NGUYỄN VĂN TIẾN NGHIÊN CỨU SỰ KHÁC BIỆT VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC Ở CÁC TỈNH MIỀN TRUNG Chuyên ngành: Kinh tế ph
Trang 1NGUYỄN VĂN TIẾN
NGHIÊN CỨU SỰ KHÁC BIỆT VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG GIỮA CÁC
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
VÀ DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC Ở
CÁC TỈNH MIỀN TRUNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Đà Nẵng – Năm 2016
Trang 2NGUYỄN VĂN TIẾN
NGHIÊN CỨU SỰ KHÁC BIỆT VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG GIỮA CÁC
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
VÀ DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC Ở
CÁC TỈNH MIỀN TRUNG
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Người hướng dẫn khoa học: TS.NGUYỄN TRUNG KIÊN
Đà Nẵng – Năm 2016
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Tiến
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học của luận văn 3
6 Tổng quan nghiên cứu 3
7 Bố cục đề tài 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ KHÁC BIỆT NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG 10
1.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG 10
1.1.1 Khái niệm năng suất lao động 10
1.1.2 Phân loại năng suất lao động 14
1.2 CÁC CHỈ TIÊU TÍNH NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG 16
1.2.1 Chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng hiện vật 17
1.2.2 Chỉ tiêu năng suất lao động bằng giá trị 18
1.2.3 Chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng thời gian lao động 19
1.3 SỰ KHÁC BIỆT NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG 21
1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự khác biệt năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp 21
1.3.2 Bằng chứng thực tiễn về sự khác biệt năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp 30
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN MIỀN TRUNG VIỆT NAM 36
Trang 52.2.1 Về lao động trong các loại hình doanh nghiệp 38
2.2.2 Về vốn cố định trong các loại hình doanh nghiệp 41
2.2.3 Về doanh thu trong các loại hình doanh nghiệp 43
2.3 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH 45
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu 45
2.3.2 Số liệu 47
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH SỰ KHÁC BIỆT VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC VÀ CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở CÁC TỈNH MIỀN TRUNG 50
3.1 PHÂN TÍCH SỰ KHÁC BIỆT BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ MÔ TẢ 50
3.2 PHÂN TÍCH SỰ KHÁC BIỆT BẰNG MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG 53 3.2.1 Mô hình phân tích sự khác biệt năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp 53
3.2.2 Đặc trưngcác biến số của mô hình 56
3.2.3 Kết quả ước lượng hồi quy 64
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN KẾT QUẢ VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 76
4.1 BÀN LUẬN KẾT QUẢ 76
4.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 77
4.2.1 Nâng cao trình độ khoa học, công nghệ trong doanh nghiệp 77
4.2.2 Nâng cao chất lượng lao động 79
4.2.3 Nâng cao chất lượng và đổi mới biện pháp quản lý, điều hành doanh nghiệp 80
4.2.4 Các chính sách thúc đẩy sự dịch chuyển lao động 81
Trang 6KẾT LUẬN 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
Trang 7bảng Tên bảng Trang
2.1
Số lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo
ở các tỉnh miền Trung phân theo loại hình doanh
nghiệp giai đoạn 2011 – 2014
39
2.2
Cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến,
chế tạo ở các tỉnh miền Trung phân theo loại hình
doanh nghiệp giai đoạn 2011 - 2014
40
2.3
Vốn cố định trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo
ở các tỉnh miền Trung phân theo loại hình doanh
nghiệp giai đoạn 2011 - 2014
41
2.4
Cơ cấu vốn trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
ở các tỉnh miền Trung phân theo loại hình doanh
nghiệp giai đoạn 2011 – 2014
43
2.5
Doanh thu trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở
các tỉnh miền Trung phân theo loại hình doanh nghiệp
giai đoạn 2011 - 2014
43
2.6
Chênh lệch về doanh thu trong ngành công nghiệp chế
biến, chế tạo ở các tỉnh miền Trung của các doanh
nghiệp giai đoạn 2011 – 2014
45
3.1
Năng suất lao động của các doanh nghiệp ngành công
nghiệp chế biến chế tạo ở các tỉnh miền Trung giai
đoạn 2011 – 2014
50
3.2 Chênh lệch năng suất lao động giữa các loại hình
Trang 83.3 So sánh năng suất lao động giữa các loại hình doanh
3.4 Tóm tắt một số đặc trưng cơ bản về các biến của các
3.5 Tóm tắt một số đặc trưng cơ bản về các biến của các
3.6 Tóm tắt một số đặc trưng cơ bản về các biến của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 58
3.7 Tóm tắt một số đặc trưng cơ bản về các biến trong mô
3.9 Tóm tắt kết quả về sự chênh lệch năng suất lao động
3.10 Bảng giá trị t của các biến trong mô hình 653.11 Bảng giá trị VIF của các biến trong mô hình 66
3.12 Tóm tắt kết quả về sự chênh lệch năng suất lao động
3.13 Bảng giá trị t của các biến trong mô hình 703.14 Bảng giá trị t của các biến trong mô hình 713.15 Bảng giá trị t của các biến trong mô hình 71
3.16 Tóm tắt kết quả về sự chênh lệch năng suất lao động
3.17 Bảng giá trị VIF của các biến trong mô hình 74
Trang 9hình Tên hình Trang
3.2 Phân bố xác xuất của biến vốn cố định 60
3.3 Phân bố xác suất của biến giá trị sản lƣợng/1 đơn vị
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Cùng với sự phát triển của xã hội, quá trình sản xuất không ngừng biến đổi, năng suất lao động ngày càng được nâng cao Đặc biệt trong điều kiện hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, xu hướng quốc
tế hóa, toàn cầu hóa cùng với tính chất khốc liệt của cạnh tranh thì vấn đề
tăng năng suất lao động trở thành vấn đề sống còn của một doanh nghiệp
Các doanh nghiệp Việt Nam luôn tự hào là mình hoạt động trong thị trường có nhiều tiềm năng như: thị trường rộng lớn, được Nhà nước đầu tư,
hỗ trợ, đặc biệt là nguồn lao động dồi dào, rẻ Nhưng khi các doanh nghiệp trong nước còn chưa tận dụng được ưu thế này thì các doanh nghiệp phải đối mặt sự cạnh tranh khắc nghiệt, rất lớn từ các doanh nghiệp nước ngoài.Tuy nhiên tại nước ta, vấn đề năng suất lao động không được quan tâm đúng mức, nhất là đối với các doanh nghiệp trong nước, dẫn tới hiệu quả sản xuất thấp Năng suất lao động của các doanh nghiệp trong nước ở Việt Nam nói chung và các tỉnh miền Trung nói riêng, đang là vấn đề thu hút sự chú ý của
dư luận, đặc biệt từ sau khi ILO công bố kết quả nghiên cứu năng suất lao động của Việt Nam ở mức thấp so với các nước trên thế giới và trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.Do yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập nền kinh tế đất nước vào nền kinh tế thế giới Hiện nay các doanh nghiệp đã quan tâm tới việc khuyến khích tăng năng suất lao động Việc tăng năng suất lao động của các doanh nghiệp ở các tỉnh miền Trung có một ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của xã hội loài người, nó
là động cơ thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội cho vùng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của đất nước, là cơ sở quan trọng trong các quyết
Trang 11định ở tầm vi mô và vĩ mô Xuất phát từ thực tiễn đó, em quyết định chọn đề
tài “Nghiên cứu sự khác biệt về năng suất lao động giữa các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước ở các tỉnh Miền Trung”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát là nghiên cứu sự khác biệt về năng suất lao động giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước ở các tỉnh Miền Trung
Mục tiêu cụ thể nghiên cứu cần hướng tới, gồm:
- Hệ thống cơ sở lý thuyết về năng suất lao động và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự khác biệt về năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp;
- Phân tích thống kê mô tả về năng suất lao động của các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở các tỉnh Miền Trung;
- Phân tích và kiểm định sự khác biệt về năng suất lao động giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước ở các tỉnh Miền Trung;
- Đề xuất các hàm ý chính sách
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Năng suất lao động của các doanh nghiệp trong
nước, năng suất lao động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và
sự khác biệt giữa năng suất lao động của các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Phạm vi nghiên cứu: Luận án chỉ nghiên cứu năng suất lao động trong
ngành công nghiệp chế biến chế tạo của các tỉnh Miền Trung Luận án đi sâu
Trang 12phân tích năng suất lao động của doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài của các tỉnh Miền Trung, 14 tỉnh, thành từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, số liệu từ điều tra doanh nghiệp của tổng cục Thống kê
4 năm 2011, 2012, 2013, 2014
4 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các mục tiêu đặt ra, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp tổng hợp và so sánh, phân tích thống kê: để đánh giá thực trạng năng suất lao động của các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài ở các tỉnh Miền Trung
- Phương pháp thống kê mô tả: thông qua việc tính toán năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp rồi so sánh với nhau
- Phương pháp mô hình hóa: thông qua việc xây dựng các mô hình định lượng để ước lượng và kiểm định được sự khác biệt về năng suất lao động của các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
5 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Về mặt lý luận, luận văn cung cấp cho những ai quan tâm đến vấn đề năng suất lao động trong các doanh nghiệp một cách có hệ thống lý luận tương đối đầy đủ
Về mặt thực tế, đây là một trong những số ít nghiên cứu ở Việt Nam lượng hóa được sự khác biệt năng suất lao động các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cung cấp một căn cứ tham khảo cho việc hoạch định các chiến lược nâng cao năng suất lao động cho các doanh nghiệp ở Việt Nam
6 Tổng quan nghiên cứu
Trên thế giới, các nhà kinh tế từ lâu đã tranh luận về sự khác biệt về
Trang 13năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp Tuy nhiên phải đến giữa thập niên 1990, với sự trỗi dậy của kinh tế học tăng trưởng và các nguồn số liệu phong phú về các đặc điểm kinh tế, chính trị - xã hội của các quốc gia, nhiều nghiên cứu thực nghiệp về sự khác biệt năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp mới được thực hiện một cách có hệ thống Kết quả điều tra về mức độ chênh lệch của năng suất lao động giữa các loại hình
doanh nghiệp chỉ ra sự khác biệt giữa lý thuyết và thực tiễn
Kết quả điều tra chỉ ra sự khác biệt giữa lý thuyết và thực tiễn về năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp Ví dụ cụ thể, trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Malaisia (Ahmad & Binti, 2010; Oguchi, Amdzah, Bakar, Zainal Abidin, & Shafii, 2002) và Thailand (Ramstetter,
2004, 2006) cho thấy sự khác biệt về năng suất lao động giữa các công ty đa quốc gia (MNCs) và các công ty không phải công ty đa quốc gia là tương đối nhỏ và thường là không đáng kể về mặt thống kê Trong đó, tại Indonesia kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt về năng suất lao động là khá lớn và khá
đáng kể về mặt thống kê
Tuy nhiên, sự khác biệt thường trở nên không đáng kể về mặt thống kê khi các nhà máy được phân theo ngành (cho thấy những sự khác biệt về độ dốc của hàm sản xuất, Takii, 2006) Bằng chứng cho thấy tại Trung Quốc có
sự khác biệt đáng kể của cả nguồn vốn lẫn năng suất lao động khi tất cả các công ty sản xuất được kết hợp (Jefferson & Su, 2006) Trong khi đó, một nghiên cứu khác lại cho thấy rằng việc tiếp quản các doanh nghiệp nhà nước bởi các công ty đa quốc gia đã tạo ra năng suất lao động lớn hơn so với sự tiếp quản bởi các doanh nghiệp tư nhân ở các nước Đông Âu (Brown et al.,
2004, 2005)
Bằng chứng cho thấy sự khác biệt giữa các doanh nghiệp nhà nước và
Trang 14doanh nghiệp tư nhân là khá hạn chế và tập trung vào các nền kinh tế chuyển đổi Đối với Trung Quốc, kết quả của Jefferson và Su (2006) chỉ ra rằng vốn
và năng suất lao động của doanh nghiệp nhà nước thấp hơn đáng kể so với doanh nghiệp tư nhân hoặc các công ty đa quốc gia Kết quả của Jefferson và
Su cũng chỉ ra rằng việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước làm tăng năng suất lao động Kết quả từ Brown, Earle và Telegdy (2004, 2005) cho rằng tư nhân hóa dẫn đến tăng năng suất tương đối lớn trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Hungary và Romania, mức tăng lại tương đối nhỏ ở Ukraine,
và giảm đáng kể tại Nga Bằng chứng từ một mẫu của các doanh nghiệp trong 25 nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu, CIS và Trung Á cũng cho thấy mức độ cạnh tranh có một tác động quan trọng vào doanh thu của các doanh nghiệp tư nhân (Carlin et al 2001) Cuộc khảo sát của Djankov và Murrell (2002) củng cố thêm sự phát hiện này của các doanh nghiệp tư nhân ở các nước Đông Âu, nhưng trong trường hợp này lại không đúng với các nước
CIS
Nghiên cứu của Baines (1997); Park & Miller (1998); Hoffman & Mehra (1999); Chapman & Al-Khawadeh (2002); Khan (2003) cho thấy, việc cam kết của quản lý cấp cao là một yếu tố không thể thiểu trong các chương trình nâng cao năng suất lao động của các doanh nghiệp Khi đã cam kết họ sẵn sàng có những hỗ trợ cần thiết trong việc đào tạo nguồn nhân lực, cung cấp các nguồn lực đầy đủ để tạo điều kiện cho việc tổ chức sản xuất đạt năng suất cao Một số nghiên cứu gần đây cũng cho thấy, cam kết của quản
lý cấp cao về năng suất có tác động trực tiếp đến việc đào tạo nguồn nhân lực và tổ chức sản xuất (Politis, 2005; Steenhuis & Bruijin 2006) Các nghiên cứu quan tâm đến các yếu tố về nguồn nhân lực cũng tìm thấy mối quan hệ mật thiết giữa việc giáo dục và đào tạo nhân viên với năng suất của
Trang 15doanh nghiệp (Chapman & Al-Khawadeh, 2002; Chen, Liaw & Lee, 2003; Bhera, Narag & Singla, 2003; Appelbaum, 2005)
Song song với sự tăng mạnh về tiền lương nói chung, chênh lệch về lương theo ngành, trình độ giáo dục, giới tính hoặc độ tuổi đã tăng đáng kể tại các nền kinh tế mới công nghiệp hóa (NIEs), đặc biệt là Hàn Quốc và Đài Loan (Okunishi 1997) Điều này là nhờ sự thành công trong phát triển nguồn nhân lực và các chương trình đào tạo nghề, giáo dục của NIEs Những chương trình này đã đạt được hai mục tiêu Thứ nhất, những chương trình này đã làm tăng nguồn cung lao động có thay nghề, tránh được bất bình đẳng ngày càng tăng về tiền lương do tình trạng khan hiếm lao động có tay nghề Thứ hai, những chương trình này đã giúp nâng cao trình độ tay nghề của công nhân, làm tăng năng suất lao động của họ so với nhân viên văn phòng Okunishi (1997) giải thích rằng các nền kinh tế mới công nghiệp hóa (NIEs)
đã trở nên phụ thuộc nhiều hơn vào các sản phẩm có chất lượng chứ không phải là các sản phẩm giá rẻ, những cải thiện về năng suất lao động của công nhân đã giúp thu hẹp chênh lệch về tiền lương của lao động trong các loại hình doanh nghiệp
Đối với Việt Nam, Nguyen, Vu, Tran, và Nguyen (2006) cho thấy các công ty đa quốc gia có doanh thu khá cao tính theo đầu nhân viên trong ba ngành sản xuất (cơ khí và điện tử; dệt may, hàng may mặc, giày dép; và chế biến thực phẩm) trong giai đoạn 2001 – 2003 Athukorala và Tien (2010) chỉ
ra rằng các công ty đa quốc gia có năng suất tương đối cao so với các loại hình công ty khác trong giai đoạn đoạn 2000 – 2005, nhưng một lần nữa (Ramstetter & Phan, 2008) cho thấy rằng có sự khác biệt thường là không
đáng kể về năng suất giữa các công ty đa quốc gia và công ty tư nhân
Một nghiên cứu được biết đến về việc cổ phần hóa các công ty ở Việt
Trang 16Nam (Trường, Lanjouw, & Lensink, 2006) cho thấy có sự cải tiến về năng suất lao động trong các công ty Mặt khác, Nguyễn (2004) nghiên cứu về ngành dệt may và các công ty dệt may cho thấy doanh nghiệp nhà nước là hiệu quả hơn so với công ty tư nhân, nhưng ít hiệu quả hơn so với các công
ty đa quốc gia trong ngành công nghiệp này
Nghiên cứu của McCarty (1999) và Brassard (2004) trong trường hợp tại Việt Nam cho thấy rằng các chính sách kinh tế quan trọng củng cố cho xu hướng các công ty đa quốc gia là trả lương cao hơn so với các doanh nghiệp
tư nhân nói riêng Những chính sách quan trọng nhất trong vấn đề này chỉ ra rằng các công ty đa quốc gia và doanh nghiệp nhà nước thường trả mức lương tối thiểu, cung cấp những vấn đề an sinh xã hội và các hình thức bồi thường không lương khác là cao hơn so với các doanh nghiệp tư nhân Hơn nữa, các công ty đa quốc gia thường được yêu cầu phải trả tiền bồi thường trên mỗi nhân viên là cao hơn so với các doanh nghiệp nhà nước, các công ty
đa quốc gia có 100% vốn nước ngoài thì phải trả nhiều hơn so với các công
ty liên doanh đa quốc gia Tiền lương của người lao động trong doanh nghiệp nhà nước được kiểm soát phần lớn bởi nhà nước và có xu hướng được thiết lập dựa trên trình độ tay nghề của lao động trong thị trường lao động
Ngoài việc được cho là hoạt động hiệu quả hơn so với các công ty không phải đa quốc gia, thì các công ty đa quốc gia còn khẳng định sự ảnh hưởng của họ đến năng suất của các công ty không phải đa quốc gia thông qua một số kênh Ví dụ, các công ty đa quốc gia thường mua đầu vào từ các nhà cung cấp địa phương hoặc hợp đồng phụ dây chuyền sản xuất cho các công ty địa phương Đặc biệt là tại các nước đang phát triển như Việt Nam, các cơ sở cung cấp tại địa phương thường là tương đối yếu và các công ty đa
Trang 17quốc gia phải chỉ cho các đối tác địa phương bằng cách nào để đảm bảo chất lượng thích hợp, tạo ra một công nghệ lan tỏa đến các công ty địa phương liên quan Dịch chuyển lao động là con đường thứ hai của tác động lan tỏa từ các công ty đa quốc gia tới các công ty Việc dịch chuyển lao động thường là khá cao ở các nền kinh tế đang phát triển, chẳng hạn như ở Đông Nam Á Các doanh nghiệp trong nước có thể thu hút những tài năng từ các công ty đa quốc gia để nâng cao năng suất
Nhiều nhà kinh tế cho rằng các nhà quản lý của các doanh nghiệp nhà nước có động cơ yếu hơn để theo đuổi lợi nhuận và hiệu quả so với các nhà quản lý của các doanh nghiệp tư nhân, bao gồm cả các tập đoàn đa quốc gia
Do đó, các doanh nghiệp nhà nước thường được mong đợi sự tương đối hiệu quả so với các doanh nghiệp khác Hơn nữa, Chính phủ thường thành lập các doanh nghiệp nhà nước trong ngành công nghiệp cạnh tranh không hoàn hảo, hoặc ngành công nghiệp có tính ổn định cao, nơi thiếu cạnh tranh, còn yếu
áp lực để đạt được sự hiệu quả.Tuy nhiên, bằng chứng từ cuộc khảo sát các ngành công nghiệp ở Việt Nam năm 1998 cho thấy các doanh nghiệp nhà nước nói chung có năng suất lao động và mức lương cao hơn các doanh nghiệp tư nhân địa phương, nhưng so với các tập đoàn đa quốc gia thì lại thấp hơn (Phan và Ramstetter 2004, pp 390-391) Tuy nhiên bằng chứng này lại xuất hiện nhiều mâu thuẫn với kỳ vọng rằng doanh nghiệp nhà nước là hoạt động tương đối không hiệu quả và có nhiều lý do để dẫn đến hủy bỏ kết luận của bằng chứng này Đầu tiên, sự so sánh về năng suất lao động và bồi thường lao động không bị ảnh hưởng bất kỳ nào khác về sự chênh lệch năng suất hoặc tiền lương Thứ hai, năng suất lao động không bị ảnh hưởng bởi đặc điểm của các công ty cùng cấp Kết quả tính toán có thể bị đảo ngược bởi sự ảnh hưởng của các yếu tố này
Trang 18Như vậy, những công trình trong nước kể trên còn có những hạn chế
sau:
- Các công trình khoa học trong nước chủ yếu nghiên cứu định tính Cần
có nghiên cứu tổng hợp cả định tính và định lượng về sự chênh lệch năng suất
lao động giữa các loại hình doanh nghiệp
- Các công trình nghiên cứu chưa nghiên cứu cho từng vùng, miền cụ thể
7 Bố cục đề tài
Ngoài đặt vấn đề, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, đề tài được chia thành 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về sự khác biệt năng suất lao động
Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích sự khác biệt về năng suất lao động giữa các doanh
nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở các tỉnh miền Trung
Chương 4: Bàn luận kết quả và hàm ý chính sách
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ KHÁC BIỆT
NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
1.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
1.1.1 Khái niệm năng suất lao động
Năng suất là thước đo mức độ hiệu quả do con người và các đơn vị sản xuất (doanh nghiệp) chuyển đổi nguồn lực sản xuất (ví dụ như lao động và vốn) để tạo ra sản phẩm là hàng hóa và dịch vụ cho xã hội Trong số các phương pháp đo lường năng suất như năng suất đa yếu tố hoặc năng suất vốn, năng suất lao động là chỉ tiêu quan trọng trong phân tích kinh tế và thống kê của một quốc gia
Năng suất lao động là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng lao động, đặc trưng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) với lao động sẻ sản xuất ra nó Năng suất lao động là một trong những yếu tố quan trọng tác động tới sức cạnh tranh, đặc biệt, năng suất lao động lại phản ánh yếu tố chất lượng người lao động – yếu tố cốt lõi của sự phát triển trong sự cạnh tranh toàn cầu, sự phát triển của khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức hiện nay
Năng suất lao động phản ánh năng lực tạo ra của cải, hiệu suất của lao động cụ thể trong quá trình sản xuất, đo bằng số sản phẩm hay lượng giá trị tạo ra trong một đơn vị thời gian, hay lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Năng suất lao động thể hiện tính chất và trình độ tiến bộ của một tổ chức, đơn vị sản xuất, hay của một phương thức sản xuất, là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế
Trang 20Theo Các Mác thì năng suất lao động là “sức sản xuất của lao động cụ thể có ích” Năng suất lao động thể hiện kết quả hoạt động sản xuất có ích của con người trong một đơn vị thời gian nhất định Năng suất lao động phản ánh hiệu quả sử dụng lao động sống trong một đơn vị thời gian lao động hoặc bằng lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm [1] Theo khái niệm cổ điển thì năng suất có nghĩa là năng suất lao động hoặc hiệu suất sử dụng các nguồn lực Vì khái niệm năng suất xuất hiện trong một bối cảnh kinh tế cụ thể, nên trong giai đoạn đầu sản xuất công nghiệp, yếu tố lao động là yếu tố được coi trọng nhất Ở giai đoạn này, người
ta thường hiểu năng suất đồng nghĩa với năng suất lao động Qua một thời kỳ phát triển, các nguồn lực khác như vốn, năng lượng và nguyên vật liệu cũng được xét đến trong khái niệm năng suất để phản ánh tầm quan trọng và đóng góp của nó trong doanh nghiệp Quan điểm này đã thúc đẩy việc phát triển các kỹ thuật nhằm giảm bớt lãng phí và nâng cao hiệu quả sản xuất Năng suất ở giai đoạn này có nghĩa là sản xuất “nhiều hơn” với “chi phí thấp hơn” Đây là thời điểm Adam Smith và Federick Taylor tập trung vào việc phân chia lao động, xác định và tiêu chuẩn hóa các phương pháp làm việc tốt nhất để đạt được hiệu suất làm việc cao hơn Tuy nhiên, quan điểm năng suất như vậy mới chỉ dừng lại ở năng suất nguồn lực và đó chỉ là một khía cạnh của năng suất
Quan niệm truyền thống về năng suất chủ yếu là hướng vào đầu vào, tập trung hướng vào các yếu tố đầu vào như lao động, vốn trong đó lao động sống là yếu tố trung tâm Vì vậy, ở nhiều nước, nhiều khi người ta đồng nhất năng suất với năng suất lao động
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) trong nhiều năm đã đưa ra quan điểm tiến bộ hơn về năng suất, đó là việc sử dụng có hiệu quả những nguồn lực:
Trang 21vốn, đất đai, nguyên vật liệu, năng lượng, thông tin, và thời gian chứ không chỉ bó hẹp trong yếu tố lao động Nhưng nếu chỉ dừng ở quan điểm như vậy thì năng suất chỉ xét đến các yếu tố đầu vào mà chưa đề cập đến giá trị đầu
ra Mà đầu ra là yếu tố quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế như hiện nay
Năng suất lao động do Ủy ban năng suất của Hội đồng năng suất châu
Âu đưa ra: Năng suất lao động là một trạng thái tư duy Nó là một thái độ nhằm tìm kiếm để cải thiện những gì đang tồn tại Có một sự chắc chắn rằng ngày hôm nay con người có thể làm việc tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai tốt hơn ngày hôm nay Hơn nữa nó đòi hỏi những cố gắng không ngừng để thích ứng với các hoạt động kinh tế trong những điều kiện luôn thay đổi, luôn ứng dụng những lý thuyết và phương pháp mới Đó là sự tin tưởng chắc chắn trong quá trình tiến triển của con người
Theo quan điểm tiếp cận mới thì định nghĩa năng suất theo đúng bản chất được hiểu một cách hết sức đơn giản Nó là mối quan hệ (tỷ số) giữa đầu ra và đầu vào được sử dụng để hình thành đầu ra đó Theo cách định nghĩa này thì nguyên tắc cơ bản của tăng năng suất là thực hiện phương thức
để tối đa hoá đầu ra và giảm thiểu đầu vào Thuật ngữ đầu vào, đầu ra được diễn giải khác nhau theo sự thay đổi của môi trường kinh tế – xã hội Đầu ra thường được gọi với những cụm từ như tập hợp các kết quả Đối với các doanh nghiệp, đầu ra được tính bằng tổng giá trị sản xuất – kinh doanh, giá trị gia tăng hoặc khối lượng hàng hoá tính bằng đơn vị hiện vật Ở cấp vĩ mô thường sử dụng Tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP) là đầu ra để tính năng suất Đầu vào trong khái niệm này được tính theo các yếu tố tham gia để sản xuất ra đầu ra như lao động, nguyên vật liệu, vốn, thiết bị máy móc, năng lượng, kỹ năng quản lý
Trang 22Như vậy, nói về năng suất, nhất thiết phải đề cập tới 2 khía cạnh, khía cạnh đầu vào và đầu ra Khía cạnh đầu vào thể hiện hiệu quả sử dụng các nguồn lực Khía cạnh đầu ra thể hiện giá trị sản phẩm và dịch vụ Tuy nhiên, những cách tiếp cận mới gần đây nhấn mạnh hơn vào khía cạnh đầu ra của năng suất để đáp ứng được với những thách thức của môi trường cạnh tranh
và những mong đợi của xã hội
Trong nền kinh tế thị trường, năng suất được gắn chặt với các hoạt động kinh tế Nó được hiểu là làm sao để tạo ra nhiều đầu ra hơn với lượng đầu vào hạn chế Cải tiến năng suất cho phép tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống cho xã hội Đối với các doanh nghiệp, nó làm cho khả năng cạnh tranh được tăng lên thông qua việc sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn và tạo ra nhiều đầu ra hơn Cải tiến năng suất còn có ý nghĩa đối với mỗi cá nhân trong xã hội với cách hiểu tạo ra nhiều của cải hơn, thu nhập cao hơn và chất lượng cuộc sống được cải thiện tốt hơn
Năng suất còn được hiểu là một tư duy hướng tới thói quen cải tiến và vận dụng những cách thức biến mong muốn thành các hành động cụ thể Theo cách tiếp cận này, năng suất là không ngừng cải tiến để vươn tới sự tốt đẹp hơn Ngày hôm nay phải tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai sẽ tốt hơn ngày hôm nay Điều này có thể thực hiện được nhờ vào các nỗ lực cá nhân
và tập thể không ngừng nâng cao kiến thức, kỹ năng, kỷ luật, các hoạt động phát huy tinh thần sáng tạo cũng như việc quản lý công việc tốt hơn, phương pháp làm việc tốt hơn, giảm thiểu chi phí, giao hàng đúng hạn, hệ thống và công nghệ tốt hơn để đạt được sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao, thị phần lớn hơn và mức sống cao hơn
Như vậy, với quan niệm truyền thống, năng suất lao động chỉ thuần túy thể hiện mối tương quan giữa “đầu ra” và “đầu vào” Nếu đầu ra lớn hơn đạt
Trang 23được từ một đầu vào thì có thể nói năng suất lao động cao hơn Quan niệm truyền thống đề cập về mặt tĩnh và chủ yếu nhấn mạnh về mặt số lượng Còn theo quan niệm mới thì năng suất lao động được hiểu rộng hơn, đó là tăng số lượng sản xuất đồng thời với tăng chất lượng đầu ra Điều này có nghĩa là sử dụng một lượng lao động để sản xuất một khối lượng lớn mà còn phụ thuộc rất lớn vào chất lượng, đặc điểm của đầu ra và tính hiệu quả trong sản xuất Trong thời kỳ đầu của sự phát triển, khi nền kinh tế còn thấp kém, năng suất
và chất lượng được xem trong mối quan hệ trao đổi bù trừ, để có chất lượng người ta phải hy sinh chất lượng Nhưng ngày nay, năng suất và chất lượng
đã trở thành đồng hướng thống nhất với nhau Năng suất lao động cao phải tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có các đặc tính kinh tế kỹ thuật và chức năng sử dụng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và những đòi hỏi của xã hội, bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên, ít gây ô nhiễm và không lãng phí trong quá trình sản xuất
Từ những quan niệm trên, ta có thể chỉ ra rằng: Năng suất lao động là hiệu quả sản xuất của lao động có ích trong một đơn vị thời gian Tăng năng suất lao động không chỉ đơn thuần là chỉ tiêu phản ánh lượng sản phẩm sản xuất ra mà nó phải chỉ ra được mối quan hệ giữa năng suất – chất lượng – cuộc sống – việc làm và sự phát triển bền vững
1.1.2 Phân loại năng suất lao động
Năng suất lao động có thể được chia theo nhiều tiêu thức khác nhau, thông thường người ta chia ra làm hai loại là: năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội
a Năng suất lao động cá nhân
Năng suất lao động cá nhân là sức sản xuất của cá nhân người lao động, được đo bằng tỷ số giữa khối lượng công việc hoàn thành hoặc số lượng sản
Trang 24phẩm với thời gian lao động hao phí để sản xuất ra số sản phẩm đó Năng suất lao động cá nhân có vai trò rất lơn trong quá trình sản xuất Nó thường được biểu hiện bằng đầu ra trên một giờ lao động Việc tăng hay giảm năng suất lao động cá nhân phần lớn quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tăng năng suất lao động cá nhân có nghĩa là giảm chi phí lao động sống dẫn đến làm giảm giá trị cho một đơn vị sản phẩm, giá thành sản phẩm giảm, tăng lợi nhuận của công ty
b Năng suất lao động xã hội
Năng suất lao động xã hội là mức năng suất chung của một nhóm người hoặc của tất cả cá nhân trong xã hội Vì vậy có thể khẳng định năng suất lao động xã hội là chỉ tiêu hoàn hảo nhất giúp chúng ta đánh giá chính xác thực trạng công việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như phạm vi toàn xã hội Trong điều kiện hiện nay, năng suất lao động xã hội ở phạm vi
vĩ mô được hiểu như năng suất lao động của quốc gia, phản ánh tổng giá trị sản xuất trên một người lao động cụ thể Nó là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá sức mạnh kinh tế của một nước và so sánh giữa các nước
Năng suất lao động xã hội tăng lên khi và chỉ khi cả chi phí lao động và lao động quá khứ cùng giảm, tức là đã có sự tăng lên của năng suất lao động
cá nhân và tiết kiệm vật tư, nguyên liệu trong sản xuất
c Mối quan hệ giữa năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội
Năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội có mối quan
hệ mật thiết với nhau Tăng năng suất cá nhân dẫn đến tăng năng suất xã hội
và tăng năng suất xã hội là biểu hiện của tăng năng suất cá nhân
Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể nói tăng năng suất lao động
cá nhân dẫn đến tăng năng suất lao động xã hội vì việc hạ thấp chi phí lao
Trang 25động sống nêu rõ đặc điểm tăng năng suất lao động cá nhân Hạ thấp chi phí
cả lao động sống và lao động quá khứ, nêu rõ đặc điểm tăng năng suất lao động xã hội, trong điều kiện làm việc với các công cụ hiện đại, không thể tách rời lao động của hàng loạt ngành đã tham gia vào sáng tạo ra công cụ hiện đại đó Mặt khác, trong quản lý kinh tế, nêu chỉ chú trọng đơn thuần tính theo chỉ tiêu năng suất lao động cá nhân (tiết kiệm lao động sống) sẽ diễn ra hiện tượng coi nhẹ tiết kiệm vật tư, coi nhẹ chất lượng sản phẩm Thực tế cho biết có nhiều trường hợp, năng suất lao động của một số cá nhân nào đó tăng nhưng năng suất lao động của toàn phân xưởng, toàn doanh nghiệp không tăng, thậm chí giảm Như vậy, đã có sự thay đổi giữa lao động sống và lao động quá khứ: lao động sống càng có năng suất cao hơn thì đòi hỏi sự kết hợp với nhiều lao động vật hóa hơn
Khi nói về mối quan hệ giữa năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội, Các Mác viết: “Giá trị hàng hóa được quy định bởi tổng số thời gian lao động, lao động quá khứ và lao động sống đã nhập vào hàng hóa đấy Năng suất lao động tăng lên biểu hiện ở chỗ, phần lao động sống giảm bớt, còn phần lao động quá khứ thì tăng lên, nhưng tăng lên như thế nào để cho tổng số lao động chứa đựng trong hàng hóa ấy lại giảm đi; nói cách khác lao động sống giảm nhiều hơn là lao động quá khứ tăng lên”
Tóm lại, để năng suất lao động xã hội tăng lên thì năng suất lao động cá nhân phải tăng lên và tiết kiệm lao động sống giảm nhanh hơn sự tăng lên của lao động quá khứ
1.2 CÁC CHỈ TIÊU TÍNH NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
Việc lựa chon đầu vào và đầu ra khác nhau sẽ tạo các chỉ tiêu tính năng suất lao động khác nhau, do đó, có nhiều loại chỉ tiêu để tính năng suất lao động Lựa chọn chỉ tiêu nào phụ thuộc vào điều kiện của từng doanh nghiệp
Trang 26Có 3 loại chỉ tiêu chủ yếu sau: năng suất lao động tính bằng hiện vật, năng suất lao động tính bằng giá trị, năng suất lao động tính bằng thời gian lao động
1.2.1 Chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng hiện vật
Là chỉ tiêu dùng sản lượng hiện vật của từng loại sản phẩm để biểu hiện năng suất lao động của một công nhân
Công thức tính:
W = Q/T Trong đó:
W: là mức năng suất lao động một công nhân
Q: là tổng sản lượng tính bằng hiện vật
T: là tổng số công nhân
Ưu điểm
Đánh giá trực tiếp được hiệu quả lao động
Biểu hiện mức năng suất lao động một cách cụ thể, chính xác, không chịu ảnh hưởng của biến động giá cả
Thích hợp với các nhóm, tổ, đội chỉ sản xuất 1 loại sản phẩm
Có thể so sánh được trực tiếp năng suất lao động tại xí nghiệp, các đơn
vị có cùng 1 loại sản phẩm, hoặc có thể so sánh giữa các doanh nghiệp với nhau khi có cùng loại sản phẩm
Nhược điểm
Chỉ dùng để tính cho 1 loại sản phẩm nhất định nào đó, không thể dùng làm chỉ tiêu tổng hợp cho nhiều loại sản phẩm Trong thực tiễn ít có doanh nghiệp nào chỉ sản xuất 1 sản phẩm có cùng quy cách, phẩm chất
Không thể so sánh mức năng suất lao động giữa các ngành có các loại sản phẩm khác nhau, cũng như việc đo lường năng suất lao động của các
Trang 27doanh nghiệp, các ngành có chủng loại mặt hàng đa dạng
Chỉ tiêu này chỉ dùng để tính cho thành phẩm Sản phẩm dở dang không tính được nên không phản ánh đầy đủ sản lượng của công nhân Đặc biệt với những doanh nghiệp có tỷ trọng tái chế phẩm lớn như doanh nghiệp đóng tàu, xây dựng cơ bản thì chỉ tiêu này bộc lộ rõ nhược điểm trên Vì thế, việc dùng chỉ tiêu này bị hạn chế
Để khắc phục nhược điểm này, người ta phải dùng chỉ tiêu hiện vật quy đổi Muốn vậy phải tính đổi nhiều loại sản phẩm sang một loại nào đó được chọn là đơn vị đo lường chung Khi quy định cần chú ý đến những đặc điểm
về trọng lượng, khối lượng, công suất… Ví dụ: quy đổi các loại lương thực
ra sản lượng thóc
1.2.2 Chỉ tiêu năng suất lao động bằng giá trị
Chỉ tiêu này dùng sản lượng tính bằng tiền (theo giá trị cố định) của tất
cả các loại sản phẩm thuộc doanh nghiệp (hoặc ngành) sản xuất ra để biểu hiện mức năng suất lao động của một công nhân (hoặc một công nhân viên) Công thức tính:
W = Q/T Trong đó:
W là mức năng suất lao động
- Trong phạm vi cả nước:
Q: tính bằng GDP
T: Tổng số công số lao động làm việc trong nền kinh tế quốc dân
- Trong phạm vi doanh nghiệp:
Q: là giá trị tổng sản lượng, giá trị gia tăng hay doanh thu
T: là số người lao động trong doanh nghiệp
Chỉ tiêu này có ưu điểm là có thể dùng tính cho các loại sản phẩm khác
Trang 28nhau, khắc phục được nhược điểm của chỉ tiêu tính bằng hiện vật Chỉ tiêu này được áp dụng cho các cấp doanh nghiệp và quốc gia, có thể dùng để so sánh mức năng suất lao động giữa các doanh nghiệp sản xuất, giữa các ngành với nhau
Tuy nhiên chỉ tiêu này cũng có một số nhược điểm như không khuyến khích tiết kiệm vật tư và dùng vật tư rẻ, chịu ảnh hưởng của cách tính tổng sản lượng Nếu lượng sản phẩm hiệp tác với ngoài nhiều, cơ cấu sản phẩm thay đổi sẽ làm sai lệch mức năng suất lao động của doanh nghiệp Dùng chỉ tiêu này trong trường hợp cấu thành sản phẩm sản xuất không thay đổi hoặc thay đổi ít vì cấu thành sản xuất sản phẩm thay đổi sẽ làm thay đổi mức và tốc độ tăng năng suất lao động
1.2.3 Chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng thời gian lao động
Chỉ tiêu này dùng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm (hoặc hoàn thành một công việc) để biểu hiện năng suất lao động Công thức tính:
L = T/Q Trong đó:
L: là lượng lao động hao phí của sản phẩm (tính bằng đơn vị thời gian) T: là thời gian lao động đã hao phí
Q: là số lượng sản phẩm theo hiện vật (hoặc giá trị)
Lượng lao động này được tính bằng cách tổng hợp chi phí thời gian lao động của các bước công việc, các chi tiết sản phẩm (đơn vị dùng để tính – T: giây, phút, giờ) Người ta phân chia thành:
- Lượng lao động công nghệ (Lcn)
- Lượng lao động chung (Lch)
- Lượng lao động sản xuất (Lsx)
Trang 29Công thức tính:
Lch = Lcn + Lpvp Trong đó: Lpvp: Lượng lao động phục vụ quá trình công nghệ
Lượng lao động sản xuất (Lsx): bao gồm chi phí thời gian lao động của công nhân chính và công nhân phụ trong toàn doanh nghiệp
Công thức tính:
Lsx = Lch + Lpvs Trong đó: Lpvs: Lượng lao động phục vụ sản xuất
Lượng lao động đầy đủ (Lđđ): bao gồm hao phí lao động trong chế tạo sản phẩm của các loại công nhân viên sản xuất công nghiệp trong doanh nghiệp
Công thức tính:
Lđđ = Lsx + Lql Trong đó: Lql: bao gồm lượng lao động của cán bộ kỹ thuật, nhân viên quản lý các phòng ban, phân xưởng, tạp vụ, chữa cháy, bảo vệ…
Chỉ tiêu tính theo lượng lao động có những công dụng nhất định nhưng không thể thay thế hoàn toàn cho chỉ tiêu tính theo giá trị Trong công tác lập
kế hoạch được sử dụng đồng các loại chỉ tiêu
Chỉ tiêu này có ưu điểm là thể hiện một cách rõ ràng thời gian lao động hao phí của từng bước công việc cũng như từng chi tiết sản phẩm
Trang 30Tuy nhiên, nhược điểm của nó là công việc thống kê để xác định thời gian hao phí cho từng bước công việc, từng chi tiết sản phẩm là rất khó Chỉ tiêu này không dùng để tính cho năng suất lao động của một ngành hay một doanh nghiệp có nhiều loại sản phẩm khác nhau
Ngoài 3 loại chỉ tiêu chủ yếu trên, còn có một số loại chỉ tiêu tính năng suất lao động khác Tuy nhiên, mức độ phổ biến của nó chưa rộng Việc lựa chọn chỉ tiêu nào là tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và thực tế từng doanh nghiệp
1.3 SỰ KHÁC BIỆT NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự khác biệt năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp
Năng suất lao động chịu sự tác động của rất nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm yếu tố môi trường kinh tế - xã hội – chính trị, chính sách kinh tế vĩ
mô, tình hình thị trường, trình độ công nghệ, quản lý và tổ chức sản xuất, mối quan hệ lao động – quản lý, khả năng về vốn, phát triển nguồn nhân
lực…
Các nhân tố cơ bản tác động tới năng suất lao động là: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trình độ lao động và sử dụng lao động, tiền lương và thu nhập của người lao động, đầu tư trang thiết bị, cơ sở hạ tầng và phát triển khoa
học và công nghệ
a Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình dịch chuyển nguồn lực (lao động, vốn, đất đai) giữa các ngành kinh tế Học thuyết phát triển chỉ ra rằng chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những động lực thúc đẩy tăng năng suất lao động Theo học thuyết này, năng suất lao động của một quốc gia được thúc đẩy bởi sự chuyển dịch lao động từ khu vực có năng suất lao động
Trang 31thấp (như nông nghiệp) sang những ngành có năng suất lao động cao hơn
(như công nghiệp)
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được xem là một kênh tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng năng suất lao động Lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy, khi nền kinh tế phát triển ở giai đoạn càng thấp thì chuyển dịch cơ
cấu kinh tế sẽ có vai trò càng lớn đối với năng suất lao động
Đánh giá đóng góp của chuyển dịch cơ cấu kinh tế tác động tới năng suất lao động được thực hiện dựa trên phương pháp phân tích dịch chuyển cơ cấu (Shift – Share Analysis - SSA), phương pháp này phân rã năng suất lao động thành 3 các cấu phần dựa trên công thức toán học: năng suất nội ngành, chuyển dịch cơ cấu lao động, tác động tương tác của chuyển dịch cơ cấu lao
động với năng suất nội ngành Công thức tổng quát như sau:
Trong đó:
P là năng suất lao động, t là chỉ số thời gian, i là chỉ số ngành, Si
t là tỷ
trọng lao động của ngành i tại thời điểm t
Trong những năm vừa qua, chính sách chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ có tác dụng đáng kể tới năng suất lao động của Việt Nam Chuyển dịch lao động có sự đóng góp tích cực, nhưng tác động tương tác của chuyển dịch lao động lại có tác động ngược, tức là làm giảm năng suất nội ngành Lao động làm việc ở khu vực nông nghiệp hầu như chưa được qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật chủ yếu chuyển sang những ngành công nghiệp năng suất thấp hoặc dịch vụ thu nhập thấp
nên tác động của nó không làm cải thiện năng suất tại những ngành này
Theo lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế, chuyển dịch cơ cấu lao động có
Trang 32tác dụng trong thời kỳ đầu của quá trình phát triển kinh tế, tuy nhiên khi nền kinh tế phát triển tới mức cao hơn thì tăng năng suất nội ngành đóng vai trò
là yếu tố tiên quyết cho việc phát triển năng suất bền vững
b Trình độ lao động và sử dụng lao động
Đây thực sự là một trong những nguyên nhân tác động tới năng suất lao động Người lao động có trình độ nghề nghiệp không những cần có kỹ năng lao động mà còn phải có sáng tạo trong quá trình sản xuất, kết hợp với tác phong, ý thức làm việc thì mới đẩy mạnh năng suất lao động Thực tế cho thấy chỉ khi nào người lao động, người quản lý có kiến thức và trình độ nghề nghiệp thì mới tiếp cận, nhanh chóng tiếp thu, vận dụng sáng tạo những thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại vào việc làm ra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có chất lượng, năng suất cao Trình độ chuyên môn của người lao động thể hiện qua sự hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo thực hiện công việc nào đó, biểu hiện trình độ đào tạo tại các trường đào tạo nghề, các trường cao đẳng, đại học, trung cấp… Trình độ chuyên môn càng sâu, nắm bắt các kỹ năng, kỹ xảo càng thành thạo thì thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm càng được rút ngắn, góp phần nâng cao năng suất lao động Trình độ chuyên môn của người lao động có ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động Ngày nay, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển với tốc độ cao, công cụ đưa vào sản xuất ngày càng hiện đại, đòi hỏi người lao động phải có một trình độ chuyên môn tương ứng để có khả năng sử dụng, điều khiển máy móc trong sản xuất Nâng cao trình độ văn hóa chuyên môn của con người có ý nghĩa lớn đối với tăng năng suất lao động Đây là một yếu tố không thể thiếu được, bởi vì dù khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển với tốc độ cao và đưa vào sản xuất các loại công cụ hiện đại, thì càng đòi hỏi người lao động có trình độ chuyên môn tương ứng Nếu thiếu người lao động
Trang 33có trình độ chuyên môn tương ứng thì không thể điều khiển được máy móc, không thể nắm bắt được các công nghệ hiện đại
Đi đôi với việc nâng cao trình độ lao động để phù hợp với tiến bộ kỹ thuật thì phải cần nâng cao trình độ quản lý con người như: phân công và hiệp tác lao động, sự phân bố hợp lý lực lượng sản xuất và nguồn nhân lực… đều là các yếu tố ảnh hưởng đến sự khác biệt về năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp
c Tiền lương và thu nhập của người lao động
Tiền lương chính là giá cả sức lao động, là hình thức biểu hiện giá trị sức lao động, là lượng tiền dùng để mua sắm các tư liệu sinh hoạt nhằm tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng sức lao động Tiền lương là một phạm trù thu nhập quốc dân được biểu hiện bằng tiền bảo đảm thỏa mãn nhu cầu vật chất, văn hóa trực tiếp mà Nhà nước dùng để phân phối một cách hợp lý và
có khoa học cho người lao động căn cứ vào số lượng, chất lượng mà người
đó đã cống hiến cho xã hội phù hợp với nền kinh tế Tiền lương là một trong những công cụ kinh tế quan trọng nhất trong quản lý lao động, người ta dùng công cụ này để kích thích thái độ quan tâm đến lao động do đó tiền lương là một nhân tố mạnh mẽ để tăng năng suất lao động, hay nói cách khác, đối với người lao động, tiền lương là khoản thu nhập chính, để tăng tiền lương họ phải tăng năng suất lao động
Trong số các chính sách về tiền lương, chính sách về tiền lương tối thiểu rất quan trọng, nó là trung tâm các mối liên hệ có liên quan đến tiền lương, tiền lương tối thiếu có ảnh hưởng rất lớn đến tiền lương bình quân của người lao động theo công thức:
TLbq= TLminx K x H
Trang 34Trong đó:
TLbq: Tiền lương bình quân
TLmin: Tiền lương tối thiểu
Các chính sách về tiền thưởng hay các hình thức thưởng cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến việc tăng năng suất lao động Theo thuyết động cơ của Taylor, tiền là động cơ khiến con người làm việc, tuy Taylor có mặt hạn chế
vì ông coi tiền là động cơ duy nhất và ví người lao động như cái máy mà tiền
là năng lượng để nó hoạt động nhưng ông đã đúng khi coi tiền là động cơ
Trang 35của lao động Con người lao động do nhiều động cơ nhưng tiền là động cơ chính, động cơ chủ yếu Đối với người lao động mục đích của họ là thu nhập, tiền thưởng là một khoản tiền làm tăng thu nhập, tiền thưởng cũng chính là động cơ lao động của họ, nó nằm bên cạnh, xếp sau tiền lương Trong các hình thức thưởng, thưởng giảm tỷ lệ hỏng có tác dụng làm tăng năng suất lao động Giảm tỷ lệ sản phẩm hỏng có nghĩa là tăng sản phẩm đạt tiêu chuẩn lên, tức là tăng năng suất lao động Thưởng hoàn thành vượt mức năng suất lao động, điều này có tính chất khuyến khích tăng năng suất lao động rất rõ ràng, nếu người lao động đạt được nhiều sản phẩm hơn so với tiêu chuẩn trong một đơn vị thời gian hay lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm là ít hơn so với tiêu chuẩn thì họ sẽ được hưởng
vì tính rõ ràng này nên rất có tác dụng tăng năng suất lao động của người lao động Ngoài ra còn có thưởng nâng cao chất lượng sản phẩm, thưởng tiết kiệm vật tư, nguyên liệu, tuy những hình thức thưởng này không có tác dụng trực tiếp đến tăng năng suất lao động nhưng từ việc thưởng này cũng tạo động cơ để người lao động làm việc tốt hơn
d Đầu tư trang thiết bị, cơ sở hạ tầng
Một trong những yếu tố tác động tới năng suất lao động trong những năm vừa qua là sự gia tăng về vốn cố định Trong khi nền sản xuất thế giới hiện đại là máy móc thay thế sức lao động của con người thì nền kinh tế sản xuất dựa trên tăng cường lao động không thể tạo ra năng suất cao Việc tăng cường vốn đầu tư cho phần cứng (tài sản, thiết bị, cơ sở hạ tầng giao thông, nhà xưởng…) có vai trò thiết yếu trong nâng cao năng suất lao động
Việc thu hút đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trang thiết bị tài sản cho sản xuất của doanh nghiệp là một trong những yếu tố tạo nên sự chênh lệch
năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp
Trang 36e Khoa học và công nghệ
Trải qua các giai đoạn phát triển, thành tựu và kết quả về kinh tế - xã hội trên thế giới đã chứng minh phát triển khoa học và công nghệ có tác động quan trọng tới nâng cao năng suất lao động, trong đó khoa học và công
nghệ tác động tới năng suất lao động theo 2 phương diện:
- Tạo ra nguyên liệu mới, sản phẩm mới: giúp khả năng cạnh tranh tốt hơn, giá trị gia tăng cao hơn hoặc thay thế việc nhập khẩu sản phẩm, hàng
hóa từ nước ngoài với chi phí thấp hơn;
- Cải tiến, tối ưu hóa các quá trình sản xuất, kinh doanh: công nghệ giải phóng sức lao động, thay thế sức người bằng thiết bị để giảm bớt lao động nặng nhọc, thủ công, thay đổi quy trình sản xuất rút ngắn thời gian làm việc
và nâng cao năng suất lao động
Trong phần phương pháp luận của Báo cáo chỉ số cạnh tranh toàn cầu của diễn đàn Kinh tế Thế Giới đưa ra định nghĩa “khả năng cạnh tranh” gồm
hệ thống thể chế, chính sách và các yếu tố tác động vào tạo việc làm, tăng năng suất lao động và tăng GDP là các yếu tố cơ bản phản ánh năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế là cơ sở để tạo nên sự thịnh vượng của quốc gia
Chỉ số cạnh tranh toàn cầu (GCI) đánh giá năng lực cạnh tranh của các nền kinh tế dựa trên 114 chỉ tiêu tác động tới vấn đề tạo việc làm, tăng năng suất lao động và tăng GDP Những chỉ tiêu này được nhóm lại thành 12 trụ cột gồm: thể chế, cơ sở hạ tầng, môi trường kinh tế vĩ mô, sức khỏe và giáo dục phổ thông, giáo dục và đào tạo bậc cao hơn, hiệu quả thị trường hàng hóa, hiệu quả thị trường lao động, phát triển thị trường tài chính, sự sẵn sàng
về công nghệ, qui mô thị trường, tinh tế kinh doanh và sự đổi mới Các trụ cột này được nhóm vào 3 nhóm chính tương ứng với ba giai đoạn chính của phát triển: các yêu cầu căn bản, tăng cường hiệu quả và yếu tố đổi mới và
Trang 37tinh tế
Trong 12 trụ cột quan trọng để đánh giá chỉ số cạnh tranh GCI, có 2 trụ
cột liên quan đến khoa học và công nghệ:
Trụ cột số 9 – Sự sẵn sàng về công nghệ: Đánh giá sự nhanh nhạy của một nền kinh tế tiếp nhận các công nghệ hiện có để nâng cao năng suất lao động của những ngành kinh tế, nhấn mạnh cụ thể vào khả năng ứng dụng đầy đủ công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trong hoạt động hàng ngày
và các quá trình sản xuất để tăng hiệu quả và tạo điều kiện cho sự đổi mới nâng cao khả năng cạnh tranh Không quan trọng công nghệ sử dụng được phát triển trong hoặc ngoài biên giới quốc gia miễn là nâng cao được năng
suất lao động
Trụ cột số 12- Sáng tạo đổi mới: Trụ cột cuối cùng của chỉ số cạnh tranh GCI tập trung vào đổi mới công nghệ Đổi mới đóng vai trò đặc biệt quan trọng cho nền kinh tế khi đã tiếp cận biên giới kiến thức và khả năng tạo ra nhiều giá trị hơn bằng cách chỉ đơn thuần tích hợp và thích ứng công nghệ ngoại sinh không còn tác dụng Trong những nền kinh tế này, doanh nghiệp phải thiết kế và phát triển sản phẩm và quá trình mới để duy trì lợi thế cạnh tranh, đồng thời chuyển sang các hoạt động có giá trị tăng cao hơn Để làm được việc này đòi hỏi một môi trường thuận lợi cho hoạt động sáng tạo
và cần có sự hỗ trợ bởi cả khu vực Nhà nước và tư nhân Cụ thể là: đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D), đặc biệt ở khu vực tư nhân; sự hiện diện của các tổ chức nghiên cứu khoa học chất lượng cao có thể tạo ra những kiến thức cơ bản cần thiết để sáng tạo ra những công nghệ mới; sự hợp tác rộng rãi trong nghiên cứu và phát triển công nghệ giữa các trường đại học và ngành công nghiệp và sự bảo hộ sở hữu trí tuệ
Trang 38f Thúc đẩy hoạt động năng suất
Năng suất lao động là kết quả phát triển lâu dài của đất nước và do nhiều yếu tố chi phối, không phải chỉ do trình độ nghề nghiệp của lao động Chính vì vậy, để cải thiện năng suất lao động quốc gia cần nhiều giải pháp đồng bộ và thực hiện từng bước để tăng năng suất của từng khu vực trong
nền kinh tế: Nông nghiệp, Công nghiệp – Xây dựng và Dịch vụ
Năng suất lao động của một quốc gia là tổng hợp năng suất lao động của tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân Do đó, muốn tăng năng suất lao động của cả nền kinh tế thì trước hết phải tăng năng suất của từng khu vực trong nền kinh tế Vì vậy, cần tập trung tháo gỡ các nút thắt đối với sự phát triển bền vững của từng ngành Cải thiện năng suất lao động của từng ngành có thể được thực hiện thông qua việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, sử dụng hiệu quả các nguồn đầu vào, xúc tiến mở rộng thị trường, kết nối các ngành nông nghiệp, công nghiệp chế
biến, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa có giá trị gia tăng cao
Tuyên truyền, phổ biến kiến thức về năng suất chất lượng qua các hoạt động đào tạo, tổ chức hội nghị, hội thảo, diễn đàn chia sẻ kiến thức về năng suất chất lượng trên các phương tiện thông tin đại chúng: truyền hình, báo chí, qua tài liệu, sách báo, trang thông tin điện tử… Tổ chức các lớp đào tạo
cán bộ, chuyên gia về năng suất chất lượng cho các doanh nghiệp
Xác định sản phẩm, hàng hóa chủ lực của ngành, địa phương; các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sản phẩm hàng hóa chủ lực; định hướng phát triển các sản phẩm hàng hóa chủ lực và doanh nghiệp sản xuất sản phẩm
hàng hóa chủ lực của ngành, địa phương
Hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng và thực hiện các dự án nâng cao năng suất, chất lượng tiên tiến; áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
Trang 39và đánh giá sự phù hợp; ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và đổi mới công nghệ; xây dựng thương hiệu và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; áp dụng mã số
vạch; tham gia giải thưởng chất lượng quốc tế
Doanh nghiệp là hạt nhân của phát triển kinh tế Vì vậy, các giải pháp nâng cao năng suất lao động cần tập trung vào cải thiện năng suất doanh nghiệp
1.3.2 Bằng chứng thực tiễn về sự khác biệt năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp
Trên thế giới, các nhà kinh tế từ lâu đã tranh luận về sự khác biệt về năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp Tuy nhiên phải đến giữa thập niên 1990, với sự trỗi dậy của kinh tế học tăng trưởng và các nguồn số liệu phong phú về các đặc điểm kinh tế, chính trị - xã hội của các quốc gia, nhiều nghiên cứu thực nghiệp về sự khác biệt năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp mới được thực hiện một cách có hệ thống Kết quả điều tra về mức độ chênh lệch của năng suất lao động giữa các loại hình
doanh nghiệp chỉ ra sự khác biệt giữa lý thuyết và thực tiễn
Kết quả điều tra chỉ ra sự khác biệt giữa lý thuyết và thực tiễn về năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp Ví dụ cụ thể, trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Malaisia (Ahmad & Binti, 2010; Oguchi, Amdzah, Bakar, Zainal Abidin, & Shafii, 2002) và Thailand (Ramstetter,
2004, 2006) cho thấy sự khác biệt về năng suất lao động giữa các công ty đa quốc gia (MNCs) và các công ty không phải công ty đa quốc gia là tương đối nhỏ và thường là không đáng kể về mặt thống kê Trong đó, tại Indonesia kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt về năng suất lao động là khá lớn và khá
đáng kể về mặt thống kê
Tuy nhiên, sự khác biệt thường trở nên không đáng kể về mặt thống kê
Trang 40khi các nhà máy được phân theo ngành (cho thấy những sự khác biệt về độ dốc của hàm sản xuất, Takii, 2006) Bằng chứng cho thấy tại Trung Quốc có
sự khác biệt đáng kể về nguồn vốn lẫn năng suất lao động khi tất cả các công
ty sản xuất được kết hợp (Jefferson & Su, 2006) Trong khi đó, một nghiên cứu khác lại cho thấy rằng việc tiếp quản các doanh nghiệp nhà nước bởi các công ty đa quốc gia đã tạo ra năng suất lao động lớn hơn so với sự tiếp quản bởi các doanh nghiệp tư nhân ở các nước Đông Âu (Brown et al., 2004,
2005)
Bằng chứng cho thấy sự khác biệt giữa các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân là khá hạn chế và tập trung vào các nền kinh tế chuyển đổi Đối với Trung Quốc, kết quả của Jefferson và Su (2006) chỉ ra rằng vốn
và năng suất lao động của các doanh nghiệp nhà nước thấp hơn đáng kể so với doanh nghiệp tư nhân hoặc các công ty đa quốc gia Kết quả của Jefferson và Su cũng chỉ ra rằng việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước làm tăng năng suất lao động Kết quả từ Brown, Earle và Telegdy (2004, 2005) cho rằng tư nhân hóa dẫn đến tăng năng suất tương đối lớn trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Hungary và Romania, mức tăng lại tương đối nhỏ ở Ukraine, và giảm đáng kể tại Nga Bằng chứng từ một mẫu của các doanh nghiệp trong 25 nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu, CIS và Trung Á cũng cho thấy mức độ cạnh tranh có một tác động quan trọng vào doanh thu của các doanh nghiệp tư nhân (Carlin et al 2001) Cuộc khảo sát của Djankov và Murrell (2002) củng cố thêm sự phát hiện này của các doanh nghiệp tư nhân ở các nước Đông Âu, nhưng trong trường hợp này lại không
đúng với các nước CIS
Một số nghiên cứu về năng suất lao động và các yếu tố ảnh hưởng đến
sự khác biệt năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp trên các góc