định nghĩa về rủi ro cũng khác nhau Nhưng tập trung lại có thể chia thành hai trường phái như sau:

a Trường phái truyền thống (hay còn gọi là trường phái tiêu cực)

Theo quan điểm của trường phái này thì: Rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất nguy hiểm Đó là sự giảm sút về tài sản hay sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp [19] Tóm lại, theo trường phái truyền thống cho rằng rủi ro là những thiệt hại, mất mát nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra đối với con người

b Trường phái hiện đại (hay còn gọi là trường phái trung hòa)

Theo quan niệm của trường phái này thì: “Rủi ro là sự bất trắc mà cụ thể

là liên quan đến một biến cố không mong đợi” Với quan niệm này thì rủi ro

có liên quan đến thái độ của con người, nó có thể mang đến những lợi ích cho người này nhưng lại là thất bại hay rủi ro đối với người khác,

Lại có ý kiến cho rằng "Rủi ro là tổng hợp của những sự ngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác suất" Rủi ro gắn với sự hiện diện ngẫu nhiên, không phụ thuộc vào ý chí con người hay của sự vật, hiện tượng mà có thể đo lường được bằng xác suất Nhưng điều này không hoàn toàn đúng tại vì có nhiều

Trang 23

loại rủi ro chính là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp do chính con người gây ra, nằm ngoài những dự đoán, tính toán của con người Hay “Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả, có thể xuất hiện ở hầu hết mọi hoạt động của con người Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả

mà nó mang đến Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định, và sẽ phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước”[19]

Tóm lại, theo trường phái hiện đại cho rằng rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tiêu cực vừa mang tính tích cực Rủi ro có thể mang lại những tổn thất, nguy hiểm cho con người nhưng nó cũng có thể mang đến những cơ hội

1.1.2 Nguyên nhân gây nên rủi ro

Rủi ro tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, có thể đo lường hay dự đoán được nhưng cũng có thể không Rủi ro thường xuất phát từ những nguyên nhân và phạm vi khác nhau, do vậy để nghiên cứu bản chất rủi ro một cách đầy đủ thì nhất thiết phải phân loại rủi ro theo từng tiêu chí cụ thể Tuy nhiên, việc phân loại này chỉ mang tính chất tương đối dưới sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau Qua quá trình nghiên cứu và phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cho thấy những nguyên nhân dẫn đến rủi ro của doanh nghiệp có thể chia thành hai nhóm như sau: nguyên nhân khách quan

và nguyên nhân chủ quan

a Nguyên nhân khách quan

Mỗi doanh nghiệp đều hoạt động trong một điều kiện nào đó của môi trường kinh doanh và các yếu tố môi trường tạo ra những tác động đến doanh nghiệp thông qua những cơ hội hay nguy cơ xuất phát từ những thay đổi của môi trường Sự tác động của môi trường vĩ mô như: môi trường tự nhiên,

Trang 24

chính trị, văn hóa – xã hội, pháp luật, công nghệ, thông tin, môi trường kinh tế tài chính Chẳng hạn như:

Rủi ro công nghệ: rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải khi công nghệ sản

xuất thay đổi mà doanh nghiệp không bắt kịp sự thay đổi đó, hay máy móc lạc hậu, hư hỏng…làm giảm hiệu quả hoạt động và giảm khả năng cạnh tranh

Rủi ro thông tin: rủi ro đến từ thông tin nội bộ của doanh nghiệp bị rò

rỉ ra ngoài làm ảnh hưởng đến hoạt động, sức cạnh tranh của doanh nghiệp, ví

dụ như: mẫu mã sản phẩm, giá cả…hay rủi ro đến từ việc thu thập thông tin sai lệch từ bên ngoài, làm ảnh hưởng đến việc ra quyết định trong kinh doanh

và doanh nghiệp có thể gặp tổn thất khi dựa trên những thông tin đó

Rủi ro môi trường kinh tế: Rủi ro đến từ các yếu tố của môi trường

kinh tế tài chính bao gồm: lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá cả hàng hóa, lạm phát một khi những yếu tố này biến động sẽ có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp [21; tr 17] Ví dụ như: tỷ giá hối đoái tác động tới các hoạt động đầu tư, xuất nhập khẩu, hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp khi xuất khẩu các sản phẩm xuất sang các thị trường bên ngoài như thị trường EU, Mỹ, Nhật phải thanh toán bằng đồng tiền ngoại tệ, một khi tỷ giá biến động theo chiều hướng tăng, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán do phải trả thêm phần chênh lệch tỷ giá

Hay lãi suất sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Khi lãi suất tăng lên sẽ kéo theo chi phí đầu vào tăng và làm cho giá thành sản phẩm cũng tăng, làm suy giảm lợi nhuận, sẽ gây ra tình trạng thua lỗ, khi đó doanh nghiệp sẽ phải cắt giảm chi phí phải trả như lao động, quy mô sản xuất thu hẹp Còn khi lãi suất giảm sẽ giúp cho doanh nghiệp có điều kiện giảm được chi phí tài chính, giảm giá thành sản phẩm, từ đó khuyến khích doanh nghiệp

mở rộng đầu tư, tạo được công ăn việc làm cho người lao động, kích thích sự tăng trưởng kinh tế

Trang 25

b Nguyên nhân chủ quan

Những nguyên nhân chủ quan bắt nguồn từ bên trong doanh nghiệp, có ảnh hưởng không nhỏ đến rủi ro tài chính như năng lục lãnh đạo, quản trị doanh nghiệp, đặc thù của ngành mà doanh nghiệp đang kinh doanh Chẳng hạn như:

quan trọng đối với doanh nghiệp Rủi ro xảy ra do nguồn nhân lực có thể như:

sự thiếu kiến thức trong kinh doanh, trình độ năng lực chưa đáp ứng với yêu cầu được giao của các nhà quản trị doanh nghiệp, sự phối hợp giữa các bộ phận trong doanh nghiệp thiếu đồng bộ, chính sách tuyển dụng, đãi ngộ, sa thải lao động chưa phù hợp Hay có thể là việc nhân viên đánh cắp những kiến thức, những bí quyết cốt lõi của doanh nghiệp khi ra đi, hoặc có thể do thiếu lao động có trình độ tay nghề cao cho việc hoạt động sản xuất, dẫn đến không đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng…

Rủi ro yếu tố đặc thù của ngành:

Rủi ro do yếu tố đặc thù của ngành mà doanh nghiệp kinh doanh được xem là có ảnh hưởng nhất đến rủi ro của doanh nghiệp Chẳng hạn như đối với doanh nghiệp ngành chế biến lương thực thực phẩm thì rủi ro đến từ thị trường tiêu thụ, rủi ro về áp lực cạnh tranh, rủi ro về nguồn nguyên liệu đầu vào dẫn đến giá trị gia tăng của các sản phẩm của ngành còn thấp, hàng tồn kho tăng cao Bên cạnh đó, nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp còn tùy thuộc vào tính mùa vụ, chu kỳ thu hoạch nguyên liệu của nhà cung cấp Mức

độ sử dụng nợ của ngành chế biến lương thực thực phẩm còn khá cao hơn so với các ngành khác vì phải thường xuyên thực hiện các hợp đồng xuất khẩu trong thời gian ngắn, nên nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp chủ yếu là các khoản nợ ngắn hạn Do vậy, áp lực thanh toán từ các khoản nợ này sẽ tăng lên, dẫn đến nguy cơ xảy ra rủi ro cho doanh nghiệp là rất cao

Trang 26

1.2 PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

1.2.1 Các quan điểm về phân tích rủi ro tài chính của doanh nghiệp

Trong quá trình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với nhiều loại rủi ro xảy ra trong tương lai, phát sinh từ những tác động bên ngoài hay chính từ nội bộ của doanh nghiệp, mà có thể sẽ gây nên những tổn thất thiệt hại Chẳng hạn như các yếu tố lạm phát, giá cả, lãi suất, tỷ giá tác động đến các doanh nghiệp xuất khẩu, hay giá nguyên liệu đầu vào tăng trong khi giá bán sản phẩm vẫn không đổi dẫn đến tình trạng doanh nghiệp bị thua

lỗ, có thể dẫn đến nguy cơ phá sản

Từ chính những rủi ro đó sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Để lựa chọn cách tiếp cận trong việc phân tích rủi ro tài chính sao cho phù hợp với ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động, trước hết cần phải tìm hiểu khái niệm về rủi ro tài chính của doanh nghiệp Trên thực tế có rất nhiều quan điểm khác nhau của các tác giả trong

và ngoài nước khi định nghĩa về rủi ro tài chính của doanh nghiệp Chúng ta

có thể xem xét một vài quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất: Quan điểm tiếp cận rủi ro trong doanh nghiệp

dưới góc độ quản trị tài chính Dưới góc độ quản trị tài chính, rủi ro trong doanh nghiệp là sự khác biệt giữa lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng khi thực hiện các quyết định về tài chính [10] Mức rủi ro cao hay thấp thể hiện qua khả năng hay xác suất xảy ra sự khác biệt giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận kỳ vọng khi lựa chọn thực hiện các quyết định tài chính khác nhau trong doanh nghiệp Dựa trên cơ sở phân loại các quyết định tài chính, rủi ro của một doanh nghiệp được chia thành hai nhóm: rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính Khi đó, rủi ro tài chính được định nghĩa như sau:

“Rủi ro tài chính là sự phản ánh các biến cố có thể xảy ra hoặc không xảy ra thường gắn liền với các quyết định tài trợ, đó là rủi ro tăng thêm ngoài

Trang 27

rủi ro kinh doanh đối với các chủ sở hữu do doanh nghiệp có sử dụng đòn bẩy tài chính Trong đó đòn bẩy tài chính chỉ mức độ nợ và tác động của nợ trong cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp” [8];[43]

Nhƣ vậy, doanh nghiệp tồn tại rủi ro tài chính khi cơ cấu vốn có nguồn tài trợ với chi phí cố định, điển hình là nợ vay Khi doanh nghiệp sử dụng nợ thì cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp đã chứa đựng các yếu tố làm giảm giá

cổ phiếu Khác với rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính có thể đƣợc loại bỏ bằng cách không sử dụng đòn bẩy tài chính, tức là 100% tài sản đƣợc hình thành từ vốn chủ sở hữu hay là vốn cổ phần đối với công ty cổ phần

Quan điểm thứ hai: Quan điểm tiếp cận rủi ro gắn liền với việc vay nợ

của doanh nghiệp khi huy động vốn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình Một khi xuất hiện các khoản nợ trong cơ cấu nguồn vốn sẽ tạo ra cho doanh nghiệp nghĩa vụ phải trả lãi cho các chủ nợ Với quan điểm này rủi ro tài chính đƣợc định nghĩa nhƣ sau:

“Rủi ro tài chính là rủi ro do việc sử dụng nợ mang lại, nó gắn liền với

cơ cấu tài chính của doanh nghiệp Việc sử dụng nợ này sẽ ảnh hưởng đến sự biến thiên của hiệu quả tài chính (sự biến thiên của hiệu quả tài chính có thể xem xét thông qua sự biến thiên của tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE))

Sự biến thiên này làm tăng thêm xác suất mất khả năng thanh toán khi doanh nghiệp sử dụng vốn vay và các nguồn tài trợ khác có chi phí tài chính (chi phí

sử dụng vốn vay) cố định” [9];[15]

Quan điểm thứ ba: Quan điểm tiếp cận rủi ro gắn liền với các trạng thái

rủi ro kiệt quệ tài chính Tức là khi vay nợ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm thanh toán bắt buộc, đầy đủ và đúng hạn các khoản nợ gốc và lãi vay

đã cam kết với chủ nợ Nếu doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện một cách khó khăn đối với những cam kết thanh toán này, sẽ làm nảy sinh tình trạng kiệt quệ tài chính [11];[40] Tình trạng kiệt quệ tài chính có thể chỉ xảy

Trang 28

ra tạm thời dẫn đến phát sinh một số khó khăn cho hoạt động kinh doanh, các

dự án khả thi bị trì hoãn hoặc có thể bị hủy bỏ, năng suất lao động giảm sút và

có thể dẫn đến phá sản khi không tìm được biện pháp cải thiện thích hợp Chi phí kiệt quệ tài chính phụ thuộc vào khả năng xảy ra những khó khăn tài chính và độ lớn của các khoản chi phí phát sinh có liên quan Hầu hết các trường hợp của tình trạng kiệt quệ tài chính do việc sử dụng nợ gây ra và đây là một nhân tố làm giảm giá trị doanh nghiệp

Với quan điểm này rủi ro tài chính được định nghĩa như sau:

“Rủi ro tài chính là rủi ro kiệt quệ tài chính khi doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc không thể trả được các khoản nợ bao gồm các khoản nợ gốc và lãi vay cho chủ nợ và chịu sự tác động của các nhân tố giá cả của thị trường như: lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá cả hàng hóa đến thu nhập của doanh nghiệp” [1] Chính từ quyết định vay nợ sẽ dẫn đến phát sinh chi phí lãi vay

buộc doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trước so với lợi nhuận dành cho chủ sở hữu và không tùy thuộc vào kết quả kinh doanh, dẫn đến tăng thêm sự không chắc chắn đối với phần lợi nhuận dành cho chủ sở hữu

Tóm lại, từ những quan điểm khác nhau của các tác giả trong và ngoài nước về rủi ro tài chính như trên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này,

rủi ro tài chính của doanh nghiệp có thể được hiểu như sau: “Rủi ro tài chính

là rủi ro xảy ra do việc sử dụng nợ mang lại thường gắn liền với các hoạt động tài trợ có liên quan như: mua bán, đầu tư, vay nợ và một số hoạt động kinh doanh khác Rủi ro do việc sử dụng nợ này sẽ ảnh hưởng tập trung trên hai khía cạnh:

Khía cạnh thứ nhất: Ảnh hưởng đến sự biến thiên của hiệu quả tài chính của doanh nghiệp

Khía cạnh thứ hai: Làm mất khả năng thanh toán các khoản nợ khi đến hạn của doanh nghiệp

Trang 29

1.2.2 Ý nghĩa của nhận diện rủi ro tài chính trong doanh nghiệp

Sự tồn tại của doanh nghiệp là một vấn đề có sức ảnh hưởng đến nền kinh tế của mỗi quốc gia, những doanh nghiệp gặp vấn đề về rui ro tài chính

có nguy cơ dẫn đến phá sản là hiện tượng đáng lo ngại, rủi ro tài chính hay phá sản có thể được xem như là chỉ số của sự phát triển và khỏe mạnh của nền kinh tế Việc nhận diện đầy đủ và chính xác các khía cạnh biểu hiện của rủi ro tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với tất cả các giai đoạn của việc quản trị tài chính doanh nghiệp, là mối quan tâm không chỉ riêng đối với doanh nghiệp, mà còn đối với các nhà đầu tư, đối với các chủ nợ, đối với chính phủ Đối với các nhà đầu tư việc phân tích và dự báo rủi ro tài chính giúp họ chủ động hơn trong các quyết định đầu tư của mình, bằng cách xác định những cổ phiếu có giá trị rồi từ đó mới đưa chúng vào các danh mục đầu tư Việc dự báo rủi ro cũng sẽ cung cấp những thuận lợi đến các nhà đầu tư trong việc tìm kiếm tỷ suất sinh lợi cao, tạo cơ hội cho những đầu tư mới và giúp cho việc kinh doanh phát triển và đạt được những thuận lợi trong cạnh tranh Đối với các doanh nghiệp việc dự báo sớm rủi ro có ý nghĩa quan trọng đối với các cấp lãnh đạo của doanh nghiệp trong việc đề xuất những phương

án cải thiện, những giải pháp nhằm ngăn chặn những yếu tố bất lợi có ảnh hưởng không tốt đến lợi nhuận của doanh nghiệp.chẳng hạn như: tìm nguồn quỹ cần thiết, thiết lập những đối tác mới thông qua việc xem xét lại các mối quan hệ đối với những doanh nghiệp có mức rủi ro cao

Đối với các chủ nợ, các nhà tín dụng việc phân tích rủi ro tài chính giúp đánh giá được năng lực tài chính của khách hàng, để từ đó có thể chọn lựa một cách phù hợp và đúng đắn đối với những doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt để cho vay Những doanh nghiệp có mức rủi ro tài chính thấp sẽ tạo được sự tin tưởng và có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận với nguồn vốn vay Bên cạnh đó, thông qua những thông tin thực tế có được từ việc phân

Trang 30

tích rủi ro tài chính sẽ là cơ sở để xây dựng chính sách động viên, khen thưởng đối với các cá nhân có thành tích xuất sắc và có những biện pháp xử

lý đối với các cá nhân, bộ phận không hoàn thành tốt nhiệm vụ, dẫn đến phát sinh gây tác động tiêu cực cho doanh nghiệp

1.3 CÁC CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

1.3.1 Phân tích qua độ biến thiên

Rủi ro tài chính của doanh nghiệp theo khía cạnh thứ nhất đề cập đến sự ảnh hưởng từ việc vay nợ, tác động tới sự biến thiên của hiệu quả tài chính

Do đó, để đánh giá tổng quan mức độ rủi ro tài chính của một doanh nghiệp, thì trước hết cần phải đánh giá được mức độ ổn định của chỉ tiêu khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này càng ổn định thì rủi ro của doanh nghiệp càng thấp Cụ thể như sau:

Khả năng sinh lời trên vốn

chủ sở hữu (ROE) =

Lợi nhuận sau thuế

X 100% Vốn chủ sở hữu bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh năng lực sử dụng đồng vốn của doanh nghiệp để sinh lời như thế nào Chỉ tiêu ROE cho biết bình quân 1 đồng vốn đầu tư chủ

sở hữu được bỏ ra thì sau quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, thì chủ sở hữu thu lại được bao nhiêu đồng sinh lời Đây là một chỉ tiêu được sử dụng rất phổ biến, bởi tính đơn giản, dễ hiểu và dễ so sánh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành nghề với quy mô khác nhau Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ doanh nghiệp đã sử dụng hiệu quả những đồng vốn, hay có nghĩa là doanh nghiệp đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn đầu tư chủ sở hữu với vốn

đi vay để khai thác được lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp mình trong quá trình huy động vốn

Có thể nhận thấy rằng chỉ tiêu ROE chịu sự tác động tổng hợp của nhiều nhân tố Nó phụ thuộc trực tiếp vào các quyết định của nhà quản lý thông qua

Trang 31

nhiều chính sách như: chính sách tiêu thụ, chính sách sản xuất, chính sách tài chính Chính từ sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, ta phân tích chỉ tiêu khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu như sau:

[RE + (RE – R)

] (1-T) hay = [ + ( – r)

] (1-T) Trong đó:

ROE: lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

VCSH: vốn chủ sở hữu

RE: tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản

T: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, tính bằng tỷ lệ chi phí thuế và lợi nhuận kế toán trước thuế

r: lãi suất vay, tính bằng tỷ lệ giữa chi phí lãi vay trên tổng nợ

HKD là hiệu quả kinh doanh, thể hiện qua chỉ tiêu RE là tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản

HTC là hiệu quả tài chính, thể hiện qua chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu

Từ công thức trên ta thấy rằng, khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu tùy thuộc vào một phần cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp, tức là tùy thuộc vào mức độ sử dụng nợ Cho nên càng khẳng định rằng rủi ro tài chính là rủi ro liên quan đến việc sử dụng nợ của doanh nghiệp Với việc sử dụng nợ này sẽ ảnh hưởng đến sự biến thiên của hiệu quả tài chính, cho nên phân tích rủi ro

tài chính về cơ bản, ta sẽ sử dụng các chỉ tiêu phương sai, độ lệch chuẩn và hệ

số biến thiên để đánh giá Cụ thể như sau:

Phương sai ROE Var(ROE)

Trang 32

Độ lệch chuẩn ROE √ √ ∑ ̅̅̅̅̅̅ Trong đó:

là khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu, i là số thứ tự của cá thể, n là

Bên cạnh đó, hiệu quả tài chính của doanh nghiệp là quyết định một phần bởi việc sử dụng nợ của đơn vị, và rủi ro tài chính là rủi ro có liên quan đến việc sử dụng nợ Vì vậy, phân tích rủi ro tài chính thông qua việc phân tích độ biến thiên của ROE không thôi vẫn chƣa đủ, mà còn cần phải phân

Trang 33

tích độ biến thiên của các chỉ tiêu thành phần ảnh hưởng đến rủi ro tài chính của doanh nghiệp Cụ thể ta xem xét công thức như sau:

(HTC) = (1 +

) (1-T) (HKD) Theo công thức trên, rõ ràng độ biến thiên khả năng sinh lời của nguồn vốn chủ sở hữu được tạo thành bởi độ biến thiên của khả năng sinh lời tài sản

và của đòn bẩy tài chính Do vậy:

RRTC = H LN/TS + DBN

Với RRTC là chênh lệch độ biến thiên hiệu quả tài chính

H LN/TS là ảnh hưởng của nhân tố hiệu quả kinh doanh

DBN là ảnh hưởng của độ biến thiên đòn bẩy nợ

1.3.2 Phân tích qua các chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán

Dựa trên quan điểm về rủi ro tài chính của doanh nghiệp theo khía cạnh thứ hai đề cập đến sự ảnh hưởng từ việc vay nợ tác động làm mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp Hệ số chung để đánh giá cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp được thể hiện như sau:

Khả năng thanh toán =

Số tiền dùng để trả nợ

Số nợ ngắn hạn phải trả

Trang 34

Hệ số khả năng thanh toán được biểu hiện cụ thể ở nhiều chỉ tiêu, trong luận văn này tác giả chỉ đề cập đến ba chỉ tiêu: hệ số khả năng thanh toán hiện hành, hệ số khả năng thanh toán nhanh và hệ số khả năng thanh toán tức thời

a Hệ số khả năng thanh toán hiện hành

Hệ số khả năng thanh toán hiện hành được hiểu là mối quan hệ giữa toàn

bộ tài sản có thời gian chu chuyển ngắn của doanh nghiệp với nợ ngắn hạn

Hệ số khả năng thanh toán hiện hành = Tài sản ngắn hạn

Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này càng cao càng thể hiện khả năng các khoản nợ ngắn hạn sẽ được thanh toán kịp thời, rủi ro mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng thấp Tuy nhiên, nếu hệ số này quá cao chưa hẳn đã tốt, vì ngoài việc cho thấy sự dồi dào trong việc thanh toán thì còn cho thấy việc quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn không hiệu quả Bên cạnh đó, tử số của chỉ tiêu này chỉ dựa trên khái niệm thanh lý toàn bộ tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, kể cả những tài sản khó hoán chuyển thành tiền để trả nợ vay ngắn hạn Như vậy, khi phân tích có thể loại trừ những tài sản khó hoán chuyển thành tiền ra khỏi

tử số, như: các khoản nợ phải thu khó đòi, hàng tồn kho kém phẩm chất

b Hệ số khả năng thanh toán nhanh

Tương tự như hệ số khả năng thanh toán hiện hành, thì chỉ tiêu này còn chứa những tài sản kém lưu động, chỉ tiêu này loại bỏ phần hàng tồn kho trên

tử số vì bộ phận tài sản này là bộ phận dự trữ thường xuyên trong quá trình kinh doanh mà giá trị và thời gian hoán chuyển là không chắc chắn

Hệ số này càng cao thì khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn càng cao, việc trả nợ này không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ (hàng tốn kho)

Hệ số khả năng thanh toán nhanh = Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho

Nợ ngắn hạn

Trang 35

c Hệ số khả năng thanh toán tức thời

Hệ số khả năng thanh toán tức thời tiếp tục được chọn lọc hơn cả hệ số khả năng thanh toán hiện hành

Hệ số khả năng thanh toán tức thời = Tiền và tương đương tiền

Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này chỉ nhìn vào các tài sản ngắn hạn thanh khoản nhất của công

ty, đó là những tài sản có thể dễ dàng được sử dụng để thanh toán các nghĩa

vụ hiện tại một cách nhanh chóng nhất Hệ số này bỏ qua hàng tồn kho và các khoản phải thu vì không có sự đảm bảo rằng, hai chỉ tiêu này có thể được chuyển đổi nhanh thành tiền mặt, để kịp thời đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn

1.3.3 Phân tích qua các chỉ tiêu đòn bẩy tài chính và khả năng trả

nợ lãi vay

Rủi ro tài chính chịu ảnh hưởng trực tiếp từ vấn đề sử dụng nợ vay của doanh nghiệp Và sự ảnh hưởng đó thể hiện qua sự tác động của nó đối với khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu Để xem xét sự ảnh hưởng đó, ta dùng chỉ tiêu đòn bẩy tài chính Độ lớn đòn bẩy tài chính là chỉ tiêu đo lường ảnh hưởng của những thay đổi về lợi nhuận trước thuế và lãi vay đối với lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp

Độ lớn đòn bẩy tài chính = % thay đổi ROE

% thay đổi lợi nhuận trước thuế và lãi vay Nếu thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính không đổi thì:

Độ lớn đòn bẩy tài chính = Lợi nhuận trước thuế + Chi phí lãi vay

Lợi nhuận trước thuế Chỉ tiêu này có ý nghĩa là nếu lợi nhuận trước thuế và lãi vay tăng 1% thì lợi nhuận trên một đồng vốn chủ sở hữu sẽ tăng K% (K là độ lớn đòn bẩy tài chính) tại một mức hoạt động nào đó Trên phương diện lý thuyết thì doanh

Trang 36

nghiệp có thể sử dụng nợ khi độ lớn đòn bẩy tài chính lớn hơn 1, vì khi đó việc vay nợ giúp doanh nghiệp đạt được tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cao Qua đó, việc tăng độ lớn đòn bẩy tài chính cũng có thể làm tăng hiệu quả tài chính, nhưng kèm theo đó cũng làm tăng rủi ro hoạt động tài chính của doanh nghiệp Mức độ rủi ro tài chính phụ thuộc vào rủi ro kinh doanh, tỷ lệ

nợ và chi phí sử dụng vốn vay cũng như thuế thu nhập doanh nghiệp

Khi sử dụng vốn vay thay cho vốn đầu tư của chủ sở hữu thì doanh nghiệp phải tính đến chi phí lãi vay, vì chi phí này là không thể tránh khỏi khi vay vốn, cho nên sẽ tạo áp lực trả nợ lên doanh nghiệp Chỉ tiêu khả năng trả

nợ lãi vay đo lường khả năng của doanh nghiệp trong việc trả lãi tiền vay bằng các khoản lợi nhuận thu được từ các hoạt động kinh doanh trong kỳ, nếu khả năng trả nợ lãi vay càng lớn thì rủi ro của doanh nghiệp càng thấp và ngược lai Chỉ tiêu này được đo lường bằng tỷ lệ giữa lợi nhuận và chi phí lãi vay của doanh nghiệp

Khả năng trả nợ lãi vay = Lợi nhuận trước thuế + Chi phí lãi vay

Chi phí lãi vay

Ý nghĩa của chỉ tiêu này cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi như thế nào Nếu doanh nghiệp không tính toán được mức độ vay vốn, thời điểm vay vốn, hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay thì khả năng gặp rủi ro tài chính là rất lớn

1.4 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẾN RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

1.4.1 Ảnh hưởng của các yếu tố đến sự biến thiên khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp

Rủi ro tài chính là rủi ro có liên quan đến việc sử dụng nợ của doanh nghiệp, việc sử dụng nợ này gắn liền với hiệu quả kinh doanh và ảnh hưởng đến sụ biến thiên của hiệu quả tài chính của doanh nghiệp Do vậy, dựa trên

Trang 37

khía cạnh thứ nhất, thì có thể xem xét rủi ro tài chính thông qua sự biến thiên hiệu quả tài chính tức là sự biến thiên khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả sẽ dựa trên những cơ sở

lý luận về cách thức đo lường của ROE, mối quan hệ giữa ROE với các yếu tố

có liên quan trong quá trình quản lý, quá trình sử dụng vốn của doanh nghiệp

để đưa ra những yếu tố ảnh hưởng đến sự biến thiên ROE cho các doanh nghiệp ngành chế biến lương thực thực phẩm Việt Nam Bao gồm các yếu tố

như sau: cơ cấu vốn, rủi ro kinh doanh, tốc độ tăng trưởng và quy mô doanh

Theo lý thuyết cơ cấu vốn tối ưu thì khi doanh nghiệp bắt đầu vay nợ thì doanh nghiệp sẽ có lợi thế về thuế, bởi vì khi đó chi phí sử dụng vốn vay là chi phí hợp lí sẽ được khấu trừ ra khỏi phần lợi nhuận trước thuế Với lợi thế này sẽ làm cho chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC) giảm khi nợ tăng Tuy nhiên, khi nợ trên vốn chủ sở hữu tăng, thì chi phí vốn chủ sở hữu cũng

sẽ tăng Đồng thời, ở mức tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu tăng cao, chi phí sử dụng vốn vay cũng tăng bởi khả năng doanh nghiệp không trả được nợ là cao

Trang 38

hơn, nguy cơ xảy ra rủi ro là rất lớn Như vậy, một doanh nghiệp có cơ cấu vốn nghiêng về nợ sẽ làm cho rủi ro tăng lên vì khi đó biến động chi phí sử dụng vốn vay (chi phí gắn liền với yếu tố lãi suát, mức độ lạm phát, tỷ giá ngoại tệ) là rất khó kiểm soát bởi vì ngoài phải chịu tác động của bản thân các khoản vay nợ, mà còn phải chịu tác động của chính sách tiền tệ Vì thế, việc

sử dụng nợ vay quá nhiều sẽ làm doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn.Tuy nhiên, việc cơ cấu vốn nghiêng về nợ cũng không phải là tín hiệu xấu, mà có thể là cơ cấu vốn hướng đến mục tiêu là gia tăng lợi nhuận

Weixu (2005) [44] nghiên cứu tác động của cơ cấu vốn đến hiệu quả hoạt động của 1130 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Thượng Hải, kết quả cho thấy tác động cùng chiều (+) giữa cơ cấu vốn (tỷ lệ nợ) đến hiệu quả hoạt động (đo lường bằng ROE) của doanh nghiệp, khi tỷ lệ nợ nằm trong khoảng 24,52% và 51,13% Tuy nhiên, Lucy Wamugo Mwangi và các cộng

sự (2014) [36] nghiên cứu tác động cơ cấu vốn đến hiệu quả hoạt động của 42 doanh nghiệp phi tài chính trong giai đoạn 2006-2012 tại Sở giao dịch chứng khoán Nairobi, Kenya, nghiên cứu cho thấy tác động ngược chiều (-) của đòn bẩy tài chính đến hiệu quả hoạt động (đo lường bằng ROE), trong đó nhấn mạnh đến việc sử dụng nợ ngắn hạn, tỷ trọng tài sản trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động cho các công ty Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Adekunle (2009) [22]

b Ảnh hưởng rủi ro kinh doanh đến sự biến thiên khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu

Rủi ro kinh doanh được hiểu là biến cố xảy ra gắn liền với các quyết định đầu tư và quyết định quản lý tài sản của doanh nghiệp hay là sự không chắc chắn về lợi nhuận hoạt động Rủi ro kinh doanh cũng có thể là rủi ro gắn liền với sự không chắc chắn, sự biến thiên của kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp [15] Theo thuyết kinh tế của F.B.Hawley thì “Lợi nhuận là

Trang 39

phần thưởng của rủi ro trong kinh doanh” Nếu không có mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro như thế này thì doanh nghiệp sẽ không bao giờ chấp nhận rủi

ro trong hoạt động kinh doanh để thu được lợi nhuận Lý thuyết cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro (risk – return tradeoff) cũng cho thấy rằng khi mức rủi ro càng cao thì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng tăng Do đó, rủi ro kinh doanh càng cao thì sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận và từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn tức là rủi ro tài chính của doanh nghiệp Rủi ro kinh doanh càng cao thì rủi ro tài chính càng cao

Nghiên cứu của Fozia Memon, Niaz Ahmed Bhutto, Ghulam Abbas (2012) [29] cho thấy rủi ro doanh nghiệp tác động cùng chiều (+) đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

c Ảnh hưởng tốc độ tăng trưởng đến sự biến thiên khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu

Hiệu quả tài chính thường được các nhà đầu tư quan tâm, đó là thái độ giữ gìn và phát triển nguồn vốn chủ sở hữu Một doanh nghiệp có hiệu quả tài chính cao chính là điều kiện cho doanh nghiệp đó tăng trưởng Một doanh nghiệp tăng trưởng kém sẽ phải đối mặt với khó khăn về tài chính, cũng như khó tiếp cận được các nguồn tài trợ từ bên ngoài do thiếu niềm tin của các nhà đầu tư và tăng trưởng kém cũng là dấu hiệu cho thấy hiệu quả kinh doanh không tốt, dễ dẫn đến rủi ro cho doanh nghiệp

Myers (1977) [38] cho rằng các doanh nghiệp tăng trưởng cao sẽ có nhiều lựa chọn hơn để đầu tư trong tương lai hơn các doanh nghiệp tăng trưởng thấp Một doanh nghiêp tăng trưởng cao, điều đó chứng tỏ doanh nghiệp đang trong giai đoạn phát triển mạnh, thị phần tăng hoặc đang mở rộng kinh doanh sang các thị trường, những lĩnh vực mới và cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội mang lại tỷ suất sinh lợi cao hơn Tuy nhiên, mức tăng trưởng cao chưa hẳn là dấu hiệu tốt bởi vì khi doanh

Trang 40

nghiệp đang tăng trưởng thì mức độ ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh chưa cao, dễ dẫn đến rủi ro tài chính cho doanh nghiệp

Nghiên cứu của Taiwo Adewale Murilata [37], đại học Fountain Osogbo, Nigeria nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của

10 doanh nghiệp trong giai đoạn 2006 đến 2010 Nghiên cứu cho thấy biến tốc độ tăng trưởng tác động cùng chiều (+) đến hiệu quả hoạt động (đo lường bằng ROE) của doanh nghiệp

d Ảnh hưởng quy mô doanh nghiệp đến sự biến thiên khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu

Quy mô của doanh nghiệp là một trong những yếu tố giúp hoàn thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung, hiệu quả tài chính nói riêng Singh,A và Whittington,G (1975) [42] cho rằng doanh nghiệp quy mô lớn sẽ đạt được hiệu quả hoạt động tốt hơn, bởi vì khi đó các doanh nghiệp này sẽ có nhiều khả năng khai thác lợi ích kinh tế theo quy mô và đàm phán với khách hàng của họ tốt hơn so với doanh nghiệp có quy mô nhỏ Ngoài ra, những doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ ít phải đối mặt với khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn dành cho việc đầu tư Trong khi đó, những doanh nghiệp quy mô nhỏ thì khả năng hạn chế về vốn, hạn chế về khả năng của các nhà quản lý khi thực hiện một số chiến lược phát triển kinh doanh, dẫn đến khả năng cạnh tranh thấp, vị thế đối với các ngân hàng cũng sẽ bị ảnh hưởng Whited (1992) [45]

Tuy nhiên, một số ít quan điểm lại cho rằng quy mô doanh nghiệp tác động ngược chiều (-) đến hiệu quả hoạt động Serrasqueiro và Nunes (2008) [41] nghiên cứu mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Bồ Đào Nha trong giai đoạn 1999 đến 2003 Kết quả nghiên cứu cho thấy, doanh nghiệp quy mô nhỏ đạt hiệu quả hơn khi vay vốn đầu tư sản xuất kinh doanh

Ngày đăng: 28/11/2017, 11:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[15] Trương Bá Thanh (2008), Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh – Chương 4, Đại học kinh tế, Đại học Đà nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh – Chương 4
Tác giả: Trương Bá Thanh
Năm: 2008
[16] Nguyễn Đình Thiên, Nguyễn Thị Mai Trâm, Nguyễn Hồng Thu (2014), “Các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản của doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản của doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Thiên, Nguyễn Thị Mai Trâm, Nguyễn Hồng Thu
Năm: 2014
[18] Tổng cục Thống kê (2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014), Niên giám thống kê năm 2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014 NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2009, 2010, 2011, 2012, 2013
Nhà XB: NXB Thống kê
[19] Đoàn Thị Hồng Vân (2002), Quản trị rủi ro và khủng hoảng, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro và khủng hoảng
Tác giả: Đoàn Thị Hồng Vân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
[20] Lê Hoàng Vinh (2015), "Cơ cấu vốn và rủi ro tài chính trong doanh nghiệp", Luận văn Tiến sĩ, Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu vốn và rủi ro tài chính trong doanh nghiệp
Tác giả: Lê Hoàng Vinh
Năm: 2015
[21] Lê Thị Xuân (2011), Tài chính doanh nghiệp, NXB Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính doanh nghiệp
Tác giả: Lê Thị Xuân
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2011
[22] Adekunle, A.O &amp; Sunday, O.K. (2010) Capital Structure and Firm Performance: Evidencefrom Nigeria.European Journal of Economics, Finance and Administrative Sciences, 25, 71-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: European Journal of Economics, Finance and Administrative Sciences
[24] Baskin, J. (1989), “Dividend Policy and the Volatility of Common Stock”, Journal of Portfolio Management, 15 (3), pp. 19-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dividend Policy and the Volatility of Common Stock”, "Journal of Portfolio Management
Tác giả: Baskin, J
Năm: 1989
[25] Bruinshoofd, W.A., and Kool, C.J.M. (2004), “Dutch corporate liquidity management: new evidence on aggregation”, Journal of Applied Economics, 7 (2), pp. 195-230 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dutch corporate liquidity management: new evidence on aggregation”, "Journal of Applied Economics
Tác giả: Bruinshoofd, W.A., and Kool, C.J.M
Năm: 2004
[26] Chen, N. và Mahajan, A. (2010), “Effects of Macroeconomic Conditions on Corporate Liquidity International Evidence”, International Research Journal of Finance and Economics Vol. 35, pp. 112-129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Effects of Macroeconomic Conditions on Corporate Liquidity International Evidence”
Tác giả: Chen, N. và Mahajan, A
Năm: 2010
[27] Fazzari, S., and B. Petersen (1993), “Working Capital and Fixed Investment: New Evidence on Financing Constrains”, RAND Journal of Economics, 24, pp. 328-342 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Working Capital and Fixed Investment: New Evidence on Financing Constrains”, "RAND Journal of Economics
Tác giả: Fazzari, S., and B. Petersen
Năm: 1993
[28] Ferreira, Miguel A. and Vilela, Antonio S. (2004), “Why Do Firms Hold Cash? Evidence from EMU Countries”, European Financial Management Vol. 10 No. 2 pp. 295-319 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Why Do Firms Hold Cash? Evidence from EMU Countries”
Tác giả: Ferreira, Miguel A. and Vilela, Antonio S
Năm: 2004
[29] Fozia Memon, Niaz Ahmed Bhutto, Ghulam Abbas (2012), “Capital Structure and Firm Performance: A Case of Textile Sector of Pakistan” Asian Journal of Business and Management Sciences Sách, tạp chí
Tiêu đề: Capital Structure and Firm Performance: A Case of Textile Sector of Pakistan”
Tác giả: Fozia Memon, Niaz Ahmed Bhutto, Ghulam Abbas
Năm: 2012
[30] Fu Gang, Liu Dan (2012), Research on the Influence Factors of Financial Risk for Small and Medium–sized Enterprise: An Empirical Analysis from 216 Companies of Small Plates, ShenZhen Stock Exchange, China, Journal of Contemporary Research in Business, January 2012, Vol 3, No 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Research on the Influence Factors of Financial Risk for Small and Medium–sized Enterprise: An Empirical Analysis from 216 Companies of Small Plates, ShenZhen Stock Exchange, China
Tác giả: Fu Gang, Liu Dan
Năm: 2012
[31] Gang Fu, Weilan Fu and Dan Liu (2012), Empirical study on financial risk factors: Capital structure, operation ability, profitability, and solvency – evidence from listed companies in China, Journal of Business Management and Economics Vol. 3(5). pp. 0173-0178 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Empirical study on financial risk factors: Capital structure, operation ability, profitability, and solvency – evidence from listed companies in China
Tác giả: Gang Fu, Weilan Fu and Dan Liu
Năm: 2012
[33] Isshaq, Z. and Bokpin, G.A. (2009), “Corporate liquidity management of listed firms in Ghana”, Asia Pacific Journal of Business Administration, 1(2), 189-198 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Corporate liquidity management of listed firms in Ghana”
Tác giả: Isshaq, Z. and Bokpin, G.A
Năm: 2009
[34] Kim, C.S, Mauer, D.C. and Sherman, A.E. (1998), “The determinants of corporate liquidity: Theory and Evidence”, Journal of Financial and Quantitative Analysis, 33 (3), pp. 335-359 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The determinants of corporate liquidity: Theory and Evidence”, "Journal of Financial and Quantitative Analysis
Tác giả: Kim, C.S, Mauer, D.C. and Sherman, A.E
Năm: 1998
[35] Lars Peter Hansen (1982), “Large Sample Properties of Generalized Methods of Moments Estimators”, Econometrica, Vol. 50, page 1029-1054 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Large Sample Properties of Generalized Methods of Moments Estimators”, "Econometrica
Tác giả: Lars Peter Hansen
Năm: 1982
[36] Lucy Wamugo Mwangi, Muathe Stephen Makau, George Kosimbei (2014), Relationship between Capital Structure and Performance of Non- Financial Companies Listed In the Nairobi Securities Exchange, Kenya, ISSN: 2311-3162 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Relationship between Capital Structure and Performance of Non- Financial Companies Listed In the Nairobi Securities Exchange, Kenya
Tác giả: Lucy Wamugo Mwangi, Muathe Stephen Makau, George Kosimbei
Năm: 2014
[37] Murilata (2012), “An Empirical Analysis of Capital Structure on Firm Performanc in Nigera”, International Journal of Advances in Management and Economics, 1(5), 116-124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Empirical Analysis of Capital Structure on Firm Performanc in Nigera”, "International Journal of Advances in Management and Economics
Tác giả: Murilata
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w