1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

154 160 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG LÊ NGUYỄN PHƯƠNG THẢO NGHIÊN CỨU NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP ĐƯỢC NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT N

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

LÊ NGUYỄN PHƯƠNG THẢO

NGHIÊN CỨU NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP ĐƯỢC NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Mã số: 60.34.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐOÀN NGỌC PHI ANH

Đà Nẵng - Năm 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng

được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Nguyễn Phương Thảo

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục đề tài 4

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 8

1.1 TỔNG QUAN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG 8

1.1.1 Một số khái niệm 8

1.1.2 Phân loại vốn lưu động 14

1.1.3 Tầm quan trọng của vốn lưu động 16

1.1.4 Nhu cầu vốn lưu động ròng 17

1.2 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 19

1.2.1 Doanh thu 21

1.2.2 Khả năng sinh lời của doanh nghiệp 23

1.2.3 Chu kỳ chuyển hoá tiền mặt của doanh nghiệp 25

1.2.4 Quy mô của doanh nghiệp 28

1.2.5 Đòn bẩy tài chính 29

1.2.6 Đánh giá của nhà đầu tư 31

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 35

CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 36

Trang 4

2.1 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN 36

2.1.1 Biến động doanh thu 36

2.1.2 Khả năng sinh lời 37

2.1.3 Chu kỳ chuyển hoá tiền mặt 37

2.1.4 Đòn bẩy tài chính 37

2.1.5 Quy mô doanh nghiệp 38

2.1.6 Đánh giá của nhà đầu tư 38

2.2 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.3 MA TRẬN TƯƠNG QUAN VÀ LỰA CHỌN MÔ HÌNH 41

2.3.1 Ma trận tương quan 41

2.3.2 Lựa chọn mô hình 43

2.4 MÔ HÌNH HỒI QUY TỔNG THỂ 44

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 45

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46

3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG RÒNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG RÒNG CỦA DOANH NGHIỆP 46

3.2 ƯỚC LƯỢNG VÀ KIỂM ĐỊNH SỰ PHÙ HỢP CỦA MÔ HÌNH 51

3.2.1 Đối với mẫu nghiên cứu trên toàn thị trường 52

3.2.2 Đối với mẫu nghiên cứu của từng nhóm ngành 57

3.3 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 79

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 89

CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 90

4.1 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG RÒNG CỦA DOANH NGHIỆP 90

4.2 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 95

Trang 5

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 97 KẾT LUẬN 98 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

PHỤ LỤC

Trang 6

3.2 Giá trị trung bình của các biến theo từng năm quan sát cho

3.3 Mô tả thống kê nhu cầu vốn lưu động ròng của các doanh

3.4 Kết quả hồi quy (Ngành khai khoáng) 59 3.5 Kết quả hồi quy (Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt) 61

3.7 Kết quả hồi quy (Ngành bất động sản) 64

3.8 Kết quả hồi quy (Ngành sản xuất thực phẩm – đồ uống –

3.9 Kết quả hồi quy (Ngành sản xuất các sản phẩm từ nhựa và

3.10 Kết quả hồi quy (Ngành sản xuất các sản phẩm từ kim loại

3.11 Kết quả hồi quy (Ngành sản xuất các sản phẩm thiết bị điện,

Trang 7

3.14 Kết quả hồi quy (Ngành vận tải kho bãi) 77 3.15 Kết quả hồi quy (Ngành công nghệ - truyền thông) 78

3.16

Bảng tóm tắt nhân tố ảnh hưởng và chiều hướng tác động

của các biến đối với nhu cầu vốn lưu động trên mẫu nghiên

cứu toàn thị trường

80

3.17

Bảng tóm tắt các nhân tố ảnh hưởng và chiều hướng tác

động của các biến đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh

nghiệp theo từng ngành

82

3.18 Bảng tóm tắt các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

1.2

Sơ đồ chu kỳ chuyển hoá tiền mặt của doanh

nghiệp

10

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mỗi doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều cần vốn để duy trì hoạt động hằng ngày cũng như phát triển sản xuất Vốn chính là huyết mạch của doanh nghiệp, nó được biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản mà doanh nghiệp sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh Từ trước đến nay, các nghiên cứu thường tập trung vào việc phân tích ra quyết định tài chính trong dài hạn, tuy nhiên các quyết định tài chính trong ngắn hạn cũng rất quan trọng và cần được nghiên cứu chi tiết cẩn thận Vốn lưu động là phần vốn đầu tư rất cần thiết cho sự hoạt động liên tục của doanh nghiệp, nó thể hiện khả năng đáp ứng tài chính của doanh nghiệp trong ngắn hạn Do vậy phân tích vốn lưu động và quản trị nó đóng vai trò hết sức hữu ích đối với doanh nghiệp

Mục tiêu chính của quản trị vốn lưu động là duy trì mức vốn tối ưu đối với từng thành phần trong vốn lưu động, thông qua quản lý các khoản phải thu, các khoản phải trả, hàng tồn kho và việc sử dụng tiền mặt hiệu quả cho hoạt động kinh doanh hằng ngày (Filbeck và Krueger - 2005) Nhằm đạt được điều này, các nhà quản trị tài chính luôn tìm cách xác định nhu cầu vốn lưu động ròng cần thiết và phù hợp nhất để cân bằng giữa rủi ro và hiệu quả cho doanh nghiệp Nhu cầu vốn lưu động ròng tối ưu là mức vốn vừa đủ để doanh nghiệp vận hành trôi chảy, nó được định nghĩa như lượng vốn ít nhất, đã bao gồm tất cả các chi phí hoạt động để doanh nghiệp phát triển hiệu quả, mang lại giá trị cao nhất (Deloof - 2003; Howorth and Wessthead - 2003; Afza và Nazir - 2007) Do đó, xác định được nhu cầu vốn lưu động ròng cho doanh nghiệp và lập kế hoạch tìm nguồn tài trợ hợp lý là hết sức cần thiết

Kể từ năm 2008, khủng hoảng kinh tế thế giới gây ảnh hưởng khá lớn đến nền kinh tế của Việt Nam, khiến cho tình hình kinh tế trong nước phát triển chậm lại, thậm chí giảm sút mạnh so với trước đây Sản xuất của các

Trang 10

doanh nghiệp bị thu hẹp do nhu cầu tiêu dùng của đại đa số khách hàng suy giảm Lượng hàng tồn kho gia tăng, các khoản phải thu khó thu hồi được khiến cho nhiều doanh nghiệp lâm vào khủng hoảng và xáo trộn vì sự thiếu hụt dòng tiền hoạt động Doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh khiến cho dòng vốn tự tài trợ không đủ, buộc họ phải vay nợ từ bên ngoài trong khi chi phí vay tại giai đoạn này vô cùng cao Do đó, đây chính là thời điểm các doanh nghiệp nên nhìn lại chính sách quản trị vốn lưu động của mình Đồng thời cần nắm rõ những nhân tố chính ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động ròng để giúp doanh nghiệp có sự điều tiết vốn hợp lý hơn, đảm bảo được cân bằng tài chính trong ngắn hạn, giảm thiểu những khó khăn như hiện nay Hơn nữa, trong cộng đồng các doanh nghiệp Việt Nam, chiếm đa số và chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nguồn vốn hạn hẹp, thế nên, để đảm bảo đủ nhu cầu vốn lưu động ròng là vô cùng cần thiết và cần được quan tâm nhiều hơn nữa Do vậy tác giả quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh

nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về vốn lưu động, nhu cầu vốn lưu động ròng và các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động ròng

Phân tích các nhân tố chính ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động ròng của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung và từng nhóm ngành cụ thể nói riêng

Thông qua kết quả nghiên cứu lý giải các đặc tính riêng biệt trong nhu cầu vốn lưu động ròng đối với một vài nhóm ngành cụ thể (nếu có)

Trang 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động ròng của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi về mặt không gian: Luận văn nghiên cứu các doanh nghiệp thuộc các nhóm ngành: Khai khoáng; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt; Xây dựng; Bất động sản; Sản xuất; Thương mại; Vận tải kho bãi và Công nghệ truyền thông niêm yết trên sàn thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và sàn

Hà Nội (HNX) Do các doanh nghiệp phi tài chính có cấu trúc vốn lưu động mang đặc thù riêng nên không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Phạm vi về mặt thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn 2010-2013

- Phạm vi về mặt nội dung: Nghiên cứu các nhân tố chính mang tính định lượng thuộc về điều kiện nội tại của doanh nghiệp ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động ròng

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập dữ liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ các Báo cáo tài chính (theo năm) đã được kiểm toán cho giai đoạn nghiên cứu (2010-2013) của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Phương pháp phân tích, xử lý số liệu: Trên cơ sở dữ liệu đã thu thập, tác giả sử dụng phần mềm SPSS và Eviews để tiến hành phân tích, xử lý Đầu tiên đưa ra các thống kê mô tả cần thiết đối với các biến được nghiên cứu Sau

đó tác giả tiến hành phân tích định lượng, kiểm định sự tương quan giữa các biến để kết luận các biến được đưa vào mô hình Cuối cùng sử dụng phương pháp phân tích hồi quy để ước lượng mô hình đã chọn, kiểm định ý nghĩa của

mô hình và các biến trong mô hình theo phương pháp bình phương bé nhất Khi tiến hành nghiên cứu trên dữ liệu mẫu theo từng những nhóm ngành riêng,

Trang 12

tác giả sử dụng dữ liệu dạng bảng nên phương pháp ước lượng theo mô hình nhân tố cố định (FEM) và mô hình nhân tố ngẫu nhiên (REM) sẽ thích hợp hơn để tăng sự phù hợp của mô hình và đánh giá được tác động chéo của các biến theo thời gian Việc lựa chọn giữa hai phương pháp ước lượng sẽ được căn cứ vào kiểm định Hausman.

5 Bố cục đề tài

- Chương 1: Cơ sở lý luận về nhu cầu vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

- Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

- Chương 3: Kết quả nghiên cứu

- Chương 4: Hàm ý chính sách

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Để có cơ sở mở rộng và làm căn cứ vận dụng, nghiên cứu đề tài này tại Việt Nam, tác giả đã tập hợp những nghiên cứu có liên quan trên thế giới và trong nước, đồng thời phân tích nhằm đúc kết ra những nhân tố chính có ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

Đầu tiên, theo nghiên cứu của Nazir và Afza vào năm 2009 tại Palestine [18], tác giả bài viết đã khẳng định nhu cầu vốn lưu động ròng rất quan trọng và nếu không được quản lý thích hợp sẽ gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động, làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Công trình này được nghiên cứu trên 14 nhóm ngành khác nhau trong giai đoạn 2004-2007 và đã đưa ra được kết quả rằng: Nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của một vài nhân tố, đó là chu kỳ hoạt động, dòng tiền hoạt động, tốc độ tăng trưởng, ROA, đòn bẩy tài chính, quy mô, chỉ số Tobin’s Q Bên cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác nhau của nhu cầu vốn lưu động ròng trên từng nhóm ngành riêng

Trang 13

Kế thừa công trình nghiên cứu trên, năm 2011, Amarjit Gill đã thực hiện nghiên cứu của mình tại Canada nhằm kiểm tra lại sự tác động của các nhân tố đó đến nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp tại thị trường này [14] Nghiên cứu chỉ tập trung trên hai nhóm ngành chính là nhóm ngành sản xuất và nhóm ngành dịch vụ của 166 doanh nghiệp trong giai đoạn 2008-

2010 Ở nghiên cứu này, tác giả cũng sử dụng các biến độc lập và phụ thuộc giống như nghiên cứu trên, nhưng sử dụng thêm biến quốc tế hoá để phản ánh doanh nghiệp nào là doanh nghiệp đa quốc gia thay cho biến tốc độ tăng trường Tác giả đã đưa ra một vài kết luận đối lập với nghiên cứu trên và lý giải cho sự khác biệt này là do mỗi quốc gia có chính sách hoạt động cũng như tình hình kinh tế - chính trị không giống nhau

Olayinka Olufisayo Akinlo đã nói rằng: “Quản trị vốn lưu động không chỉ giúp doanh nghiệp giảm bớt áp lực trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế mà còn làm tăng cường vị thế cạnh tranh và khả năng sinh lời cho chính doanh nghiệp” Vì vậy ông đã tiến hành nghiên cứu nhằm khám phá ra những nhân

tố gây ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp tại Nigeria dựa trên dữ liệu được thu thập của 15 nhóm ngành khác nhau cho giai đoạn kinh tế 1997-2007 [6] Tương tự những nghiên cứu khác, tác giả cho rằng các nhân tố bên trong và bên ngoài đều tác động đến nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp

Ngành công nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của mọi đất nước, do vậy một nghiên cứu nữa được thực hiện tại Palestine để tìm ra những nhân tố có ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp đối với nhóm ngành này Kết luận của nghiên cứu được thực hiện bởi Suleiman M Abbabi & Rasha T Abbabi vào năm 2013 [22] đã khuyến khích các doanh nghiệp nhóm ngành công nghiệp niêm yết trên sàn nên điều chỉnh nhu cầu vốn lưu động của mình dựa trên tổng tài sản, đòn bẩy tài chính, dòng

Trang 14

tiền hoạt động, suất sinh lời trên tài sản và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt Ngoài

ra, các nhân tố đại diện cho hoạt động kinh tế như lãi suất và chỉ số tăng trưởng kinh tế GDP lại không gây ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp Đồng thời theo số liệu được thống kê, các doanh nghiệp nhóm ngành này tại đây thường duy trì nhu cầu vốn lưu động ròng ở mức cao

do chu kỳ chuyển đổi tiền mặt kéo dài và sự hạn chế trong khả năng được tài trợ vốn từ bên ngoài cũng như điều kiện kinh tế chính trị không ổn định

Tại khu vực Đông Nam Á cũng có nhiều nghiên cứu tiêu biểu, điển hình là nghiên cứu của Shaista Wasiuzzaman và Veeri Chttiar Arumugam vào năm 2013 [21] Mục tiêu của bài nghiên cứu là hiểu được những yếu tố quyết định đến

sự đầu tư vào vốn lưu động của các doanh nghiệp phi tài chính tại Malaysia Nghiên cứu lựa chọn 12 yếu tố quyết định đến đầu tư vốn lưu động và tiến hành kiểm định 12 giả thuyết được đưa ra: đòn bẩy tài chính, tăng trưởng doanh thu, thông tin bất đối xứng, quy mô của doanh nghiệp, tài sản hữu hình, biến động doanh thu, thời gian hoạt động của doanh nghiệp, khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu, dòng tiền hoạt động, số lượng ban giám đốc, tỷ trọng giám đốc độc lập trong tổng số giám đốc, điều kiện kinh tế (GDP) Bài nghiên cứu cho phép các nhà đầu tư đánh giá chiến lược đầu tư vào vốn lưu động của doanh nghiệp và từ đó nhận biết được dấu hiệu sức khoẻ tài chính của doanh nghiệp

Có thể xem tóm tắt kết quả nghiên cứu (bao gồm các nhân tố ảnh hưởng và chiều hướng tác động của mỗi nhân tố) của các công trình trên trong phần Phụ lục 2

Từ các công trình đã được nghiên cứu trên, tác giả nhận thấy nhu cầu vốn lưu động ròng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau và có sự khác nhau giữa mỗi nhóm ngành, mỗi quốc gia Bên cạnh đó, so sánh kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy chiều hướng tác động lên những nhân tố

Trang 15

chính không có sự thống nhất với nhau Đảm bảo nhu cầu vốn lưu động ròng không chỉ là vấn đề của riêng mỗi doanh nghiệp mà còn là rủi ro của nhà đầu

tư và có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế chung Chính vì vậy tác giả muốn tiến hành nghiên cứu cụ thể tại thị trường Việt Nam nhằm xác định cũng như lý giải một vài ảnh hưởng khác biệt từ các nhân tố gây ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp Đặc biệt hơn, tại Việt Nam, những nghiên cứu sát với vấn đề này chỉ mới xoay quanh từng doanh nghiệp cụ thể, trong khi đó, Việt Nam là nước đang phát triển, những nghiên cứu mang tính tổng quát về nhu cầu vốn lưu động ròng rất cần được phân tích và cụ thể hoá hơn nữa đối với từng nhóm ngành hoặc toàn bộ nền kinh tế

Trang 16

1.1.1 Một số khái niệm

a Vốn lưu động

Theo Weston và Brigham (1997): “Vốn lưu động là những khoản đầu tư của doanh nghiệp vào tài sản ngắn hạn” Như vậy, vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản ngắn hạn mà doanh nghiệp đã đầu tư, bao gồm: tiền và những khoản tương đương tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho và những tài sản có khả năng chuyển đổi thanh tiền trong vòng một năm Vốn lưu động của doanh nghiệp thường xuyên vận động, chuyển hoá lần lượt qua nhiều hình thái khác nhau Bắt đầu là tiền tệ, sau đó chuyển sang hình thái vật

tư dự trữ, sản phẩm dở dang, thành phẩm hàng hoá và cuối cùng quay trở về hình thái tiền tệ ban đầu của nó Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng nên quá trình vận động của vốn lưu động

Trang 17

cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính tuần hoàn tạo thành một chu kỳ gọi

là chu kỳ chu chuyển của vốn lưu động

Chu kỳ chu chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào công tác quản trị đối với từng thành phần trong vốn lưu động Quản trị tốt vốn lưu động sẽ tác động tích cực đến khả năng sinh lời và tính thanh khoản của doanh nghiệp (Raheman và Nasr – 2007)

b Chu kỳ kinh doanh

Nguồn: Chương 15 – Quản trị vốn lưu động, giáo trình Tài chính, Ronald W

Melicher và Edgar A Norton, trang 415

Hình 1.1 Sơ đồ chu kỳ kinh doanh Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp chính là khoảng thời gian kể từ khi doanh nghiệp mua nguyên vật liệu sử dụng cho quá trình sản xuất đến khi thu được tiền từ việc bán hàng Nguyên vật liệu được mua để sản xuất và chế tạo ra thành phẩm, cuối cùng là cung ứng sản phẩm ra thị trường và thu tiền Trong trường hợp hàng hoá được bán chịu nghĩa là sẽ phát sinh các khoản phải thu Độ dài của chu kỳ kinh doanh tuỳ thuộc vào từng nhóm ngành mà sẽ

có sự khác nhau Các doanh nghiệp nhóm ngành dịch vụ có chu kỳ kinh doanh tương tự như nhóm ngành sản xuất ngoại trừ không có giai đoạn sản xuất Chu kỳ kinh doanh của cả ngành dịch vụ hay sản xuất đều sẽ ngắn hơn

Vốn bằng tiền

Thu tiền

Nổ lực bán hàng

Sản xuất hàng hoá Mua nguyên vật liệu

Trang 18

nếu hàng hoá hoặc dịch vụ được cung ứng và thu tiền ngay Hầu hết các doanh nghiệp đều muốn chu kỳ kinh doanh là một năm hoặc ngắn hơn

c Chu kỳ chuyển hoá tiền mặt

Hoạt động của doanh nghiệp hầu hết đều phải bắt đầu bằng tiền và cũng kết thúc bằng tiền Sự luân chuyển của tiền được phân tích thành các chu kỳ

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành chu kỳ chuyển đổi tiền mặt Chu

kỳ chuyển đổi tiền mặt nằm trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, là khoảng thời gian tính từ lúc doanh nghiệp thực sự trả tiền cho nhà cung cấp đến khi thực sự thu hồi được tiền của khách hàng, nghĩa là khoản thời gian sau khi đã trừ đi kỳ thanh toán từ chu kỳ kinh doanh Nếu doanh nghiệp không trì hoãn thanh toán cho nhà cung cấp, tức là kỳ thanh toán bằng không thì chu kỳ chuyển đổi tiền mặt cũng chính bằng chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp

Nguồn: Chương 15 – Quản trị vốn lưu động, giáo trình Tài chính, Ronald W

Melicher và Edgar A Norton, trang 415

Hình 1.2 Sơ đồ chu kỳ chuyển hoá tiền mặt của doanh nghiệp

Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt dài nghĩa là doanh nghiệp phải tài trợ nhu cầu hoạt động kinh doanh trong thời gian dài, doanh nghiệp phải tăng nhu cầu tài chính trong ngắn hạn và các chi phí cần thiết Vì vậy, các nhà quản trị đều mong muốn giám sát chặt chẽ chu kỳ chuyển đổi tiền mặt của doanh nghiệp mình và có những phản ứng kịp thời khi chu kỳ này có xu hướng kéo dài Chu

Chu kỳ kinh doanh

Trang 19

kỳ chuyển đổi tiền mặt chịu ảnh hưởng của: chu kỳ chuyển hoá hàng tồn kho,

kỳ thu tiền bình quân và kỳ thanh toán bình quân

- Chu kỳ chuyển hoá hàng tồn kho: là thời gian bình quân cần thiết để chuyển hoá nguyên vật liệu thành sản phẩm cuối cùng và bán cho người tiêu dùng Đây là thước đo thể hiện tính thanh khoản của hàng tồn kho Chỉ số này

ở mức thấp nghĩa là doanh nghiệp hoạt động khá tốt và ngược lại

để đánh giá tính hiệu quả của các khoản tín dụng và chính sách thu tiền của doanh nghiệp Chu kỳ này quá dài thì dễ dẫn đến tình trạng nợ khó đòi, gây nguy hiểm cho tính an toàn tài chính của doanh nghiệp

( )( )

- Kỳ thanh toán bình quân: là độ dài thời gian từ khi mua nguyên vật liệu đến khi thanh toán cho nhà cung cấp Chỉ số này thể hiện mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người bán, chu kỳ này dài nghĩa là doanh nghiệp có quan hệ tốt với nhà cung cấp và có khả năng kéo giãn thời gian phải trả tiền và ngược lại Tuy nhiên chu kỳ này quá dài cũng là dấu hiệu của sự thiếu hụt vốn đầu tư dài hạn hoặc khả năng quản lý tài sản lưu động kém, làm gia tăng khoản phải trả cho nhà cung cấp, gia tăng hạn mức thấu chi tại ngân hàng Nguyên tắc chung là kỳ thanh toán bình quân phải ngắn hơn kỳ thu tiền bình quân

Trang 20

( )

Về nguyên tắc, cơ sở số liệu chuẩn để xác định kỳ thanh toán bình quân

là tổng tiền hàng mua chịu trong kỳ mà không phải giá vốn hàng bán Tuy nhiên số liệu về tổng tiền hàng mua chịu không có trên các báo cáo tài chính

mà chỉ trong nội bộ doanh nghiệp mới xác định được, nên đối với các đối tượng bên ngoài có thể sử dụng số liệu giá vốn hàng bán trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Hoặc cũng có thể sử dụng giá trị hàng mua trong kỳ (giá vốn hàng bán + hàng tồn kho cuối kỳ - hàng tồn kho đầu kỳ)

Doanh nghiệp có thể rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt bằng cách rút ngắn chu kỳ chuyển hoá hàng tồn kho và chu kỳ thanh toán bình quân hoặc kéo dài chu kỳ thanh toán bình quân Ở đây ta thấy có một kẽ hở giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra, chính kẽ hở này là nguyên nhân có thể khiến doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Như vậy, doanh nghiệp cần đảm bảo nhu cầu vốn tối ưu và phù hợp nhất để cân bằng tốt kẽ hở dòng vốn này Đảm bảo được điều này chính là đảm bảo được khả năng thanh khoản, hạn chế rủi ro phá sản cho chính doanh nghiệp mình

d Vốn lưu động ròng

Vốn lưu động ròng là thước đo tài chính đại diện cho tính thanh khoản trong ngắn hạn của doanh nghiệp Đây là phần chênh lệch giữa tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn với nguồn vốn tạm thời Có 2 phương pháp tính vốn lưu động ròng:

Vốn lưu động ròng = Nguồn vốn thường xuyên – Tài sản dài hạn (1) Nguồn vốn thường xuyên là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng thường xuyên, lâu dài vào hoạt động kinh doanh, có thời gian sử dụng trên

Trang 21

một năm Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản nợ vay trung và dài hạn Khoản nợ vay đến hạn trả không được xem là nguồn vốn thường xuyên

Vốn lưu động ròng = Tài sản ngắn hạn – Nguồn vốn tạm thời (2)

Nguồn vốn tạm thời là nguồn vốn mà doanh nghiệp tạm thời sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong một khoản thời gian ngắn, thường là trong một năm hoặc trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh Nguồn vốn tạm thời bao gồm:

- Các khoản phải trả tạm thời như nợ lương, nợ thuế, nợ bảo hiểm xã hội… Các khoản nợ này có đặc điểm là thường biến đổi theo quy mô hoạt động của doanh nghiệp và chi phí sử dụng vốn coi nhu không phát sinh Nguồn tài trợ của các khoản nợ này có quy mô nhỏ và thời gian sử dụng ngắn,

do vậy không đủ để tài trợ cho các nhu cầu lớn về vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh

- Các khoản nợ và tín dụng thương mại do người bán chấp thuận Khoản tài trợ này biến đổi cùng với quy mô hoạt động của doanh nghiệp nhưng có chi phí sử dụng vốn đi kèm, thời hạn sử dụng gắn liền với chính sách tín dụng

Trang 22

ngắn hạn hay sự chênh lệch giữa nguồn vốn thường xuyên và tài sản dài hạn Khoản chênh lệch đó chính là vốn lưu động ròng Như vậy, doanh nghiệp có vốn lưu động ròng dương nghĩa là tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được tài trợ một phần bởi nguồn vốn thường xuyên và phần vốn tài trợ này chính là vốn lưu động ròng Đây là một tín hiệu tốt bởi cân bằng tài chính được ổn định và đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn cho doanh nghiệp Theo vậy, Benjamin (1939) đã nghiên cứu và tuyên bố rằng các doanh nghiệp sẽ phát triển tốt hơn, cải thiện khả năng thanh khoản nếu vốn lưu động ròng là dương Ngược lại, khi vốn lưu động ròng âm nghĩa là tài sản dài hạn của doanh nghiệp lớn hơn phần nguồn vốn thường xuyên, lúc này doanh nghiệp phải sử dụng nguồn vốn tạm thời để tài trợ cho phần chênh lệch vốn lưu động ròng này Việc làm này khá nguy hiểm bởi khi hết hạn vay, doanh nghiệp phải kịp thời tìm nguồn khác để thay thế Nếu điều này xảy ra liên tục, khả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ bị suy giảm, doanh nghiệp

có thể bị đẩy đến giải pháp bán bớt tài sản hoặc phải thanh lý, nguy cơ phá sản rất cao Trong trường hợp vốn lưu động ròng bằng không cho thấy được

sự cân bằng tài chính của doanh nghiệp, nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp lúc này sẽ tài trợ toàn bộ cho tài sản dài hạn và nguồn vốn tạm thời cũng tài trợ hoàn toàn cho tài sản ngắn hạn Điều này thể hiện doanh nghiệp đang trong trạng thái ổn định, thế nhưng rất khó để doanh nghiệp đảm bảo được tình trạng này

1.1.2 Phân loại vốn lưu động

a Dựa theo hình thái biểu hiện

- Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn…

Trang 23

- Các khoản phải thu: là số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng hoá, dịch vụ dưới hình thức bán trước trả sau

- Vốn vật tư, hàng hoá: là các khoản vốn có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể như nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, bán thành phẩm…

Việc phân loại vốn lưu động theo cách này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét, đánh giá khả năng hoạt động của doanh nghiệp

b Dựa theo quan hệ sở hữu về vốn

Vốn lưu động được tài trợ bởi hai nguồn vốn đó là vốn chủ sở hữu và các khoản nợ Trong đó, các khoản nợ tài trợ cơ bản cho vốn lưu động của doanh nghiệp Còn vốn chủ sở hữu chỉ tài trợ một phần cho vốn lưu động mà thôi, phần còn lại tài trợ cơ bản cho tài sản dài hạn

- Vốn chủ sở hữu: là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng: vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà nước, vốn do chủ doanh nghiệp bỏ ra, vốn góp cổ phần, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận doanh nghiệp…

- Các khoản nợ: là các khoản được hình thành từ vốn vay các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán Doanh nghiệp chỉ có quyền

sử dụng các khoản nợ này trong một thời hạn nhất định

Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp được hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay từ các khoản nợ

Từ đó các quyết định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý hơn, đảm bảo an ninh tài chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp

Trang 24

c Dựa theo vai trò của vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh

- Vốn lưu động trong khâu dự trữ, sản xuất: Bao gồm giá trị các khoản nguyênvật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ

- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Bao gồm các khoản giá trị sản phẩm

dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển

- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Bao gồm các khoản giá trị thành phẩm, vốn bằng tiền, các khoản vốn để đầu tư ngắn hạn, các khoản thế chấp,

ký quỹ ngắn hạn, các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, tạm ứng…)

Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của vốn lưu động trong từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh Từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu vốn lưu động hợp lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất

1.1.3 Tầm quan trọng của vốn lưu động

Vốn lưu động là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp, là yếu tố quan trọng quyết định đến năng lực sản xuất kinh doanh của donah nghiệp và xác lập vị thế của doanh nghiệp trên thị trường

Doanh nghiệp có lượng vốn lưu động thích hợp sẽ giúp duy trì khả năng thanh toán được nợ nhờ tạo được quá trình sản xuất liên tục, đồng thời giúp doanh nghiệp nâng cao lợi thế cạnh tranh, nhận được nhiều lợi thế chiết khấu

từ nhà cung cấp, tăng xếp hạng tín dụng và gia tăng sự tin tường từ nhà đầu tư Ngoài ra doanh nghiệp có lượng vốn lưu động đủ lớn sẽ giúp họ có thể khai thác được những thuận lợi từ thị trường như tăng nhu cầu mua hàng của mình với số lượng lớn khi giá thấp và nắm giữ hàng tồn kho của mình đến khi giá cao hơn Tóm lại vốn lưu động được đảm bảo sẽ mang lại một môi trường an toàn, sự tin cậy cao và tạo nên hiệu quả hoạt động của toàn bộ doanh nghiệp

Trang 25

Do vậy doanh nghiệp cần duy trì một lượng đủ vốn lưu động bởi nó sẽ xác định hiệu quả trong quản lý hoạt động kinh doanh hằng ngày của doanh nghiệp Ngược lại, doanh nghiệp thiếu vốn lưu động sẽ phải đối mặt với rất nhiều vấn đề Nó kìm hãm sự phát triển và gây khó khăn cho doanh nghiệp, ảnh hưởng đến mục tiêu lợi nhuận của mình Việc kinh doanh không hiệu quả càng khó khăn hơn khi doanh nghiệp không thể thanh toán những khoản tiền phải trả hằng ngày và cuối cùng có thể dẫn đến rủi ro vỡ nợ và mất dần danh tiếng

Tuy nhiên có quá nhiều vốn lưu động cũng gây ra không ít những nguy hiểm cho doanh nghiệp, bởi vốn đi liền với chi phí vốn, doanh nghiệp phải trả một mức chi phí sử dụng vốn cao như chi phí cơ hội khi không sử dụng hiệu quả nguồn vốn này, do vậy ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp Vốn lưu động nhiều cũng có thể do việc tích luỹ hàng tồn kho lớn, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý, bảo quản, mất cắp và thất thoát hàng Ngoài ra xu hướng tích luỹ hàng tồn kho nhằm tạo ra lợi nhuận từ việc đầu cơ sẽ gặp trở ngại khi phải đối phó với tương lai không đúng như tính toán Hoặc nếu duy trì nhiều vốn lưu động trong khoản phải thu, hàm ý

mở rộng chính sách bán hàng sẽ làm tăng nguy cơ nợ xấu, ảnh hưởng bất lợi đến doanh thu của doanh nghiệp

Kết luận rằng các nhà quản trị của doanh nghiệp nên có những chính sách phù hợp để không duy trì quá nhiều hoặc quá ít vốn lưu động Để đảm bảo được đủ lượng vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần thiết phải xác định được nhu cầu vốn lưu động của mình trong từng thời kỳ cũng như điều kiện cụ thể

1.1.4 Nhu cầu vốn lưu động ròng

Ở những tài liệu, công trình nghiên cứu trước đây trên thế giới, các tác giả sử dụng cụm từ “working capital requirement” để thể hiện nhu cầu vốn

Trang 26

lưu động của doanh nghiệp Nó diễn tả lượng vốn tối thiểu cần thiết mà doanh nghiệp đầu tư vào vốn lưu động nhằm duy trì và điều hành tốt hoạt động kinh doanh hằng ngày của mình Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm chu kỳ chuyển hoá hàng tồn kho và chu kỳ thu tiền bình quân Các nghiên cứu lý giải rằng hầu hết các doanh nghiệp đều không thể tài trợ nhu cầu hàng tồn kho và nhu cầu khoản phải thu bằng cách tận dụng các khoản phải trả ngắn hạn trong thanh toán Vì vậy phát sinh thêm nhu cầu vốn tài trợ cho hàng tồn kho và các khoản phải thu Nội dung này chính là nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp Vì vậy, trong đề tài nghiên cứu, tác giả hàm ý

nhu cầu vốn lưu động cũng chính là nhu cầu vốn lưu động ròng

Vốn lưu động gắn chặt với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thật vậy, các thành phần trong vốn lưu động có mối liên hệ với chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp Chẳng hạn, số dư các khoản phải thu khách hàng có mối quan hệ tuyến tính với doanh thu bán hàng của doanh nghiệp Khi doanh số càng tăng thì số dư các khoản phải thu của khách hàng cũng gia tăng và ngược lại Đồng thời, cũng trong chu kỳ kinh doanh đó, hoạt động tiêu thụ gia tăng yêu cầu doanh nghiệp tăng dự trữ hàng tồn kho và hoạt động cung ứng sẽ làm tăng các khoản nợ và tín dụng từ nhà cung cấp Những thành phần này tác động qua lại lẫn nhau nên trong chu kỳ kinh doanh sẽ phát sinh nhu cầu về dự trữ hàng tồn kho, các khoản phải thu, đồng thời những tài sản này được tài trợ một phần bởi các khoản nợ ngắn hạn Phần nhu cầu cần tài trợ còn lại chính là nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp Xác định phần nhu cầu vốn này cũng chính là xác định mức vốn tối thiểu cần đầu tư vào vốn lưu động để doanh nghiệp trang trải nhu cầu vốn còn thiếu sau khi đã tận dụng những khoản nợ ngắn hạn trong thanh toán Có thể thấy khái niệm nhu cầu vốn lưu động ròng có liên quan đến một dãy các hoạt động có tính tuần hoàn của doanh nghiệp như quá trình cung ứng, sản xuất và tiêu thụ

Trang 27

trong các doanh nghiệp sản xuất hay quá trình thu mua, dự trữ và bán hàng ở các doanh nghiệp thương mại

Nhu cầu vốn lưu động ròng = (Khoản phải thu + Hàng tồn kho) – Khoản phải

trả ngắn hạn trong thanh toán (không tính nợ vay) [4]

Nhu cầu vốn lưu động ròng thể hiện nhu cầu cần tài trợ trong ngắn hạn của doanh nghiệp Thông thường, doanh nghiệp thường sử dụng lợi nhuận ròng hoặc vay nợ từ bên ngoài để tài trợ cho khoản thiếu hụt vốn này Không

có một mức vốn lý tưởng để áp dụng cho tất cả các ngành và thậm chí các doanh nghiệp cùng một ngành, nó phụ thuộc vào mức độ thường xuyên doanh nghiệp thu được nguồn thu và độ lớn chi phí cần thiết để trang trải tất cả hoạt động

Xác định được nhu cầu vốn lưu động ròng vừa đủ rất cần thiết cho công tác quản trị tài chính của các nhà quản trị, giúp doanh nghiệp giảm thiểu được rủi ro phá sản do bị mất cân bằng tài chính trong ngắn hạn, đồng thời giúp doanh nghiệp tận dụng được nhiều cơ hội đầu tư có lợi cho sự phát triển ở hiện tại và tương lai Xác định cân bằng tài chính trong ngắn hạn bằng cách so sánh nhu cầu vốn lưu động ròng với vốn lưu động ròng của doanh nghiệp Nếu nhu cầu vốn lưu động ròng thấp hơn hoặc bằng vốn lưu động ròng nghĩa

là doanh nghiệp có đủ tiền để đáp ứng nhu cầu về vốn trong ngắn hạn của mình Ngược lại, doanh nghiệp bị mất cân bằng tài chính trong ngắn hạn, buộc phải huy động thêm các nguồn tài chính khác để bù đắp sự thiếu hụt khi nhu cầu vốn lưu động ròng cao hơn lượng vốn lưu động ròng

1.2 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

Thanh khoản và lợi nhuận là mục tiêu mà bất kỳ nhà quản trị nào đều hướng đến Xác định nhu cầu vốn lưu động ròng góp phần giúp doanh nghiệp cải thiện tính thanh khoản và tăng khả năng sinh lời Như vậy, một cách gián

Trang 28

tiếp, xác định những nhân tố gây ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp dự tính một mức nhu cầu vốn lưu động hợp lý, mang lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong ngắn hạn cũng như tránh tình trạng ứ đọng vốn, thiếu vốn Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng từ rất nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm cả những nhân tố định tính và các nhân tố định lượng Mỗi nhân tố đều có tầm quan trọng và sức ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp ở các mức độ khác nhau Các nhân tố định tính

là những nhân tố mà không thể tính toán được, bao gồm cả những nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan Các nhân tố khách quan như đặc điểm ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, các chính sách kinh tế tài chính của Nhà nước đối với lĩnh vực doanh nghiệp đang hoạt động, thị trường và sự tăng trưởng của nền kinh tế Các nhân tố này có một ảnh hưởng nhất định tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chẳng hạn như với chính sách tài chính, kinh tế của Nhà nước có tác động trực tiếp với vai trò tạo hành lang an toàn để các doanh nghiệp hoạt động và đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các ngành kinh tế với nhau Nhà nước có thể khuyến khích, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của một số ngành kinh doanh bằng những công cụ kinh tế của mình Điều này ảnh hưởng sâu sắc đến kế hoạch sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra, các nhân tố chủ quan như trình độ quản lý vốn kinh doanh của nhà quản trị, trình độ tổ chức quá trình luân chuyển hàng hoá… sẽ phản ánh hiệu quả quản trị vốn lưu động, từ đó ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp

Vốn có vai trò quyết định đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp có khả năng tài chính không những đảm bảo cho doanh nghiệp duy trì hoạt động kinh doanh ổn định mà còn giúp doanh nghiệp đầu tư đổi mới trang thiết bị tiếp thu công nghệ sản xuất hiện đại hơn nhằm

Trang 29

làm giảm chi phí, nâng cao những mặt có lợi cho doanh nghiệp Ngoài ra, khả năng tài chính còn nâng cao uy tín của doanh nghiệp, nâng cao tính chủ động khải thác và sử dụng tối ưu đầu vào Các kết quả thực nghiệm trình bày tại phần tổng quan tài liệu đã tổng hợp được một vài nhân tố chính có ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp Ở đề tài này, tác giả chỉ xin nghiên cứu cụ thể hơn các nhân tố bên trong nội bộ doanh nghiệp mà không

đề cập đến các nhân tố bên ngoài như môi trường, chu kỳ kinh tế… Hill và cộng sự (2010) đã kết luận rằng: “Nhu cầu vốn lưu động chịu ảnh hưởng từ điều kiện hoạt động và khả năng tài chính của doanh nghiệp” [17] Dưới đây, tác giả trình bày các nhân tố chính tác động đến tình hình hoạt động và khả năng tài chính của doanh nghiệp để từ đó xem xét sự ảnh hưởng của chúng đến nhu cầu vốn lưu động ròng

1.2.1 Doanh thu

Doanh thu là toàn bộ các khoản tiền mà doanh nghiệp thu được từ các hoạt động kinh doanh trong một kỳ nhất định Rất khó để xác định trước một cách chính xác độ lớn của doanh thu bởi doanh thu của doanh nghiệp thường không cố định và có mối tương quan cùng chiều vào nhu cầu của khách hàng

Vì vậy, kết quả khi nhu cầu gia tăng đó là sự tăng đầu tư vào tài sản ngắn hạn Chẳng hạn khi kinh tế tăng trưởng, doanh nghiệp thường đầu tư nhiều vào hàng tồn kho và mở rộng các khoản phải thu vì doanh thu thường tăng trong giai đoạn này và ngược lại Hành động này làm tăng nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu của Blazenko và Vandezande (2003); Appuhami (2008); Nazir và Afza (2009) đã khẳng định mối quan hệ cùng chiều giữa doanh thu của doanh nghiệp và nhu cầu vốn lưu động ròng Tuy nhiên, trong quá trình kinh doanh, không phải lúc nào doanh thu của doanh nghiệp cũng tăng hoặc lúc nào doanh thu cũng giảm Doanh thu là nguồn tài chính thường xuyên, quan trọng nhất để doanh nghiệp trang trải mọi

Trang 30

chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục Vì vậy, sự biến động của doanh thu trong một kỳ chính

là rủi ro mà doanh nghiệp phải đối mặt và nó gây ảnh hưởng không nhỏ đến nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp Doanh nghiệp càng khó dự đoán doanh thu càng khó dự báo được dòng tiền của mình, vì vậy khả năng đáp ứng nhu cầu vốn hằng ngày của doanh nghiệp càng khó được đảm bảo

Do đó, doanh nghiệp được khuyến khích nên duy trì mức vốn cao nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản của mình, tức biến động doanh thu gây ra ảnh hưởng thuận lên nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp Thật vậy, khi nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp gia tăng, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với chi phí đầu tư sản xuất, các khoản phải thu…, nhưng khi nhu cầu giảm đột ngột, doanh nghiệp vẫn phải duy trì nhu cầu vốn cao để quá trình sản xuất không bị gián đoạn, đồng thời các chi phí như chi phí sản xuất, nhân công vẫn được thanh toán đầy đủ khi đến hạn Đối với các doanh nghiệp cung cấp những sản phẩm, dịch vụ có tính chất mùa vụ thường xuyên phải đối mặt với tình trạng biến động doanh thu, mối quan hệ tốt với nhà cung cấp sẽ giúp doanh nghiệp kéo dài thời gian phải trả trong chu kỳ kinh doanh của mình Nhờ đó, áp lực vốn mà doanh nghiệp phải đối mặt sẽ giảm theo trong khi doanh nghiệp vẫn có thể đáp ứng tốt các nhu cầu thanh khoản của mình Thật vậy, nghiên cứu của Hill và cộng sự (2006) cũng đã kết luận rằng giữa biến động doanh thu và nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp vẫn có thể có mối tương quan ngược chiều với nhau Biến động doanh thu được xem là một loại rủi ro hoạt động mà doanh nghiệp phải đối mặt, chính vì vậy, tác giả lựa chọn biến động doanh thu là một trong những nhân tố để đưa vào nghiên cứu

Trang 31

1.2.2 Khả năng sinh lời của doanh nghiệp

Khả năng sinh lời đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí

bỏ ra để có được kết quả đó Độ chênh lệch giữa hai đại lượng càng lớn thì hiệu quả doanh nghiệp đạt được càng cao Như vậy, khả năng sinh lời của doanh nghiệp thể hiện hiệu quả mà doanh nghiệp đạt được trong kỳ kinh doanh Trên gốc độ này, hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp

và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp,

là nguồn tài chính quan trọng để doanh nghiệp tái đầu tư và mở rộng sản xuất [3] Tuy nhiên không phải lúc nào chỉ số này cũng cho ta cái nhìn đúng đắn về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó Vì vậy, đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp có thể được tính toán cụ thể hơn qua một vài thông số sau:

- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu

( )

Tỷ suất này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận và doanh thu nhằm cho biết rằng mỗi đồng doanh thu thu về tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cao nghĩa là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có lãi và khả năng kiểm soát chi phí có hiệu quả

Tỷ suất này hay còn gọi là hệ số biên lợi nhuận gộp và được tính dưới dạng tỷ

lệ phần trăm, nên có thể so sánh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành và nhận ra doanh nghiệp nào đang có ưu thế

- Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA)

ư

à ì â

Hệ số này cho biết một đồng tài sản doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Đây là chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lời của

Trang 32

doanh nghiệp so với tài sản của nó ROA càng lớn cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp càng cao, doanh nghiệp đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng tài sản được đầu tư ít hơn Tỷ số này phụ thuộc vào mùa vụ kinh doanh và ngành nghề kinh doanh, vì vậy thích hợp để nhà quản trị phân tích so sánh chỉ số này với bình quân toàn ngành hoặc với doanh nghiệp khác cùng ngành và so sánh cùng một thời kỳ

- Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE)

ì â Ngoài ROA còn có một công cụ khác đo lường hiệu suất chung của doanh nghiệp là thu nhập trên vốn chủ sở hữu Tỷ số này cho biết hiệu quả của doanh nghiệp trong việc tạo ra thu nhập cho các cổ đông ROE thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của doanh nghiệp nào

Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ càng cao chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng càng

có hiệu quả đồng vốn của cổ đông, nghĩa là doanh nghiệp đã cân đối một cách hài hoà giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô Cũng như tỷ số lợi nhuận trên tài sản, tỷ số này phụ thuộc vào thời vụ kinh doanh Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp Tuỳ vào mức độ chấp nhận rủi ro mà doanh nghiệp sẽ lựa chọn quy mô vay thích hợp Khi có vốn vay, tỷ suất tự tài trợ của doanh nghiệp giảm làm cho ROE lớn hơn nhiều so với ROA do tác động của đòn bẩy nợ Nếu ROE lớn hơn ROA thì có nghĩa là đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp đã có tác dụng tích cực, nghĩa là doanh nghiệp đã thành công trong việc huy động vốn của cổ đông để kiếm lợi nhuận với tỷ suất cao hơn tỷ suất tiền lãi mà doanh nghiệp phải trả cho cổ đông

Trang 33

Doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực của mình, nâng cao thu nhập kéo theo gia tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Nhờ đó, doanh nghiệp sẽ giảm bớt áp lực trong quyết định đầu tư của mình, đồng thời các nhà quản trị càng có nhiều đồng lực để tăng cường đầu tư, sản xuất nhằm tối

đa hoá lợi nhuận đạt được cho doanh nghiệp Vì vậy khiến cho nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp cần được gia tăng Gill (2011); Suleiman và Rasha (2013) nghiên cứu trên những mẫu khác nhau và cũng có cùng kết luận như vậy Đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp bằng tỷ số ROA thường được các nhà nghiên cứu lựa chọn để nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp bởi nó chỉ đến hiệu quả trong việc khai thác toàn bộ tài sản của doanh nghiệp Tuy nhiên, theo phân tích Dupont, tỷ số ROA của doanh nghiệp được cấu thành từ tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản Vì vậy, tỷ số ROA của một doanh nghiệp cao chưa thể kết luận được doanh nghiệp đó hoạt động có hiệu quả bởi

nó có thể là kết quả của việc doanh nghiệp đang thu hẹp quy mô hoặc thanh lý bớt tài sản của mình Trường hợp doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cao đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đó đang điều phối hoạt động kinh doanh tốt, nâng cao hiệu quả hoạt động và làm tăng ROA cho doanh nghiệp Do đó, tác giả lựa chọn đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp qua tính toán tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu để nghiên cứu các nhân

tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động ròng

1.2.3 Chu kỳ chuyển hoá tiền mặt của doanh nghiệp

Dòng tiền là toàn bộ những khoản thu chi bằng tiền xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định và qua đó giúp doanh nghiệp có cái nhìn rõ hơn tình trạng hoạt động kinh doanh của mình Dòng tiền được phân ra làm ba loại chính: dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, dòng tiền từ hoạt động đầu tư

Trang 34

và dòng tiền từ hoạt động tài chính Trong đó, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh là nguồn cốt yếu mang lại nguồn thu cho doanh nghiệp và luôn được các nhà quản trị và nhà đầu tư quan tâm nhất Đây là dữ liệu phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp rõ hơn chỉ tiêu lợi nhuận

Trong chu kỳ kinh doanh, vốn lưu động được biểu hiện dưới các hình thái khác nhau: hàng tồn kho, các khoản phải thu, các khoản phải trả Quản lý

có hiệu quả vốn lưu động trong một chu kỳ kình doanh chính là góp phần mang lại dòng tiền tích cực cho doanh nghiệp Thời gian vốn lưu động biểu hiện dưới hình thái hàng tồn kho chính là chu kỳ chuyển hoá hàng tồn kho của doanh nghiệp Chu kỳ chuyển hoá hàng tồn kho có thể dài hoặc ngắn, tuỳ thuộc vào mặt hàng mà doanh nghiệp sản xuất Chẳng hạn, các doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo… có chu kỳ chuyển hoá hàng tồn kho ngắn, có thể chỉ vài giờ nhưng các doanh nghiệp sản xuất xe hơi sẽ mất hàng tuần hoặc hàng tháng để chuyển hoá nguyên liệu thành thành phẩm cuối cùng Trong khi đó, các doanh nghiệp ngành dịch vụ lại không có chu kỳ chuyển hoá hàng tồn kho Doanh nghiệp có chu kỳ chuyển hoá hàng tồn kho dài nghĩa là thời gian sản xuất, cung ứng hàng hoá kéo dài, đồng vốn của doanh nghiệp bị ứ đọng dưới hình thái nguyên vật liệu, thành phẩm, hàng hoá đi đường nhiều, chi phí vốn của doanh nghiệp theo đó cũng gia răng Điều này làm tăng nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp

Bên cạnh đó, chu kỳ các khoản phải thu của khách hàng và chu kỳ các khoản phải trả nhà cung cấp cũng ảnh hưởng đến dòng tiền của doanh nghiệp Tuỳ theo mỗi doanh nghiệp, mỗi nhóm ngành mà tuân theo các chính sách tín dụng khác nhau Ngoài ra, do yêu cầu cạnh tranh cao trong kinh doanh, một vài doanh nghiệp buộc phải mở rộng bán hàng tín dụng hay kéo dài thời gian thu tiền có thể kích thích tăng trưởng doanh thu, giúp doanh nghiệp duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng Tuy nhiên, điều đó có thể làm cho bộ

Trang 35

phận tài chính của doanh nghiệp phải đối mặt với các vấn đề về thanh khoản, làm tăng rủi ro kinh doanh cho doanh nghiệp Ngược lại, đối với các khoản phải trả, doanh nghiệp càng kéo dài thời gian thanh toán cho nhà cung cấp thì càng có lợi cho dòng tiền của doanh nghiệp

Chu kỳ chuyển hoá tiền mặt của doanh nghiệp được thể hiện thông qua thời gian đồng tiền ứ đọng trong vốn lưu động Doanh nghiệp có chu kỳ chuyển đổi ngắn nghĩa là doanh nghiệp đã giảm thời gian đồng vốn bị ứ đọng, tạo ra dòng tiền tích cực cho doanh nghiệp và ngược lại Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt chịu ảnh hưởng của chu kỳ chuyển đổi hàng tồn kho, chu kỳ khoản phải thu, chu kỳ khoản phải trả, nó là thước đo rủi ro thanh khoản kéo theo bởi sự tăng trưởng và được nhiều nghiên cứu sử dụng để phân tích nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp Chính vì vậy, xác định thời gian đồng tiền biểu hiện dưới các hình thái hàng tồn kho, khoản phải thu, khoản phải trả sẽ giúp doanh nghiệp tính toán được chu kỳ chuyển đổi tiền mặt của doanh nghiệp mình

Dòng tiền hoạt động dương cho phép doanh nghiệp hạn chế được lượng vốn phải đầu tư thêm vào vốn lưu động mà thay vào đó là mở rộng các hoạt động đầu tư sinh lời Hill và công sự (2006) đã đưa ra ảnh hưởng cùng chiều giữa dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp Ông giải thích những doanh nghiệp có dòng tiền hoạt động cao thường ít áp dụng chính sách hạn chế đầu tư vào vốn lưu động, thay vào đó là nới lỏng chính sách hàng tồn kho và giảm bớt những tiêu chuẩn cho các chính sách bán hàng tín dụng nhằm làm tăng doanh số bán hàng và lợi nhuận cho doanh nghiệp Vì vậy, các nhà quản trị luôn tìm cách rút ngắn chu kỳ chuyển đổi vốn bằng tiền cho doanh nghiệp nhằm mang lại dòng tiền hiệu quả cho hoạt động kinh doanh Nghiên cứu của Suleiman M Abbadi và Rasha T

Trang 36

Abbadi (2012) đều đưa ra kết luận mối tương quan cùng chiều giữa chu kỳ chuyển hoá tiền mặt với nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp

1.2.4 Quy mô của doanh nghiệp

Quy mô doanh nghiệp chính là thước đo thể hiện độ lớn của doanh nghiệp, nó được biểu hiện ở quy mô tài sản, tổng doanh thu, vốn chủ sở hữu hay nguồn nhân lực… Căn cứ theo quy mô, các doanh nghiệp được phân thành doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp lớn Hiện nay chiếm đa số và chủ yếu trong cộng đồng các doanh nghiệp tại Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ, quy định số lượng lao động trung bình hàng năm

từ 10 đến dưới 200 người là doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người thì được coi là doanh nghiệp vừa, trên 300 người là daonh nghiệp lớn Tổng nguồn vốn quy định đối với doanh nghiệp nhỏ là từ 20 tỷ đồng trở xuống, từ

20 tỷ đến 100 tỷ là doanh nghiệp vừa và trên 100 tỷ là doanh nghiệp lớn Quy

mô của doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ cũng đều phải lựa chọn và được quản lý một cách hiệu quả nhất Đặc biệt đối với các doanh nghiệp quy mô càng lớn, chi phí đầu tư cho hoạt động kinh doanh hằng ngày càng nhiều, vì vậy, nhu cầu vốn lưu động nhằm đáp ứng khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong ngắn hạn theo đó cũng cần phải gia tăng tương xứng với độ lớn của quy mô Quy mô của doanh nghiệp còn thể hiện khả năng tiếp cận thị trường của doanh nghiệp bởi quy mô phản ánh lợi thế của doanh nghiệp trên thị trường Doanh nghiệp được thị trường đánh giá cao thì khả năng tiếp cận dòng vốn, khách hàng sẽ thuận tiện hơn Thật vậy, nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng giữa quy mô của doanh nghiệp và nhu cầu vốn lưu động ròng có mối quan hệ cùng chiều với nhau Hill (2010), Brennan và Hughes (1991), Chiou và cộng

sự (2006) đều cho rằng các doanh nghiệp quy mô lớn dễ dàng trong tiếp cận thị trường hơn so với các doanh nghiệp quy mô nhỏ Do đó nhu cầu hàng hoá

Trang 37

hay khả năng tiếp cận khách hàng sẽ tăng cao, nghĩa là doanh nghiệp có đủ khả năng để mở rộng các khoản phải thu và tăng dự trữ hàng tồn kho Thêm vào đó, các doanh nghiệp lớn đòi hỏi phải đa dạng các loại hình sản xuất để đảm bảo thu hồi đủ vốn cũng như lợi nhuận Chính vì vậy kéo theo nhu cầu vốn lưu động ròng của các doanh nghiệp lớn cũng cần được nâng cao hơn so với các doanh nghiệp nhỏ

Thế nhưng, theo nghiên cứu của Nazir và Afza (2009); Zariyawati (2010)

đã đưa ra kết quả ngược lại, quy mô của doanh nghiệp tác động ngược chiều đến nhu cầu vốn lưu động Thật vậy, sự mở rộng tăng trưởng tín dụng thương mại quá mức có thể dẫn đến những bất lợi sau này nếu các khoản phải thu không thu hồi được Đồng thời, Petersen và Rajan (1997); Deloof và Jegers (1997) đều cho rằng những doanh nghiệp quy mô lớn thường nhận được sự

ưu ái của các nhà cung cấp, do đó, thời gian để hoàn trả các khoản phải trả của doanh nghiệp có thể kéo dài hơn, từ đó làm giảm nhu cầu vốn lưu động ròng cho doanh nghiệp

1.2.5 Đòn bẩy tài chính

Đòn bẩy tài chính là khái niệm dùng để chỉ sự kết hợp giữa nợ phải trả

và vốn chủ sở hữu trong việc điều hành chính sách tài chính của doanh nghiệp

Nó thể hiện việc sử dụng các nguồn vốn có chi phí cố định trong nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm hy vọng gia tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hay thu nhập trên mỗi cổ phần của doanh nghiệp [3] Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính được thể hiện ở hệ số nợ Đòn bẩy tài chính sẽ rất lớn trong các doanh nghiệp có tỷ trọng nợ phải trả cao hơn tỷ trọng của vốn chủ sở hữu và ngược lại Như vậy đòn bẩy tài chính cho thấy mức độ được tài trợ của doanh nghiệp bằng nguồn tài trợ bên ngoài

Chiou và cộng sự (2006) dựa trên thuyết “Trật tự phân hạng” tranh luận rằng các doanh nghiệp sẽ ưu tiên tài trợ bằng nguồn tài chính nội bộ nhằm

Trang 38

giảm việc giám sát và hạn chế khi huy động thêm vốn từ cổ đông hoặc các tổ chức tín dụng Bởi các nhà quản trị bao giờ cũng có thông tin về giá trị doanh nghiệp tốt hơn các nhà đầu tư bên ngoài, sự bất cân xứng thông tin này dẫn tới chi phí huy động vốn bên ngoài sẽ cao Chính vì vậy, theo thuyết này, doanh nghiệp có hệ số nợ cao nghĩa là doanh nghiệp bị hạn chế nguồn tài chính, lúc này doanh nghiệp sẽ chú tâm nhiều hơn vào công tác quản trị vốn lưu động nhằm hạn chế lượng vốn bị ứ đọng trong hàng tồn kho và các khoản phải thu Vì vậy nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp thường có xu hướng giảm [12] Mối quan hệ ngược chiều giữa đòn bẩy tài chính và nhu cầu vốn lưu động ròng được khẳng định bởi các nghiên cứu của các tác giả, Raheman và Nasr (2007), Zariyawati và đồng nghiệp (2009), Mathuva (2009), Erasmus (2010), Suleiman và Rasha (2013) dựa trên mẫu tại các đất nước khác nhau

Mục tiêu của việc sử dụng đòn bẩy tài chính là nhằm làm gia tăng tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu, tuy nhiên, việc sử dụng đòn bẩy tài chính quá cao có thể như con dao hai lưỡi bởi lúc này phần lợi nhuận sinh ra

có thể không đủ để bù đắp chi phí lãi vay Điều này dẫn đến rủi ro cho doanh nghiệp, vì vậy cùng với gia tăng nợ, các nhà quản trị cũng sẽ tích cực đầu tư làm gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Nghiên cứu của Gill (2011) đưa ra kết luận mối tương quan cùng chiều giữa đòn bẩy tài chính và nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp Ngoài ra, do sự khác nhau về chính sách vay

nợ của mỗi nước, có những nước yêu cầu phải duy trì một mức thanh khoản nhất định để đảm bảo khả năng hoàn trả đầy đủ nghĩa vụ nợ Điều này nghĩa

là doanh nghiệp có vay nợ càng nhiều thì yêu cầu về thanh khoản của doanh nghiệp đó càng cao, kéo theo đó doanh nghiệp sẽ gia tăng nhu cầu vốn lưu động ròng của mình để đảm bảo được khả năng thanh toán trong quá trình hoạt động kinh doanh

Trang 39

1.2.6 Đánh giá của nhà đầu tư

Bên cạnh các nguồn tài trợ vốn được hình thành từ chính doanh nghiệp thì các nguồn tài trợ từ phía nhà đầu tư cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp Sự kỳ vọng của nhà đầu tư cũng là tác nhân ảnh hưởng đến quyết định và mức độ đầu tư vào doanh nghiệp Sự kỳ vọng chính là mong đợi của nhà đầu tư vào sự mở rộng phát triển, nâng cao giá trị của doanh nghiệp trong tương lai Thông tin bất đối xứng là việc các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin, khiến cho nhà đầu tư đánh giá quá cao hoặc quá thấp đối với doanh nghiệp Từ đó sẽ dẫn đến sự ra quyết định không chính xác của nhà đầu tư, gây ảnh hưởng bất lợi đến doanh nghiệp và nguy cơ xấu cho thị trường Chính vì vậy, hạn chế tình trạng thông tin bất đối xứng sẽ góp phần làm tăng tính chính xác thông tin của doanh nghiệp, gia tăng lòng tin của nhà đầu tư vào sự kỳ vọng của họ trong tương lai Mối quan tâm của nhà đầu tư chính là khả năng sinh lời, tăng trưởng ổn định và khả năng thanh khoản của doanh nghiệp Doanh nghiệp được đánh giá có cơ hội tăng trưởng đồng nghĩa với doanh nghiệp sẽ có những lợi thế thuận lợi để phát triển nếu biết cách quản trị và lãnh đạo nhằm mang lại giá trị từ điều kiện đó Như vậy, doanh nghiệp được đánh giá có tiềm năng phát triển cao sẽ nhận được nhiều dòng tài trợ lớn và thường xuyên Đồng thời, doanh nghiệp sẽ có thêm nhiều cơ hội đầu tư vào những dự án có tiềm năng sinh lợi cao Ngoài ra, các doanh nghiệp được sự kỳ vọng nhiều từ phía nhà đầu tư sẽ tìm cách gia tăng đầu tư vào quá trình hoạt động kinh doanh nhằm tương xứng với sự kỳ vọng của nhà đầu tư Như vậy, sự kỳ vọng của nhà đầu tư cũng có thể sẽ gây ảnh hưởng cùng chiều đến nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp

Trang 40

Để đo lường sự kỳ vọng của nhà đầu tư, các nhà quản trị thường sử dụng các hệ số đo lường giá trị thị trường nhằm đánh giá mức độ sẵn lòng góp vốn của nhà đầu tư

- Chỉ số P/E

Đây là một trong những chỉ số phân tích quan trọng trong quyết định đầu

tư chứng khoán của nhà đầu tư Tỷ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường và thu nhập của mỗi cổ phiếu

( )

( )Chỉ số P/E cho thấy nhà đầu tư sẽ sẵn sàng trả bao nhiêu cho mỗi đồng thu nhập, nó thể hiện thị giá của doanh nghiệp trên thị trường Nếu chỉ số P/E cao thì điều đó nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai, cổ phiếu có rủi ro thấp, nhà đầu tư kỳ vọng cao vào tốc độ tăng trưởng trong tương lai của doanh nghiệp và ngược lại Trong một nhóm các doanh nghiệp trong một ngành, không nên lựa chọn các doanh nghiệp có P/E thấp vì thông thường đây là các doanh nghiệp không có tiềm năng phát triển hoặc có thành tích cực kỳ nghèo Ngoài ra, chỉ số P/E thường dựa trên số liệu của doanh nghiệp trong vòng một năm, lợi nhuận của doanh nghiệp có thể lên cao, xuống thấp bất thường nên chỉ số P/E cũng có thể thay đổi bất thường giữa các năm Do vậy, nhà đầu tư không nên chỉ dựa vào duy nhất P/E trong một năm khi ra quyết định đầu tư mà còn xem xét cả P/E trong nhiều năm trước, đồng thời cũng so sánh với tốc độ tăng trưởng lợi nhuận và thu nhập dự kiến của doanh nghiệp

- Chỉ số M/B

Chỉ số M/B cũng được sử dụng để đánh giá sự kỳ vọng của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp Nó thể hiện mức độ kỳ vọng của công chúng vào khả

Ngày đăng: 28/11/2017, 10:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm