Mục tiêu nghiên cứu - Xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp.. - Nhận diện và nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Trần Đình Khôi Nguyên
Đà Nẵng - Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất cứ công trình khác
Tác giả luận văn
CHU THỊ HẬU
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Kết cấu của đề tài 3
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC CỦA DOANH NGHIỆP VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 6
1.1 CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC CỦA DOANH NGHIỆP 6
1.1.1 Khái niệm về chính sách chi trả cổ tức 6
1.1.2 Trình tự chi trả cổ tức 12
1.1.3 Các chỉ tiêu đo lường việc chi trả cổ tức 13
1.1.4 Phương thức chi trả cổ tức 14
1.2 CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC 15
1.2.1 Lý thuyết của Modiglinani & Miller (1961) 15
1.2.2 Lý thuyết chính sách chi trả cổ tức tiền mặt cao 16
1.2.3 Lý thuyết về chi phí đại diện và dòng tiền tự do 17
1.2.4 Lý thuyết tín hiệu 17
Trang 51.3 CƠ SỞ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÁC NHÂN TỐ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC 18
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC 22
1.4.1 Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) 22
1.4.2 Khả năng sinh lời 23
1.4.3 Quy mô doanh nghiệp 23
1.4.4 Cơ hội tăng trưởng 24
1.4.5 Cấu trúc vốn 25
1.4.6 Khả năng thanh toán hiện hành 26
1.4.7 Cổ tức quá khứ 26
1.4.8 Tuổi của doanh nghiệp 26
1.4.9 Biến số kinh tế vĩ mô 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 31
2.1 MÔ HÌNH KHÁI NIỆM VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 31
2.1.1 Mô hình khái niệm 31
2.1.2 Giả thuyết nghiên cứu 31
2.2 THIẾT KẾ ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN 36
2.2.1 Biến phụ thuộc 36
2.2.2 Biến độc lập 36
2.3 CHỌN MẪU, PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 39
2.3.1 Chọn mẫu 39
2.3.2 Phương pháp xử lí số liệu 40
Trang 62.3.3 Mô hình đề nghị 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 43
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
3.1.1 Đặc điểm chính sách chi trả cổ tức các doanh nghiệp 44
3.1.2 Số liệu có tính so sánh theo thời gian, theo các đặc trưng của doanh nghiệp 48
3.2 ĐẶC ĐIỂM CÁC NHÂN TỐ DỰ TÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC 51
3.2.1 Thu nhập trên mỗi cổ phần 51
3.2.2 Khả năng sinh lời 51
3.2.3 Nhân tố quy mô doanh nghiệp 52
3.2.4 Cơ hội tăng trưởng 53
3.2.5 Cấu trúc vốn 53
3.2.6 Khả năng thanh toán hiện hành 54
3.2.7 Cổ tức quá khứ 55
3.2.8 Tuổi của doanh nghiệp 56
3.2.9 Lạm phát 56
3.2.10 Lãi suất ngân hàng 57
3.3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 58
3.3.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 58
3.3.2 Ma trận hệ số tương quan 59
3.3.3 Kết quả mô hình ảnh hưởng cố định (FEM) 60
3.3.4 Kết quả mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) 62
3.3.5 Sử dụng kiểm định Hausman lựa chọn mô hình 64
Trang 73.3.6 Phân tích kết quả nghiên cứu mô hình được lựa chọn 64KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 67
CHƯƠNG 4 CÁC HÀM Ý CHÍNH SÁCH TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 68
4.1 KẾT LUẬN 684.2 CÁC HÀM Ý CHÍNH SÁCH 694.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (BẢN SAO)
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
1.1 Tóm tắt các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách
3.1 Tỷ suất cổ tức các doanh nghiệp niêm yết trên
3.2 Mối quan hệ giữa thu nhập trên mỗi cổ phần và
3.3 Mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và tỷ suất cổ
3.5 Mối quan hệ giữa cơ hội tăng trưởng và tỷ suất
3.6 Mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và tỷ suất cổ tức
3.8 Mối quan hệ cổ tức quá khứ và tỷ suất cổ tức
3.9 Mối quan hệ tuổi của doanh nghiệp và tỷ suất cổ
3.10 Mối quan hệ lạm phát và tỷ suất cổ tức trong giai
Trang 9Số hiệu
3.11 Mối quan hệ lãi suất ngân hàng và tỷ suất cổ tức
3.12 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
3.1 Tỷ suất cổ tức của các doanh nghiệp niêm yết trên
3.6 Tỷ suất cổ tức của các doanh nghiệp niêm yết trên
3.7
Tỷ suất cổ tức bình quân phân theo ngành của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE giai đoạn 2010-2014
50
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tài chính doanh nghiệp có ba quyết định cơ bản: quyết định đầu
tư, quyết định tài trợ và quyết định chi trả cổ tức Cả ba quyết định trên có liên hệ với nhau và hướng đến tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
Chính sách chi trả cổ tức có những tác động rất lớn đến quá trình hoạt động, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trên nhiều phương diện Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp thời gian qua nổi lên thành một trong những vấn đề được các nhà đầu tư rất chú trọng Mỗi doanh nghiệp niêm yết sẽ theo đuổi những mục tiêu phát triển khác nhau nhằm mang lại lợi ích cho doanh nghiệp cũng như nhà đầu tư Chính sách chi trả cổ tức sẽ tác động lớn đến quá trình hoạt động và tồn tại của doanh nghiệp Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu lý thuyết cũng như thực nghiệm liên quan đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp Tuy nhiên, kết quả của một số nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các nhân tố tác động rất đa dạng và chiều hướng tác động cũng không thống nhất Ở Việt Nam, hiện vẫn chưa có nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, nhưng cũng chưa có sự thống nhất về chiều hướng của các nhân tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức Đây là lý do mà đề tài này luôn được quan tâm trong giới học thuật về tài chính
Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội là một trong hai sở giao dịch chứng khoán của Việt Nam Mặc dù, được thành lập sau Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh nhưng Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội đã từng bước phát triển và hoàn thiện hơn, các doanh nghiệp niêm yết tăng lên về cả
số lượng và chất lượng, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư Vì vậy, để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, tối đa hóa giá trị doanh nghiệp thì cần phải xây
Trang 12dựng một chính sách chi trả cổ tức hợp lý
Với lý do như vậy tôi xin chọn đề tài: “Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng
đến chính sách chi trả cổ tức của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Hà Nội”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp
- Nhận diện và nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả
cổ tức của doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội Qua
đó đưa ra các hàm ý chính sách có liên quan
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả
cổ tức của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian, đề tài nghiên cứu các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội, ngoại trừ các doanh nghiệp thuộc ngành tài chính như ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm …
Về thời gian, các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán
Hà Nội trong khoảng thời gian 5 năm từ năm 2010 - 2014
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu: Dựa trên các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014, thu thập số liệu của các chỉ tiêu nghiên cứu liên quan đến các biến của mô hình Số lượng doanh nghiệp trong nghiên cứu thống kê là 261
- Phương pháp xử lý và phân tích thông tin: Luận văn sử dụng kĩ thuật phân tích dữ liệu bảng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi
Trang 13trả cổ tức của doanh nghiệp
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa các nghiên cứu trước đây trên thế giới
về chính sách chi trả cổ tức của các doanh nghiệp để làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài giúp xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến chính sách chi trả cổ tức của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội Đồng thời, cung cấp bằng chứng thực nghiệm để các doanh nghiệp có thể xây dựng một chính sách chi trả cổ tức hợp lý, góp phần nâng cao giá trị của doanh nghiệp
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì kết cấu đề tài gồm có 4 chương:
Chương 1 Cơ sở lý thuyết về chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp
và các nhân tố ảnh hưởng
Chương 2 Thiết kế nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu
Chương 4 Kết luận và hàm ý chính sách
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chi trả cổ tức không phải là chủ
đề mới ở các nước trên thế giới bởi thị trường chứng khoán và mô hình công
ty cổ phần đã có từ lâu Tuy nhiên, ở nước ta đây vẫn còn là vấn đề có tính thời sự và cũng cần tiếp tục khảo sát ở từng thời điểm, từng sở giao dịch để có cách nhìn khách quan hơn về chính sách chi trả cổ tức Đề tài đã khảo cứu các tài liệu sau:
- Nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chi trả cổ tức: Bằng chứng ở Jordanian (Factors influencing corporate dividend payout decisions: Evidence from Jordanian) của Husama-Aldin Nizar Al-Malkawi
Trang 14(2008) với 1137 doanh nghiệp ở Jordan từ năm 1989 đến năm 2003 Bài viết cho thấy quy mô doanh nghiệp, thu nhập trên mỗi cổ phần, tuổi của doanh nghiệp và hệ số P/E có tác động thuận chiều đến chính sách chi trả cổ tức, còn khi hệ số nợ có tác động ngược chiều đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp Nhân tố chi phí đại diện không ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy ngành nghề hoạt động không ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp
- Nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chính sách cổ tức: Bằng chứng ở các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Amma (A worthy factors affecting dividend policy decisions an empirical study on industial corporations listed Amman stock exchange) của Dr Mohammad Samlim El Essa và các cộng sự (2012) đăng trên Interdisciplinary Journal of Contemporary Research in Business Kết quả nghiên cứu cho thấy dòng tiền
tự do, lợi nhuận trước thuế và lãi vay, thu nhập trên mỗi cổ phần, hệ số P/E, tỷ suất cổ tức, quy mô doanh nghiệp và hệ số nợ ảnh hưởng đến quyết định cổ tức của doanh nghiệp Ngoài ra, nghiên cứu còn chỉ ra rằng những doanh nghiệp càng lớn thì mức độ ảnh hưởng của các nhân tố càng lớn Luận văn kế thừa nhân tố thu nhập trên mỗi cổ phần, quy mô doanh nghiệp để nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức
- Nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chi trả cổ tức của các công ty tài chính và công ty phi tài chính (Factors influencing corporate dividend payout decisions of financial and non-financial frirms)” Fakhra Malik & Sajid Gul (2013) đăng trên Research Journal of Finance and Accounting Trong bài viết, tác giả nghiên cứu 100 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Pakistan giai đoạn 2007-2009 nhằm tìm ra mức
độ tác động của các nhân tố đến quyết định chi trả cổ tức của doanh nghiệp Bài viết đưa ra kết quả, lợi nhuận, khả năng thanh toán, thu nhập trên mỗi cổ
Trang 15phần và quy mô của hãng có ảnh hưởng thuận chiều đến viêc chi trả cổ tức
- Nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc chi trả cổ tức tại Thái Lan: một phân tích hồi quy Tobit” (Factors Influencing Dividend Payout in Thailand: A Tobit Regression Analysis) của P Komrattanapanya, P Suntraruk (2013) đăng trên International Journal of Acounting and Financial Reporting Bài viết cho thấy hệ số nợ, cơ hội đầu tư, tăng trưởng doanh thu có tác động ngược chiều đến chính sách chi trả cổ tức; trong khi đó, quy mô doanh nghiệp tác động thuận chiều ngược chiều đến chính sách chi trả cổ tức Các nhân tố còn lại không ảnh hưởng đến chính sách trả cổ tức của doanh nghiệp
- Nghiên cứu “Quyết định chính sách cổ tức, trường hợp ở sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Hoàng Anh (2014) đăng trên Tạp chí khoa học kinh tế, Trường đại học kinh tế Đà Nẵng Kết quả nghiên cứu cho thấy lợi nhuận, dòng tiền và thuế thu nhập doanh nghiệp có tác động đáng kể đến việc chi trả cổ tức và trong mỗi ngành nghề thì các mức
độ ảnh hưởng của các nhân tố là khác nhau
- Nghiên cứu “Phân tích tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến việc chi trả cổ tức: Bằng chứng từ Pakistan (Critical analysis of the factor affecting the dividend payout: Evidence from Pakistan) của Saghir Ahmed & Hasan Murtaza (2015) đăng trên International Journal of Economics, Finance and Management Sciences Tác giả nghiên cứu 38 doanh nghiệp ở 4 ngành khác nhau giai đoạn 2003 - 2011, kết quả cho thấy khả năng thanh toán, thu nhập trên mỗi cổ phần, hệ số nợ và quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức Nghiên cứu cũng cho thấy cơ hội tăng trưởng tác động đến chính sách chi trả cổ tức
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC CỦA DOANH NGHIỆP VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
1.1 CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm về chính sách chi trả cổ tức
Sau một chu kỳ kinh doanh, phần lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ được phân phối và sử dụng tùy thuộc vào quyết định của đại hội cổ đông của doanh nghiệp Nhìn chung, lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp được chia làm hai phần Một phần chia cho các cổ đông dưới hình thức trả cổ tức Phần còn lại được giữ lại để đầu tư trở lại vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Cổ tức là phần lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp dùng để trả cho các chủ sở hữu của doanh nghiệp cổ phần [2] Việc có trả cổ tức hay không, mức chi trả và hình thức chi trả cổ tức như thế nào là hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh, chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp và quyết định của đại hội cổ đông
Chính sách chi trả cổ tức là chính sách ấn định mức lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp được đưa ra phân phối như thế nào, bao nhiêu được giữ lại
để tái đầu tư và bao nhiêu dùng để chi trả cổ tức cho các cổ đông
Chính sách chi trả cổ tức có ảnh hưởng lớn đến lợi ích của các cổ đông
và sự phát triển của doanh nghiệp Vì vậy, nhà quản lý cần phải dựa vào tình hình kinh doanh, tài chính và xu thế phát triển của doanh nghiệp để cân nhắc, lựa chọn chính sách chi trả cổ tức phù hợp Nhìn chung, các doanh nghiệp thường lựa chọn áp dụng hai mô hình chính sách chi trả cổ tức cơ bản, đó là chính sách chi trả ổn định cổ tức và chính sách thặng dư cổ tức [1]
- Chính sách ổn định cổ tức:
Trang 17Chính sách ổn định cổ tức được xây dựng trên cơ sở lý thuyết ổn định lợi tức cổ phần Theo đó, doanh nghiệp duy trì trả cổ tức liên tục qua các năm với mức trả các năm tương đối ổn định, có thể có sự biện động song không đáng
kể so với sự biến động lợi nhuận của doanh nghiệp hàng năm Doanh nghiệp chỉ thực hiện mức chi trả cổ tức cao hơn khi doanh nghiệp có thể đạt được sự gia tăng lợi nhuận vững chắc, đủ khả năng cho phép tăng cổ tức; đồng thời, khi tăng cổ tức thì sẽ cố gắng duy trì cổ tức ở mức đã định cho đến đi doanh nghiệp thấy rõ không thể hy vọng ngăn chặn được giảm sút lợi nhuận kéo dài trong tương lai
Những doanh nghiệp theo đuổi chính sách ổn định cổ tức vì những lợi ích chủ yếu sau:
+ Thực hiện ổn định cổ tức để làm tăng giá cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường Nhưng doanh nghiệp thực hiện trả cổ tức ổn định sẽ tạo ra sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư có khả năng nhận được thu nhập dưới hình thức cổ tức một cách chắc chắn, điều này tạo ra một hình ảnh đẹp về sự ổn định kinh doanh của doanh nghiệp, dẫn đến làm tăng giá cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường Ngược lại, đối với các nhà đầu tư thì những doanh nghiệp trả cổ tức không ổn định, tăng giảm thất thường qua các năm chứng tỏ nguy cơ rủi ro về thu nhập từ nguồn cổ tức sẽ rất cao Do vậy, giá cổ phiếu của những doanh nghiệp này sẽ bị đánh giá thấp hơn trên thị trường
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Ở nhiều quốc gia, bộ phận lớn cổ đông sống bằng thu nhập nhận được dưới hình thức lợi tức cổ phần Do vậy, nếu doanh nghiệp thực hiện trả cổ tức ổn định sẽ dẫn đến ổn định thành phần cổ đông, tạo thuận lợi cho công tác quản lý doanh nghiệp và ngược lại Nếu cổ tức của doanh nghiệp dao động bất thường sẽ dẫn tới gây biến động thành phần cổ đông do
sự dịch chuyển đầu tư của một bộ phận cổ đông trong doanh nghiệp sang
Trang 18doanh nghiệp khác có lợi tức cổ phần ổn định hơn
+ Ổn định cổ tức là yếu tố quan trọng giúp cho doanh nghiệp có thể dễ dàng hơn khi niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Thông thường, một trong các tiêu chuẩn để cổ phiếu của một doanh nghiệp niêm yết tên sở giao dịch chứng khoán là sự chi trả cổ tức của doanh nghiệp liên tục, không bị gián đoạn Việc cổ phiếu của doanh nghiệp được niêm yết, giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc huy động vốn trên thị trường và làm tăng uy tín của doanh nghiệp
Tuy nhiên, việc áp dụng chính sách ổn định cổ tức có thể gây ra những bất lợi đối với doanh nghiệp Doanh nghiệp không chủ động trong việc sử dụng nguồn lợi nhuận sau thuế để đáp ứng các nhu cầu đầu tư, bổ sung tăng vốn kinh doanh, điều này có thể dẫn tới việc công ty phải huy động từ nguồn vốn bên ngoài là chủ yếu để đáp ứng nhu cầu đầu tư
- Chính sách thặng dư cổ tức
Chính sách thặng dư cổ tức được xây dựng trên cơ sở lý thuyết thặng dư
cổ tức Theo lý thuyết này, doanh nghiệp chỉ thực hiện việc chi trả cổ tức khi
đã ưu tiên giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư, đảm bảo cơ cấu huy động vốn tối ưu cho đầu tư của doanh nghiệp Xét theo góc độ của doanh nghiệp, cơ sở lý thuyết thặng dư cổ tức là nếu doanh nghiệp có nhiều cơ hội đầu tư có lãi và không muốn huy động vốn từ việc phát hành cổ phiếu mới với chi phí cao, công ty sẽ lựa chọn nguồn vốn từ bên trong từ lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư, phần còn lại mới dùng để chi trả cổ tức
Những lợi ích cơ bản của việc áp dụng chính sách thặng dư cổ tức là: + Giúp doanh nghiệp chủ động trong việc sử dụng lợi nhuận để tái đầu
tư, nắm bắt kịp thời các cơ hội tái đầu tư tăng trưởng Đối với những doanh nghiệp có cơ hội đầu tư tăng trưởng, việc tăng cường đầu tư cho phát triển tạo
ra thế mạnh cho doanh nghiệp là vấn đề được ưu tiên hàng đầu Vì vậy, trong
Trang 19quá trình phần chia lợi nhuận sau thuế, trước hết doanh nghiệp dành phần lợi nhuận cần thiết để đáp ứng yêu cầu đầu tư Số lợi nhuận giữ lại được xem xét dựa trên khả năng để lại lợi nhuận tái đầu tư trong mối liên hệ với kết cấu vốn tối ưu
+ Giúp doanh nghiệp giảm bớt nhu cầu huy động vốn từ bên ngoài Doanh nghiệp chỉ thực hiện huy động vốn từ bên ngoài khi lợi nhuận để lại không đủ đáp ứng yêu cầu đầu tư Điều này làm giảm hệ số nợ, giảm rủi ro thanh toán, và giảm được chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp
+ Làm tăng độ vững chắc về tài chính doanh nghiệp Với việc gia tăng lợi nhuận sau thuế tái đầu tư sẽ làm tăng quy mô vốn chủ sở hữu, từ đó là tăng mức độ vững chắc về tài chính, tăng khả năng vay nợ của doanh nghiệp + Giúp cổ đông có thể tránh thuế, hoặc hoãn thuế thu nhập cá nhân Việc giữ lại phần lớn lợi nhuận sau thuế để tái đầu tư, sẽ làm giảm thu nhập từ cổ tức của các cổ đông, điều này vừa giúp cổ đông có thể tránh phải nộp thuế thu nhập
cá nhân ở mức cao, hoặc hoãn nộp thuế thu nhập cá nhân sang các kỳ sau + Giúp cổ đông hiện tại có thể tránh phải chia sẻ quyền kiểm soát, biểu quyết và phân chia thu nhập cao cho các cổ đông mới Việc giữ lại lợi nhuận sau thuế tái đầu tư sẽ giúp doanh nghiệp tránh không phát hành cổ phiếu mới,
do đó tránh bị chia sẻ quyền quản lý, kiểm soát, biểu quyết cũng như phải chia sẻ thu nhập cao cho các cổ đông mới Điều này tạo thuận lợi cho công ty trong việc quản lý điều hành hoạt động kinh doanh
Có thể thấy rằng, chính sách thặng dư cổ tức phù hợp với những doanh nghiệp có nhiều cơ hội đầu tư tăng trưởng Đối với những doanh nghiệp này, việc tăng cường đầu tư cho phát triển tạo ra thế mạnh cho doanh nghiệp là vấn
đề được ưu tiên hàng đầu Vì vậy, trong quá trình phân chia, sử dụng lợi nhuận sau thuế, trước hết doanh nghiệp dành lợi nhuận cần thiết để đáp ứng yêu cầu đầu tư Bên cạnh những lợi ích kể trên, chính sách thặng dư cổ tức
Trang 20cũng bộc lộ những hạn chế nhất định Việc áp dụng một cách cứng nhắc chính sách này sẽ dẫn đến sự bất ổn cao về mức chi trả cổ tức Trong một chu kỳ kinh doanh nếu xuất hiện nhiều nhiều cơ hội đầu tư thì doanh nghiệp sẽ trả cổ tức ở mức thấp, thậm chí không trả Nếu trong thời gian dài tiếp theo doanh nghiệp không có cơ hội đầu tư có lãi thì mức chi trả cổ tức sẽ cao Sự không
ổn định về thu nhập từ cổ tức sẽ ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư, điều này sẽ ảnh hưởng tới giá cổ phiếu của doanh nghiệp cũng như hình ảnh của doanh nghiệp trong con mắt của các cổ đông Mặt khác việc ưu tiên giữ lại lợi nhuận tái đầu tư có thể dẫn tới giảm thiểu hệ số nợ của doanh nghiệp, điều này sẽ phá vỡ cơ cấu vốn tối ưu của doanh nghiệp
- Trong hoạt động thực tế, cần vận dụng linh hoạt cả hai mô hình trên Nếu chính thặng dư cổ tức thích hợp với các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh, mức tỷ suất lợi nhuận cao, doanh nghiệp mới đi vào hoạt động hoặc khả năng huy động vốn từ bên ngoài khó khăn, thì mô hình chính sách
ổn định cổ tức được đa số các doanh nghiệp áp dụng Phần lớn các nhà quản
lý đều nhận thấy, một chính sách cổ tức theo hướng ổn định sẽ đem lại lợi ích cao nhất cho doanh nghiệp và các cổ đông Việc cắt giảm cổ tức là điều mà các nhà quản lý né tránh, vì điều đó thường bị coi là dấu hiệu của nhứng khó khăn về tài chính của doanh nghiệp Kết quả là, phần lớn các doanh nghiệp đều cố gắng duy trì trả cổ tức đều đặn, và chỉ tăng cổ tức khi nào các nhà quản lý tin rằng mức cổ tức mới tăng sẽ được duy trì lâu dài
- Trên thực tế, các doanh nghiệp xác định một chính sách cổ tức hợp lý dựa trên năm tiêu thức sau:
+ Tránh cắt giảm nguồn lợi nhuận giữ lại để đầu vào các dự án có lãi để tiến hành trả cổ tức
+ Tránh việc không trả cổ tức
+ Tránh việc phát hành cổ phiếu mới
Trang 21+ Duy trì một tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần mục tiêu
+ Duy trì mức cổ tức mực tiêu
Các tiêu thức này được sắp xếp theo thứ tự như thế nào phụ thuộc vào mức độ quan trọng của nó đối với từng doanh nghiệp
Tầm quan trọng của chính sách chi trả cổ tức
- Chính sách chi trả cổ tức ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích các cổ đông
Cổ tức cung cấp cho cổ đông một lợi nhuận hữu hình thường xuyên và là nguồn thu nhập duy nhất mà nhà đầu tư có thể nhận được ngay trong hiện tại khi họ đầu tư vào công ty Do vây, việc công ty có duy trì trả cổ tức ổn định hay không ổn định, đều đặn hay giao động thất thường đều làm ảnh hưởng đến quan điểm của nhà đầu tư về công ty, do đó nó có thể dẫn đến sự biến động giá trị cổ phiếu của công ty trên thị trường
- Chính sách chi trả cổ tức ảnh hưởng đến chính sách tài trợ của doanh nghiệp
Thông qua việc quyết định chính sách chi trả cổ tức mà công ty cũng quyết định luôn chính sách tài trợ Vì lợi nhuận giữ lại là nguồn quan trọng cho việc tài trợ vốn cổ phần cho khu vực tư nhân nên từ đó chính sách chi trả
cổ tức ảnh hưởng đến số lượng vốn cổ phần thường trong cấu trúc vốn của một doanh nghiệp (Nếu chi trả cổ tức thì các doanh nghiệp phải bù trừ lại nguồn tài trợ thiếu hụt do lợi nhuận giữ lại ít bằng việc huy động vốn từ bên ngoài với nhiều thủ tục phức tạp và tốn nhiều chi phí hơn)
- Chính sách chi trả cổ tức ảnh hưởng đến chính sách đầu tư của doanh nghiệp
Với nguồn tài trợ có chi phí sử dụng vốn thấp từ lợi nhuận giữ lại sẽ làm cho chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp ở mức tương đối thấp, từ đó doanh nghiệp có thể linh hoạt lựa chọn đầu tư vào các dự án có tỷ suất sinh lời cao
Trang 221.1.2 Trình tự chi trả cổ tức
Việc chi trả cổ tức của các doanh nghiệp cho các cổ đông có thể thực hiện một lần hoặc nhiều lần trong năm Thông thường, trong năm, các doanh nghiệp thực hiện tạm ứng chi trả cổ tức, quyết định chi trả cổ tức của năm được đưa ra khi kết thúc năm tài chính
Tạm ứng chi trả cổ tức: Tạm ứng cổ tức được doanh nghiệp thường được thực hiện theo quý hoặc nửa năm Dựa vào tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, hội đồng quản trị sẽ quyết định chi trả một phần cổ tức cho
cổ đông
Quyết định chi trả cuối cùng: Kết thúc năm tài chính, căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh năm và chính sách chi trả cổ tức đã được đại hội đồng cổ đông năm trước thông qua, hội đồng quản trị sẽ đề xuất việc trả cổ tức cho cả năm, và thông qua kế hoạch dự kiến trả cổ tức của doanh nghiệp trong năm tiếp theo Cổ tức được trả tới các cổ đông thông qua tài khoản lưu ký cổ đông tại đơn vị nhận lưu ký cổ phiếu của doanh nghiệp, hoặc tại trụ sở của doanh nghiệp Mặc dù có một số khác biệt nhỏ, nhưng về cơ bản, trình tự chi trả cổ tức diễn ra với các mốc thời gian như sau:
- Ngày công bố chi trả cổ tức: Là ngày hội đồng quản trị công bố trên phương tiện thông tin đại chúng về quyết định chi trả cổ tức tới cổ đông Nội dung công bố gồm: số cổ tức trên mỗi cổ phần được nhận, ngày đăng ký cuối cùng (ngày khóa sổ), ngày không hưởng cổ tức, ngày trả cổ tức và phương thức thanh toán
- Ngày đăng ký cuối cùng (ngày khóa sổ): Là ngày chốt danh sách các cổ đông hiện hành có quyền nhận cổ tức của doanh nghiệp Vào cuối ngày này, doanh nghiệp sẽ lập danh sách các cổ đông hiện hành có quyền được nhận cổ tức của đợt chi trả Để được nhận cổ tức, các cổ đông phải có tên trên sổ sách của doanh nghiệp vào ngày này Ngày khóa sổ thường được ấn định vào trước
Trang 23ngày trả cổ tức một thời gian nhất định
- Ngày không hưởng cổ tức: (ngày giao dịch không có cổ tức): Là ngày nhà đầu tư mua cổ phiếu tại ngày này không có quyền nhận cổ tức của đợt chi trả đã công bố Ngày này thường được ấn định tùy thuộc vào thời gian hoàn tất giao dịch thanh toán bù trừ Những nhà đầu tư đã mua cổ phiếu vào ngày giao dịch không có cổ tức sẽ không có tên trong sổ sách của doanh nghiệp vào ngày khóa sổ Do vậy, cổ tức của những cổ phiếu giao dịch trong ngày giao dịch không có cổ tức sẽ được chuyển trả cho người chủ sở hữu cổ phiếu trước đó
1.1.3 Các chỉ tiêu đo lường việc chi trả cổ tức
a Cổ tức một cổ phần thường (Dividend per Share - DPS)
- Cổ tức một cổ phần là chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập thực tế mà mỗi
cổ phần được hưởng từ kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Cổ tức mỗi cổ phần được tính như sau:
Tổng số cổ phần thường
b Tỷ lệ chi trả cổ tức (Dividend payout ratio)
- Tỷ lệ chi trả cổ tức cho biết doanh nghiệp quyết định dành ra bao nhiêu
% thu nhập một cổ phần thường để trả cổ tức
Tỷ lệ chi
trả cổ tức =
Cổ tức được chi trả cho các cổ phần thường hàng năm
Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS)
- Qua chỉ tiêu này, chúng ta biết được doanh nghiệp quyết định dành bao nhiêu % thu nhập mỗi cổ phần thường để tái đầu tư Tỷ lệ chi trả cổ tức càng cao chứng tỏ doanh nghiệp đã sử dụng phần lớn lợi nhuận sau thuế để chi trả
cổ tức, đồng thời chỉ có một phần nhỏ lợi nhuận để tái đầu tư va ngược lại
c Tỷ suất cổ tức (Dividend Yield)
- Tỷ suất cổ tức phản ánh tỷ lệ giữa cổ tức và giá trị thị trường của cổ phiếu, hay là tỷ lệ cổ tức mà nhà đầu tư nhận được so với số tiền mà họ phải
Trang 24trả để mua cổ phiếu đó
Tỷ suất
Cổ tức được chi trả cho các cổ phần thường hàng năm
Giá trị thị trường của mỗi cổ phần
- Tỷ suất cổ tức là phản ánh nhà đầu tư sẽ nhận được bao nhiêu đồng cổ tức từ một đồng đầu tư vào cổ phiếu tại mức giá thị trường
Tùy vào thời điểm và hoàn cảnh khác nhau, các nhà quản lý sẽ sử dụng các chỉ tiêu khác nhau để đo lường việc chi trả cổ tức Tuy nhiên, các cổ đông thường quan tâm đến mức sinh lời bao nhiêu từ vốn đầu tư ban đâu Vì vậy, chỉ tiêu tỷ suất cổ tức thường được các doanh nghiệp Việt Nam sử dụng để đo lường việc chi trả cổ tức
1.1.4 Phương thức chi trả cổ tức
a Phương thức chỉ trả cổ tức bằng tiền
Cổ tức bằng tiền là dạng cổ tức mà doanh nghiệp lấy ra từ lợi nhuận ròng
có được chia cho cổ đông dưới dạng tiền mặt (hoặc chuyển khoản) Cổ tức bằng tiền mặt được tính trên cơ sở mỗi cổ phiếu, được tính bằng phần trăm mệnh giá Đây là hình thức được nhiều doanh nghiệp sử dụng, bởi điều này thuận lợi cho cổ đông trọng việc sử dụng vào mục đích có tính chất tiêu dùng
cá nhân
b Phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu
Trả cổ tức bằng cổ phiếu là cách thức doanh nghiệp phát hành thêm những cổ phiếu của chính doanh nghiệp đó tương ứng với phần giá trị lợi nhuận sau thuế dành cho việc trả cổ tức và phân phối cho cổ đông theo tỷ lệ
cổ phần hiện họ đang nắm giữ Thông thường, doanh nghiệp sử dụng những
cổ phiếu được quyền phát hành nhưng chưa lưu hành để trả cổ tức theo phương thức bằng cổ phiếu Vì vậy, trả cổ tức bằng cổ phiếu được hiểu là việc công ty chi trả cổ tức bằng cổ phiếu phát hành bổ sung thêm của chính doanh nghiệp đó cho các cổ đông, mà việc phát hành cổ phiếu thêm này doanh
Trang 25nghiệp không nhận được khoản tiền thanh toán nào từ phía cổ đông Việc trả
cổ tức bằng cổ phiếu doanh nghiệp xuất phát từ mục tiêu giảm giá trị thị trường của cổ phiếu Với những doanh nghiệp có mức sinh lời tăng trưởng cao mà không trả cổ tức bằng tiền mặt, nhiều cổ đông sẽ cho rằng mức chi trả
cổ tức sẽ cao hơn trong tương lai, vì thế giá cổ phiếu của doanh nghiệp ngày một tăng cao Nếu giá cổ phiếu quá cao sẽ có thể làm cho các nhà đầu tư mua
cổ phiếu của doanh nghiệp gặp trở ngại Vì vậy, doanh nghiệp tiến hành trả cổ tức bằng cổ phiếu, nhằm tăng số lượng cổ phiếu đang lưu hành, từ đó làm cho giá trị thị trường trên mỗi cổ phần giảm đi Điều này làm cho các nhà đầu tư
cá nhân với cùng một số tiền như trước có thể mua được nhiều cổ phiếu hơn Ngoài ra, trả cổ tức bằng cổ phiếu có thể bắt nguồn từ việc doanh nghiệp không đủ khả năng tiền mặt trả cổ tức
Việc trả cổ tức bằng tiền mặt có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toán và nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp Vì vậy, trong một số trường hợp, doanh nghiệp sẽ trả cổ tức bằng cổ phiếu Đây là hình thức kết hợp của việc phân chia lợi nhuận với việc huy động vốn của doanh nghiệp Tuy cổ đông không nhận được cổ tức bằng tiền mặt nhưng lại nhận được cổ phiếu; đo
đó, nhà đầu tư sẽ thu được lãi vốn trong tương lai
c Trả cổ tức bằng tài sản khác
Ngoài hai phương thức trên thì doanh nghiệp cũng có thể chi trả cổ tức bằng tài sản khác như: trái phiếu hoặc chứng khoán khác của doanh nghiệp hay thậm chí có thể là tài sản của chính doanh nghiệp
1.2 CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC
1.2.1 Lý thuyết của Modiglinani & Miller (1961)
Những nghiên cứu lý thuyết ban đầu về chính sách chi trả cổ tức liến quan đến việc dự báo về tác động của chính sách chi trả cổ tức đến giá trị
Trang 26doanh nghiệp Theo lý thuyết Modiglinani & Miller (M&M), chính sách chi trả cổ tức không làm ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp trên thị trường vốn hoàn hảo, dựa trên các giả định:
- Thị trường không có thuế: Không có sự khác biệt giữa thu nhập từ cổ tức hay từ lãi vốn
- Không có chi phí giao dịch: Khi nhà đầu tư mua và bán chứng khoán thì không bị phí tổn
- Không có chi phí phát hành: Khi doanh nghiệp trả cổ tức, lúc cần tiền đầu tưu họ có thể phát hành cổ phiếu mới Nếu không có chi phí phát hành thì doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận hay chia cổ tức thì vốn không bị thất thoát do chi phí phát hành
- Chính sách đầu tư và tài trợ ổn định và thị trường là hoàn hảo: Thị trường hoàn hảo là tất cả các nhà đầu tư đều có thông tin như nhau về thị trường
Lý thuyết này cho rằng các thay đổi quan sát được trong giá trị doanh nghiệp là kết quả của các quyết định cổ tức thực chất là do chính sách chi trả
cổ tức mang nội dung hàm chứa thông tin và phát tín hiệu cho nhà đầu tư Có nghĩa là các thay đổi trong chi trả cổ tức là một tín hiệu cho các nhà đầu tư về đánh giá của ban điều hành về lợi nhuận và dòng tiền tương lai của doanh nghiệp Như vậy, chính sách chi trả cổ tức không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp mà giá trị doanh nghiệp phụ thuộc vào quyết định của nhà đầu tư
1.2.2 Lý thuyết chính sách chi trả cổ tức tiền mặt cao
Ngược lại với Miller & Modigliani (1961), Gordon (1963) và Lintner (1956) lại cho rằng khi những giả định về thị trường hoàn hảo của mô hình M&M không tồn tại, chính sách chi trả cổ tức sẽ trở nên quan trọng hơn và có tác động rõ rệt đến giá trị doanh nghiệp Với lý thuyết chính sách chi trả cổ tức tiền mặt cao (Bird-in-the-hand), Gordon (1963) lập luận rằng tồn tại mối quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp đến chính sách chi trả cổ tức là do tâm lý
Trang 27không thích rủi ro của nhà đầu tư Gordon (1963) khẳng định rằng các cổ đông không muốn rủi ro khi đầu tư thì họ có thể thích một mức cổ tức nào đó hơn là hứa hẹn lãi vốn trong tương lai vì cổ tức là các thu nhập thường xuyên, chắc chắn trong khi lãi vốn trong tương lai ít chắc chắn hơn Theo Gordon, cổ tức làm giảm tính bất trắc của các cổ đông, cho phép chiết khấu lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp với một tỷ lệ thấp hơn, do đó làm tăng giá trị doanh nghiệp và ngược lại
1.2.3 Lý thuyết về chi phí đại diện và dòng tiền tự do
Lý thuyết này xuất phát từ mâu thuẫn lợi ích giữa nhà quản lý doanh nghiệp và các cổ đông Trong môi trường thông tin bất đối xứng thì mâu thuẫn này sẽ làm phát sinh chi phí đại diện Chẳng hạn như, khi một doanh nghiệp có dòng tiền tự do cao nhưng lại thiếu cơ hội đầu tư sinh lợi, các nhà quản lý có thể nảy sinh động cơ đầu tư các dòng tiền này vào hoạt động mà có thể làm giảm giá trị doanh nghiệp, như việc thực hiện mua lại những doanh nghiệp khác ngày cả khi không có hiệu quả, hay đầu tư vào những lĩnh vực chỉ nhằm mục đích bành trướng quy mô Theo Easterbrook (1984), việc chi trả cổ tức có thể được sử dụng để giảm dòng tiền tự do trong tay của các nhà quản lý, việc thanh toán cổ tức sẽ buộc các nhà quản lý phải tiếp cận thị trường vốn để huy động vốn Như vậy, các nhà quản lý sẽ chịu sự quản lý của thị trường vốn, các cổ đông có thể giám sát các nhà quản lý với chi phí thấp hơn Tuy nhiên, tăng chi trả cổ tức có thể có thể buộc nhà quản lý có hành động không mong muốn như tăng đòn bẩy tài chính, làm tăng rủi ro cho doanh nghiệp
1.2.4 Lý thuyết tín hiệu
Theo lý thuyết này thì một công bố chi trả cổ tức chứa thông tin về đánh giá của ban quản lý về khả năng sinh lợi, thu nhập và tăng trưởng tương lai của doanh nghiệp Theo Miller và Modigliani (1961) giả định rằng nhà quản
Trang 28lý và nhà đầu tư bên ngoài có tự do, bình đẳng và có thông tin như nhau liên quan đến triển vọng tăng trưởng của doanh nghiệp Tuy nhiên, trong thực tế thì các nhà quản lý thường có nhiều thông tin chính xác hơn nhà đầu tư, nên
sẽ có sự đánh giá khác nhau về giá trị và triển vọng của doanh nghiệp Lúc này, việc chi trả cổ tức là công cụ cho các nhà quản lý truyền tải thông tin ra thị trường, các nhà đầu tư sẽ sử dụng dòng thu nhập có thể nhìn thấy được là
cổ tức để đánh giá một doanh nghiệp
H.Kent Baker và Gary E Powell (1999) đã khảo sát quan điểm của các nhà quản lý ở 198 doanh nghiệp cổ phần ở Mỹ, nhìn chung những người trả lời đồng tình rất cao tín hiệu của chính sách chi trả cổ tức
1.3 CƠ SỞ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC
Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu về chính sách chi trả cổ tức và các nhân tố ảnh hưởng đễn chính sách chi trả cổ tức, đặc biệt là ở các nước phát triển như nghiên cứu của Husama-Aldin Nizar Al-Malkawi (2008), Dr Mohammad Samlim El Essa và các cộng sự (2012), Fakhra Malik & Sajid Gul (2013), P Komrattanapanya & P Suntraruk (2013), Nguyễn Hoàng Anh (2014) và Saghir Ahmed & Hasan Murtaza (2015)
Nghiên cứu của Husama-Aldin Nizar Al-Malkawi (2008) [7] về các nhân
tố ảnh hưởng đến quyết định chi trả cổ tức: Bằng chứng ở Jordanian với 1137 doanh nghiệp ở Jordan trong 15 năm từ năm 1989 đến năm 2003 Biến phụ thuộc được tác giả xác định là bằng 1 khi doanh nghiệp chi trả cổ tức và ngược lại là bằng 0 Các biến độc lập được tác giả sử dụng là: Chi phí đại diện, quy mô doanh nghiệp, thu nhập trên mỗi cổ phần, hệ số nợ, hệ số P/E, tuổi của doanh nghiệp Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả và hồi quy dữ liệu bảng sử dụng mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên và cho kết quả là các nhân tố quy mô doanh nghiệp, thu nhập trên mỗi cổ phần, tuổi của doanh
Trang 29nghiệp và hệ số P/E có tác động thuận chiều trong khi hệ số nợ có tác động ngược chiều đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp; còn nhân tố chi phí đại diện không ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các chính sách chi trả cổ tức là không phụ thuộc vào doanh nghiệp tài chính hay phi tài chính
Cũng tại Jordan, nghiên cứu thực nghiệm của Dr Mohammad Samlim El Essa và các cộng sự (2012) [5] về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chính sách cổ tức: Bằng chứng ở các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Amma Mẫu nghiên cứu bao gồm 25 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Amman từ năm 2005 đến năm 2011 Tác giả sử dụng chỉ tiêu đo lường mức chi trả cổ tức của doanh nghiệp là cổ tức trên mỗi cổ phần Các nhân tố được xét ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức là: dòng tiền tự
do, lợi nhuận trước thuế và lãi vay, thu nhập trên mỗi cổ phần, hệ số P/E, tỷ suất cổ tức, quy mô doanh nghiệp và hệ số nợ Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ thuận chiều của các nhân tố dòng tiền tự do, lợi nhuận trước thuế
và lãi vay, thu nhập trên mỗi cổ phần, hệ số P/E, tỷ suất cổ tức và quy mô doanh nghiệp với chính sách chi trả cổ tức Trong khi đó, nhân tố chỉ số nợ có quan hệ ngược chiều với cổ tức trên mỗi cổ phần Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thu nhập trên mỗi cổ phần có tác động lớn nhất đến chính sách chi trả cổ tức, tiếp theo là nhân tố tỷ suất cổ tức và hệ số P/E Đối với doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì các nhân tố trên sẽ ảnh hưởng càng lớn đến chính sách chi trả cổ tức
Nghiên cứu thực nghiệm của Fakhra Malik & Sajid Gul (2013) [6] về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chi trả cổ tức của 100 công ty tài chính và công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Karachi giai đoạn
2007 - 2009 Tác giả sử dụng biến phụ thuộc là chỉ tiêu tỷ suất cổ tức đo lường mức chi trả cổ tức Các biến độc lập bao gồm: Lợi nhuận, khả năng thanh toán,
Trang 30cấu trúc vốn, cơ hội tăng trưởng, quy mô doanh nghiệp, thu nhập trên mỗi cổ phần Sử dụng phương pháp thống kê mô tả và hồi quy bình phương bé nhất (OLS), tác giả cho thấy các nhân tố: Lợi nhuận, khả năng thanh toán, quy mô doanh nghiệp, thu nhập trên mỗi cổ phần có tác động thuận chiều đối với tỷ suất cổ tức; nhân tố tăng trưởng doanh thu tác động ngược chiều với tỷ suất cổ tức; còn lại nhân tố cấu trúc vốn không có ý nghĩa thống kê
Tại Thái Lan, nghiên cứu của P Komrattanapanya & P Suntraruk (2013) [9] về nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức tại Thái Lan của 435 doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán từ năm 2006 đến năm
2010 Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy Tobit với các biến độc lập là: lợi nhuận, khả năng thanh toán, hệ số nợ, cơ hội đầu tư, cơ hội tăng trưởng, rủi ro kinh doanh, quy mô doanh nghiệp, ngành nghề hoạt động và biến tương tác giữa quy mô hãng và lợi nhuận Biến phụ thuộc được sử dụng là tỷ suất cổ tức Kết quả của nghiên cứu chỉ ra các nhân tố hệ số nợ, cơ hội đầu tư, tăng trưởng doanh thu có tác động ngược chiều đến chính sách chi trả cổ tức; trong khi đó, quy mô doanh nghiệp tác động thuận chiều, còn các nhân tố còn lại không có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu còn chỉ ra rằng những doanh nghiệp lớn và nhỏ có khả năng chi trả cổ tức hơn so mới doanh nghiệp trung bình Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Anh (2014) [1] về quyết định chính sách cổ tức, trường hợp ở sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Mẫu nghiên cứu là 52 doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009-2013 Các nhân tố ảnh hưởng được sử dụng là: lợi nhuận, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh, tăng trưởng doanh thu, thuế thu nhập doanh nghiệp, hệ số nợ, tỷ lệ giá thị trường trên giá trị sổ sách và ngành nghề Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất (OLS), kết quả nghiên cứu cho thấy, lợi nhuận, dòng tiền và thuế thu nhập doanh nghiệp có tác động đáng kể đến việc chi trả cổ
Trang 31tức Trong đó, lợi nhuận tác động ngược chiều, còn dòng tiền và thuế có tác động thuận chiều đến chính sách chi trả cổ tức Xét riêng từng nhóm ngành thì cho thấy một số khác biệt về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chính sách chi trả cổ tức Nhòm ngành dịch vụ, lợi nhuận và dòng tiền không phải là yếu
tố ảnh hưởng quan trọng, nhưng nhóm ngành sản xuất, lợi nhuận lại có tác động âm và dòng tiền có tác động dương đến chính sách chi trả cổ tức Hoặc ngược lại, thuế mặc dù không ảnh hưởng chính sách chi trả cổ tức các doanh nghiệp sản xuất nhưng lại tác động đáng kể đối với doanh nghiệp dịch vụ Tại Pakistan, Nghiên cứu của Saghir Ahmed & Hasan Murtaza (2015) [10] về phân tích quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến việc chi trả cổ tức: Bằng chứng từ Pakistan Mẫu nghiên cứu của tác giả là 38 doanh nghiệp giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2011 ở 4 ngành nghề: dầu khí, xi măng, năng lượng và đường Tác giả sử dụng các biến độc lập: tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, khả năng thanh toán hiện hành, hệ số nợ, cơ hội tăng trưởng, quy mô doanh nghiệp và thu nhập trên mỗi cổ phần; biến phụ thuộc được sử dụng là
tỷ lệ chi trả cổ tức Kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết các nhân tố đều có tác động thuận chiều đối với chính sách chi trả cổ tức, gồm các nhân tố: khả năng thanh toán hiện hành, hệ số nợ, quy mô doanh nghiệp và thu nhập trên mỗi cổ phần Tuy nhiên, khi phân tích trong từng ngành nghề thì mức độ ảnh hưởng thì khác nhau Trong ngành năng lượng các nhân tố ảnh hưởng là hệ số
nợ và thu nhập trên mỗi cổ phần Trong ngành xi măng thì khả năng thanh toán hiện hành ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức Trong ngành đường, các nhân tố ảnh hưởng là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, thu nhập trên mỗi
cổ phần, khả năng thanh toán hiện hành và trong ngành dầu khí thì chỉ có nhân tố thu nhập trên mỗi cổ phần tác động đến chính sách chi trả cổ tức Tóm lại, các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng chính sách chi trả cổ tức có thể bị ảnh hưởng bởi các nhân tố: lợi nhuận, khả năng thanh toán hiện
Trang 32hành, hệ số nợ, cơ hội tăng trưởng, quy mô doanh nghiệp và thu nhập trên mỗi cổ phần, tăng trưởng doanh thu, hệ số P/E, dòng tiền thuần, thuế thu nhập doanh nghiệp Tùy vào đặc điểm của từng thị trường khác nhau mà nhân tố tác động và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố là khác nhau đến chính sách chi trả cổ tức, Các nghiên cứu này là cơ sở cho nghiên cứu của đề tài
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC
Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về chính sách chi trả
cổ tức, chúng ta nhận thấy có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức Tuy nhiên, trong giới hạn nghiên cứu của luận văn thì tác giả sẽ chọn các nhân tố đặc thù của doanh nghiệp và tính đến tác động của chính sách vĩ mô Vì vậy, các nhân tố được nghiên cứu gồm: Thu nhập trên mỗi cổ phần, khả năng sinh lời, quy mô doanh nghiệp, cơ hội tăng trưởng, cấu trúc vốn, khả năng thanh toán, cổ tức quá khứ, tuổi của doanh nghiệp, chỉ số giá tiêu dùng và lãi suất ngân hàng
1.4.1 Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS)
Thu nhập trên mỗi cổ phần phản ánh mức thu nhập từ kết quả hoạt động kinh doanh trên mỗi cổ phần thường trong niên độ kế toán của doanh nghiệp Đây là chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm vì nó là căn cứ để chi trả cổ tức và là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự tăng hay giảm của giá trị cổ phần thường Khi thu nhập càng cao thì các nhà quản lý có nhiều cơ hội lựa chọn
và chủ động hơn trong việc ra các quyết định liên quan đến cổ tức Nhân tố này chỉ ra rằng EPS càng cao thì cổ tức có khả năng chi trả càng lớn Theo lý thuyết cổ tức tiền mặt cao thì cổ đông không muốn rủi ro nên họ sẽ thích một mức cổ tức là thu nhập thường xuyên và chắc chắn hơn vì vậy, khi các nhà quản lý sẽ chi trả cổ tức nhiều hơn khi có sự gia tăng về lợi nhuận Điều này chỉ ra mối quan hệ thuận chiều giữa thu nhập trên mỗi cổ phần và chính sách
Trang 33chi trả cổ tức của doanh nghiệp
Kết quả nghiên cứu của Fakhra Malik & Sajid Gul (2013) khi khảo sát
100 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Karachi ở Pakistan giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2009 về các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức cho thấy rằng EPS quan hệ thuận chiều với chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra kết quả tương tự như nghiên cứu của Saghir Ahmed & Hasan Murtaza (2015); nghiên cứu của Dr Mohammad Samlim El Essa và các cộng sự (2012)
1.4.2 Khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Theo lý thuyết tín hiệu thì công bố chính sách chi trả cổ tức là hàm chứa thông tin về khả năng sinh lời, thu nhập của doanh nghiệp Vì vậy, khi khả năng sinh lời của doanh nghiệp càng cao thì các nhà quản lý sẽ có xu hướng hoạch định mức chi trả cổ tức cao hơn để nhằm làm tăng giá trị doanh nghiệp Lý thuyết này cho thấy mối tương quan thuận giữa khả năng sinh lời
và chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Lintner (1956) cho thấy khả năng sinh lời có ảnh hưởng thuận chiều đến chính sách chi trả cổ tức (được đo lường thông qua mức biễn động của cổ tức được chi trả hàng năm) của các doanh nghiệp Mỹ giai đoạn 1919-1960 Trong khi đó, kết quả nghiên cứu của Saghir Ahmed & Hasan Murtaza (2015) đối với 38 doanh nghiệp giai đoạn 2003-2011 ở Pakistan trong các ngành nghề khác nhau thì lại cho thấy khả năng sinh lời của doanh nghiệp là không ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp Điều này cho thấy vẫn chưa có sự thống nhất cao về chiều hướng tác động của nhân tố này đối với chính sách chi trả cổ tức
1.4.3 Quy mô doanh nghiệp
Doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì uy tín trên thị trường tín dụng
Trang 34càng cao Vì vậy, các doanh nghiệp lớn thường dễ dàng tiếp cận thị trường vốn hơn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ Do đó, việc giữ lại lợi nhuận để
mở rộng sản xuất kinh doanh và tài trợ cho các dự án thường không phải là lựa chọn duy nhất của các doanh nghiệp có quy mô lớn Bên cạnh đó, các doanh nghiệp lớn thường có dòng tiền lớn, theo lý thuyết về chi phí đại diện
và dòng tiền tự do, việc thanh toán cổ tức được sử dụng để giảm dòng tiền tự
do trong tay các nhà quản lý nhằm hạn chế các hoạt động đầu tư không sinh lợi Như vậy, quy mô doanh nghiệp có quan hệ thuận chiều với chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Husama-Aldin Nizar Al-Malkawi (2008) tiến hành nghiên cứu chính sách chi trả cổ tức của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Amman ở Jordan giai đoạn 1989-2003
và cho thấy mối quan hệ thuận chiều giữa chính sách chi trả cổ tức và quy mô của doanh nghiệp Nghiên cứu của P Komrattanapanya & P Suntraruk (2013), Saghir Ahmed & Hasan Murtaza (2015) chỉ ra kết quả tương tự Tuy nhiên, nghiên cứu của Ahmed & Javid (2009) về các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Pakistan đã chỉ ra mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa chính sách chi trả cổ tức và quy mô doanh nghiệp Như vậy, chiều hướng tác động của quy mô doanh nghiệp đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp là chưa thống nhất
1.4.4 Cơ hội tăng trưởng
Những doanh nghiệp tăng trưởng nhanh và có nhiều cơ hội tăng trưởng thường có nhu cầu vốn lớn để tài trợ cho các cơ hội đầu tư mới Vì vậy, doanh nghiệp thường giữ lại phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư và hạn chế việc chia cổ tức cũng như phát hành cổ phiếu mới ra công chúng vì vừa gây tốn kém về mặt chi phí, vừa mất thời gian và công sức Việc huy động vốn từ bên ngoài
sẽ tốn chi phí cao hơn việc sử dụng nguồn lợi nhuận giữ lại Điều này cho
Trang 35thấy mối quan hệ ngược chiều giữa cơ hội đầu tư và chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp
Thật vậy, nghiên cứu của Fakhra Malik & Sajid Gul (2013) trên 100 doanh nghiệp tài chính và phi tài chính giai đoạn 2007-2009 cho thấy cơ hội tăng trưởng tỷ lệ nghịch với chính sách chi trả cổ tức Nghiên cứu của Saghir Ahmed & Hasan Murtaza (2015) cũng cho kết quả tương tự
1.4.5 Cấu trúc vốn
Nguồn vốn tài trợ của doanh nghiệp có thể được tài trợ bằng nợ hay vốn chủ sở hữu Việc sử dụng nợ có thể tạo được lá chắn thuế giảm chi phí cho các doanh nghiệp và cũng tạo áp lực cho các nhà quản lý trong việc sử dụng nguồn vốn từ bên ngoài Tuy nhiên, nếu sử dụng vốn nợ quá nhiều sẽ làm doanh nghiệp chịu áp lực trong việc trả nợ, ảnh hưởng dòng tiền thực của doanh nghiệp Vì vậy, để giảm gánh nặng trả nợ thì doanh nghiệp sẽ sử dụng phần lớn lợi nhuận sau thuế để trả nợ, kết quả là những doanh nghiệp này thường có tỷ suất cổ tức thấp hơn Điều này cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa việc sử dụng nợ và chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu của Dr Mohammad Samlim El Essa và các cộng sự (2012); P Komrattanapanya & P Suntraruk (2013) ủng hộ nhận định trên về mối quan hệ nghịch chiều giữa mức độ sử dụng nợ và tỷ suất cổ tức của doanh nghiệp Tuy nhiên, nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Anh (2014) chỉ ra rằng mức độ sử dụng nợ không ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp
Một số nghiên cứu khác chỉ ra mối quan hệ thuận chiều giữa việc sử dụng nợ và chính sách chi trả cổ tức Theo lý thuyết tín hiệu, các doanh nghiệp có sử dụng nợ nhiều có xu hướng đưa ra mức chi trả cổ tức cao nhằm
ổn định tâm lý nhà đầu tư rằng doanh nghiệp đang hoạt động tốt Kết quả nghiên cứu của Saghir Ahmed & Hasan Murtaza (2015) đã chỉ ra mối quan hệ
Trang 36thuận chiều giữa hệ số nợ và chính sách chi trả cổ tức
1.4.6 Khả năng thanh toán hiện hành
Khả năng thanh toán hiện hành của doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh dòng tiền của doanh nghiệp Theo lý thuyết tín hiệu, doanh nghiệp có hệ số khả năng thanh toán hiện hành càng cao thì có xu hướng sẽ trả mức cổ tức cao hơn nhắm phát tín hiệu đến các nhà đầu tư về kết quả hoạt động và triển vọng tăng trưởng Vì vậy, khi doanh nghiệp có khả năng thanh toán hiện hành cao sẽ có
xu hưởng trả cổ tức nhiều hơn Điều này cho thấy mối tương quan thuận giữa khả năng thanh toán hiện hành và chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp Thật vậy, nghiên cứu của Fakhra Malik & Sajid Gul (2013) khi khảo sát
100 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Karachi ở Pakistan giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2009 cho thấy mối quan hệ thuận chiều giữa khả năng thanh toán hiện hành và chính sách chi trả cổ tức
1.4.7 Cổ tức quá khứ
Việc chi trả cổ tức trong quá khứ đóng vai trò quan trọng trọng việc quyết đinh chi trả cổ tức của các doanh nghiệp Lintner (1956) cho rằng rất khó để doanh nghiệp đưa ra một mức cổ tức cao hơn so mới mức cổ tức năm trước trừ khi họ chắc chắn về sự tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp Ngược lại, một
sự sụt giảm tỷ lệ cổ tức so với năm trước là một điều tối kị trong việc hoạch định chính sách chi trả cổ tức của các nhà quản lý Theo lý thuyết tín hiệu thì
sự thay đổi trong chính sách chi trả cổ tức năm trước sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của các nhà đầu tư về triển vọng tăng trưởng của doanh nghiệp Vì vậy, chính sách chi trả cổ tức năm trước sẽ ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức năm nay Ahmed & Javid (2009) cũng thừa nhận nhận định này
1.4.8 Tuổi của doanh nghiệp
Tuổi của doanh nghiệp cũng là một nhân tố được xét đến khi nghiên cứu hành vi chi trả cổ tức của các doanh nghiệp Một doanh nghiệp mới thành lập
Trang 37thì nên hạn chế việc chi trả cổ tức để có thể tận dụng vốn cho hoạt động mở rộng kinh doanh ngược lại với những doanh nghiệp đã hoạt động lâu năm hơn Husama-Aldin Nizar Al-Malkawi (2008) đã chỉ ra rằng doanh nghiệp đã trải qua một quãng thời gian lâu dài phát triển trên thị trường thì có xu hướng tiết kiệm được chi phí nên có thể dễ dàng hơn trong việc tiệp cận các nguồn vốn vì vậy, những doanh nghiệp này sẽ có xu hướng chi trả cổ tức nhiều hơn
1.4.9 Biến số kinh tế vĩ mô
a Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng là chỉ số phản ánh sự thay đổi giá của một giỏ hàng hóa đại diện Đây là chỉ tiêu dùng để đo lường xu hướng lạm phát của nền kinh tế Khi chỉ số CPI tăng nhanh trong một khoảng thời gian nhất định có nghĩa là lạm phát tăng cao, tất cả các hàng hóa dịch vụ đều tăng, như vậy sẽ
có ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Lúc này, doanh nghiệp có thể sẽ gặp không có nhiều cơ hội trong việc mở rộng kinh doanh, họ có thể sẽ có xu hướng dành phần lớn lợi nhuận để chi trả cổ tức Ngược lại, Chỉ số CPI ổn định, nền kinh tế tăng trưởng ổn định thì các doanh nghiệp sẽ để lại phần lớn lợi nhuận để tài trợ mở rộng sản xuất kinh doanh
b Lãi suất ngân hàng
Một nền kinh tế khi đang ở trong giai đoạn suy thoái, lãi suất ngân hàng sụt giảm thường có ít cơ hội đầu tư, nếu doanh nghiệp có nhu cầu về vốn sẽ
dễ dàng vay vốn với mức lãi suất thấp hơn Do vậy, doanh nghiệp có thể dành phần lớn lợi nhuận sau thuế để trả cổ tức Ngược lại, khi nền kinh tế đang trong giai đoạn tăng trưởng nhanh, sẽ xuất hiện nhiều cơ hội đầu tư, lúc này nguồn vốn cho đầu tư trở nên khan hiếm, lãi suất ngân hàng tăng cao Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp thường tăng phần lợi nhuận giữ lại để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng, vì vậy mức chi trả cổ tức sẽ giảm
Trang 38Bảng 1.1 Tóm tắt các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức của
doanh nghiệp
Nhân tố
ảnh hưởng
Chiều hướng tác động theo
lý thuyết
Chiều hướng tác động theo thực nghiệm
Các nghiên cứu thực nghiệm
Khả năng
Fakhra Malik & Sajid Gul (2013); Saghir Ahmed & Hasan Murtaza (2015)
P Komrattanapanya & P Suntraruk (2013); Saghir Ahmed & Hasan Murtaza (2015)
Cơ hội
Fakhra Malik & Sajid Gul (2013); Saghir Ahmed & Hasan Murtaza (2015)
Trang 39Nhân tố
ảnh hưởng
Chiều hướng tác động theo
lý thuyết
Chiều hướng tác động theo thực nghiệm
Các nghiên cứu thực nghiệm
Trang 40KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này tập trung vào cơ sở lý thuyết về chính sách chi trả cổ tức của các doanh nghiệp bao gồm: Khái niệm về chính sách chi trả cổ tức, các chỉ tiêu đo lường việc chi trả cổ tức, phương thức chi trả cổ tức, trình bày các lý thuyết về chính sách chi trả cổ tức Lý thuyết tài chính và các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức là thu nhập trên mỗi cổ phần, khả năng sinh lời, quy mô doanh nghiệp, cấu trúc vốn, khả năng thanh toán hiện hành, tuổi của doanh nghiệp, chỉ số giá tiêu dùng và lãi suất ngân hàng Tuy nhiên, nhiều nhân tố có chiều hướng tác động không rõ ràng, các biến số vĩ mô vẫn còn chưa được đề cập