1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Nghiên cứu về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của các nữ doanh nhân khu vực miền Trung

119 489 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thấy khoảng trống trong nghiên cứu đi trước về vấn đề này, đề tài tác giả được thực hiện để tìm thấy những nhân tố ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa công việc cuộc sống nữ doanh nhân k

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

-

TRƯƠNG THỊ KIM CƯƠNG

NGHIÊN CỨU VỀ SỰ CÂN BẰNG GIỮA CÔNG VIỆC VÀ CUỘC SỐNG CỦA CÁC

NỮ DOANH NHÂN KHU VỰC MIỀN TRUNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng, năm 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

-

TRƯƠNG THỊ KIM CƯƠNG

NGHIÊN CỨU VỀ SỰ CÂN BẰNG GIỮA CÔNG VIỆC VÀ CUỘC SỐNG CỦA CÁC

NỮ DOANH NHÂN KHU VỰC MIỀN TRUNG

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 60.34.01.02

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ THỊ KHUÊ THƯ

Đà Nẵng, năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trương Thị Kim Cương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

6 Kết cấu luận văn 5

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 10

1.1 DOANH NHÂN 10

1.1.1 Khái niệm 10

1.1.2 Vai trò của nữ doanh nhân 11

1.1.3 Những rào cản của nữ doanh nhân trong công việc kinh doanh 13

1.2 SỰ CÂN BẰNG GIỮA CÔNG VIỆC VÀ CUỘC SỐNG CỦA NỮ DOANH NHÂN 16

1.2.1 Sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống 16

1.2.2 Sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống nữ doanh nhân 18

1.3 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ TRƯỚC 21

1.3.1 Mô hình nghiên cứu của Mathew và Panchanatham (2011) 22

1.3.2 Mô hình nghiên cứu của Tuân và Hà (2013) 24

1.3.3 Mô hình nghiên cứu của Dey (2014) 25

1.3.4 Mô hình nghiên cứu của Uddin và Chowdhury (2015) 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 28

Trang 5

2.1 THỰC TRẠNG CÂN BẰNG GIỮA CÔNG VIỆC VÀ CUỘC SỐNG

CỦA NỮ DOANH NHÂN 28

2.2 ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 30

2.2.1 Tổng hợp các nghiên cứu có trước 30

2.2.2 Đề xuất mô hình nghiên cứu 33

2.3 XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT 34

2.3.1 Mối quan hệ giữa Quá tải vai trò và Sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống nữ doanh nhân 35

2.3.2 Mối quan hệ giữa Chất lượng sức khỏe và Sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống nữ doanh nhân 35

2.3.3 Mối quan hệ giữa Vấn đề chăm sóc người phụ thuộc và Sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống nữ doanh nhân 36

2.3.4 Mối quan hệ giữa Quản lý thời gian và Sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống nữ doanh nhân 37

2.3.5 Mối quan hệ giữa Mạng lưới hỗ trợ và Sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống nữ doanh nhân 38

2.4 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 38

2.4.1 Các bước nghiên cứu 39

2.4.2 Quy trình nghiên cứu 40

2.5 NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 40

2.5.1 Thiết kế nghiên cứu định tính 41

2.5.2 Kết quả nghiên cứu định tính 42

2.6 ĐIỀU CHỈNH THANG ĐO NGHIÊN CỨU 42

2.7 NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 51

2.7.1 Thiết kế bảng câu hỏi nghiên cứu định lượng 51

2.7.2 Mẫu nghiên cứu 52

2.7.3 Các phân tích dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu 53

Trang 6

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 57

3.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ 57

3.2 ĐÁNH GIÁ THANG ĐO BẰNG HỆ SỐ TIN CẬY CRONBACH’S ALPHA 59

3.2.1 Tiêu chuẩn đánh giá 59

3.2.2 Kết quả phân tích 60

3.3 PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ (EFA) 62

3.3.1 Tiêu chuẩn đánh giá 63

3.3.2 Kết quả phân tích 63

3.4 KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH VÀ CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 65

3.4.1Phân tích tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu 65

3.4.2 Phân tích hồi quy 66

3.4.3 Kiểm định các giả thiết mô hình 67

3.4.4 Kiểm định ý nghĩa của các hệ số hồi quy 68

3.5 KIỂM ĐỊNH CÁC GIẢ THUYẾT CỦA MÔ HÌNH 70

3.6 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 73

3.6.1 Các giả thuyết được ủng hộ bởi nghiên cứu 73

3.6.2 Giả thuyết không được ủng hộ bởi nghiên cứu 75

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 75

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý 76

4.1 TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 76

4.2 KẾT LUẬN 77

4.3 HÀM Ý 79

4.3.1 Quản lý thời gian 79

4.3.2 Nâng cao chất lượng sức khỏe 80

Trang 7

4.3.3 Mạng lưới hỗ trợ 81 4.3.4 Giảm tải vai trò 83 4.4 HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO CỦA ĐỀ TÀI 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (BẢN SAO)

PHỤ LỤC

Trang 8

3.8 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình

3.9 Kết quả phân tích hồi quy mô hình 1 67 3.10 Hệ số hồi quy của mô hình 1 69 3.11 Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết 73

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Số hiệu

1.1

Mô hình nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức

về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của Mathew và Panchanatham (2011)

23

2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 34

4.1 Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa của mô hình 1 68

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Số lượng các nữ doanh nhân ngày càng tăng hiện đang là một xu hướng toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Các nữ doanh nhân đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc gia thông qua sự khởi nghiệp và nỗ lực của họ

để đạt được tăng trưởng bền vững và cạnh tranh (United Nation, 2006) Điều khá thú vị là, nữ doanh nhân có thể đóng góp đáng kể vào việc giảm nghèo, đóng góp các sáng kiến kinh doanh và thúc đẩy việc đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội rộng lớn hơn (Malyadri, 2014) Trong bài phát biểu tại buổi họp Hội nghị Thượng đỉnh Phụ nữ toàn cầu năm 2008, Thủ tướng Chính phủ,

ông Nguyễn Tấn Dũng khẳng định, "Dưới sự quản lý của nữ lãnh đạo, hoạt

động kinh doanh có hiệu quả vì họ thường tuân thủ đúng pháp luật, và quan tâm tốt hơn đến người lao động Họ tích cực tham gia hoạt động từ thiện và đóng góp đáng kể vào xoá đói giảm nghèo”

Tuy nhiên, sự đóng góp của các nữ doanh nhân trong nền kinh tế phụ thuộc vào hiệu suất của họ, trong đó, bị ảnh hưởng bởi sự hỗ trợ và những rào cản tiềm ẩn (Malyadri, 2014) Quản lý công việc và trách nhiệm gia đình là một trong những rào cản lớn nhất đối với nữ doanh nhân (Shelton, 2006) Tại buổi hội thảo Doanh nhân nữ trong thời kỳ hội nhập được tổ chức chiều 18/11/2009 tại Hà Nội, khi được hỏi về những trở ngại đối với nữ doanh nhân Việt Nam, khoảng 80% những người được hỏi đề cập đến áp lực cao từ công

việc và gia đình Một vấn đề mà các nữ doanh nhân đang phải đối mặt là vừa

phải quản lý, điều hành doanh nghiệp, vừa phải đảm trách việc nhà Nghĩa vụ gia đình như là rào cản đối với phụ nữ muốn trở thành doanh nhân thành công (Theurer, 2014; Sathiabama, 2010) Các nữ doanh nhân luôn luôn có mong muốn đạt được một sự cân bằng giữa nghĩa vụ gia đình, xã hội và trách nhiệm công việc (Itani H, Sidani, YM, Baalbaki I, trích dẫn từ Edralina (2012)) Giải

Trang 11

quyết được những rào cản của nữ doanh nhân sẽ thúc đẩy hoạt động tăng trưởng kinh tế đáng kể (Theurer, 2014)

Cho đến nay, một vài nghiên cứu thực nghiệm đã tìm thấy những nhân tố ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của nữ doanh nhân Tuy nhiên, những nghiên cứu này được tiến hành chủ yếu tại Iran, Banglades,

Ấn Độ và tại Việt Nam Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Thu Hà (2013) nghiên cứu khám phá về sự cân bằng cuộc sống và công việc nữ doanh nhân

Hà Nội Như vậy, liệu rằng sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của nữ doanh nhân khu vực miền Trung có sự khác biệt so với ở các thành phố lớn trong nước cũng như ở các nước trên thế giới hay không? Nhận thấy khoảng trống trong nghiên cứu đi trước về vấn đề này, đề tài tác giả được thực hiện để tìm thấy những nhân tố ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa công việc cuộc sống

nữ doanh nhân khu vực miền Trung

Sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống ngày càng có tầm quan trọng chiến lược đối với tổ chức và ý nghĩa đối với nữ doanh nhân Sau khi tìm hiểu những bài báo, những bài nghiên cứu, tham luận… về thực trạng nữ doanh nhân với vấn đề cân bằng giữa công việc và cuộc sống trong bối cảnh thời

gian gần đây, tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu về sự cân bằng giữa công việc

và cuộc sống của các nữ doanh nhân khu vực miền Trung”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trong bối cảnh tác động của công việc và cuộc sống, quan điểm nghiên cứu của tác giả là để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi: Làm thế nào để nữ doanh nhân đạt được sự cân bằng trong công việc và cuộc sống? Mục đích của nghiên cứu không phải là để đo lường sự cân bằng mà để nghiên cứu sự tác động của các nhân tố đến vấn đề Trong đề tài này, tác giả sẽ xem xét các lý thuyết liên quan và các nghiên cứu trước đây về các nhân tố ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của nữ doanh nhân

Trang 12

Cụ thể, nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu:

- Hệ thống cơ sở lý luận và các nghiên cứu đi trước về các nhân tố ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của nữ doanh nhân

- Nghiên cứu mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của nữ doanh nhân

- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu được, cung cấp một số hàm ý phù hợp

và tích cực trong vấn đề cân bằng giữa công việc và cuộc sống nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho nữ doanh nhân, gia đình và cộng đồng; là tư liệu cho các chương trình và chính sách hỗ trợ nữ doanh nhân

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Nghiên cứu về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của nữ doanh nhân khu vực miền Trung

mà có đăng ký thành lập và hoạt động theo Luật DN trên địa bàn khu vực miền Trung

Nghiên cứu được lựa chọn tại khu vực miền Trung với 5 vùng kinh tế trọng điểm hoạt động kinh doanh đa dạng và tập trung nhiều nữ doanh nhân Dựa vào giới hạn về thời gian và kinh phí thực hiện đề tài, nghiên cứu thực hiện khảo sát tập trung ở 2 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung là

Trang 13

Đà Nẵng và Quảng Ngãi Những đặc điểm kể trên là điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành nghiên cứu, thu thập số liệu khảo sát

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của đề tài này bao gồm hai bước chính là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức Việc nghiên cứu thực hiện theo hai giai đoạn:

Giai đoạn 1: Phương pháp định tính

Giai đoạn 2: Phương pháp định lượng

Nghiên cứu sơ bộ: được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định

tính Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phương pháp phỏng vấn sâu với 08 khách mời tham gia thảo luận là các nữ doanh nhân - là những nữ chủ doanh nghiệp, những người sáng lập, sở hữu và điều hành doanh nghiệp - tại khu vực miền Trung và có quan tâm đến các vấn đề của nghiên cứu để kiểm định sơ bộ giá trị nội dung của thang đo và sự phù hợp về ngôn ngữ của thang đo; sau đó, đánh giá, điều chỉnh, bổ sung biến quan sát của các khái niệm thuộc sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống nữ doanh nhân trong điều kiện của khu vực miền Trung - Việt Nam

Nghiên cứu chính thức: được thực hiện bằng phương pháp định lượng

thông qua phát hành bảng câu hỏi với kích thước mẫu là 150 Mục đích của nghiên cứu này là khẳng định lại các biến quan sát cũng như giá trị và độ tin cậy của thang đo và kiểm định mô hình lý thuyết Phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính thông qua phần mềm SPSS được sử dụng để kiểm định thang

đo và mô hình lý thuyết

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả của nghiên cứu sẽ chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến sự cân bằng công việc và cuộc sống của nữ doanh nhân Điều này giúp các nữ doanh nhân, chuyên gia nguồn nhân lực và tư vấn quản lý nhận biết được tác động

Trang 14

của các nhân tố đó đến sự cân bằng cuộc sống và công việc của nữ doanh nhân Dựa trên những khía cạnh nghiên cứu của đề tài, kết quả đề tài khuyến khích cộng đồng có cái nhìn tổng thể về những vấn đề mà nữ doanh nhân phải đối mặt trong sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống, từ đó có những thay đổi cải thiện về nữ doanh nhân

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

đề tài gồm có 4 (bốn) chương cụ thể:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Kết luận và hàm ý

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Tài liệu trong nước:

Theo như hiểu biết và thông tin mà tác giả có được thì hiện có một số công trình nghiên cứu tại nước ta dưới dạng đề tài nghiên cứu khoa học, bài báo… có đề cập đến một số nội dung liên quan đến đề tài này Nhưng hầu hết các công trình nghiên cứu đều khai thác và đề cập đến khía cạnh khác, môi trường nghiên cứu cũng khác so với đề tài này Tuy nhiên, những thông tin và kết quả nghiên cứu của các đề tài đi trước cũng giúp tác giả có cái nhìn khái quát hơn về các vấn đề liên quan đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của nữ doanh nhân Cụ thể, trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tham khảo một số tài liệu của các nhà nghiên cứu trong nước như sau:

- Nghiên cứu của Hoàng Văn Hoa (2012)

Nội dung bài nghiên cứu “Phát triển đội ngũ nữ doanh nhân trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” của Hoàng

Văn Hoa năm 2012 nêu lên một số đặc điểm chủ yếu của nữ doanh nhân nói

Trang 15

chung, nữ doanh nhân Việt Nam nói riêng; phân tích thực trạng của nữ doanh nhân nước ta; trên cơ sở đó đề xuất một số chính sách phát triển đội ngũ nữ doanh nhân Việt Nam trong những năm tới Kết quả nghiên cứu chỉ ra nhiều vấn đề nhằm phát triển đội ngũ nữ doanh nhân; trong đó, vấn đề chính là thực hiện chính sách thúc đẩy bình đẳng giới trong kinh doanh, việc hỗ trợ phát triển và xây dựng năng lực cho các câu lạc bộ nữ doanh nhân với những hoạt động chia sẻ về kinh doanh và những vấn đề rất riêng của phụ nữ là gia đình

- Nghiên cứu của Aimée Hampel-Milagrosa và cộng sự (2010)

Nội dung bài nghiên cứu “Những trở ngại xét từ góc độ Giới đối với

doanh nhân nữ Việt Nam” của Hampel-Milagrosa và cộng sự năm 2010 đi

sâu vào khía cạnh nỗ lực tạo một sân chơi bình đẳng cho nữ doanh nhân, tạo điều kiện để họ có những đóng góp lớn hơn trong phát triển kinh tế và xã hội Nghiên cứu này cố gắng lý giải những trở ngại về Giới đối với nữ doanh nhân dưới góc độ yếu tố truyền thống, khung khổ pháp lý và chính yếu tố giới tính đối với việc khởi sự và vận hành doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu được phân tích theo bốn nhóm nội dung chính: (1) những trở ngại mang tính truyền thống và pháp lý liên quan đến việc khởi sự kinh doanh, (2) những trở ngại tác động đến việc vận hành doanh nghiệp, (3) chất lượng môi trường kinh doanh theo các chỉ báo của dự án Môi trường kinh doanh, và (4) sự phù hợp

và các đặc điểm của các Luật và Nghị định hỗ trợ doanh nhân nữ Việt Nam Kết luận của nghiên cứu này chỉ ra trở ngại khi khởi sự kinh doanh đối với doanh nhân nữ không nằm trong yếu tố pháp lý mà từ yếu tố truyền thống với trở ngại trách nhiệm gia đình và công việc

Như đã nói ở trên, dù khía cạnh đề cập và môi trường nghiên cứu của hai

đề tài trên hoàn toàn khác so với đề tài mà tác giả đang nghiên cứu, nhưng qua việc tham khảo hai bài viết, phần nào giúp tác giả có cái nhìn khái quát hơn về đề tài còn được xem là mới mẻ này ở Việt Nam

Trang 16

- Nghiên cứu của Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Thu Hà (2013)

Nội dung bài nghiên cứu “Nghiên cứu khám phá về sự cân bằng giữa cuộc sống và công việc của nữ doanh nhân Hà Nội” của Tuân và Hà năm

2013 với mục tiêu là phát triển và xác định một công cụ thích hợp để đánh giá các vấn đề của cân bằng công việc và cuộc sống mà nữ doanh nhân tại Hà Nội – Việt Nam gặp phải Kết quả nghiên cứu cho thấy một số vấn đề liên quan đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của nữ doanh nhân, đó là: quá tải vai trò, vấn đề bảo vệ sức khỏe, quản lý thời gian kém, vấn đề chăm sóc người phụ thuộc và thiếu mạng lưới hỗ trợ đầy đủ Mặc dù mạng lưới hỗ trợ, chất lượng sức khỏe và quản lý thời gian là những nhân tố tích cực đối với sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống, nhưng vấn đề chăm sóc người phụ thuộc và vai trò quá tải là những biến độc lập có mối quan hệ tiêu cực

Tài liệu nước ngoài:

Bên cạnh các công trình nghiên cứu trong nước Để có cơ sở cho đề tài nghiên cứu của mình, tác giả đã tham khảo một số tài liệu của các tác giả nước ngoài, cụ thể như sau:

- Nghiên cứu của Rincy V.Mathew and N.Panchanatham (2011)

Bài nghiên cứu “An exploratory study on the work-life balance of

women entrepreneurs in South Indian” của Mathew và Panchanatham năm

2011, mục tiêu chính của nghiên cứu là xác nhận và phát triển một mô hình thích hợp để minh họa cho các vấn đề phải đối mặt trong sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của các nữ doanh nhân miền Nam Ấn Độ Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tình trạng quá tải vai trò, vấn đề chăm sóc phụ thuộc, chất lượng sức khỏe, các vấn đề trong quản lý thời gian và thiếu sự hỗ trợ gia đình và xã hội là những yếu tố chính ảnh hưởng đến nhận thức sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của nữ doanh nhân ở Ấn Độ Nghiên cứu này đưa ra các khuyến nghị cho các chuyên gia nguồn nhân lực, nhà quản trị

Trang 17

và các nữ doanh nhân để đối phó với các vấn đề cân bằng giữa công việc và cuộc sống đối với nữ doanh nhân Ấn Độ

- Nghiên cứu của Devpriya Dey (2014 )

Nghiên cứu “The Challenging Factors for Women Entrepreneurs in

Blending Family and Work” của Dey năm 2014 nhằm mục đích hiểu được vai

trò đa chiều của các nữ doanh nhân Nghiên cứu khảo sát đã được tiến hành

để xác định các vấn đề cân bằng cuộc sống công việc khác nhau đối với nữ doanh nhân Kết quả nghiên cứu cho thấy những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự cân bắng giữa công việc và gia đình là tình trạng quá tải vai trò, vấn đề chăm sóc phụ thuộc, chất lượng sức khỏe, các vấn đề trong quản lý thời gian và thiếu sự hỗ trợ xã hội thích hợp Tác động của các yếu tố này có thể thay đổi từ nhóm tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn và thậm chí mức độ thu nhập Nghiên cứu xác định rõ ràng rằng các nữ doanh nhân đã có

sự hy sinh đáng kể để đạt được đỉnh cao quyền lực Không chỉ có vậy, có những yếu tố ảnh hưởng đến tinh thần kinh doanh của nữ doanh nhân như yếu

tố tuổi tác, trình độ học vấn, văn hóa, tình trạng hôn nhân, mức thu nhập cũng như sự hỗ trợ của gia đình

- Nghiên cứu của Md Mahi Uddin và Mustafa Manir Chowdhury (2015)

Kết quả bài nghiên cứu“An investigation into the issues of Work-Life

balance of Women Entrepreneurs in Bangladesh” của Uddin và Chowdhury

năm 2015 cho thấy rằng có năm yếu tố của vấn đề cân bằng giữa công việc và cuộc sống, cụ thể là vai trò quá tải, các vấn đề sức khỏe liên quan, chăm sóc phụ thuộc, quản lý thời gian, sự hỗ trợ gia đình và xã hội Nghiên cứu này giúp nữ doanh nhân có thể tập trung giảm khối lượng công việc, quản lý các vấn đề chăm sóc phụ thuộc, cải thiện sức khỏe của họ, quản lý thời gian để

Trang 18

duy trì sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống gia đình, để tồn tại, cạnh tranh và làm cho doanh nghiệp của họ thành công

Ngoài ra, tác giả còn tham khảo một số bài viết có nội dung liên quan

đến đề tài như: “The Influence Factors on the Work-Life Balance of Women

Entrepreneurs in Iran” của Forough Jalali, Neda Khansari Shamekh, Hamed

Daneshkhahi (2014) , “Entrepreneurship in Vietnam: just on the starting

point of the race” của Ho Ngoc Phuong, “ Gender and enterprise development in Vietnam under Doi-moi : issues for policy, research, and training” của Thanh-Dam Truong …

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 DOANH NHÂN

1.1.1 Khái niệm

Có nhiều khái niệm về doanh nhân:

Jean-Baptiste Say, một nhà kinh tế học người Pháp và được cho là người đầu tiên đặt vấn đề về “doanh nhân” vào thế kỷ 19, cho rằng, doanh nhân là người vận hành một doanh nghiệp, cụ thể là một nhà thầu, giữ vai trò trung gian làm cầu nối giữa vốn và lao động Ông còn đưa ra một định nghĩa rộng hơn, doanh nhân là người dịch chuyển các nguồn lực kinh tế từ chỗ có hiệu suất và sản lượng thấp hơn lên hiệu suất và sản lượng cao hơn (trích dẫn từ Lộc (2011))

Aidis (2002) đã nêu ra khái niệm về doanh nhân, là các cá nhân có doanh nghiệp của riêng mình và đang tích cực tham gia vào các hoạt động kinh doanh

Lee-Gosselin và Grise (1990) khẳng định, doanh nhân là những người không chỉ sở hữu, mà còn quản lý các doanh nghiệp của họ

Cuốn Từ điển tiếng Việt (xuất bản tháng 4-2007) của Trung tâm từ điển học, do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên, doanh nhân được định nghĩa là “Người làm nghề kinh doanh” (trích dẫn từ Tuấn (2007))

Nhà nghiên cứu Vũ Quốc Tuấn, trong bài "Doanh nhân - một góc nhìn" trên báo Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần, ngày 13/10/2007, viết về khái niệm doanh nhân là những người chủ doanh nghiệp trực tiếp kinh doanh doanh nghiệp của mình, những người được cử hoặc được thuê để quản lý doanh nghiệp, thực hiện nhiệm vụ kinh doanh; trách nhiệm và lợi ích của họ gắn liền với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 20

Theo Đỗ Minh Cương (2009) cho rằng, doanh nhân Việt Nam hiện nay

là một cộng đồng xã hội gồm những người làm nghề kinh doanh, trước hết là

bộ phận những người chủ sở hữu, lãnh đạo, quản lý, hoạt động nghiệp vụ kinh doanh của các hộ gia đình và doanh nghiệp Khái niệm về doanh nhân như trên có thể chưa đầy đủ, toàn diện nhưng đã khắc phục được nhiều thiếu sót

và bổ sung một số điểm mới trong quan điểm của các tác giả đi trước

Từ những khái niệm trên và hướng nghiên cứu đề tài, tác giả tổng hợp cơ bản về nữ doanh nhân: là những nữ chủ doanh nghiệp, những người sáng lập,

sở hữu và điều hành doanh nghiệp

1.1.2 Vai trò của nữ doanh nhân

Nghiên cứu của Theurer (2014) kết luận rằng có sự liên kết quan trọng giữa vai trò của phụ nữ trong nền kinh tế và sự thịnh vượng kinh tế đất nước Thực tế rằng phụ nữ đóng góp quan trọng cho nền kinh tế quốc gia về giải quyết việc làm, tăng trưởng kinh tế và tạo ra của cải đã được nghiên cứu gần đây (Prowess Report, 2005) Nghiên cứu mới của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) năm 2015 cho thấy, Việt Nam xếp vị trí 76 trên tổng số 108 quốc gia về

tỉ lệ phụ nữ tham gia quản lý ở mức 23% Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng mối quan hệ tích cực giữa vai trò lãnh đạo của phụ nữ với hiệu quả kinh doanh và kêu gọi tăng tỉ lệ phụ nữ đảm nhận các vị trí lãnh đạo cao nhất (hiện chỉ ở mức 5% trên thế giới) (ILO, 2015)

Nghiên cứu của ILO năm 2014 cho rằng Việt Nam với 23% phụ nữ đảm nhận vai trò quản lý trong doanh nghiệp Theo Điều tra Lao động và Việc làm, tỷ lệ phụ nữ ở vị trí lãnh đạo, quản lý tăng 0,5% với tỷ lệ 24,4% trong năm 2013 so với năm 2012 và tăng lên 0,6% từ năm 2011 đến năm 2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng những người phụ nữ tham gia nhiều hơn vào thị trường lao động là động lực lớn cho sự phát triển và tăng cường khả năng cạnh tranh của toàn cầu (ILO, 2015)

Trang 21

Nữ chủ doanh nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình chuyển đổi các nước đang phát triển bởi vì họ có xu hướng sử dụng lao động nữ thường xuyên hơn, giúp giảm phân biệt đối xử về giới trong thị trường lao động và có thể làm giảm nạn buôn bán bởi mở rộng cơ hội kinh tế cho phụ nữ (World Bank, 2011)

Tinh thần kinh doanh của phụ nữ có một đóng góp đáng kể vào sự phát triển của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế trong những năm gần đây Vai trò ngày càng quan trọng của họ đã được công nhận bởi Chính phủ và Nhà nước Tại Diễn đàn Doanh nhân Việt Nam ngày 06-03-2011 ở Hà Nội, các lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã khẳng định, các doanh nhân nữ Việt Nam là những tấm gương tiêu biểu cho bản lĩnh, sức chịu đựng, sự sáng tạo, năng động và sức vươn lên trong khó khăn, thử thách, đã góp phần tích cực vào việc duy trì sự ổn định và khôi phục, phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề

William Scheela & Tran Thi Van Hoa (2004) đã khẳng định rằng nữ doanh nhân Việt Nam có năng lực quản lý thời gian và quản lý bản thân tốt hơn nam doanh nhân, chính vì thế mà nữ doanh nhân vừa quản lý và điều

Trang 22

hành tốt doanh nghiệp, vừa đảm nhận tốt vai trò của người phụ nữ đảm đang trong gia đình Nữ doanh nhân có những ưu thế vượt trội như: sức chịu đựng bền bỉ, khả năng cảm nhận tinh tế, mềm dẻo, ứng phó linh hoạt với môi trường kinh doanh Bên cạnh đó, tố chất riêng vốn có của phụ nữ là sức chịu đựng tốt hơn, sự mềm mỏng trong quan hệ xã hội và các đối tác

Các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ đóng góp không nhỏ vào GDP, tạo

ra của cải vật chất cho xã hội, tạo việc làm cho người lao động, thực hiện trách nhiệm xã hội cũng như việc góp phần thúc đẩy bình đẳng giới, trao quyền cho phụ nữ và tiến bộ xã hội Nữ doanh nhân đã thực sự là một thành phần rất quan trọng của đội quân chủ lực đất nước, tiên phong trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, tạo việc làm cho hàng vạn lao động, đóng góp cho ngân sách nhà nước và hội nhập sâu rộng vào thị trường thế giới và khu vực Trong bối cảnh hội nhập, nữ doanh nhân Việt Nam được đi đây đi

đó, mở mang kiến thức, tầm nhìn trong kinh doanh, vai trò của nữ doanh nhân

cũng ngày càng được xem trọng hơn (Thư & Cương, 2015)

1.1.3 Những rào cản của nữ doanh nhân trong công việc kinh doanh

Nữ doanh nhân phải đối mặt với nhiều trở ngại cả ở giai đoạn đầu của khởi sự doanh nghiệp và khi nỗ lực để phát triển và mở rộng kinh doanh Trong vận hành doanh nghiệp, nếu được giải phóng nhiều hơn trong công việc gia đình, nữ doanh nhân tỏ ra mạnh mẽ hơn so với nam giới trong các quyết định kinh doanh (Hampel-Milagrosa cùng cộng sự, 2010) Các cuộc xung đột giữa công việc và gia đình của nữ doanh nhân nhiều hơn so với các doanh nhân nam (Al-Hossienie, 2011; Peeters, Montgomery, Bakker và Schaufeli, 2005)

Nghiên cứu của Barwa (2003) về các nữ doanh nhân Việt Nam phải đối mặt với một số bất lợi do các định kiến và sự bất bình đẳng giới trong xã hội

Trang 23

Những rào cản mà nữ doanh nhân phải đối mặt như khi tiếp cận vốn vay từ các tổ chức tín dụng do suy nghĩ còn hạn chế về mặt giáo dục, về quyền sở hữu tài sản và sự thay đổi xã hội Những khía cạnh liên quan đến sự tiếp cận không công bằng với các cơ hội do hạn chế về kinh nghiệm, kiến thức, mạng lưới kinh doanh chưa đủ, việc tiếp cận cơ hội đào tạo còn thiếu Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) đã ghi nhận tình trạng phải đối mặt với các nữ doanh nhân, với sự nhấn mạnh đặc biệt về khía cạnh tăng trưởng như tài chính; tăng việc làm và cải thiện điều kiện lao động Kết quả từ những nghiên cứu về nữ doanh nhân nêu bật bốn rào cản chính:

Thứ nhất là, tiếp cận nguồn vốn

Tiếp cận nguồn vốn là một thách thức đối với nữ doanh nhân Việt Nam Trong các cuộc điều tra và phỏng vấn, các nữ doanh nhân Việt Nam đã chỉ ra rằng quá trình áp dụng cho các khoản vay từ ngân hàng là cồng kềnh và khó hiểu trong khi với nam giới thì không phát sinh vấn đề này (Hội đồng Doanh nhân nữ Việt Nam, 2007) Trong khi các chủ doanh nghiệp là nam giới có xu hướng vay thêm từ ngân hàng nhà nước / chính phủ, một số nữ doanh nhân cho rằng các ngân hàng nhà nước là không linh hoạt và thiếu định hướng dịch

vụ khách hàng (International Finance Corporation, 2007)

Việc hạn chế tiếp cận nguồn vốn cũng có thể hạn chế sự mở rộng của các doanh nghiệp Một số nghiên cứu cho thấy nữ doanh nhân ít có khả năng tiếp nhận vốn từ các nhà đầu tư và tín dụng thương mại (Brush, 2006) Cuộc khảo sát của UNIDO cho thấy nữ doanh nhân trải qua việc tiếp cận nguồn vốn khó khăn nhiều hơn nam giới do vấn đề giới (UNIDO, 2010)

Thứ hai là, tiếp cận kiến thức và thông tin

Rào cản thường được đề cập trong nghiên cứu về nữ doanh nhân ở các nước đang phát triển là họ thiếu sự đào tạo bài bản trong giáo dục và đào tạo

kỹ năng Họ cũng phải đối mặt với những định kiến xã hội như xu hướng

Trang 24

không tin vào tài năng của nữ giới Điều này, kết hợp với sự thiếu định hướng nghề nghiệp, nói chung dường như hạn chế nữ doanh nhân tiếp cận với công nghệ thông tin, thiếu kỹ năng quản lý, cùng với các vấn đề trong việc tìm kiếm thị trường và mạng lưới phân phối Khi hội nhập kinh tế thì bên cạnh rào cản về kiến thức chuyên môn, nữ doanh nhân phải đối mặt với rào cản về ngoại ngữ

Các mối quan hệ là một yếu tố quan trọng trong các giao dịch kinh doanh ở Việt Nam Mọi người đều biết rằng 60-70% các giao dịch kinh doanh liên quan đến hợp đồng được ký kết tại các cuộc xã giao với đồ uống Và không thích hợp cho phụ nữ tham gia vào các cuộc tụ họp như vậy, điều này

có thể tạo ra bất lợi cho doanh nghiệp của họ (International Finance Corporation, 2007) Điều này khiến nữ doanh nhân bị hạn chế khi tiếp cận với thông tin

Thứ ba là, sự thiếu tự tin và khả năng chấp nhận rủi ro

Tiềm lực lớn nhất cho tăng trưởng nằm trong lĩnh vực kinh doanh giữa các doanh nghiệp với nhau và giữa doanh nghiệp với chính phủ Tuy nhiên, trong nhận thức của nhiều nữ doanh nhân lại tồn tại một suy nghĩ rằng doanh nghiệp do nữ giới làm chủ không có đủ năng lực thực hiện những hợp đồng này và chính điều đó đã hạn chế khả năng họ giành được chiến thắng trong các hợp đồng Hơn nữa, nữ giới cũng thường thực hiện các giao dịch kinh doanh với các nhà cung cấp quen thuộc hơn Nghiên cứu của Habibi cùng cộng sự (2014) cho rằng nữ doanh nhân thiếu tự tin về bản thân và khả năng chấp nhận rủi ro thấp hơn nam giới Nghiên cứu của Siddiqui (2012) cũng nhận định rằng bản chất vốn có của nữ doanh nhân là thiếu sự tự tin và không chịu được rủi ro

Trang 25

Thứ tư là, cân bằng giữa công việc và cuộc sống

Những áp lực đối với nữ doanh nhân Việt Nam để thực hiện nhiệm vụ truyền thống của họ trong gia đình có thể hạn chế sự phát triển doanh nghiệp Nghĩa vụ gia đình như rào cản đối với sự thành công của nữ doanh nhân (Theurer, 2014) Cuộc khảo sát của UNIDO (2010) cho thấy rằng 39% nữ doanh nhân tin rằng trách nhiệm gia đình cản trở việc mở rộng kinh doanh, trong khi ở nam giới chỉ có 17% Cuộc phỏng vấn của nữ doanh nhân trong cuộc khảo sát của IFC (2007) đã lý giải việc này: “Tôi muốn phát triển doanh nghiệp, nhưng chỉ trong phạm vi mà tôi có thể quản lý Tôi không muốn doanh nghiệp của tôi mở rộng đến một điểm mà nó vượt quá khả năng quản lý của riêng tôi Là một phụ nữ, tôi có rất nhiều trách nhiệm về cả gia đình và xã hội”

Cân bằng giữa công việc và cuộc sống là một vấn đề truyền thống đối với phụ nữ ở khắp mọi nơi trên thế giới Nhưng ở Việt Nam, vấn đề này là khó khăn hơn vì các dịch vụ xã hội không có phổ biến nhiều 80% nữ doanh nhân được phỏng vấn nói rằng áp lực cao từ công việc và gia đình và thiếu thời gian là một hạn chế cho phát triển doanh nghiệp của họ (Hội đồng nữ doanh nhân Việt Nam, 2007)

1.2 SỰ CÂN BẰNG GIỮA CÔNG VIỆC VÀ CUỘC SỐNG CỦA NỮ DOANH NHÂN

1.2.1 Sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống

Trước khi đề cập đến vấn đề về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống, điều quan trọng là phải hiểu được ý nghĩa của thuật ngữ này Thuật ngữ

“cân bằng giữa công việc và cuộc sống” có nhiều cách hiểu khác nhau

Hughes và Bozionelos (2007) cho rằng, sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống là khả năng của cá nhân, bất kể tuổi tác hay giới tính, để tìm thấy

Trang 26

sự hài hòa mà họ có thể kết hợp công việc với các trách nhiệm, các hoạt động,

sự thuận lợi công việc và gia đình

Greenhaus, Collins và Shaw (2003) cho rằng sự cân bằng công việc và cuộc sống là mức độ mà các cá nhân được bình đẳng tham gia và đều hài lòng với vai trò công việc và gia đình

Theo lời của Jim Bird, Giám đốc điều hành của worklifebalance.com, cân bằng công việc-cuộc sống không có nghĩa là cân bằng giữa cuộc sống nghề nghiệp và cá nhân Cuộc sống của một cá nhân có thể bao gồm gia đình, công việc, giải trí, nghĩa vụ xã hội, sức khỏe, sự nghiệp và tâm hồn Trong khi một số vấn đề cần chú trọng hơn, những vấn đề khác có thể ít quan tâm hơn Tạo thế cân bằng tốt bằng cách ưu tiên các nhiệm vụ cần tập trung sẽ dẫn đến cân bằng công việc-cuộc sống Đó là nhiệm vụ cụ thể của mỗi cá nhân và luôn thay đổi theo thời gian

Trong nghiên cứu này, “cân bằng giữa công việc và cuộc sống” được hiểu là một thuật ngữ dùng để mô tả một trạng thái thỏa mãn về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống cá nhân Sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống, nghĩa là, cá nhân phải có được một cuộc sống tốt đẹp cả bên trong gia đình và bên ngoài công việc Điều này được chấp nhận và tôn trọng như những chuẩn mực và vì lợi ích chung của các cá nhân, doanh nghiệp và xã hội (The European Industrial Relations Dictionary, 2009)

Trang 27

Thuật ngữ “cân bằng giữa công việc và cuộc sống” được sử dụng trong nghiên cứu, trong đó hàm ý một ý nghĩa rộng hơn là hàm chỉ gia đình và cuộc sống Thuật ngữ “cuộc sống” trong nghiên cứu này chính là: cuộc sống công việc, cuộc sống gia đình, đời sống xã hội, và cuộc sống riêng tư

1.2.2 Sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống nữ doanh nhân

Khi nữ doanh nhân thành công và quyền lực, sự cân bằng giữa công việc

và cuộc sống sẽ luôn là sự quan tâm Một số người cảm thấy họ có thể kiểm soát tình hình để có được tất cả Nhưng nhiều người cảm thấy họ không thể đảm đương tốt khi phải đồng thời thực hiện nhiệm vụ liên quan đến gia đình

có thể bao gồm chăm sóc trẻ em, chăm sóc cha mẹ già, trách nhiệm gia đình, cũng như trách nhiệm của vai trò người vợ và vai trò của người mẹ trong gia đình và người lãnh đạo trong công việc Chân dung của họ được vạch ra bởi những phẩm chất và vai trò của các mối quan hệ: với các doanh nghiệp, với gia đình, với xã hội và giá trị mà họ hướng đến Trong mối quan hệ với gia đình, các nữ doanh nhân với vai trò người vợ và người mẹ trong gia đình nhỏ của họ, đồng thời với vai trò một người chị, người con trong một gia đình lớn Trong xã hội hiện nay, tiêu chuẩn và các giá trị truyền thống vẫn tồn tại, ngay

cả đối với nhóm các doanh nhân trẻ Họ luôn luôn nghĩ về trách nhiệm của mình để chăm sóc cho trẻ em và những người khác trong gia đình.Khi đề cập đến vai trò công việc của những quản lý cấp cao, nhiều nữ doanh nhân cho rằng, trong xã hội xưa và nay, còn rất nhiều người cho rằng đối với đàn ông thì công việc quan trọng hơn cả gia đình Điều này thể hiện qua những giờ làm việc kéo dài và những người đàn ông sẽ giao phó công việc gia đình cho người phụ nữ

Theo Peeters và cộng sự (2005), áp lực từ các lĩnh vực công việc và gia đình thường xung đột, dẫn đến sự mất cân bằng Do đó, khái niệm về sự cân

Trang 28

bằng giữa công việc và cuộc sống cùng với những tác động của nó, là một vấn

đề cốt lõi đối với nữ doanh nhân

Lellan và Uys (2009) xác định một trong những nhân tố quan trọng liên quan đến vai trò kép của nữ doanh nhân đó là cân bằng giữa công việc và đời sống Những phát hiện của nghiên cứu cho thấy sự xung đột giữa công việc và trách nhiệm gia đình là nguyên nhân chính dẫn đến sự căng thẳng ở nữ doanh nhân

Theo kết quả nghiên cứu do Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp quốc (UNIDO) chuẩn bị trong khuôn khổ dự án Chương trình chung giữa Liên Hợp quốc và Chính phủ Việt Nam về Bình đẳng Giới với sự phối hợp của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), thông qua Hội đồng doanh nhân nữ (VWEC) và nguồn tài trợ của Quỹ MDG Achievement Fund (MDGF) cho thấy một trong những nguyên nhân quan trọng của nữ doanh nhân Việt Nam đối với khó khăn trong kinh doanh là họ vẫn phải gánh nhiều trách nhiệm gia đình khi vận hành doanh nghiệp Những phát hiện chính trong nghiên cứu về trở ngại đối với việc khởi sự kinh doanh là, phụ nữ

có xu hướng lấy ý kiến của gia đình đối với các quyết định quan trọng trong hoạt động kinh doanh; trách nhiệm lo toan công việc gia đình là trở ngại rất lớn đối với quyết định khởi sự kinh doanh; trách nhiệm đối với gia đình và công việc nội trợ là trở ngại chính đối với việc quản trị và mở rộng hoạt động kinh doanh; phụ nữ mong muốn giảm trách nhiệm công việc nội trợ gia đình

để dành nhiều thời gian hơn cho hoạt động kinh doanh Nữ doanh nhân được hỏi trong cuộc khảo sát của nghiên cứu này tỏ ra khó khăn trong việc khởi sự kinh doanh là do yếu tố chủ quan và truyền thống chứ không phải trở ngại từ khung khổ pháp lý Trong vận hành doanh nghiệp, nếu được giải phóng nhiều hơn trong công việc gia đình, nữ doanh nhân tỏ ra mạnh mẽ hơn so với nam giới trong các quyết định kinh doanh (Hampel-Milagrosa cùng cộng sự, 2010)

Trang 29

Cân bằng giữa công việc và cuộc sống là một quá trình chứ không phải chỉ là tại một thời điểm Các mức độ của công việc, không gian, và thời gian

tự chủ khác nhau chịu ảnh hưởng bởi công việc, mối quan hệ với khách hàng, giờ làm việc, vị trí của văn phòng, và liệu nữ doanh nhân có được chia sẻ bớt trách nhiệm Hầu hết nữ doanh nhân cho biết họ có suy nghĩ như cầu toàn và cảm giác tội lỗi khi đối mặt giữa công việc và gia đình, là yếu tố chính mà cản trở họ trong việc theo đuổi các mục tiêu trong công việc và lĩnh vực khác trong cuộc sống (Dileepkumar, 2006)

Để sống một cuộc sống khỏe mạnh và hạnh phúc, những nữ doanh nhân phải đối mặt với trách nhiệm giữa cân bằng công việc, cuộc sống cá nhân và nhu cầu của gia đình

Tạo thế cân bằng giữa cuộc sống công việc và cuộc sống gia đình là một thách thức đối với nữ doanh nhân Hơn nữa, thực tế hiện nay trong nhiều gia đình, cả hai vợ chồng đang làm việc hoặc có sự nghiệp, không chỉ là công việc, còn có trách nhiệm cho việc chăm sóc con cái, người phụ thuộc Những nhu cầu gia tăng của công việc, cũng như ở nhà, đã thực hiện công việc quản

lý và cuộc sống gia đình ngày càng thách thức, và đối với nữ doanh nhân, với truyền thống văn hóa là phụ nữ thì gắn liền vai trò như là người của công việc gia đình Một nghiên cứu liên quan về cân bằng công việc-cuộc sống của Matthew và Panchanatham (2011) cho thấy rằng các nữ doanh nhân phải đối mặt với thách thức do vai trò quá tải, vấn đề bảo vệ sức khỏe, quản lý thời gian, vấn đề chăm sóc phụ thuộc, và thiếu mạng lưới hỗ trợ đầy đủ

Do đó, khái niệm giữa các mối quan hệ công việc-cuộc sống vì những khát vọng ngày càng tăng để cân bằng làm việc với các khía cạnh khác của cuộc sống, chẳng hạn như gia đình, lợi ích cuộc sống cá nhân, và các mạng lưới hỗ trợ Clark định nghĩa cân bằng công việc-cuộc sống như sự hài lòng

và hoạt động tốt tại nơi làm việc và ở nhà với xung đột vai trò là tối thiểu

Trang 30

Hơn nữa, cân bằng công việc-cuộc sống có thể được định nghĩa là mức độ mà một cá nhân có thể đồng thời cân bằng nhu cầu thời gian, tình cảm và hành vi của cả công việc và trách nhiệm gia đình Định nghĩa gần đây của cân bằng công việc-cuộc sống, không giống như những người trước đó, cân bằng công việc-cuộc sống được đề cập đến là khả năng của cá nhân, bất kể tuổi tác hay giới tính, để tìm thấy sự đồng điệu mà sẽ cho phép họ kết hợp công việc với trách nhiệm công việc, hoạt động, và khát vọng

1.3 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ TRƯỚC

Trong hầu hết các tài liệu hiện có, các vấn đề về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của nữ doanh nhân ở Việt Nam đã không được nhấn mạnh trong các tài liệu nghiên cứu thực nghiệm trước đó Các vấn đề về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của nữ doanh nhân ở các quốc gia như vậy cần phải được công nhận là cực kỳ quan trọng đối với xã hội

Ngoài việc đối mặt với những thách thức trong kinh doanh, nữ doanh nhân còn phải áp lực với nhiều vai trò trong gia đình Những vai trò như là một người vợ, người chăm sóc gia đình; quản lý công việc nhà hàng ngày; trách nhiệm với cộng đồng và xã hội Trong xã hội hiện đại, yêu cầu và trách nhiệm của người phụ nữ cao hơn trước TS Khuất Thu Hồng, Viện Nghiên cứu phát triển xã hội cho rằng, sở dĩ như vậy vì phụ nữ vừa phải nội trợ, chăm sóc con cái lại còn phải gánh vác kinh tế gia đình cùng chồng, rồi phải chăm

lo làm đẹp để giữ chồng… Những đòi hỏi của xã hội đối với người phụ nữ khiến họ luôn trong trạng thái phải gồng mình mà cố gắng Bản chất mối quan

hệ gia đình phản ánh nền văn hóa của một dân tộc, tính chất của chế độ chính trị xã hội và tác động của các nền văn hóa khác Địa vị, vai trò của phụ nữ Việt Nam luôn bị ảnh hưởng bởi tập tục và lễ giáo phong kiến, hằn sâu từ bao đời trong nếp nghĩ, cách hành xử nơi gia đình và xã hội Họ luôn phải đối mặt với áp lực công việc và áp lực gia đình Đối mặt với sự khó tương thích giữa

Trang 31

chăm sóc gia đình, giáo dục con cái được coi là thiên chức của phụ nữ - với nâng cao địa vị xã hội- nghề nghiệp Tuy nhiên, để giải quyết hợp lý mối quan

hệ này, cần và phải có hợp lực của toàn xã hội, với mọi phương thức và phương tiện có thể, thực chất là tìm sự đồng thuận trong gia đình để giải quyết mối tương quan giữa quyền lợi và nghĩa vụ của phụ nữ, dưới tác động định hướng của các yếu tố truyền thống và hiện đại

Nữ doanh nhân ở các nước phát triển có thể cân bằng tốt hơn cuộc sống gia đình của họ với công việc Các nhu cầu có nguồn gốc từ công việc và cuộc sống cá nhân của phụ nữ là khá thường xuyên loại trừ lẫn nhau, làm cho

nó rất khó khăn để có sự cân bằng giữa các vai trò Hiện nay, mặc dù chủ đề cân bằng giữa công việc và cuộc sống các nữ doanh nhân là cấp thiết, nhưng các nghiên cứu liên quan đến cân bằng giữa công việc và cuộc sống của nữ doanh nhân ở Việt Nam là vô cùng khan hiếm Vì vậy trách nhiệm gia đình cùng với việc quản lý doanh nghiệp trở thành một thách thức trong cuộc sống của nữ doanh nhân

1.3.1 Mô hình nghiên cứu của Mathew và Panchanatham (2011)

Mô hình của Mathew và Panchanatham (2011) về nghiên cứu khám phá trong vấn đề nhận thức về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của nữ doanh nhân ở miền Nam Ấn Độ như sau:

Trang 32

Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của Mathew và Panchanatham (2011)

(Trích: An exploratory study on the work-life balance of women

entrepreneurs in South India, năm 2011) Nghiên cứu điều tra 227 mẫu là nữ doanh nhân tại miền Nam Ấn Độ Kết quả chỉ ra rằng, Quá tải vai trò là một nhân tố tác động quan trọng trong cuộc sống nữ doanh nhân, dẫn đến vấn đề tiếp theo trong công việc và cuộc sống của họ Các vai trò như người con, người vợ, người mẹ, người nội trợ, doanh nhân…đều đòi hỏi thời gian và năng lượng Tuy nhiên, trong xã hội cạnh tranh và toàn cầu hóa, điều đó là rất khó khăn cho các nữ doanh nhân để thực hiện tất cả các vai trò cùng một lúc Kết quả là, tinh thần và thể chất của

họ kiệt sức vì những đòi hỏi vai trò phát sinh từ công việc và gia đình Điều này thường dẫn đến suy giảm sức khỏe, sự bất mãn và làm giảm vai trò sống

và làm việc

Hai phát hiện quan trọng khác của nghiên cứu này là vấn đề sức khỏe của nữ doanh nhân và các vấn đề công việc và chăm sóc người phụ thuộc Vấn đề sức khỏe không chỉ làm trầm trọng thêm sự mất cân bằng giữa công

(+) (+) (+)

(-) (-)

Trang 33

việc và gia đình mà còn ảnh hưởng đến sự thành công trong kinh doanh Trong nghiên cứu này, các vấn đề sức khỏe của nữ doanh nhân ngày càng tăng, sau khi nắm giữ vai trò kinh doanh, rõ ràng cho thấy nữ doanh nhân gặp phải vấn đề căng thẳng về thể chất và tình cảm

Vấn đề công việc và chăm sóc người phụ thuộc, thiếu mạng lưới hỗ trợ

xã hội, trong đó bao gồm sự hỗ trợ từ các thành viên gia đình, cấp dưới / nhân viên và xã hội cũng là những nhân tố ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống nữ doanh nhân Nhiều nữ doanh nhân khi được phỏng vấn

đã bày tỏ quan điểm rằng họ đã thấy thật khó khăn để được sự ủng hộ của gia đình và xã hội

Kết quả phân tích nghiên cứu đã chỉ ra được những vấn đề về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống các nữ doanh nhân miền Nam Ấn Độ là quá tải vai trò, chất lượng sức khỏe, vấn đề chăm sóc người phụ thuộc, vấn đề trong quản lý thời gian và mạng lưới hỗ trợ

1.3.2 Mô hình nghiên cứu của Tuân và Hà (2013)

Mô hình nghiên cứu của Tuân và Hà (2013) đưa ra 5 nhân tố ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống nữ doanh nhân Đó là: quá tải vai trò, chất lượng sức khỏe, vấn đề chăm sóc người phụ thuộc và mạng lưới hỗ trợ

“Nghiên cứu khám phá về sự cân bằng giữa cuộc sống và công việc của

nữ doanh nhân Hà Nội” của Tuân và Hà năm 2013 với mẫu điều tra là 120 nữ

doanh nhân ở Hà Nội Kết quả phân tích cho thấy một số vấn đề về sự cân bằng công việc và cuộc sống nữ doanh nhân đối mặt là: vai trò quá tải, vấn đề bảo vệ sức khỏe, quản lý thời gian kém, chăm sóc người phụ thuộc và thiếu mạng lưới hỗ trợ

Trong đó, quá tải vai trò là yếu tố mà phần lớn cuộc sống của nữ doanh nhân trong nghiên cứu này, dẫn tới ảnh hưởng tiếp theo trong công việc và cuộc sống Sự gia tăng rủi ro sức khỏe của nữ doanh nhân và những vấn đề về

Trang 34

quản lý thời gian ảnh hưởng đến gia đình và công việc Thêm vào đó nữ doanh nhân còn phải chăm sóc con cái, người lớn tuổi làm nữ doanh nhân chịu sự quá tải, dẫn đến những lo lắng và xung đột công việc và gia đình Việc thiếu sự hỗ trợ mạng lưới xã hội cũng tác động ảnh hưởng đến công việc

và cuộc sống nữ doanh nhân

Những nhân tố tích cực đối với sự cân bằng công việc cuộc sống nữ doanh nhân là mạng lưới hỗ trợ, chất lượng sức khỏe và quản lý thời gian Vấn đề chăm sóc người phụ thuộc và vai trò quá tải là những biến độc lập có mối quan hệ tiêu cực đến sự cân bằng công việc cuộc sống nữ doanh nhân

1.3.3 Mô hình nghiên cứu của Dey (2014)

Mô hình của Dey (2014) cũng bao gồm 5 nhân tố ảnh hưởng đến sự cân bằng công việc cuộc sống của nữ doanh nhân Đó là: quá tải vai trò, chất lượng sức khỏe, vấn đề chăm sóc người phụ thuộc, quản lý thời gian và mạng lưới hỗ trợ

Nghiên cứu điều tra 243 nữ doanh nhân từ các tiểu bang khác nhau của Ấn

Độ Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của nữ doanh nhân Bắt đầu

từ một doanh nhân chèo lái việc kinh doanh, một người thích mạo hiểm, sáng tạo, cho đến hoàn thành các trách nhiệm như một người vợ, người mẹ và con gái, cũng như quán xuyến các việc trong gia đình và trách nhiệm với xã hội Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc đảm đương nhiều vai trò là một rào cản lớn trong sự phát triển của phụ nữ làm chủ doanh nghiệp Điều này còn kéo theo việc ảnh hưởng đến sức khỏe cá nhân nữ doanh nhân do khối lượng công việc quá tải Bên cạnh đó, những giờ làm việc kéo dài ảnh hưởng đến cuộc sống công việc và gia đình Các vấn đề chăm sóc người phụ thuộc và mong muốn được quan tâm hơn từ người bạn đời cũng tác động thêm vai trò của nữ doanh nhân

Trang 35

Kết quả nghiên cứu xác định năm nhân tố ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của nữ doanh nhân đó là quá tải vai trò, chất lượng sức khỏe, vấn đề chăm sóc người phụ thuộc, vấn đề trong quản lý thời gian và mạng lưới hỗ trợ Không chỉ có vậy, có những yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề cân bằng giữa công việc và cuộc sống của nữ doanh nhân như yếu tố tuổi tác, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, mức thu nhập cũng như sự hỗ trợ của gia đình

1.3.4 Mô hình nghiên cứu của Uddin và Chowdhury (2015)

Mô hình nghiên cứu của Uddin và Chowdhury (2015) đưa ra 5 nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống nữ doanh nhân Đó là: quá tải vai trò, chất lượng sức khỏe, vấn đề chăm sóc người phụ thuộc và sự hỗ trợ gia đình và xã hội

Nghiên cứu này đánh giá các vấn đề về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của nữ doanh nhân ở Chittagong, Bangladesh Nghiên cứu điều tra

185 mẫu được chọn ngẫu nhiên ở Chittagong, Bangladesh Các câu hỏi đã được chuyển thể từ mô hình của Mathew và Panchanatham (2011)

Kết quả của nghiên cứu xác định một số vấn đề quan trọng liên quan đến nhận thức về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của các nữ doanh nhân Các vấn đề về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống quan trọng phải đối mặt của các nữ doanh nhân là: quá tải vai trò, chất lượng sức khỏe, vấn đề quản lý thời gian, vấn đề chăm sóc người phụ thuộc, và sự hỗ trợ gia đình và

xã hội Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, sự hỗ trợ gia đình và xã hội, chất lượng sức khỏe, và quản lý thời gian có liên quan tích cực với sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống, và các vấn đề về chăm sóc người phụ thuộc và nghĩa vụ trách nhiệm là yếu tố tác động tiêu cực của sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống

Trang 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 vừa trình bày lược khảo các mô hình nghiên cứu trước đây và tổng quan các cơ sở lý thuyết có liên quan đến nhân tố ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống nữ doanh nhân

Kết quả của những nghiên cứu đi trước đã đưa ra 5 nhân tố ảnh hưởng đến sự cân bằng công việc và cuộc sống của nữ doanh nhân đó là: quá tải vai trò, chất lượng sức khỏe, quản lý thời gian, các vấn đề chăm sóc người phụ thuộc, mạng lưới hỗ trợ Cơ sở lý thuyết cùng những kết quả nghiên cứu trước

là cơ sở đề xuất mô hình của đề tài

Trang 37

CHƯƠNG 2

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Ở chương 1 đã trình bày về lý thuyết về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống nữ doanh nhân Trong chương 2, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu và lập luận các giả thuyết nghiên cứu Nghiên cứu sẽ trình bày các phương pháp nghiên cứu khoa học, bao gồm: phương pháp nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu, phương pháp xử lý số liệu được sử dụng để xây dựng

và đánh giá các thang đo dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu cũng như kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu

2.1 THỰC TRẠNG CÂN BẰNG GIỮA CÔNG VIỆC VÀ CUỘC SỐNG CỦA NỮ DOANH NHÂN

Tại buổi hội thảo Doanh nhân nữ trong thời kỳ hội nhập được tổ chức chiều 18/11/2009 tại Hà Nội, khi được hỏi về những trở ngại đối với nữ doanh nhân Việt Nam, khoảng 80% những người được hỏi đề cập đến áp lực cao từ

công việc và gia đình Một vấn đề mà các nữ doanh nhân đang phải đối mặt là

vừa phải quản lý, điều hành doanh nghiệp, vừa phải đảm trách việc nhà Theo Chị Phạm Thị Mỹ Lệ – Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty KingBee, khi lựa chọn đi theo con đường kinh doanh thì phải biết cân bằng giữa công việc và sự nghiệp Do vậy, sự vất vả sẽ nhân lên gấp đôi so với các đồng nghiệp nam nhưng ít người khi đã chọn nó rồi lại từ bỏ nó “… tôi may mắn hơn nhiều bạn bè khi có một người chồng biết thông cảm, chia sẻ và được bố mẹ gia đình hai bên ủng hộ…Tôi cũng phải hy sinh mỗi cái một chút

để cuộc sống mình cân bằng hơn” (Theo Diễn đàn doanh nghiệp ngày 25/10/2015)

Chị Phạm Thị Thanh Hương – Phó Tổng giám đốc Công ty CP Dược – Trang Thiết bị y tế Bình Định (Bidiphar) cho rằng: phụ nữ muốn làm tốt việc

xã hội thì rất cần có sự hỗ trợ đắc lực từ gia đình Phải làm sao để chồng và

Trang 38

gia đình chồng cùng chia sẻ công việc nhà với mình (Theo Diễn đàn doanh nghiệp ngày 25/10/2015)

Chị Mai Chu Lan – Giám đốc Công ty TNHH Milan Việt Nam tâm sự: “Làm công việc kinh doanh vốn đã bận rộn, đặc biệt trong cuộc sống hiện đại như ngày hôm nay với một người phụ nữ như tôi thì sẽ còn vất vả hơn rất nhiều Tôi vừa phải đối mặt với công việc kinh doanh vừa phải làm tốt công việc trong gia đình Tuy nhiên, để làm được điều đó, tôi luôn phải có kế hoạch

và sắp xếp công việc sao cho hợp lý, khoa học Dù rất bận rộn nhưng thời gian giành cho gia đình và công việc kinh doanh tôi luôn rõ ràng và cân bằng mọi việc Đôi khi vì công việc nhiều, bận rộn, tôi đã phải xếp công việc nhà sang một bên, sau đó tôi sẽ cố gắng để làm vào thời điểm khác sao cho mọi việc trong gia đình luôn được hài hòa Tôi luôn coi trọng việc gia đình, tôi nghĩ có làm tốt việc nhà thì việc xã hội mới có thể làm tốt hơn được và như vậy mọi việc sẽ trở lên dễ dàng hơn”… (Theo Diễn đàn doanh nghiệp ngày 25/10/2015)

Nhiều nữ doanh nhân tâm sự, “nhiều lúc cũng muốn buông xuôi lắm nhưng nghĩ ở dưới mình có biết bao nhiêu nhân viên và gia đình trông cậy vào mình nên đành cố gắng hy sinh bản thân” (Theo Diễn đàn doanh nghiệp ngày 25/10/2015)

Quản lý công việc và trách nhiệm gia đình là một trong những rào cản lớn nhất đối với nữ doanh nhân (Shelton, 2006) Nghĩa vụ gia đình như là rào cản đối với phụ nữ muốn trở thành doanh nhân thành công (Theurer, 2014; Sathiabama, 2010)

Các nữ doanh nhân luôn luôn có mong muốn đạt được một sự cân bằng giữa nghĩa vụ gia đình, xã hội và trách nhiệm công việc (Itani H, Sidani, YM, Baalbaki I, trích dẫn từ Edralina (2012))

Trang 39

Ở những nơi như khu vực miền Trung còn có định kiến về giới thì nữ doanh nhân được coi là việc không đúng với quy luật tự nhiên Chẳng hạn như ở Huế, thái độ đối với phụ nữ vẫn còn rất bảo thủ Nếu nói chuyện với mười người đàn ông trên đường phố, tám hay chín người sẽ nói rằng phụ nữ nên ở nhà Nữ doanh nhân vẫn được coi là kỳ lạ, như thể họ đã phá vỡ trật tự của sự vật Và mặc dù nhiều phụ nữ tự làm chủ và khởi sự các doanh nghiệp

hộ gia đình, họ không được coi các doanh nhân Chồng họ không muốn họ trở thành nữ doanh nhân (International Finance Corporation, 2007)

Trong quá trình khảo sát nữ doanh nhân khu vực miền Trung về cân bằng giữa công việc và cuộc sống, có 8/8 nữ doanh nhân khi được hỏi, cho rằng hiện tại bản thân chưa đạt được cân bằng giữa công việc và cuộc sống (Phụ lục 2- Tóm tắt kết quả phỏng vấn định tính)

2.2 ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.2.1 Tổng hợp các nghiên cứu có trước

Từ những phân tích các nghiên cứu đi trước, tác giả tổng hợp các nghiên cứu trước như sau:

Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu có trước

Tên nghiên cứu Tác giả –

Năm

Vấn đề nghiên cứu

Số mẫu Kết quả

Nghiên cứu phát triển và xác nhận công cụ về các nhân tố tác động đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của nữ

227

Mạng lưới hỗ trợ, chất lượng sức khỏe và quản lý thời gian có mối quan hệ cùng chiều với sự

Trang 40

doanh nhân Các nhân tố như quá tải vai trò, chất lượng sức khỏe, vấn đề chăm sóc người phụ thuộc, quản lý thời gian và mạng lưới hỗ trợ có ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của nữ doanh nhân

cân bằng giữa công việc và cuộc sống

Nghiên cứu khám phá xây dựng công

cụ về các nhân tố tác động đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của nữ doanh nhân dựa trên nghiên cứu của Mathew &

Panchanatham Các nhân tố như quá tải vai trò, chất lượng sức khỏe, vấn đề chăm sóc người

120

Những nhân tố tích cực đối với sự cân bằng công việc cuộc sống nữ doanh nhân là mạng lưới hỗ trợ, chất lượng sức khỏe và quản lý thời gian Vấn đề chăm sóc người phụ thuộc và vai

Ngày đăng: 28/11/2017, 11:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Đỗ Minh Cương (2009), “Bàn về khái niệm doanh nhân Việt Nam”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 25, tr. 253-261 [2] Thanh-Dam Truong (2002), “Gender and enterprise development inVietnam under Doi-moi : issues for policy, research, and training” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khái niệm doanh nhân Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học ĐHQGHN", Kinh tế và Kinh doanh 25, tr. 253-261 [2] Thanh-Dam Truong (2002), “Gender and enterprise development in Vietnam under Doi-moi : issues for policy, research, and training
Tác giả: Đỗ Minh Cương (2009), “Bàn về khái niệm doanh nhân Việt Nam”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 25, tr. 253-261 [2] Thanh-Dam Truong
Năm: 2002
[3] Hoàng Văn Hoa (2012), “Phát triển đội ngũ nữ doanh nhân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”, Tạp chí Phát triển kinh tế số 260, Phát triển nguồn nhân lực, tr.2-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển đội ngũ nữ doanh nhân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”, "Tạp chí Phát triển kinh tế số 260
Tác giả: Hoàng Văn Hoa
Năm: 2012
[4] Nguyễn Viết Lộc (2011), “Bàn về khái niệm doanh nhân Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học chính trị số 5, Nghiên cứu- trao đổi, tr.46 [5] Vũ Quốc Tuấn (2007), “Doanh nhân là ai ?” Doanh nhân Sài Gòn cuốituần, truy cập tại: http://vietbao.vn/Kinh-te/Doanh-nhan-la-ai/40089411/92/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khái niệm doanh nhân Việt Nam hiện nay”," Tạp chí Khoa học chính trị số 5", Nghiên cứu- trao đổi, tr.46 [5] Vũ Quốc Tuấn (2007), “Doanh nhân là ai ?” "Doanh nhân Sài Gòn cuối "tuần
Tác giả: Nguyễn Viết Lộc (2011), “Bàn về khái niệm doanh nhân Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học chính trị số 5, Nghiên cứu- trao đổi, tr.46 [5] Vũ Quốc Tuấn
Năm: 2007
[6] Chương trình thảo luận trực tuyến “Phụ nữ Việt Nam và hội nhập Quốc tế” vào ngày 20/03/2015, http://live.worldbank.org/vietnam-women-and-international-integration Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ Việt Nam và hội nhập Quốc tế
[7] Thư, Cương (2015), “Rào cản của nữ doanh nhân Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế: Lý luận và thực tiễn”, Kỷ yếu hội thảo khoa học quản trị, tr.204-212 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rào cản của nữ doanh nhân Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế: Lý luận và thực tiễn”, "Kỷ yếu hội thảo khoa học quản trị
Tác giả: Thư, Cương
Năm: 2015
[8] Nhâm Phong Tuân, Nguyễn Thu Hà (2013), “Nghiên cứu khám phá về sự cân bằng giữa cuộc sống và công việc của nữ doanh nhân Hà Nội”, Phụ nữ khởi nghiệp tại Việt Nam, tr.174-195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khám phá về sự cân bằng giữa cuộc sống và công việc của nữ doanh nhân Hà Nội”, "Phụ nữ khởi nghiệp tại Việt Nam
Tác giả: Nhâm Phong Tuân, Nguyễn Thu Hà
Năm: 2013
[9] Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008. “Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS”. Nhà xuất bản Hồng Đức, tập 1&2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS”". Nhà xuất bản Hồng Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức"
[10] Aidis (2002), “Why less? The gendered aspects of small- and medium-sized enterprise ownership under economic transition”, Tinbergen Institute Discussion Papers No 02-055/2, http://papers.tinbergen.nl/02055.pdf[11] C. A. Al-Hossienie (2011), “Socio-Economic Impact of WomenEntrepreneurship in Sylhet City”, Bangladesh Development Research Working Paper Series, BDRWPS 12 July, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Why less? The gendered aspects of small- and medium-sized enterprise ownership under economic transition”, "Tinbergen Institute Discussion Papers No 02-055/2, "http://papers.tinbergen.nl/02055.pdf [11] C. A. Al-Hossienie (2011), “Socio-Economic Impact of Women Entrepreneurship in Sylhet City”," Bangladesh Development Research Working Paper Series
Tác giả: Aidis (2002), “Why less? The gendered aspects of small- and medium-sized enterprise ownership under economic transition”, Tinbergen Institute Discussion Papers No 02-055/2, http://papers.tinbergen.nl/02055.pdf[11] C. A. Al-Hossienie
Năm: 2011
[12] Barwa (2003), “Impact of Start your Business (SYB) Training on Women Entrepreneurs in Viet Na”m,http://www.ilo.org/hanoi/Whatwedo/Publications/WCMS_144540/lang--en/index.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of Start your Business (SYB) Training on Women Entrepreneurs in Viet Na
Tác giả: Barwa
Năm: 2003
[13] Brush, Candida (2006), “Women entrepreneurs: a research overview”, In The Oxford handbook of entrepreneurship, Edited by Mark Casson et. al. Oxford, U.K.: Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Women entrepreneurs: a research overview”, In "The Oxford handbook of entrepreneurship
Tác giả: Brush, Candida
Năm: 2006
[14] Devpriya Dey (2014 ), “The Challenging Factors for Women Entrepreneurs in Blending Family and Work”, European Academic Research Vol. II, Issue 8 September 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Challenging Factors for Women Entrepreneurs in Blending Family and Work”, "European Academic Research
[15] Dileepkumar, M. (2006), “Problems of women entrepreneurs in India”. Retrieved 3 December 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Problems of women entrepreneurs in India
Tác giả: Dileepkumar, M
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w