1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Nghiên cứu kỹ thuật nhận diện và phát hiện gian lận trong kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết do các công ty kiểm toán độc lập thực hiện

141 198 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHÂU THỊ HIỆP NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHẬN DIỆN VÀ PHÁT HIỆN GIAN LẬN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT DO CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP THỰC HIỆN Chuyên ngành: Kế to

Trang 1

CHÂU THỊ HIỆP

NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHẬN DIỆN VÀ PHÁT HIỆN GIAN LẬN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT DO CÁC CÔNG TY

KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP THỰC HIỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng - Năm 2015

Trang 2

CHÂU THỊ HIỆP

NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHẬN DIỆN VÀ PHÁT HIỆN GIAN LẬN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT DO CÁC CÔNG TY

KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP THỰC HIỆN

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60.34.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: TS Đoàn Thị Ngọc Trai

Đà Nẵng - Năm 2015

Trang 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

6 Kết cấu đề tài 4

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ THUẬT NHẬN DIỆN VÀ PHÁT HIỆN GIAN LẬN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT DO CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP THỰC HIỆN 10

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CÔNG TY NIÊM YẾT 10

1.1.1 Khái niệm công ty niêm yết 10

1.1.2 Điều kiện niêm yết 11

1.1.3 Báo cáo tài chính của công ty niêm yết 13

1.1.4 Ảnh hưởng của thông tin công bố trên Báo cáo tài chính đến người sử dụng 16

1.2 GIAN LẬN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIAN LẬN 18

1.2.1 Khái niệm gian lận 18

1.2.2 Giới thiệu các thủ thuật gian lận trên BCTC ở các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán 19

1.2.3 Các công trình nghiên cứu về gian lận trên BCTC 21

Trang 4

TOÁN ĐỘC LẬP THỰC HIỆN 23

1.3.1 Kỹ thuật nhận diện gian lận 24

1.3.2 Kỹ thuật phát hiện gian lận 35

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 41

2.1 KHẢO SÁT BẰNG BẢNG CÂU HỎI VÀ PHỎNG VẤN 41

2.1.1 Khảo sát bằng bảng câu hỏi 41

2.1.2 Phỏng vấn 46

2.2 NGHIÊN CỨU, PHÂN TÍCH, TỔNG HỢP TÀI LIỆU 47

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50

3.1 TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50

3.1.1 Phương pháp thống kê 50

3.1.2 Kết quả thu thập phiếu khảo sát 50

3.1.3 Đánh giá sơ bộ kết quả 50

3.2 THỰC TRẠNG CÁC THỦ THUẬT GIAN LẬN TRÊN BCTC Ở CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 51

3.2.1 Gian lận theo cách lợi dụng kẽ hở của chuẩn mực, chế độ kế toán 52

3.2.2 Đối với các thủ thuật gian lận theo cách vi phạm yêu cầu của chuẩn mực, chế độ kế toán hiện hành 61

3.3 THỰC TRẠNG VIỆC ÁP DỤNG KỸ THUẬT NHẬN DIỆN VÀ PHÁT HIỆN GIAN LẬN TRONG KIỂM TOÁN BCTC CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT DO CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP THỰC HIỆN 65

3.3.1 Thực trạng việc áp dụng kỹ thuật nhận diện gian lận 66

3.3.2 Thực trạng việc áp dụng kỹ thuật phát hiện gian lận 69

Trang 5

BCTC CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT DO CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN

ĐỘC LẬP THỰC HIỆN 77

4.1 ĐỐI VỚI KỸ THUẬT NHẬN DIỆN GIAN LẬN 78

4.1.1 Kỹ thuật phân tích và xu hướng 78

4.1.2 Kỹ thuật phân tích các yếu tố bên ngoài và bên trong 80

4.1.3 Mô hình thuật toán kết hợp 3 chỉ số Z –Score, P – Score, M – Score 82

4.2 ĐỐI VỚI KỸ THUẬT PHÁT HIỆN GIAN LẬN 84

4.2.1 Gian lận theo hướng lợi dụng kẻ hở của chuẩn mực, chế độ kế toán 85 4.2.2 Gian lận theo hướng vi phạm yêu cầu của chuẩn mực, chế độ kế toán 88

KẾT LUẬN 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI

PHỤ LỤC

Trang 6

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn ký và ghi rõ họ tên

Châu Thị Hiệp

Trang 7

BCĐKT Bảng cân đối kế toán

BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh BCLCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

KSNB Kiểm soát nội bộ

SXKD Sản xuất kinh doanh

TSCĐ Tài sản cố định

UBCK Ủy ban chứng khoán

ĐHCĐ Đại hội cổ đông

Trang 8

bảng

Bảng 1.1 Điều kiện niêm yết chứng khoán tại các sở giao dịch 12-13 Bảng 1.2 Bảng đo lường các biến trong công thức Z – Score 31 Bảng 1.3 Bảng đo lường các biến trong công thức P –Score 32 Bảng 1.4 Bảng đo lường các biến trong công thức tính M -Score 33

Bảng 3.1 Bảng tổng hợp kết quả khảo sát cách thức thực hiện

Bảng 3.2

Bảng tổng hợp kết quả khảo sát mức độ thực hiện gian

lận theo hướng lợi dụng kẻ hở của chuẩn mực, chế độ

kế toán

53

Bảng 3.3 Bảng tổng hợp kết quả khảo sát mức độ thực hiện gian

lận thông qua các phép tính kế toán 53

Bảng 3.4 Bảng tổng hợp kết quả khảo sát mức độ thực hiện gian

lận thông qua các phương pháp kế toán 58

Bảng 3.5 Bảng tổng hợp kết quả khảo sát mức độ thực hiện gian

lận thông qua các giao dịch thực 59

Bảng 3.6

Bảng tổng hợp kết quả khảo sát mức độ thực hiện gian

lận theo hướng vi phạm yêu cầu của chuẩn mực, chế độ

kế toán

61

Bảng 3.7 Bảng tổng hợp kết quả khảo sát mức độ thực hiện kỹ

thuật phân tích trong việc nhận diện gian lận 66 Bảng 3.8 Bảng tổng hợp kết quả khảo sát mức độ thực hiện kỹ

thuật phân tích tỷ suất trong việc nhận diện gian lận 67

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thị trường chứng khoán được hình thành vào những năm đầu thế kỷ 20

và sự phát triển của nó vào thế kỷ 21 đem lại nguồn thu nhập dồi dào cho những nhà đầu tư chuyên nghiệp, một kênh thu hút vốn đầu tư hiệu quả của các công ty phát hành chứng khoán ra công chúng Bất kỳ nhà đầu tư nào tham gia “sân chơi” này đều mong muốn mình sẽ đầu tư vào đúng chỗ để có thể cho lợi nhuận cao, nhưng để làm được điều này thì đòi hỏi kênh thông tin

mà các công ty niêm yết công bố phải thật sự chính xác Nhu cầu cho và nhận thông tin, đặc biệt là các thông tin tài chính luôn giữ vai trò tối quan trọng Các nhà đầu tư, các chủ nợ, các cơ quan quản lý…, tất thảy đều dựa vào thông tin tài chính để ra các quyết định kinh doanh Do đó, tính minh bạch, tính trung thực của thông tin tài chính là yêu cầu tất yếu và đóng vai trò to lớn trong việc ổn định thị trường chứng khoán cũng như ổn định xã hội

Tuy nhiên trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, lạm phát tăng kéo theo lãi suất ngân hàng tăng cao cộng thêm việc cắt giảm đầu tư công và cắt giảm chi tiêu trong toàn bộ nền kinh tế đã làm cho các DN trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn Đối với DN niêm yết, khó khăn còn cao hơn gấp nhiều lần do

họ không những phải chịu sức ép của cạnh tranh, lợi nhuận kỳ vọng mà còn chịu sức ép của việc giữ giá cổ phiếu, thu hút đầu tư Do đó, không tránh khỏi việc các DN này thực hiện những kỹ thuật gian lận làm đẹp BCTC để đạt được mục tiêu mong muốn

Thực tế trong thời gian qua, các kỹ thuật gian lận trên BCTC của công ty niêm yết ngày càng tinh vi và trở thành một trong những chủ đề nóng bỏng, thu hút nhiều hơn sự quan tâm của công chúng về tính trung thực và hợp lý

Trang 10

của BCTC Người ta không chỉ bất ngờ về những tổn thất kinh tế do gian lận gây ra mà còn bất ngờ cả về các phương pháp thực hiện gian lận

Việc không phát hiện hoặc phát hiện chậm trễ các gian lận do nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến trách nhiệm của KTV và công ty kiểm toán độc lập Do nghề nghiệp kiểm toán độc lập tại Việt Nam chỉ mới ra đời trong khoảng hơn 20 năm, một khoảng thời gian không đủ dài để có một đội ngũ KTV chuyên nghiệp với trình độ ngang tầm thế giới Việc xem xét, đánh giá và phát hiện gian lận còn tùy thuộc vào các yếu tố chủ quan như kinh nghiệm và khả năng chuyên môn, điều này thực sự khó khăn cho các KTV mới vào nghề và các trợ lý kiểm toán Thêm vào đó, môi trường pháp lý cho ngành kiểm toán đang từng bước xây dựng và hoàn thiện nên vẫn còn nhiều bất cập trong khi các thủ thuật gian lận thì ngày một tinh vi và có hệ thống Vì vậy, việc các kiểm toán viên đặc biệt là các kiểm toán viên mới vào nghề cần phải tìm hiểu và nắm được các kỹ thuật nhận diện và phát hiện gian lận trong quá trình kiểm toán BCTC các công ty niêm yết là một chủ đề mang tính thời

sự nhằm nâng cao tính minh bạch, tính đáng tin cậy của thông tin tài chính trên BCTC Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên nên tôi đã chọn

đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật nhận diện và phát hiện gian lận trong kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết do các công ty kiểm toán độc lập thực hiện” làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm:

- Khảo sát thực trạng gian lận trên BCTC các công ty niêm yết và các kỹ thuật nhận diện, phát hiện gian lận trong kiểm toán báo cáo tài chính các công

ty niêm yết do các công ty kiểm toán độc lập thực hiện

Trang 11

- Từ kết quả nghiên cứu, đưa ra những gợi ý về kỹ thuật nhận diện và phát hiện gian lận trong kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết do các công ty kiểm toán độc lập thực hiện

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các kỹ thuật nhận diện và phát hiện gian lận trong kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết do các công

ty kiểm toán độc lập thực hiện

Thuật ngữ “GIAN LẬN” được sử dụng ở đây có nghĩa là những hành vi làm sai lệch thông tin, phản ánh không đúng đắn thực trạng tài chính của một

DN, ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng Những hành vi này có thể

vi phạm hoặc lợi dụng kẽ hở của chuẩn mực, chế độ kế toán hiện hành

b Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các kỹ thuật nhận diện, phát hiện gian lận theo hướng làm đẹp BCTC để thu hút đầu tư (bao gồm ghi tăng tài sản, tăng doanh thu, giảm chi phí, giảm công nợ…để tăng lợi nhuận), không nghiên cứu kỹ thuật phát hiện đối với gian lận theo kiểu làm giảm lợi nhuận để trốn thuế Và chỉ khảo sát các công ty niêm yết, ngoại trừ các ngân hàng, công ty chứng khoán

và công ty quản lý quỹ

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê mô tả để thu thập các dữ liệu sơ cấp về thực trạng các thủ thuật gian lận cũng như các kỹ thuật nhận diện và phát hiện gian lận hiện nay trong kiểm toán BCTC các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 12

- Nghiên cứu tài liệu từ các nguồn dữ liệu thứ cấp là các công trình nghiên cứu trước đây, những bài báo, tạp chí, tài liệu, trong và ngoài nước

từ các chuyên gia trong ngành

Phương pháp tiếp cận là tiến hành khảo sát thông qua các bảng câu hỏi

và phỏng vấn tập trung Sau đó, các số liệu này được tổng hợp, xử lý và phân tích nhằm đánh giá, kết luận và đưa ra các gợi ý về kỹ thuật nhận diện và phát hiện gian lận trong kiểm toán BCTC các công ty niêm yết do các công ty kiểm toán độc lập thực hiện

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Về mặt khoa học, luận văn góp phần cung cấp một cái nhìn toàn diện

thực trạng gian lận trên BCTC công ty niêm yết cũng như kỹ thuật nhận diện

và phát hiện Từ đó, đưa ra các hàm ý về kỹ thuật nhận diện và phát hiện đối với các thủ thuật gian lận phổ biến trong kiểm toán báo cáo tài chính các công

ty niêm yết do các công ty kiểm toán độc lập thực hiện

Về mặt thực tiễn, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các kiểm

toán viên, trợ lý kiểm toán đặc biệt là những người chưa có nhiều kinh nghiệm thuộc các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam, cũng như cho những

ai quan tâm đến vấn đề gian lận trên báo cáo tài chính các công ty niêm yết Những hạn chế và thành công của đề tài sẽ là cơ sở và tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu về kỹ thuật nhận diện và phát hiện gian lận trong kiểm toán BCTC các công ty niêm yết do các công ty kiểm toán độc lập thực hiện trong các nghiên cứu sau

6 Kết cấu đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, cấu trúc của luận văn gồm: 4 chương, 10 tiết và 23 tiểu tiết

Trang 13

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, Tác giả nhận thấy nghiên cứu về Kỹ thuật nhận diện và phát hiện gian lận trong kiểm toán BCTC các công ty niêm yết do các công ty kiểm toán độc lập thực hiện là một trong những đề tài nghiên cứu không mới nhưng chưa thật sự có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về kỹ thuật nhận diện và phát hiện gian lận trong kiểm toán BCTC các công ty niêm yết do các công ty kiểm toán độc lập thực hiện mà hầu hết các nghiên cứu tập trung vào việc phân tích và lượng hoá các nhân tố thuộc tam giác gian lận của Cressey (1953) gồm: Cơ hội, áp lực, và thái độ Từ đó, dùng các công cụ thống kê như: chạy hồi quy logistic để cho ra mô hình có khả năng dự đoán cũng như nhận diện gian lận trên BCTC chứ chưa đưa ra những kỹ thuật kiểm toán cụ thể để giúp các Kiểm toán viên có thể đối phó với các loại gian lận phổ biến hiện nay và ở Việt Nam chưa từng có nghiên cứu chuyên sâu chính thức nào về chủ đề này Do đó, tham khảo cơ sở lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu về Kỹ thuật nhận diện và phát hiện gian lận trong kiểm toán BCTC là hết sức cần thiết trong thực hiện các nghiên cứu tại

Việt Nam

Nhóm tác giả Chris E.Hogan, Zabihollah Rezaee, Richard A.Riley, Jr., and Uma K Velury (2009) có bài nghiên cứu Tổng hợp các tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về Gian lận Báo cáo tài chính Bài viết đã tổng hợp các nghiên cứu đã công bố, phân tích và đưa ra các kết quả chính như sau: Thứ nhất, cung cấp một lượng các nghiên cứu đáng kể về các đặc trưng của các công ty có gian lận và đưa ra các báo động đỏ "red flags" được sử dụng trong SAS 82 và SAS 99 như một dấu hiệu nhận biết gian lận gồm: sức ép trong việc phân tích dự báo, tăng trưởng nhanh và hiệu quả hoạt động kém sẽ làm tăng khả năng gian lận trên BCTC; quản trị doanh nghiệp hiệu quả gồm hội đồng quản trị, uỷ ban kiểm toán, hệ thống kiểm soát nội bộ, và kể cả kiểm

Trang 14

toán viên bên ngoài cũng đóng vai trò trong việc giảm thiểu cơ hội gian lận Thứ hai, cung cấp bằng chứng về sự hữu ích của danh mục kiểm tra - checklists được coi là một công cụ phát hiện gian lận; trong khi đó có một số nghiên cứu hỗ trợ việc sử dụng danh mục kiểm tra như một công cụ quyết định, và có nhiều bằng chứng cho thấy việc sử dụng danh mục kiểm tra bất thường trong đó kiểm toán viên thất bại trong việc mở rộng suy nghĩ của họ vượt ra ngoài danh mục kiểm tra Thứ ba, bài nghiên cứu đưa ra nghiên cứu

hỗ trợ nhu cầu của kiểm toán viên trong việc điều chỉnh kế hoạch và thủ tục kiểm toán đối với động cơ các loại rủi ro cần được đánh giá là cao (ví dụ động

cơ việc thực hiện các khoản thu nhập cao như là sự tăng lên nhu cầu về vốn so với quản lý động cơ các khoản thu nhập thấp và thiết lập tập tin dự phòng cookie) Thứ tư, nghiên cứu cũng đưa ra bằng chứng cho thấy các kiểm toán viên không thực hiện các điều chỉnh đáng kể kế hoạch kiểm toán như là một biểu hiện của việc đánh giá rủi ro gian lận cao Thứ năm, nghiên cứu hỗ trợ khai thác sâu hơn vào việc sử dụng các công cụ phát hiện gian lận khác như phân tích hồi quy, sử dụng các thông tin phi tài chính, phân tích kỹ thuật số,

và các mô hình mạng nơ ron; dựa trên cơ sở các nguồn lực cần thiết kết hợp với các công cụ phức tạp hơn được vận dụng vào việc kiểm toán liên tục Thứ sáu, nghiên cứu hỗ trợ nhận dạng khu vực có nguy cơ gia tăng gian lận báo cáo tài chính như: việc ghi nhận doanh thu, các khoản trích trước đáng kể hoặc không bình thường, và giao dịch với các bên liên quan, Từ đó thiết kế các kỹ thuật kiểm toán để nhận diện và phát hiện gian lận ngoài các kỹ thuật

đã được đề cập trong các chuẩn mực kiểm toán Một lĩnh vực có hiệu quả của các nghiên cứu trước đó đã được thực hiện liên quan đến các công cụ và kỹ thuật để phát hiện gian lận như thủ tục phân tích, phân tích tỷ lệ, phân tích hồi quy, và danh sách kiểm tra Với sự ra đời của các công cụ dựa trên công nghệ mới trong kiểm toán, chẳng hạn như phần mềm khai thác dữ liệu - data

Trang 15

minging software, kiểm toán liên tục, và các phần mềm mô hình nhận dạng - pattern recognition software, khu vực rủi ro gian lận sẽ được yêu cầu kiểm tra liên tục để kiểm tra hiệu quả của các công cụ mới trong việc phát hiện gian lận Các nhà nghiên cứu cũng có thể xác định các công cụ có hiệu quả ở các giai đoạn khác nhau, chẳng hạn như việc sử dụng phân tích kỹ thuật số - digital analysis ở các giai đoạn lập kế hoạch ban đầu [31]

Năm 2013 các tác giả Ines Amara, Anis Ben Amara, Anis Jarboui có bài nghiên cứu Phát hiện gian lận trên BCTC: Trường hợp các công ty của Pháp

sử dụng dữ liệu của 80 công ty Pháp thuộc bảng xếp hạng SBF 250 và trong

đó, 40 công ty được xem xét là đã gian lận trong giai đoạn 2001 - 2009 Sự đánh giá mô hình thực nghiệm được đưa ra dựa trên phương pháp hồi quy logistic, các nhân tố được đưa vào mô hình thuộc nhóm động cơ và cơ hội của tam giác gian lận (Cressey, 1953) Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng vận dụng nhiều lý thuyết kinh tế trong việc giải thích hành vi gian lận cũng như hướng dẫn các kỹ thuật nhận diện gian lận Kết quả của bài phân thích là đã giải thích rằng chỉ tiêu ROA được sử dụng để nhấn mạnh với nhà quản lý và đây là một nhân tố chính trong việc phát hiện gian lận trên báo cáo tài chính Hạn chế của đề tài là chưa đưa các nhân tố thuộc nhóm thái độ, cá tính vào trong mô hình hồi quy để tăng tính tin cậy của việc chạy hồi quy mô hình; ngoài ra, các số liệu được sử dụng trong bài nghiên cứu được các tác giả lấy dựa trên các số liệu đã công bố bởi AMF và các tác giả không đảm bảo chắc chắn rằng không có việc quản trị gian lận tại doanh nghiệp [14]

Đặc biệt bài nghiên cứu của tác giả còn đề cập đến nghiên cứu việc ứng dụng kết hợp các chỉ số tài chính trong việc nhận diện gian lận trên BCTC ở các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán như: chỉ số Z - Score, P - Score, M - Score Các nghiên cứu về các chỉ số này mà tác giả cho rằng có liên quan và lấy cơ sơ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu bao gồm:

Trang 16

Tác giả Nguyễn Trần Nguyên Trân (2014) với đề tài: "Nghiên cứu về sai sót trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam", Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học kinh tế , Đại học

Đà Nẵng Luận văn đề cập và nêu thực trạng các sai sót trong BCTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ năm 2010-2012 và sử dụng mô hình nghiên cứu của Beneish (1999) với chỉ số M - Score trong việc dự đoán khả năng sai sót/ gian lận BCTC ở công ty niêm yết

Ưu điểm của chỉ số M - Score là công cụ tốt để thực hiện dự đoán, dễ dàng trong việc thực hiện Nhưng nhược điểm của mô hình Benish này là độ chính xác chưa cao chỉ khoảng 50% [9]

Nghiên cứu của tác giả Igor Pustylnick (2009) với đề tài: "Kết hợp các thuật toán trong việc phát hiện các thao túng trong báo cáo tài chính" Tác giả trình bày phương pháp mới trong việc phát hiện gian lận trên BCTC tại các công ty đại chúng kết hợp với công thức tính toán chỉ số Z - Score của Altman Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu BCTC của nhiều năm gần nhau trong việc tính toán các chỉ số và kết quả cho thấy rằng việc chỉ sử dụng đơn thuần chỉ số Z - Score hoặc P - Score theo phương pháp mới thì xác suất dự đoán đúng là 82,76% và việc sử dụng thuật toán kết hợp 3 chỉ số Z - Score, P- Score, M - Score thì xác suất dự đoán đúng lên đến 96,55% Do vậy, tác giả

đề xuất việc vận dụng thuật toán kết hợp 3 chỉ số này trong việc thực hiện nhận diện gian lận trên BCTC công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán [23]

Qua việc tham khảo và nghiên cứu các tài liệu trên, Tác giả nhận thấy việc nghiên cứu kỹ thuật nhận diện và phát hiện gian lận trong kiểm toán BCTC các công ty niêm yết chưa thật sự được chú trọng và cụ thể hoá đối với các loại gian lận phổ biến mà chỉ thực hiện chung chung Các nghiên cứu tập trung tìm hiểu về các nhân tố trong lý thuyết tam giác gian lận được đề xuất

Trang 17

bởi Cressey (1953) gây nên rủi ro gian lận được nêu ra trong chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 240, chuẩn mực Kiểm toán Mỹ SAS 99, chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam VSA 240 thông qua sử dụng các mô hình toán học của các nhà toán học kinh tế kinh điển Từ đó, đưa ra mô hình toán học giúp kiểm toán viên và các công ty kiểm toán có thể dự báo khả năng gian lận trên BCTC Kế thừa và phát huy các nghiên cứu trước đó về thao túng, gian lận trên BCTC cũng như các kỹ thuật nhận diện và phát hiện gian lận trong kiểm toán BCTC các công ty niêm yết Kết hợp với việc kế thừa bài nghiên cứu khoa học

“Nghiên cứu thực trạng gian lận trên BCTC của công ty niêm yết tại Việt Nam và Kỹ thuật nhận diện, phát hiện gian lận của Kiểm toán viên độc lập” của chính tác giả và cộng sự (2013), tác giả quyết định thực hiện đề tài

“Nghiên cứu kỹ thuật nhận diện và phát hiện gian lận trong kiểm toán BCTC các công ty niêm yết do các công ty kiểm toán độc lập thực hiện" làm luận văn tốt nghiệp Với những nét mới là tập trung nghiên cứu về các kỹ thuật kiểm toán giúp các kiểm toán viên đối phó với các thủ thuật gian lận phổ biến hiện nay trên thị trường chứng khoán Việt Nam Từ đó, đưa ra các gợi ý về kỹ thuật nhận diện và phát hiện gian lận trong kiểm toán BCTC các công ty niêm yết do các công ty kiểm toán độc lập thực hiện Những nghiên cứu trên mà tác giả đề cập là cơ sở lý thuyết và thực tiễn quan trọng để thực hiện nghiên cứu này

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ THUẬT NHẬN DIỆN VÀ PHÁT HIỆN GIAN LẬN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO

TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT DO CÁC CÔNG TY

KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP THỰC HIỆN

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CÔNG TY NIÊM YẾT

1.1.1 Khái niệm công ty niêm yết

Theo Điều 4, Luật Doanh nghiệp Việt Nam – năm 2005 thì Công ty là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của luật pháp nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh [8] Còn theo từ điển Bách khoa Việt Nam, Công ty là Doanh nghiệp

do nhiều thành viên góp vốn cùng chia lợi nhuận, hoặc cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp

Như vậy, Công ty được hiểu là một tổ chức của một hoặc nhiều cá nhân, pháp nhân tiến hành hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật vì một mục tiêu chung nào đó

Niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán có đủ điều kiện vào giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán – Điều 6 – Luật Chứng khoán Việt Nam

Công ty niêm yết là Công ty có các cổ phần được ghi trên thị trường chính của sở giao dịch chứng khoán – Từ điển thuật ngữ thị trường chứng khoán Anh – Việt Ngoài ra, theo Chuẩn mực kiểm soát chất lượng số 220 (VSA 220) cũng quy định rõ: “Tổ chức niêm yết là pháp nhân có cổ phần, cổ phiếu hoặc các công cụ nợ được chào bán hoặc niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán hoặc được giao dịch theo các quy định của sàn giao dịch chứng khoán hoặc các định chế khác tương tự”

Trang 19

Tóm lại, Công ty niêm yết là Công ty có chứng khoán (cổ phiếu hoặc

trái phiếu) được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán

1.1.2 Điều kiện niêm yết

Theo điều 25 Luật Chứng khoán, một công ty chỉ được gọi là công ty niêm yết khi thỏa mãn tất cả những điều kiện sau:

- Là công ty cổ phần

- Có vốn điều lệ từ 30 tỷ VND trở lên

- Có cổ phiếu được niêm yết tại Sở GDCK hoặc Trung tâm GDCK

- Cổ phiếu được tối thiểu 100 nhà đầu tư nắm giữ không kể nhà đầu tư chuyên nghiệp là các tổ chức tài chính và yêu cầu 100 cổ đông nắm giữ ít nhất 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết

- Công ty niêm yết trên Sở GDCK yêu cầu ban lãnh đạo phải nắm giữ 100% cổ phiếu trong 6 tháng đầu tiên và 50% trong 6 tháng tiếp theo kể từ ngày niêm yết

- Phải có lãi 2 năm trước khi niêm yết và trong thời gian niêm yết không được lỗ liên tục 3 năm Nếu báo lỗ liên tục 3 năm sẽ bị hủy niêm yết

Từ những điều kiện niêm yết được quy định tại luật Chứng khoán thì hoạt động của CTNY còn tuân thủ các văn bản dưới Luật thi hành, và phải đáp ứng một số điều kiện nhất định để được đăng ký niêm yết trên 2 sở giao dịch chứng khoán: Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh (HoSe) được quy định ở nghị định số 58/2012/NĐ-CP, Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán

Trang 20

Bảng 1.1 Điều kiện niêm yết chứng khoán tại các sở giao dịch

Chỉ tiêu Niêm yết cổ phiếu tại

HOSE

Niêm yết cổ phiếu tại HNX

Vốn điều lệ đã góp tại thời

điểm đăng ký niêm yết

Tối thiểu 120 tỷ đồng Tối thiểu 30 tỷ đồng

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn

chủ sở hữu (ROE) năm gần

Không yêu cầu

Nợ quá hạn Không có khoản nợ phải trả quá hạn trên một

năm

Lỗ lũy kế Không có lỗ lũy kế tính đến thời điểm đăng ký

niêm yết

Tỷ lệ sở hữu Tối thiểu 20% cố phiếu

có quyền biểu quyết của Công ty do ít nhất 300

cổ đông không phải cổ đông lớn nắm giữ, trừ trường hợp doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành Công ty cổ phần theo quy định của

Tối thiểu 15% cố phiếu có quyền biểu quyết của Công ty do

ít nhất 100 cổ đông không phải cổ đông lớn nắm giữ, trừ trường hợp doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành

Trang 21

Thủ tướng Chính phủ Công ty cổ phần theo

quy định của Thủ tướng Chính phủ Cam kết của cổ đông nội

bộ

Cổ đông là cá nhân, tổ chức có đại diện sở hữu

là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó giám đốc (Phó Tổng Giám đốc) và kế toán trưởng của Công ty;

cổ đông lớn là người có liên quan với thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc) và Kế toán trưởng của Công ty phải cam kết nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 06 tháng kể từ ngày niêm yết

và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 06 tháng tiếp theo, không tính chỉ số cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nước do các cá nhân trên đại diện nắm giữ

(Nguồn: Nghị định số 58 Chính phủ, 2012)

Vì vậy, có thể thấy 1 công ty, để có thể trở thành công ty niêm yết không phải là chuyện dễ dàng và khi đã được niêm yết thì việc làm thế nào để không

bị hủy niêm yết lại còn khó khăn hơn

1.1.3 Báo cáo tài chính của công ty niêm yết

Công ty niêm yết có thể công bố thông tin qua nhiều phương tiện như các BCTC, trang thông tin điện tử, báo chí, truyền hình và nhiều kênh thông tin khác Trong các phương tiện kể trên, BCTC được xem là phương tiện cung cấp thông tin toàn diện nhất bởi BCTC là tài liệu về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một DN nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý

Trang 22

của chủ DN và các nhu cầu hữu ích của những người sử dụng trong việc đưa

a BCTC năm

BCTC năm của công ty niêm yết phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được UBCK Nhà nước chấp thuận kiểm toán cho tổ chức niêm yết và được Đại hội đồng cổ đông hoặc HĐQT (trong trường hợp Đại hội đồng cổ đông ủy quyền cho HĐQT) lựa chọn

- Thời hạn công bố: chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày tổ chức kiểm toán độc lập ký Báo cáo kiểm toán Thời hạn công bố thông tin BCTC năm không quá 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính

- Nội dung công bố bao gồm:

(1) Bảng cân đối kế toán (BCĐKT)

(2) Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (BCKQHĐKD)

(3) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT)

(4) Thuyết minh BCTC và phụ lục liên quan

(5) Báo cáo kiểm toán của tổ chức kiểm toán

(6) Giải trình liên quan đến các số liệu tài chính do công ty phải công bố thông tin theo quy định của pháp luật khác với số liệu tại BCTC năm được kiểm toán (nếu có)

(7) Giải trình về ý kiến ngoại trừ/lưu ý của KTV (nếu có)

(8) Điều chỉnh hồi tố BCTC (nếu có)

Trang 23

b BCTC bán niên (6 tháng đầu năm tài chính)

BCTC bán niên phải được soát xét bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận theo chuẩn mực kiểm toán về công tác soát xét BCTC và được chọn để kiểm toán BCTC năm của công ty niêm yết

- Thời hạn công bố: trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày tổ chức kiểm toán được chấp thuận ký báo cáo soát xét Thời hạn công bố thông tin không quá 45 ngày kể từ ngày kết thúc 6 tháng đầu năm tài chính Trường hợp công

ty niêm yết phải lập BCTC hợp nhất, báo cáo tổng hợp thì thời hạn công bố là

60 ngày kể từ ngày kết thúc 6 tháng đầu năm tài chính

- Nội dung công bố:

Các tài liệu từ (1) đến (4) theo BCTC năm

(5) Báo cáo soát xét

(6) Giải trình liên quan đến các số liệu tài chính do công ty phải công bố thông tin theo quy định của pháp luật khác với số liệu tại BCTC được kiểm toán (nếu có)

(7) Giải trình về các ý kiến ngoại trừ/lưu ý của KTV (nếu có)

(8) Điều chỉnh hồi tố BCTC (nếu có)

c BCTC quý

- Thời hạn công bố: trong vòng 20 ngày kể từ ngày kết thúc quý Trường hợp công ty niêm yết phải lập báo cáo hợp nhất, báo cáo tổng hợp thì thời hạn

công bố là 45 ngày kể từ ngày kết thúc quý

- Nội dung công bố:

Các tài liệu từ (1) đến (4) theo BCTC năm

(5) Giải trình chênh lệch lợi nhuận sau thuế thu nhập giữa kỳ báo cáo so với cùng kỳ năm ngoái từ 10% trở lên, hoặc kết quả kinh doanh trong quý bị

lỗ

Trang 24

(6) Giải trình liên quan đến các số liệu tài chính do công ty phải công bố thông tin theo quy định của pháp luật khác với số liệu tại BCTC được kiểm toán (nếu có)

1.1.4 Ảnh hưởng của thông tin công bố trên Báo cáo tài chính đến người sử dụng

Minh bạch hóa thông tin trên thị trường chứng khoán là một trong những nhân tố quan trọng nhất để giúp thị trường chứng khoán phát triển Công bố thông tin nói chung và thông tin trên BCTC nói riêng chính là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của DN nhằm đảm bảo tất cả mọi người đều có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời

Đối với công chúng quan tâm, nhu cầu tất yếu là tìm hiểu và phân tích các thông tin tài chính của DN thông qua BCTC Các nhà quản lý DN sử dụng BCTC để đánh giá năng lực thực hiện, xác định các vấn đề cần phải xử

lý để đưa ra các đối sách kinh doanh phù hợp Các cổ đông cần BCTC để theo dõi các khoản vốn đầu tư của mình được quản lý và sinh lợi ra sao Các nhà đầu tư thông qua BCTC để tìm kiếm cơ hội đầu tư Các chủ nợ, nhà cung ứng tìm hiểu thông tin về khả năng thanh toán của công ty mà họ đang giao dịch…

Do đó, bất cứ công ty niêm yết nào cũng mong có được BCTC đẹp Một BCTC đẹp sẽ đem đến cho công ty rất nhiều lợi ích: Giữ hoặc nâng giá cổ phiếu, thu hút các nhà đầu tư để huy động vốn, gây ảnh hưởng đến các nhà cung cấp và khách hàng, tránh vi phạm hoặc đáp ứng các điều khoản hợp đồng vay, tăng thù lao hoặc các điều khoản thưởng, đề bạt cho Giám đốc v v Tuy nhiên, trong thời buổi nền kinh tế khó khăn như hiện nay, với

sự sụp đổ của khoảng 50.000 DN vào năm 2011, thị trường chứng khoán vẫn đang nằm trong tình trạng ảm đạm, người giao dịch thưa thớt, để có được một BCTC khả quan là điều hết sức khó khăn Hơn nữa, những kỳ vọng của cổ đông và để tránh bị hủy niêm yết do báo lỗ 3 năm liên tiếp cũng gây áp lực rất

Trang 25

lớn cho công ty Do đó, không tránh khỏi việc các tổ chức niêm yết thực hiện nhiều chiêu trò gian lận nhằm làm đẹp BCTC

Mặc dù hiện nay có những yêu cầu công bố thông tin cụ thể và nghiêm ngặt đặt ra cho các đơn vị niêm yết nhằm ngăn chặn những ảnh hưởng to lớn

từ các hành vi che giấu thông tin, gian lận có thể xảy ra và để duy trì cơ chế giám sát hiệu quả từ các bên có liên quan nhưng các công ty niêm yết, bằng cách này hay cách khác, vẫn có những thủ thuật tinh vi để khai báo thông tin không trung thực, với mục đích đánh lừa nhà đầu tư

Chính vì vậy, chỉ cần một sự trình bày thiếu trung thực hoặc không công

bố đầy đủ thông tin trên BCTC sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều bên, gây ra những quyết định sai lầm từ người sử dụng BCTC và thậm chí làm xáo trộn, lũng đoạn thị trường chứng khoán, gây khó khăn cho công tác phát triển và quản lý của Nhà nước

Đơn cử vụ việc gian lận trên BCTC bị phát giác muộn đã gây xôn xao dư luận trong những năm vừa qua ở CTCP Dược Viễn Đông (mã chứng khoán DVD).[43]

DVD là một DN kinh doanh dược phẩm Nhờ những thủ thuật gian lận hết sức tinh vi mà DN này đã qua mặt cả công ty kiểm toán, thể hiện một BCTC khả quan, có chỉ số EPS cao nhất nhì trong ngành vào các năm 2010

và 2011 Rất nhiều nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam lúc đó

đổ xô mua cổ phiếu DVD mà không hay biết rằng những số liệu trên BCTC đều là “ảo” Không lâu sau, vụ việc vỡ lỡ, Dược Viễn Đông sụp đổ, giám đốc

bị bắt giam và hàng ngàn nhà đầu tư trở thành tay trắng, dẫn đến tình trạng

ảm đạm trên thị trường chứng khoán và gây bức xúc trong xã hội một thời gian dài

Tóm lại, việc công bố thông tin không chính xác, kịp thời có hậu quả rất nghiêm trọng, không chỉ làm mất niềm tin của công chúng đầu tư mà còn gây

Trang 26

khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước, làm mất ổn định thị trường và cản trở sự phát triển của nền kinh tế

1.2 GIAN LẬN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIAN LẬN

1.2.1 Khái niệm gian lận

Có khá nhiều các công trình nghiên cứu về gian lận, vì vậy mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm về gian lận, cụ thể một số khái niệm thường đươc sử dụng:

Theo từ điển tiếng Việt, gian lận là hành vi thiếu trung thực, dối trá, mánh khoé nhằm lừa gạt người khác

Theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế 240 (ISA 240), thuật ngữ “gian lận” (fraud) được dùng để chỉ các hành vi cố ý của một hay nhiều cá nhân, đó có thể là các thành viên trong BGĐ, HĐQT, các nhân viên hay các bên thứ ba, liên quan đến sự gian dối nhằm thu được những lợi ích không xứng đáng hay bất hợp pháp [31]

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (VSA 240), “Gian lận là những hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến BCTC Gian lận có thể mang lại lợi ích cho cá nhân hay cho tổ chức” Khi cá nhân thực hiện gian lận, lợi ích có thể là trực tiếp (như nhận tiền hay tài sản), hay gián tiếp (có ảnh hưởng nào đó, tăng quyền lực, sự đền ơn, tiền thưởng ) Khi tổ chức (thường là nhân viên hành động trên tư cách tổ chức) thực hiện gian lận thì lợi ích thu được thường là trực tiếp dưới hình thức doanh thu hoạt động tài chính, hay một hình thức khác [1]

Riêng đối với đề tài này, khái niệm gian lận được sử dụng ở đây mang ý nghĩa là những hành vi làm sai lệch thông tin, phản ánh không đúng đắn thực

Trang 27

trạng tài chính của một DN Vì thực trạng tài chính của DN là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư và các bên liên quan, KTV phải có trách nhiệm phát hiện và lưu ý cho công chúng về những hành vi làm đẹp BCTC kiểu này

Do đó, không chỉ riêng những hành vi vi phạm yêu cầu của chuẩn mực, chế

độ kế toán mà cả những hành vi lợi dụng kẽ hở của chuẩn mực, chế độ, nếu kết quả nhằm làm sai lệch thực trạng tài chính của DN, ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thông tin đều được gọi chung là gian lận

1.2.2 Giới thiệu các thủ thuật gian lận trên BCTC ở các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán

Thủ thuật gian lận trên BCTC ở công ty niêm yết phải nói là muôn hình muôn vẻ và mỗi năm người ta lại phát hiện ra nhiều thủ thuật mới, tinh vi hơn, chuyên nghiệp hơn và có hệ thống hơn Kế thừa các nghiên cứu trước của tác giả và cộng sự, kết hợp các khái niệm về gian lận thì các thủ thuật gian lận được chia làm 2 nhóm chủ yếu: đó là gian lận theo cách vi phạm yêu cầu của chuẩn mực, chế độ kế toán hiện hành và gian lận theo cách lợi dụng

có thật hay khai khống doanh thu thông qua việc ghi nhận vào sổ sách nghiệp

vụ bán hàng hay cung cấp dịch vụ không có thật nhằm làm tăng doanh thu, lợi

Trang 28

nhuận và tài sản; Hoặc ghi nhận sai niên độ; Định giá sai tài sản; Không khai báo đầy đủ thông tin; Che giấu dao dịch nội bộ giữa công ty mẹ - công ty con

và không lập BCTC hợp nhất;…

Điển hình cho phương pháp gian lận này là sự sụp đổ của tập đoàn viễn thông lớn thứ hai ở Hoa Kỳ - Worldcom Một trong những nguyên nhân chính của sự phá sản này là việc thao túng BCTC bằng cách vốn hóa vào giá trị tài sản khoản chi phí hoạt động SXKD trị giá 3.8 tỉ đô la suốt 5 quý Điều này dẫn đến luồng tiền và lợi nhuận của Worldcom trở thành những con số ảo hoàn mỹ đáng mong đợi

b Nhóm thủ thuật gian lận BCTC lợi dụng kẽ hở của chuẩn mực, chế

độ kế toán hiện hành

Trái ngược với nhóm kỹ thuật gian lận dễ bị phát hiện bởi KTV và đánh mất niềm tin của nhà đầu tư, các DN hiện nay gian lận theo xu hướng mới thông qua các kỹ thuật thao túng hợp lệ Phải nói đây là những thủ thuật tinh

vi hơn nhiều so với thủ thuật bất hợp pháp, đòi hỏi KTV phải đặt thái độ hoài nghi nghề nghiệp lên mức cao nhất và có óc phán đoán nhanh nhạy, sáng suốt cũng như có kinh nghiệm và đầy đủ lý lẽ để có thể “bắt bệnh” những DN thao túng BCTC theo kiểu này

Có một số quan điểm cho rằng việc lợi dụng kẽ hở của chuẩn mực, chế

độ chế toán không phải là gian lận, mà đó là một hình thức quản trị lợi nhuận Tuy nhiên, theo định nghĩa của các chuẩn mực kiểm toán Quốc tế và Việt

Nam, gian lận là những hành vi gây ra hiểu biết không chính xác về thực trạng kinh tế, tài chính của DN, ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thông tin Thực trạng kinh doanh, tài chính là mối quan tâm hàng đầu của các

nhà đầu tư Do đó, nhóm thủ thuật lợi dụng kẽ hở của chuẩn mực, chế độ kế toán được DN sử dụng nhằm đánh lừa các nhà đầu tư và các bên liên quan về tình hình kinh doanh, tài chính vẫn được xem là gian lận

Trang 29

Nhóm kỹ thuật gian lận không vi phạm yêu cầu chuẩn mực, chế độ gồm

3 hình thức cụ thể sau: Gian lận thông qua các phương pháp kế toán ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí kết quả là ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận lợi nhuận theo mục đích của đơn vị; Hoặc gian lận thông qua các ước tính kế toán khi mà cơ sở thực hiện việc tính toán này phụ thuộc vào ước tính chủ quan của cả người lập và người kiểm tra; DN có thể phù phép lợi nhuận thông qua các giao dịch thực

Cụ thể các loại gian lận trong từng nhóm gian lận sẽ được trình bày trong phần khảo sát thực trạng

1.2.3 Các công trình nghiên cứu về gian lận trên BCTC

Gian lận xuất hiện cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người Cùng với quá trình phát triển của xã hội, hành vi gian lận ngày càng tinh vi hơn và biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Chính vì vậy, trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về gian lận đứng trên nhiều góc độ khác nhau nhằm giúp các mảng nghề nghiệp có liên quan tìm được các biện pháp ngăn

ngừa, phát hiện gian lận, có thể kể ra như công trình của Edwin H.Sutherland

(1883 – 1950), Donald R.Cressey (1919 – 1987), D.W Steve Albretch, Richard C, Hollinger và ACFE (Hiệp hội các nhà điều tra về gian lận Hoa Kỳ) [6]

Riêng đối với lĩnh vực kiểm toán, mô hình tam giác gian lận của Donald

R.Cressey (1919 – 1987) và công trình nghiên cứu gian lận của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Mỹ - ACFE được xem là 2 công trình nghiên cứu thành công nhất và được ứng dụng nhiều nhất hiện nay

a Mô hình tam giác gian lận của Donald R.Cressey (1919 – 1987)

Theo Donald R Cressey, hành vi gian lận thường xuyên xuất hiện khi có

sự hiện diện của ba yếu tố (tam giác gian lận) là áp lực, cơ hội và thái độ/cá tính [6]

Trang 30

Áp lực thường phát sinh khi cá nhân hay tổ chức gặp phải những khó khăn đến từ bên ngoài hoặc bên trong, mà nếu không vượt qua được những khó khăn này thì sẽ không đạt được kết quả kỳ vọng hoặc phải chịu hậu quả, tổn thất nặng nề

Khi bị áp lực, nếu có cơ hội, cá nhân và tổ chức có thể lợi dụng cơ hội để thực hiện hành vi gian lận Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người khi gặp khó khăn và có cơ hội cũng đều thực hiện gian lận vì nó còn phụ thuộc rất nhiều vào thái độ, cá tính của từng cá nhân Có những người dù chịu áp lực và

có cơ hội nhưng vẫn không hề thực hiện hành vi gian lận và ngược lại

b Công trình nghiên cứu hành vi gian lận của ACFE (Hiệp hội các nhà điều tra về gian lận Hoa Kỳ)

Vào năm 1988, một tổ chức chuyên nghiên cứu về gian lận ra đời bên cạnh Uỷ ban quốc gia chống gian lận Mỹ đó là Hiệp hội của các nhà điều tra gian lận (ACFE) ACFE là tổ chức đầu tiên trên thế giới nghiên cứu về gian lận

Một trong những mục tiêu nghiên cứu về gian lận của ACFE là phân loại

chúng để có thể đưa ra các biện pháp ngăn ngừa Theo ACFE, có ba loại gian

Trang 31

- Biển thủ tài sản: Xảy ra khi nhân viên biển thủ tài sản của tổ chức (ví

dụ điển hình là biển thủ tiền, đánh cắp hàng tồn kho, gian lận về tiền lương)

- Tham ô: Xảy ra khi người quản lý lợi dụng trách nhiệm và quyền hạn của họ tham ô tài sản của công ty hay hành động trái ngược với các nghĩa vụ

họ đã cam kết với tổ chức để làm lợi cho bản thân hay một bên thứ ba

- Gian lận trên Báo cáo tài chính: Là khi các thông tin trên BCTC bị bóp méo, phản ảnh không trung thực tình hình tài chính một cách cố ý nhằm lừa gạt người sử dụng thông tin (Ví dụ khai khống doanh thu, khai giảm nợ phải trả hay chi phí)

Kết quả cuộc nghiên cứu từ năm 1993-2012 cho thấy: Gian lận liên quan tới biển thủ luôn chiếm trên 85% các trường hợp được nghiên cứu nhưng mức thiệt hại cho nền kinh tế lại thấp hơn cả Trong khi đó, các gian lận trong BCTC lại chiếm một tỷ lệ thấp nhất trong ba loại trên (khoảng 10,3% cho nghiên cứu năm 2008, 4.8% cho nghiên cứu năm 2010 và 7,6% cho các nghiên cứu năm 2012) nhưng những gì nó gây thiệt hại cho nền kinh tế thì lại lớn nhất

Từ 2 nghiên cứu trên, có thể thấy gian lận trên BCTC chỉ xảy ra khi hội

tụ đủ 3 yếu tố: cơ hội, áp lực, thái độ - cá tính và dù không xảy ra với mức độ nhiều như tham ô, biển thủ nhưng lại dẫn đến hậu quả nặng nề nhất

1.3 KỸ THUẬT NHẬN DIỆN VÀ PHÁT HIỆN GIAN LẬN TRONG KIỂM TOÁN BCTC CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT DO CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP THỰC HIỆN

Gian lận trên BCTC thường được thực hiện rất khéo léo, do đó, các KTV không phải ngay lập tức có thể dễ dàng phát hiện được gian lận, mà phải trải qua một quá trình từ phán đoán, nhận diện đến phát hiện và báo cáo thông qua các bằng chứng cụ thể Cơ sở lý luận về kỹ thuật nhận diện và phát hiện gian

Trang 32

lận trong kiểm toán BCTC các công ty niêm yết do KTV tại các công ty kiểm toán độc lập thực hiện được trình bày như sau:

1.3.1 Kỹ thuật nhận diện gian lận

Nhận diện gian lận được xem là bước tiền đề, là cơ sở cho việc phát hiện gian lận vì thông qua quá trình này, KTV có thể đặt ra các nghi ngờ, các phán đoán về gian lận và khoanh vùng gian lận có thể xảy ra trên BCTC, từ đó tiếp tục đi sâu tìm hiểu và áp dụng các thủ tục kiểm toán để phát hiện chính xác gian lận

Việc nhận diện gian lận chủ yếu thông qua các thủ tục phân tích Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520 trình bày rõ quy trình phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra những mối quan hệ

có mâu thuẫn với các thông tin khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị

đã dự kiến

Công cụ phân tích có hiệu quả cả trong quá trình nhận diện và phát hiện gian lận Nói riêng về phân tích để nhận diện gian lận, có thể kể đến những loại phân tích sau:

a Phân tích tỷ suất và xu hướng

Phân tích tỷ suất là việc tính toán các tỷ suất tài chính từ số liệu trên BCTC của DN, từ đó đưa ra các nhận xét, phán đoán hoặc kết luận Có hàng loạt các tỷ suất hữu ích đối với KTV như hệ thống tỷ suất đánh giá khả năng thanh toán, khả năng sinh lời, tỷ suất nợ, tỷ suất số vòng quay của các loại tài sản v v [4]

Phân tích xu hướng là quá trình phân tích để tìm hiểu sự biến động của các chỉ tiêu trên BCTC, có thể là biến động giữa năm nay và năm trước hoặc biến động qua nhiều năm, biến động các chỉ tiêu của DN so với các chỉ tiêu của hệ thống DN cùng ngành…[4]

Trang 33

Phân tích tỷ suất hoặc xu hướng hoặc kết hợp giữa phân tích tỷ suất và

xu hướng đều rất hữu ích trong việc nhận diện gian lận Kết quả phân tích nếu chỉ ra những bất thường, mâu thuẫn hoặc chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến đều khiến các KTV phải lưu ý, đặt nghi ngờ về khả năng có gian lận xảy

ra và từ đó có cơ sở cũng như định hướng để khoanh vùng và đi sâu tìm kiếm, phát hiện gian lận

b Phân tích các yếu tố bên ngoài và bên trong ảnh hưởng đến Doanh nghiệp

Loại hình phân tích thứ 2 được sử dụng trong nhận diện gian lận chính là phân tích các yếu tố bên ngoài và bên trong ảnh hưởng đến DN Nếu phân tích tỷ suất và xu hướng thuộc dạng phân tích thông tin tài chính thì đây được gọi là phân tích thông tin phi tài chính

Khi thực hiện kiểm toán BCTC, KTV phải có những hiểu biết cần thiết, đầy đủ về bản thân khách hàng, về môi trường hoạt động và tình hình kinh doanh nhằm đánh giá và phân tích được các sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của đơn vị, đưa ra các xét đoán chuyên môn, lập kế hoạch và thực hiện công việc một cách hiệu quả Đặc biệt đối với gian lận BCTC, phân tích

sơ bộ môi trường kinh doanh sẽ giúp KTV phán đoán và nhận diện được gian lận có thể phát sinh như thế nào và được thực hiện, che giấu ra sao, kèm theo

đó là sự dễ dàng hơn trong việc đánh giá các bằng chứng kiểm toán

Mức độ hiểu biết về đơn vị của KTV không nhất thiết phải như BGĐ của đơn vị được kiểm toán, nhưng vẫn phải nắm được đầy đủ những thông tin quan trọng và cần thiết các nhân tố bên ngoài và bên trong có ảnh hưởng đến đơn vị

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 310 “Hiểu biết về tình hình kinh doanh” có giới thiệu những nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến đơn vị, bao gồm: tình hình kinh tế, môi trường và lĩnh vực hoạt động, yếu tố luật pháp

Trang 34

Trên thực tế, có nhiều cách khác nhau để xác định các nhân tố ảnh hưởng và việc sử dụng các mô hình phân tích được xem là phương án hữu hiệu Hiện nay, có nhiều mô hình được sử dụng để phân tích các yếu tố bên ngoài và bên trong ảnh hưởng đến Doanh nghiệp Trong đó, tác giả nhận thấy

mô hình phân tích SWOT được cho là mô hình đơn giản nhưng khả năng ứng dụng cao, nhằm giúp KTV có thêm một công cụ hỗ trợ đắc lực trong việc phán đoán và nhận dạng gian lận trên BCTC

Vào những năm 1960 đến năm 1970, Viện Nghiên cứu Standford, Menlo Park, California đã tiến hành một cuộc khảo sát tại hơn 500 công ty có doanh thu cao nhất do Tạp chí Fortune bình chọn, nhằm mục đích tìm ra nguyên nhân vì sao nhiều công ty thất bại trong việc thực hiện kế hoạch Nhóm nghiên cứu gồm các nhà kinh tế học Marion Dosher, Ts Otis Benepe, Albert Humphrey, Robert F Stewart và Birger Lie đã đưa ra "Mô hình phân tích SWOT" nhằm mục đích tìm hiểu quá trình lập kế hoạch của doanh nghiệp, tìm ra giải pháp giúp các nhà lãnh đạo đồng thuận và tiếp tục thực hiện việc hoạch định, thay đổi cung cách quản lý

Công trình nghiên cứu này được thực hiện trong 9 năm, với hơn 5.000 nhân viên làm việc cật lực để hoàn thành bản thu thập ý kiến gồm 250 nội dung thực hiện trên 1.100 công ty, đơn vị Kết thúc, nhóm nghiên cứu này đã tìm ra 7 vấn đề chính trong việc tổ chức, điều hành doanh nghiệp hiệu quả Đã xác định ra "Chuỗi lôgíc", hạt nhân của hệ thống như sau:Values (Giá trị); Appraise (Đánh giá); Motivation (Động cơ); Search (Tìm kiếm); Select (Lựa chọn); Programme (Lập chương trình); Act (Hành động); Monitor and repeat steps 1, 2 and 3 (Giám sát và lặp lại các bước 1, 2 và 3)

Nhóm nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Standford cho rằng, nên bắt đầu bước thứ nhất bằng cách yêu cầu đánh giá ưu điểm và nhược điểm của doanh nghiệp Lãnh đạo doanh nghiệp nên bắt đầu hệ thống này bằng cách tự đặt câu

Trang 35

hỏi về những điều "tốt" và "xấu" cho hiện tại và tương lai Những điều "tốt" ở hiện tại là "Những điều hài lòng" (Satisfactory), và những điều "tốt" trong tương lai được gọi là "Cơ hội" (Opportunity); những điều "xấu" ở hiện tại là

"Sai lầm" (Fault) và những điều "xấu" trong tương lai là "Nguy cơ" (Threat) Công việc này được gọi là phân tích SOFT Năm 1964, nhóm nghiên cứu quyết định đổi chữ F thành chữ W và từ đó SOFT đã chính thức được đổi thành SWOT [38]

SWOT viết tắt cho các từ:

S: Strength - Điểm mạnh, ưu thế

W: Weakness - Điểm yếu, điểm khiếm khuyết

O: Opportunity - Cơ hội, thời cơ

T: Threat - Mối đe dọa, hiểm họa

SWOT tập trung vào hai lĩnh vực:

- Nội tại hay trong phạm vi công ty, DN (S điểm mạnh và W điểm yếu)

- Bên ngoài công ty, DN (O cơ hội và T mối đe dọa)

Đứng trên góc độ kiểm toán viên, 4 yếu tố của mô hình SWOT được phân tích như sau:

Điểm mạnh

Điểm mạnh là những tố chất nổi trội xác thực và rõ ràng Bao gồm:

- Trình độ chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm của BGĐ, Kế toán trưởng, các nhân viên…

- DN có mối quan hệ rộng và vững chắc với các cá nhân, tổ chức bên ngoài

- Nhân viên có trách nhiệm, sự tận tâm và niềm đam mê công việc, có khả năng phản ứng nhanh và nhạy bén với công việc

- Chiến lược kinh doanh hiệu quả

- Nguồn tài chính ổn định

Trang 36

- Khả năng cạnh tranh cao

- Thương hiệu mạnh

- Có dây chuyền sản xuất hiện đại và công nghệ cao

- Có quy mô, địa bàn hoạt động rộng v v

- Không có một chiến lược kinh doanh cụ thể và hiệu quả

- Đang nợ quá nhiều v v…

- Một dự án đầy hứa hẹn được giao phó

- Có một lượng lớn khách hàng tiềm năng

- Có thể đa dạng hóa sản phẩm v…v

Thách thức

Thách thức (các trở ngại), là những yếu tố gây ra các tác động tiêu cực cho sự nghiệp, mức độ ảnh hưởng của chúng còn tùy thuộc vào những hành động ứng biến Các thách thức hay gặp là:

- Sự gia tăng số lượng đối thủ cạnh tranh

Trang 37

- Giá cả đầu vào có thể tăng nhanh

- Thị trường thay đổi theo chiều hướng bất lợi

- Sự thay đổi nhanh chóng của tỷ giá và các chính sách liên quan v…v…

c Thuật toán kết hợp 3 chỉ số Z – Score, P – Score, M – Score

Như đã trình bày trong phần tổng quan tài liệu nghiên cứu, việc ứng dụng thuật toán kết hợp các chỉ số Z - Score , P - Score, M - Score được đề xuất bởi tác giả Igor Pustylnick (2009) mang đến độ chính xác cao trong việc

dự đoán khả năng BCTC có thao túng/ gian lận

Giới thiệu công thức tính toán các chỉ số Z - Score, P - Score, M - Score

và thuật toán kết hợp 3 chỉ số

i Chỉ số Z-Score

Theo tác giả các chỉ số dự đoán nguy cơ phá sản tại DN có mối liên hệ với khả năng DN thực hiện các thủ thuật gian lận trên BCTC Chỉ số Z - Score do Giáo Sư Edward I Altman, trường kinh doanh Leonard N Stern, thuộc trường Đại Học New York thiết lập, dựa vào việc nghiên cứu khá công phu trên số luợng nhiều công ty khác nhau tại Mỹ Mặc dù chỉ số Z này được phát minh tại Mỹ, nhưng hầu hết các nuớc, vẫn có thể sử dụng với độ tin cậy khá cao

Mô hình Z-Score đã sử dụng kỹ thuật phân tích đa biến – trong lĩnh vực phân tích chỉ số và xếp hạng phá sản được thực hiện bởi Beaver 1967 Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng bản chất của vấn đề và mục đích phân tích, Altman đã chọn phương pháp phân tích đa biệt thức (MDA – Multiple Discriminant Analysis) Mặc dù không được phổ biến như phương pháp phân tích hồi quy (regression analysis), MDA được sử dụng trong nhiều nghiên cứu từ khi được

áp dụng đầu tiên ở thập kỷ 30 của thế kỷ 20 Suốt những năm trước, MDA được sử dụng chủ yếu trong sinh vật học và khoa học nghiên cứu hành vi

Trang 38

Trong những năm gần đây, kỹ thuật này được sử dụng ngày càng phổ biến trong giới học thuật cũng như trong thực tiễn Altman đã thực hiện công trình nghiên cứu của mình dựa trên mẫu ban đầu là 66 công ty với 33 công ty ở mỗi nhóm: Nhóm phá sản (nhóm 1) là những công ty đã nộp đơn phá sản theo chương 10 của Luật Phá Sản Hoa Kỳ trong giai đoạn 1946 đến 1965; nhóm không phá sản (nhóm 2) bao gồm một mẫu ghép đôi các công ty được chọn

từ cơ sở phân loại ngẫu nhiên và chịu một số ràng buộc nhất định về giá trị tài sản, các công ty trong nhóm 2 vẫn còn hoạt động trong thời gian phân tích Đối với mẫu thử đầu tiên, dữ liệu được xây dựng từ các dữ liệu báo cáo tài chính kỳ hạn 1 năm báo cáo trước khi phá sản Dữa liệu được xây dựng từ sổ tay ngành của tổ chức Moody và từ các báo cáo được chọn lọc hằng năm Thời gian chết trung bình của các BCTC là 7 tháng rưỡi (thời gian giữa kết thúc năm và hoàn thành báo cáo – lead time) Trong các nghiên cứu trước, một danh sách gồm 22 chỉ số hữu ích được thu thập để đánh giá được chia thành 5 nhóm: nhóm chỉ số thanh khoản, nhóm chỉ số lợi nhuận, nhóm chỉ số đòn bẩy, nhóm chỉ số khả năng thanh toán và nhóm chỉ số hoạt động Từ danh sách 22 chỉ số này, 5 chỉ số đã được chọn vì chúng đã thể hiện tốt nhất trong việc liên kết dự đoán phá sản công ty Các chỉ số này không bao gồm tất cả các biến số quan trọng nhất được đo lường một cách độc lập Để đạt được tập hợp các biến số cuối cùng, các thủ tục sau đã được sử dụng: (1) quan sát mức

ý nghĩa thống kê của các chức năng thay thế khác nhau, bao gồm việc xác định phần đóng góp tương đối của các biến số độc lập; (2) đánh giá sự tương quan giữa các biến số có liên quan; (3) quan sát độ chính xác về mặt dự báo của các tập hợp biến; và (4) đánh giá của các chuyên gia.[11]

Chỉ số Z - Score được tính toán bởi công thức sau – đây là dạng thể hiện tiện nghi hơn của mô hình gốc giành cho nhóm các công ty đại chúng

5 4

3 2

1 1 , 4 * 3 , 3 * 0 , 6 * 1 , 0 *

* 2 ,

Trang 39

Bảng 1.2 Bảng đo lường các biến trong công thức Z – Score

Tên biến Đo lường

X1 Vốn lưu động/Tổng tài sản

X2 Lợi nhuận chưa phân phối/Tổng tài sản

X3 Lợi nhuận trước thuế và lãi vay/Tổng tài sản

X4 Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu/Tổng nợ

X5 Doanh thu thuần/Tổng tài sản

Sau quá trình tính toán chỉ số này ở các công ty đại chúng cho thấy giá trị càng thấp dưới mức điểm 2,99 thì tình hình tài chính của DN nằm trong vùng báo động và dưới mức 1,81 là nằm trong vùng nguy hiểm Một khi tình hình tài chính của DN gặp vấn đề thì nó sẽ thể hiện ngay trên BCTC, BCKQHĐKD, BCLCTT và điều này sẽ bị các nhà đầu tư và các bên liên quan phát hiện thông qua việc tính toán và phân tích các chỉ số tài chính Do

đó, buộc các DN phải thực hiện các thủ thuật gian lận để che giấu những vấn

đề liên quan đến tình hình tài chính làm cho BCTC đẹp hơn

Sau khi xây dựng mô hình, Altman đã tiến hành thử nghiệm nhiều lần dựa trên các mẫu công ty khác nhau trong khoản thời gian hơn 30 năm và kết luận rằng mô hình vẫn giữ được độ chính xác cao mặc dù được thiết lập từ năm 1968 [11]

ii Chỉ số P-Score

Chỉ số Z – Score của Altman được thiết lập để đánh giá tình hình tài chính tại doanh nghiệp Vì thế hai chỉ tiêu quan trong được sử dụng trong việc tích toán là: Vốn lưu động, và doanh thu thuần, những chỉ tiêu này được thể hiện rõ ràng trên BCĐKT, BCKQHĐKD của một doanh nghiệp trong kỳ Chỉ

số P -Score được tính toán dựa trên Công thức tính toán chỉ số Z - Score của Altman, công thức bổ sung này xem xét đến tính thực tế và phản ánh tốt hơn

Trang 40

những động thái của những sự thay đổi trong các khu vực có xảy ra gian lận nhiều nhất [23]

Chỉ số P - Score được tính bởi công thức sau:

5 4

3 2

1 1 , 4 * 3 , 3 * 0 , 6 * 1 , 0 *

* 2 ,

Bảng 1.3 Bảng đo lường các biến trong công thức P –Score

Tên biến Đo lường

X1 Vốn chủ sở hữu /Tổng tài sản

X2 Lợi nhuận chưa phân phối/Tổng tài sản

X3 Lợi nhuận trước thuế và lãi vay/Tổng tài sản

X4 Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu/Tổng nợ

X5 Doanh thu/Tổng tài sản

iii Chỉ số M-Score được tính bởi công thức sau:

Chỉ số M - Score là kết quả của mô hình nghiên cứu của Beneish (1999) trong việc dự đoán khả năng thao túng/ gian lận BCTC ở công ty niêm yết Nghiên cứu của Messod D Beneish (1999) đã xây dựng mô hình M – Score để phát hiện công ty có thao túng BCTC hay không Các biến trong mô hình được thiết kế nhằm nhận biết được những điểm không chính xác trong báo cáo tài chính xuất phát từ việc thao túng cũng như là các điều kiện tiên quyết có thể thúc đẩy công ty đi đến hành động gian lận như vậy Kết quả cho thấy một mối quan hệ có hệ thống giữa khả năng xảy ra sai lệch với các biến trong báo cáo tài chính Bằng chứng này phù hợp với mức độ hữu dụng của các dữ liệu kế toán trong việc phát hiện ra việc gian lận và đánh giá tính chân thực của lợi nhuận được báo cáo Beneish sử dụng mẫu bao gồm 74 công ty thao túng BCTC và tất cả các công ty trên Compustat được kết hợp bởi các số SIC hai chữ số mà dữ liệu có sẵn cho giai đoạn 1982 - 1992, sau đó tác giả sử dụng mô hình xác suất đơn vị dựa trên tỷ trọng của mẫu ngoại sinh

Ngày đăng: 28/11/2017, 10:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w