Mối quan hệ giữa chi phí sử dụng vốn và tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp theo lý thuyết cấu trúc vốn tối ưu 19 1.2... Với đặc điểm là một ngành đòi hỏi vốn lớn và phụ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
CAO THỊ ANH LÀI
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH DƯỢC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
CAO THỊ ANH LÀI
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH DƯỢC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG TÙNG
Đà Nẵng - Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Cao Thị Anh Lài
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiện cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 8
1.1 TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC VỐN 8
1.1.1 Khái niệm và các thành phần cấu trúc vốn 8
1.1.2 Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc vốn của doanh nghiệp 12
1.1.3 Khái niệm cấu trúc vốn tối ưu 13
1.1.4 Mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp 15
1.2 TÓM LƯỢC CÁC LÝ THUÊTS VỀ CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 19
1.2.1 Lý thuyết về cấu trúc vốn theo quan điểm truyền thống 19
1.2.2 Lý thuyết về cấu trúc vốn theo quan điểm hiện đại 20
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN 32
1.3.1 Quy mô doanh nghiệp 32
1.3.2 Cấu trúc tài sản 33
1.3.3 Hiệu quả hoạt động 33
1.3.4 Rủi ro doanh nghiệp 34
1.3.5 Sự tăng trưởng của doanh nghiệp 34
1.3.6 Đặc điểm riêng của tài sản doanh nghiệp 35
Trang 51.3.7 Một số nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến cấu trúc của doanh nghiệp
35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VỐN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC CÔNG TY DƯỢC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN TTCK VIỆT NAM 38
2.1 KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG DƯỢC PHẨM VÀ NGÀNH DƯỢC PHẨM VIỆT NAM 38
2.1.1 Thị trường Dược phẩm Châu Á 38
2.1.2 Ngành Dược phẩm Việt nam 39
2.2 THỰC TRẠNG VỀ CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH DƯỢC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN TTCK VIỆT NAM 41
2.2.1 Tỷ suất nợ 42
2.2.2 Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu 43
2.2.3 Cơ cấu các khoản nợ 45
2.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH DƯỢC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN TTCK VIỆT NAM 47 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 48
CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 49
3.1 MÔ HÌNH HỒI QUY NGHIÊN CỨU 49
3.2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 49
3.3 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 55
3.4 GIẢ THUYẾT VỀ MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CẤU TRÚC VỐN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN 56
3.4.1 Quy mô doanh nghiệp 56
3.4.2 Cấu trúc tài sản 57
3.4.3 Hiệu quả hoạt động 57
Trang 63.4.4 Rủi ro kinh doanh 59
3.4.5 Sự tăng trưởng của doanh nghiệp 59
3.4.6 Đặc điểm riêng của tài sản doanh nghiệp 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 62
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 63
4.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 63
4.1.1 Thống kê mô tả 63
4.1.2 Phân tích tương quan 64
4.1.3 Phân tích hồi quy tuyến tính bội giữa tỷ suất nợ và các nhân tố ảnh hưởng 66
4.2 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC VỐN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÔNG TY NGÀNH DƯỢC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN TTCK VIỆT NAM 77
4.3 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 78
4.3.1 Mục tiêu xây dựng cấu trúc vốn 78
4.3.2 Hàm ý chính sách xây dựng cấu trúc vốn cho các doanh nghiệp Dược phẩm niêm yết trên thị trường TTCK Việt Nam 79
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 85
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐKT : Bảng cân đối kế toán
BTROA : Hệ số biến thiên ROA
EBIT : Lợi nhuận trước thuế và lãi vay TTCK : Thị trường chứng khoán
GVHB : Tỷ lệ giá vốn hàng bán
ROA : Tỷ suất sinh lời tài sản
ROE : Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu TgTTS : Tăng trưởng tài sản
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Tỷ suất nợ bình quân từ 2010 đến 2014 của các công ty
ngành Dược phẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam 42
2.2
Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu bình quân từ từ 2010 đến
2014 của các công ty ngành Dược phẩm niêm yết trên
TTCK Việt Nam
44
3.1 Bảng kết quả kiểm tra tính chuẩn của các biến 52
3.2 Giả thuyết nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất
4.6 Giả thuyết và kết quả phân tích thực nghiệm sự ảnh
hưởng của các nhân tố trong mô hình đến cấu trúc vốn 76
Trang 9DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Số hiệu
1.1
Mối quan hệ giữa chi phí sử dụng vốn và tỷ suất nợ trên
vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp theo lý thuyết cấu
trúc vốn tối ưu
19
1.2 Mệnh đề I trong môi trường không có thuế 21
1.4 Cấu trúc vốn tối ưu khi có thuế và chi phí khốn khó tài
2.1 Tổng chi tiêu tiền thuốc năm 2009 – 2014 39 2.2 Thị trường nhập khẩu thuốc Việt Nam 2014 40 2.3 Cơ cấu nợ bình quân từ năm 2010 đến năm 2014 46
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết đề tài
Vốn là điều kiện không thể thiếu khi tiến hành thành lập doanh nghiệp
và hoạt động sản xuất kinh doanh Ở bất kỳ doanh nghiệp nào, vốn đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tăng lợi nhuận, tăng thêm giá trị doanh nghiệp, nhưng vấn đề là các doanh nghiệp phải làm thế nào để gia tăng thêm giá trị cho vốn Việc huy động vốn đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nhưng mặt khác doanh nghiệp có thể gánh chịu những rủi ro
về mặt tài chính Do vậy mỗi doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một cấu trúc vốn hợp lý Đặc biệt trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, các doanh nghiệp nói chung và các công ty cổ phần Việt Nam nói riêng đã và đang đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn bao giờ hết Do vậy, vấn đề chủ động lựa chọn một cơ cấu tài trợ hợp lý giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay nhằm tối thiểu hoá chi phí sử dụng vốn và các rủi
ro về cơ cấu tài chính góp phần thực hiện mục tiêu cơ bản tối đa hoá lợi nhuận đối với các công ty cổ phần Việt Nam càng trở nên cấp thiết
Mỗi ngành đều có những đặc thù riêng, cấu trúc vốn đặc trưng riêng Vì vậy, nghiên cứu cấu trúc vốn để thấy được đặc trưng và những nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của một ngành cụ thể là thật sự cần thiết
Hiện nay, khi đời sống xã hội ngày càng phát triển, chăm sóc sức khỏe con người ngày càng được nhiều người quan tâm Đó là tiền đề để ngành Dược phẩm phát triển Tuy nhiên, sự phát triển của thị trường này còn nhiều bất cập và khó khăn, nhất là nhu cầu về vốn Với đặc điểm là một ngành đòi hỏi vốn lớn và phụ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn vay, trong khi tín dụng thì ngày càng bị thắt chặt và mặt bằng lãi suất cho vay lại cao, các công ty
cổ phần ngành Dược phẩm cần tìm ra một cấu trúc vốn sao cho tối đa hoá được lợi nhuận và gia tăng giá trị doanh nghiệp
Trang 11Với những lí do đó, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu cấu trúc
vốn của các doanh nghiệp Dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ nhằm đóng góp vào công cuộc phát
triển các công ty cổ phần ngành Dược phẩm trong thời kỳ hội nhập
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về cấu trúc vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp
- Nghiên cứu đặc trưng cấu trúc vốn và các nhân tố có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty cổ phần ngành Dược phẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện cấu trúc vốn cho các công ty cổ phần ngành Dược phẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cấu trúc vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty cổ phần ngành Dược phẩm niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về thời gian
Số liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu được lấy từ Báo cáo tài chính
đã qua kiểm toán của các công ty cổ phần ngành Dược phẩm niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam trong 05 năm 2010, 2011, 2012, 2013 và
2014
+ Phạm vi về nội dung
Luận văn tập trung nghiên cứu về cấu trúc vốn và các nhân tố ảnh hưởng cấu trúc vốn của các công ty cổ phần ngành Dược phẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam
+ Phạm vi về không gian
Trang 12Luận văn nghiên cứu 20 công ty ngành Dược phẩm niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam trong 05 năm từ 2010-2014 Tổng số quan sát
là 100
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích, so sánh số liệu, phương pháp thống kê để xây dựng hàm hồi quy nhằm đánh giá tác động của biến độc lập đến biến phụ thuộc Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phần mềm Microsoft Office Excel và phần mềm SPSS 19.0 hỗ trợ nghiên cứu
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về cấu trúc vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp
Chương 2: Đặc điểm cấu trúc vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty ngành Dược phẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách
6 Tổng quan tài liệu nghiện cứu
"Các lý thuyết kinh điển về cấu trúc vốn của doanh nghiệp" Từ khi lý
thuyết của Modigliani và Miller (1958, 1963) ra đời đã có những đóng góp vào mục đích giải thích các quyết định tài trợ của các nhà quản lý Trong khoảng thời gian không xa lý thuyết cân đối đã được hình thành (1976), và sau đó lý thuyết trật tự phân hạng của Myer ra đời (1984) để giải thích sự lựa chọn cấu trúc vốn Sau khi Modigliani và Miller kết luận sự không phù hợp dưới các giả định nghiêm ngặt, các lý thuyết đến sau được đưa vào để giải thích sự lựa chọn cấu trúc vốn của các công ty
"Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh
Trang 13nghiệp niêm yết Trung Quốc" Mẫu nghiên cứu bao gồm 1.230 doanh nghiệp
niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồng Kông từ năm 2005 - 2010 Hồi quy theo phương pháp bình phương bé nhất (OLS) Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có năm biến độc lập có ý nghĩa về mặt thống kê bao gồm: quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, rủi ro kinh doanh và tắm chắn thuế Khả năng sinh lời Rủi ro kinh doanh, tấm chắn thuế và tính thanh khoản có tương quan thuận với đòn bẩy tài chính Còn quy mô doanh nghiệp có quan hệ nghịch với đòn bẩy tài chính Cơ hội tăng trưởng và tài sản hữu hình không có
ý nghĩa thống kê
" Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh
nghiệp niêm yết Ai Cập" tác giả Mary Hany A.K Dawood và công sự (2011)
Đề tài nghiên cứu 37 doanh nghiệp phi tài chính năm 1999 - 2007 Hồi quy theo phương pháp tác động ngẫu nhiên (GLS) và phương pháp phân tích phương sai ANOVA nhằm xác định nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc doanh nghiệp nghiên cứu Kết quả cho thấy khả năng sinh lời, tính thanh khoản, rủi
ro kinh doanh có quan hệ ngược chiền đòn bẩy tài chính, trong khi đó quy mô doanh nghiệp và tỷ lệ tăng trưởng có quan hệ cùng chiều với đòn bẩy tài chính Ngoài ra, ngành công nghiệp cũng ảnh hưởng đến cấu trúc vốn, cấu trúc vốn của các doanh nghiệp thuộc các nghành khác nhau sẽ có sự khác biệt
do ảnh hưởng của đặc điểm từng ngành Nhìn chung, có bằng chứng cho thấy rằng các doánh nghiệp niêm yết ở Ai Cập có khuynh hướng xây dựng cấu trúc vốn phù hợp với lý thuyết trật tự phân hạng
" Phân tích nhân tố ảnh hưởng cấu trúc vốn của các công ty Dược
phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" của tác giả Lê Thị Kim
Thư (2012), tác giả sử dụng số liệu của 13 công ty ngành Dược phẩm niêm
yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong 5 năm 20007 -2011 Kết quả
nghiên cứu cho thấy có 7 biến có mối qua hệ tương quan với đòn bẩy tài
Trang 14chính bao gồm: Khả năng sinh lời, cấu trúc tài sản, quy mô doanh nghiệp, tăng trưởng doanh nghiệp, hiệu quả họat động, đặc điểm riêng của sản phẩm,
tỷ lệ vốn sở hữu Nhà nước Tác giả nghiên cứu được biến tăng trưởng của doanh nghiệp có quan hệ tỷ lệ thuận với tỷ số nợ Biến quy mô doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động, đặc điểm riêng tài sản có quan hệ nghịch với tỷ suất nợ Biến rủi ro kinh doanh, câu trúc tài sản, tỷ lệ sở hữu không ảnh hưởng đến tỷ suất nợ Tuy nhiên đề tài còn vài hạn chế: Đề tài phân tích số liệu trong 5 năm 2007-2011 nên độ dài thời gian chưa đủ lớn để đánh giá xu thế phát triển của doanh nghiệp dựa trên các chỉ tiêu phân tích Bên cạnh đó, do mẫu nghiên cứu chỉ hạn chế ở 13 công ty nên kết quả nghiên cứu chỉ chính xác ở một chừng mực nhất định
"Nghiên cứu cấu trúc vốn của các công ty ngành Dược phẩm giai đoạn
2006 - 2011 và giải pháp lựa chọn cấu trúc vốn hợp lý." của tác giả Phạm
Khánh Dương Tác giả cho thấy có bốn yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến cấu trúc vốn: Tính thanh khoản, hiệu quả hoạt động, tài sản hữu hình và thuế đều tác động ngược chiều đến cấu trúc vốn Trong đó tính thanh khoản ảnh hưởng quan trọng nhất Quy mô doanh nghiệp và đặc điểm riêng sản phẩm không có
ý nghĩa nhiều về mặt thống kê
Hạn chế đề tài hạn chế về thu thập số liệu nên không thể đưa hết các nhân tố vào mô hình để đánh giá đặc biệt là nhân tố thuộc về yếu tố môi trường
“Phân tích các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Việt Nam” của tác giả Lê Ngọc Trâm (2010) dưới sự hướng dẫn của PGS.TS
Nguyễn Thị Ngọc Trang, tác giả sử dụng số liệu của 177 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong 04 năm từ 2005-2008 và không bao gồm các định chế tài chính như ngân hàng, công ty bảo hiểm hay các công ty chứng khoán và các quỹ đầu tư Bằng phương pháp ước lượng
Trang 15OLS, tác giả đã xác định sự ảnh hưởng của 10 nhân tố đến cấu trúc vốn của
177 công ty là đòn bẩy hoạt động (FA), tốc độ tăng trưởng (GRO), tính thanh khoản (LIQ), tỷ suất sinh lời tổng tài sản (ROA), quy mô doanh nghiệp (SIZE), vốn nhà nước (STATE), tỷ trọng tài sản hữu hình (TANG), thuế suất biên tế (TAX), đặc điểm riêng của sản phẩm (UNI) và rủi ro kinh doanh (VOL) đến tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản (LEV), tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản (STD) và tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản (LTD) Và kết quả hồi quy cho thấy, có 08 nhân tố tác động đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp (có ý nghĩa thống kê ở mức 1% và 5%) Hai biến còn lại là tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp và rủi ro kinh doanh không gây tác động đến đòn bẩy tài chính.[10]
Tổng hợp các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam
Tuy nhiên, trong nghiên cứu này tác giả không khắc phục hiện tượng đa cộng tuyến mà giữ nguyên các biến khi chạy mô hình hồi quy dù một số cặp biến có tương quan khá lớn Điều này làm hạn chế sự chính xác của mức độ ảnh hưởng của các biến giải thích đến tỷ suất nợ
Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, cấu trúc vốn của các công ty có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau như quy mô doanh nghiệp, cấu trúc tài sản, hiệu quả kinh doanh, cơ cấu sở hữu, thuế, ngành nghề kinh doanh,… Đây là cơ sở cho nghiên cứu của tác giả trong đề tài này
Nhìn chung, đa số các nghiên cứu kể trên đều chỉ ra những điểm chung cho tất cả các doanh nghiệp Tuy nhiên, mỗi ngành đều có những đặc thù
Trang 16riêng, cấu trúc vốn đặc trưng riêng Trong đề tài này tác giả đã kế thừa một số kết quả nghiên cứu của những tác giả trước đó để nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty ngành Dược phẩm Dữ liệu được thu thập có đặc điểm chung là không tuân theo quy luật phân phối chuẩn Do
đó, trong đề tài sẽ trình bày rõ ràng phương pháp chứng minh dữ liệu không tuân theo phân phối chuẩn dựa vào thủ tục Explore trong phần mềm SPSS 19.0 và xử lý số liệu không theo phân phối chuẩn bằng cách dùng phương pháp lấy logarit cơ số 10, đồng thời, sẽ khắc phục hiện hượng đa cộng tuyến
để kết quả nghiên cứu không bị lệch và chính xác hơn
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC VỐN
1.1.1 Khái niệm và các thành phần cấu trúc vốn
a Khái niệm cấu trúc vốn:
Khái niệm cấu trúc trong nghĩa chung nhất là đề cập đến các bộ phận cấu thành và mối liên hệ của chúng trong tổng thể, quá trình vận động và sự tương tác giữa các bộ phận cấu thành quy định bản chất của tổng thể đó Đề cập đến bộ phận cấu thành của tổng thể là đề cập đến vai trò, chức năng của
nó trong tổng thể, thể hiện qua tính chất và mức độ tác động của bộ phận đến tổng thể
Vốn trong một doanh nghiệp thể hiện nguồn lực tài chính bên trong của doanh nghiệp bao gồm vốn góp từ chủ sở hữu, từ nguồn lợi nhuận hoạt động
để lại của doanh nghiệp và các nguồn lực bên ngoài từ các nhà đầu tư bên ngoài có thể là nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội, các tổ chức tín dụng (ngân hàng, các quỹ tín dụng,…), các nhà đầu tư tư nhân,…
Trong các tài liệu liên quan đến vốn tác giả thường đề cập đến thuật ngữ cấu trúc vốn và cấu trúc tài chính Thuật ngữ cấu trúc tài chính được sử dụng phổ biến bởi các nhà kinh tế người Pháp, còn các nhà kinh tế người Mỹ thường sử dụng thuật ngữ cấu trúc vốn Một số quan điểm gần như đồng nhất hai khái niệm này nhưng cũng có một số quan điểm thể hiện sự không đồng nhất
Theo M.Dubois một giáo sư chuyên nghiên cứu về tài chính doanh nghiệp của đại học Pierre Mendes France: “Cấu trúc tài chính là quan hệ giữa các nguồn vốn được sử dụng bởi doanh nghiệp, đó là nguồn vốn chủ sở hữu
và nợ”
Trang 18Theo S.C.Myers: “Cấu trúc tài chính là một khái niệm được dùng để phản ánh mối quan hệ tính bằng tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình”
Theo M.Albouy một trong những giáo sư hàng đầu của Pháp: “Cấu trúc tài chính của doanh nghiệp được hiểu là quan hệ tỷ lệ giữa toàn bộ nợ kể cả các khoản nợ phát sinh trong kinh doanh và vốn chủ sở hữu được tính từ bảng cân đối kế toán”
Hay hiểu một cách chung nhất, cấu trúc tài chính là quan hệ tỷ lệ giữa toàn bộ nợ phải trả và vốn chủ sở hữu được tính từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp
Đi kèm với thuật ngữ cấu trúc tài chính, cấu trúc vốn được một số nhà kinh tế đưa ra khái niệm như sau:
Theo Bertoneche và Teulie: “Cấu trúc tài chính doanh nghiệp là quan
hệ tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu phục vụ cho quá trình tài trợ của doanh nghiệp, còn cấu trúc vốn được hiểu là quan hệ tỷ lệ giữa nợ trung và dài hạn
và vốn chủ sở hữu” Khái niệm này được sử dụng phổ biến bởi các tác giả người Mỹ cũng như người Pháp
Một quan điểm khác cũng cho rằng: “Cấu trúc tài chính được hiểu là sự kết hợp của nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư của một doanh nghiệp Trong khi
đó, cấu trúc vốn chỉ là sự kết hợp giữa nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn,
cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường”
Như vậy, từ các quan điểm trên ta có thể hiểu cấu trúc vốn là một phần của cấu trúc tài chính, nó bằng cấu trúc tài chính trừ nợ ngắn hạn Hay cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ và vốn cổ phần trong tổng nguồn vốn dài hạn
mà doanh nghiệp có thể huy động được để tài trợ cho các dự án đầu tư
Tuy nhiên, do đặc thù của công ty Việt Nam là sử dụng nhiều nợ ngắn
Trang 19hạn, đặc biệt là trong ngành Dược phẩm các công ty thường sử dụng nợ ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn Do đó, đề tài này tác giả sẽ nghiên cứu cấu trúc vốn theo quan điểm: Cấu trúc vốn của doanh nghiệp là quan hệ tỷ lệ giữa toàn bộ nợ phải trả và vốn chủ sở hữu được tính từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp
b Thành phần cấu trúc vốn
Thành phần cơ bản trong cấu trúc vốn gồm 2 bộ phận chủ yếu là nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu Tính chất của 2 nguồn này hoàn toàn khác nhau về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp
* Nguồn vốn chủ sở hữu: Là số tiền do các nhà đầu tư, các sáng lập viên đóng góp hoặc được hình thành từ kết quả hoạt động Đây không phải là một khoản nợ và do đó công ty không có trách nhiệm phải thanh toán Với những loại hình công ty khác nhau, vốn chủ sở hữu được hình thành khác nhau và gồm 3 loại sau:
- Vốn điều lệ: Là số tiền do các thành viên sáng lập đóng góp ban đầu khi thành lập Đây chính là vốn được ghi trong điều lệ công ty
Riêng đối với các công ty cổ phần, nguồn vốn chủ yếu do các cổ đông đóng góp dưới hình thức mua cổ phiếu phát hành của công ty Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị số cổ phần mà họ nắm giữ Đây không phải là khoản nợ nên các công ty cổ phần được toàn quyền sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh mà không phải cam kết và ràng buộc về nghĩa vụ thanh toán Chính từ đặc điểm này cho thấy mức độ tự chủ trong sản xuất kinh doanh của các công ty cổ phần phụ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn này, vốn góp cổ phần càng lớn thì mức độ tự chủ về vốn trong sản xuất kinh doanh càng cao
- Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia: Là phần thu nhập của công ty được cổ đông đồng ý cho công ty giữ lại để tái đầu tư thay vì nhận cổ tức
Trang 20Đây là nguồn vốn rất chủ động và thuận tiện cho công ty Tuy nhiên, công ty phải cam kết trả cho cổ đông lãi suất cao hơn cổ tức hiện tại
- Nguồn vốn từ phát hành thêm cổ phiếu: Các doanh nghiệp có thể tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành thêm cổ phiếu mới Đây chính là kênh huy động vốn rất quan trọng trong chiến lược tài trợ dài hạn của các doanh nghiệp Các công ty cổ phần có thể phát hành cổ phiếu thông qua thị trường chứng khoán Khi phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, các công
ty cổ phần niêm yết các thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả kinh doanh và các thông tin khác để nhà đầu tư có thể đánh giá được triển vọng của công ty trong tương lai Trong trường hợp không đủ điều kiện phát hành chứng khoán trên thị trường, công ty có thể phát hành cổ phiếu trực tiếp cho các cổ đông là những người có quan hệ mật thiết với công ty như cán bộ công nhân viên hay là các đối tác thường xuyên của công ty
- Vốn chủ sở hữu khác: Bao gồm các nguồn vốn và các quỹ chuyên dùng được hình thành chủ yếu từ việc phân phối lợi nhuận, bao gồm: quỹ đầu
tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản, chênh lệch tỷ giá hối đoái…
* Nợ phải trả: Là số vốn vay, vốn chiếm dụng của các tổ chức, cá nhân
mà đơn vị có nghĩa vụ phải thanh toán Nợ phải trả được phân loại theo thời hạn thanh toán, gồm có:
- Nợ ngắn hạn: Là các khoản nợ có thời hạn thanh toán dưới 1 năm
Nợ ngắn hạn thường bao gồm: Vay ngắn hạn ngân hàng, khoản phải trả nhà cung cấp hay còn gọi là tín dụng nhà cung cấp, các khoản phải nộp cho cơ quan quản lý nhà nước, các khoản phải trả cán bộ công nhân viên, trái phiếu ngắn hạn
- Nợ dài hạn: Là các khoản nợ có thời hạn thanh toán trên 1 năm Nợ dài hạn là nguồn vốn dài hạn quan trọng của công ty Nợ dài hạn gồm có: Vay
Trang 21dài hạn ngân hàng, thuê tài sản, phát hành trái phiếu dài hạn
1.1.2 Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc vốn của doanh nghiệp
Xuất phát từ khái niệm trên cho thấy, cấu trúc vốn thể hiện chính sách tài trợ của doanh nghiệp nên khi phân tích cấu trúc vốn cần xem xét khả năng
sử dụng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp hay phải sử dụng nguồn vốn từ bên ngoài doanh nghiệp Có nhiều chỉ tiêu thể hiện khả năng này, việc lựa chọn chỉ tiêu nào tùy thuộc vào ý nghĩa mà chỉ tiêu đó mang lại cho người sử dụng và phù hợp với mục tiêu cần xem xét Các chỉ tiêu được sử dụng phổ biến là chỉ tiêu tỷ suất nợ và tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu
Tỷ suất nợ = Nợ phải trả * 100%
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa nợ phải trả và tổng tài sản Nó cho biết mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bằng các khoản nợ, nghĩa là cho biết bao nhiêu phần trăm tài sản của doanh nghiệp được hình thành bằng
nợ phải trả Khi tỷ suất nợ càng cao thì mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào chủ nợ càng lớn và khả năng tiếp nhận các khoản vay nợ càng khó một khi doanh nghiệp không thanh toán kịp thời các khoản nợ và hiệu quả hoạt động kém Đối với các chủ nợ tỷ suất này càng cao thì khả năng thu hồi vốn cho các khoản nợ của họ càng giảm vì giá thực tế khi thanh lý tài sản sẽ nhỏ hơn giá ghi sổ của tài sản nếu chủ nợ phải bán để thu hồi vốn Do vậy, các chủ
nợ thường thích những doanh nghiệp có tỷ suất nợ thấp Đây là một trong các chỉ tiêu để các nhà đầu tư đánh giá rủi ro và cấp tín dụng cho doanh nghiệp
Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu = Nợ phải trả * 100%
Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu hay còn gọi là đòn cân nợ thể hiện mức độ đảm bảo nợ bởi vốn chủ sở hữu, phản ánh tính tự chủ tài chính, năng lực tài chính, khả năng chủ động của doanh nghiệp về nguồn vốn kinh
Trang 22doanh Khi chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 nghĩa là các khoản nợ phải trả nhỏ hơn vốn chủ sở hữu lúc đó doanh nghiệp còn chủ động về vốn kinh doanh Ngược lại, khi chỉ tiêu này lớn hơn 1 thì khả năng thanh toán các khoản nợ giảm, doanh nghiệp khó tự chủ về tài chính, tình trạng phá sản dễ xảy ra, hiệu ứng đòn cân
nợ giảm
Khi phân tích các chỉ tiêu này chúng ta cần sử dụng số liệu trung bình ngành hoặc dựa vào đặc điểm ngành đối với doanh nghiệp Điều đáng lưu ý là khi tính toán các chỉ tiêu ta nên sử dụng giá trị sổ sách hay giá trị thị trường của nợ và vốn chủ sở hữu Các ý kiến ủng hộ việc sử dụng giá trị sổ sách là chi phí chủ yếu của việc đi vay mượn chính là chi phí khốn khó tài chính dự
tính (The Expected Cost of Financial Distress) trong trường hợp công ty bị
phá sản và giá trị liên quan đến nghĩa vụ của con nợ là giá trị sổ sách của khoản nợ chứ không phải giá trị thị trường của nợ vay Các ý kiến ủng hộ việc
sử dụng giá trị thị trường cho rằng giá trị thị trường cuối cùng mới là giá trị thực của công ty Cần lưu ý rằng, có khả năng một công ty có thể có giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu âm trong khi đó giá trị thị trường vẫn là dương, bởi
vì giá trị sổ sách âm phản ánh các khoản lỗ trước đó, trong khi đó giá trị thị trường dương phản ánh kỳ vọng về dòng tiền trong tương lai của công ty Tuy các chỉ tiêu tính theo giá trị thị trường chỉ ra tình trạng tài chính của doanh nghiệp một cách chính xác nhưng nó có tính chất lý thuyết và khó áp dụng ở Việt Nam
1.1.3 Khái niệm cấu trúc vốn tối ưu
Cấu trúc vốn của doanh nghiệp đứng trên góc độ quản lý nguồn vốn là
tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu Một cấu trúc vốn được coi là tối ưu khi chi
phí sử dụng vốn trung bình (WACC – Weighted Average Cost of Capital) thấp
nhất, đồng thời khi đó, giá trị doanh nghiệp đạt được là lớn nhất Tùy vào từng ngành nghề, từng giai đoạn phát triển mà doanh nghiệp sẽ lựa chọn một
Trang 23cấu trúc vốn hợp lý để đảm bảo sự cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro vì sử dụng nhiều nợ làm gia tăng rủi ro nhưng tỷ lệ nợ cao lại đưa đến lợi nhuận kỳ vọng cao Việc xác định cấu trúc vốn tối ưu không phải là một kết quả duy nhất mà thay đổi tùy theo các yếu tố tác động và tùy vào điều kiện cụ thể sẽ tương tác tạo nên một kết quả tương ứng
Vấn đề cốt lõi của cấu trúc vốn tối ưu là khi doanh nghiệp vay nợ, doanh nghiệp tận dụng được lợi thế của lá chắn thuế từ nợ vay, bản chất của vấn đề này là lãi suất mà doanh nghiệp trả cho nợ được miễn thuế (thuế được đánh sau lãi vay) Một cách đơn giản ta có thể hình dung là giá trị của doanh nghiệp khi vay nợ sẽ bằng giá trị của doanh nghiệp không vay nợ cộng với hiện giá của lá chắn thuế từ nợ Trong trường hợp đặc biệt, khi doanh nghiệp vay nợ vĩnh viễn thì hiện giá của tấm chắn thuế sẽ bằng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp nhân với nợ vay
Mặt trái của vay nợ là vay càng nhiều nợ thì sẽ xuất hiện chi phí kiệt quệ tài chính và “một lúc nào đó” hiện giá của chi phí kiệt quệ tài chính sẽ làm triệt tiêu hiện giá của lá chắn thuế từ nợ vay
Ngoài ra, khi quyết định bổ sung nguồn vốn kinh doanh, doanh nghiệp
cần thiết hoạch định cấu trúc vốn mục tiêu (Target Capital Structure) Cấu
trúc vốn mục tiêu là sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của công ty theo mục tiêu đề ra Mục tiêu chung của quyết định phương
án tài trợ vốn là đạt được chi phí vốn rẻ nhất Cơ cấu vốn mục tiêu là cơ cấu
mà một công ty thường xuyên sử dụng khi quyết định bổ sung nguồn vốn kinh doanh Thực tế, cơ cấu vốn của doanh nghiệp có thể dao động quanh cơ cấu mục tiêu vì hai lý do Thứ nhất, lãnh đạo doanh nghiệp có thể khai thác tình huống cụ thể Chẳng hạn, sự tăng giá cổ phiếu tạm thời sẽ tạo ra cơ hội vàng cho công ty phát hành cổ phiếu và tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu Thứ hai,
do giá thị trường của cổ phiếu và trái phiếu công ty luôn biến động, dẫn đến
Trang 24cơ cấu vốn thực tế lệch khỏi cơ cấu vốn mục tiêu
Tóm lại, trong một nền tài chính dựa trên hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán chưa phát triển ổn định như hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam cần có tầm nhìn dài hạn bằng cách xây dựng cho mình một cơ cấu vốn mục tiêu, nhưng phải linh hoạt tận dụng những cơ hội của thị trường để huy động nguồn vốn rẻ nhất Đặc biệt, một cấu trúc vốn tối ưu luôn là mong muốn của các doanh nghiệp để tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Vậy giá trị doanh nghiệp có quan hệ thế nào với cấu trúc vốn?
1.1.4 Mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp
Giá trị của một doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả các khoản thu nhập mà doanh nghiệp mang lại cho các nhà đầu tư trong quá trình hoạt động kinh doanh Được đo lường bằng giá trị của toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm đánh giá sau khi trừ đi các khoản nợ phải trả,
có thể xác định theo giá thị trường hoặc theo giá sổ sách, được thể hiện bằng công thức:
Giá trị doanh nghiệp = Tổng tài sản - Nợ phải trả
Như vậy, giá trị doanh nghiệp là giá trị tài sản thuộc quyền sở hữu của các chủ sở hữu doanh nghiệp Hoặc ta có thể xác định giá trị doanh nghiệp theo quan điểm vận động của đồng vốn với kỳ vọng gia tăng giá trị doanh nghiệp tức là gia tăng vốn chủ sở hữu được thể hiện như sau:
Tại thời điểm đầu tư hay bắt đầu một kỳ hoạt động của doanh nghiệp, giá trị của doanh nghiệp được xác định:
Vốn chủ sở hữu (V E ) = Tổng tài sản (V) - Nợ phải trả (D)
Sau một kỳ hoạt động, tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp là V 1 Nhà
đầu tư với tư cách là chủ nợ đạt được giá trị kỳ vọng là D(1+k d ), trong đó k d
Trang 25là lãi suất vay nợ Nhà đầu tư với tư cách là chủ sở hữu kỳ vọng vào một sự
gia tăng giá trị của doanh nghiệp là V E + V E k E , trong đó V E k E là giá trị kỳ vọng tăng thêm của vốn chủ sở hữu, kE là tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu
Như vậy:
Giá trị doanh nghiệp = V 1 – D(1+k d ) = V E + V E k E
Giá trị kỳ vọng của các chủ nợ không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp nên có tính cố định và khả năng đạt được cao do doanh nghiệp có trách nhiệm phải trả cho chủ nợ ngoại trừ những rủi ro bất khả kháng hay phá sản Còn giá trị doanh nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, được thể hiện bằng chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Việc sử dụng nợ của doanh nghiệp có thể làm tăng hoặc giảm tỷ suất sinh lời VCSH, từ đó làm tăng hoặc giảm giá trị doanh nghiệp, đây chính là hiệu ứng đòn bẩy tài chính
Thực chất, đòn bẩy tài chính thể hiện cấu trúc vốn của doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại Trong kinh doanh, đòn bẩy tài chính là một công cụ để gia tăng tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu Nó liên quan đến việc thay thế các khoản nợ vay có chi phí lãi vay cố định cho vốn chủ sở hữu với hi vọng làm gia tăng tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu Nhưng không phải lúc nào đòn bẩy tài chính cũng ảnh hưởng tích cực đến tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu Nếu lợi nhuận hoạt động thấp hơn giá trị cần thiết thì đòn bẩy tài chính làm giảm tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu Sau đây là hiệu ứng đòn bẩy tài chính đối với tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, ta ký hiệu như sau:
EBIT : Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
t : Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
D.k d : Chi phí lãi vay
Trang 26k d : Lãi suất vay nợ
k : Tỷ suất sinh lời vốn đầu tư
k d ’ =(1-t).k d : Lãi suất vay sau thuế
V E : Vốn chủ sở hữu
k E : Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu
k E = Lợi nhuận sau thuế
=
E d
t k D V
t EBIT( 1 ) ( 1 )
k E=
E d
E E
E
V
k D V
D V
V D
t EBIT
'
.
) 1 (
V D
t EBIT
E
) 1 (
kE =
E d E
E
V
k D V
V D k
'
.
E d
V
D k k
k ( ' )
Qua công thức trên, chúng ta sẽ xem xét tác động của đòn bẩy tài chính
lên ROE tùy thuộc vào độ lớn của k và k d ’ Trong đó, k được xem là suất sinh
lời mà doanh nghiệp có được trước khi xem xét các tác động của đòn bẩy tài chính Xét các trường hợp sau:
+ Không vay nợ: Tức là D = 0, lúc đó k E = k hay tỷ suất sinh lời VCSH
bằng tỷ suất sinh lời vốn đầu tư
+ Có vay nợ: Tức là D > 0, lúc đó
E d E
V
D k k k
Khi k > k d ’ tức là tỷ suất sinh lời vốn đầu tư lớn hơn lãi suất vay nợ sau
thuế Lúc đó, k - k d ’ > 0 k E > k hay tỷ suất sinh lời VCSH lớn hơn tỷ suất
sinh lời vốn đầu tư Đây là tác dụng làm tăng tỷ suất sinh lời VCSH hay làm
Trang 27tăng giá trị doanh nghiệp của đòn bẩy tài chính
Khi k < k d ’ tức là tỷ suất sinh lời vốn đầu tư nhỏ hơn lãi suất vay nợ sau
thuế Lúc đó, k - k d ’ < 0 k E < k hay tỷ suất sinh lời VCSH nhỏ hơn tỷ suất
sinh lời vốn đầu tư Đây là tác dụng làm giảm tỷ suất sinh lời VCSH hay làm giảm giá trị doanh nghiệp của đòn bẩy tài chính
Do đó, khi sử dụng nợ vấn đề cần quan tâm là hiệu số k - k d ’, mục tiêu
của nhà quản trị là hướng đến một hiệu số dương
Như vậy, nghiên cứu cấu trúc vốn là nghiên cứu chính sách tài trợ của doanh nghiệp thể hiện qua chỉ tiêu tỷ suất nợ và nghiên cứu sự tác động của các nhân tố đến việc sử dụng nợ của doanh nghiệp thế nào trong quá trình huy động và sử dụng vốn để hướng tới mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp phụ thuộc vào tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu Hiệu ứng của đòn bẩy tài chính tác động đến tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu phụ thuộc vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp, trong trường hợp hiệu quả tốt đòn bẩy sẽ làm tăng và ngược lại sẽ làm giảm tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu, qua đó làm tăng hoặc
giảm giá trị doanh nghiệp với một mức tăng hoặc giảm bằng:
E d
V
D k
( '
Quan hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp đã được nhiều nhà kinh tế trên thế giới quan tâm nghiên cứu và đưa ra các quan điểm cụ thể Các quan điểm đó sẽ được trình bày trong phần các lý thuyết về cấu trúc vốn tiếp theo
Trang 281.2 TÓM LƯỢC CÁC LÝ THUÊTS VỀ CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Lý thuyết về cấu trúc vốn theo quan điểm truyền thống
Lý thuyết này cho rằng có một cấu trúc vốn tối ưu, với cấu trúc vốn này
có thể gia tăng giá trị doanh nghiệp bằng cách sử dụng tỷ số đòn bẩy tài chính phù hợp Theo cách tiếp cận này, doanh nghiệp trước tiên có thể hạ thấp chi phí sử dụng vốn thông qua việc gia tăng sử dụng nợ Khi doanh nghiệp sử dụng nợ thì chi phí trả lãi vay được ghi nhận vào chi phí trước thuế nên làm giảm thu nhập chịu thuế, từ đó doanh nghiệp tiết kiệm được một khoản thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp và lợi nhuận sau thuế tăng lên
Tuy nhiên, việc gia tăng mức độ sử dụng nợ cùng chiều với gia tăng rủi
ro và gia tăng suất sinh lợi yêu cầu đến một lúc nào đó thì lợi ích của việc tiết kiệm thuế không bù đắp cho việc gia tăng của chi phí sử dụng vốn bình quân khiến cho lợi ích của việc sử dụng nợ không còn nữa Toàn bộ quá trình được diễn ra như sau:
Đồ thị 1.1 Mối quan hệ giữa chi phí sử dụng vốn và tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp theo lý thuyết cấu trúc vốn tối ưu
Chi phí sử dụng vốn
Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu
Trang 29- Cấu trúc vốn không có nợ hoàn toàn là 100% VCSH thì chi phí sử dụng vốn bình quân cũng chính là chi phí sử dụng VCSH (WACC = kE)
- Khi cấu trúc vốn được tài trợ bằng nợ thì WACC bắt đầu giảm dần theo sự gia tăng của tỷ trọng nợ trong cấu trúc vốn đó nhờ vào chi phí sử dụng
nợ luôn rẻ hơn chi phí sử dụng VCSH
- Nhưng khi WACC giảm đến mức thấp nhất thì tại đây mức độ nợ trong cấu trúc vốn đạt đến mức độ tối ưu hay tỷ suất nợ trong cấu trúc vốn đạt
tỷ suất nợ tối ưu và cấu trúc vốn lúc này trở thành cấu trúc vốn tối ưu
- Khi gia tăng nợ trong cấu trúc vốn vượt quá tỷ suất nợ tối ưu thì WACC bắt đầu tăng dần Bởi vì lúc này, sự gia tăng nợ kéo theo rủi ro về khả năng thanh toán nợ cho chủ nợ, đồng thời cũng làm tăng rủi ro đối với chủ sở hữu, từ đó làm cho chi phí sử dụng vốn của từng nguồn tài trợ tăng nhằm bù đắp rủi ro Chính vì điều này làm cho các doanh nghiệp không bao giờ chọn cấu trúc vốn tài trợ 100% nợ
Như vậy, theo lý thuyết cấu trúc vốn tối ưu còn gọi là cách tiếp cận
truyền thống thì: Cấu trúc vốn có tác động đến chi phí sử dụng vốn và giá trị
doanh nghiệp hay nói cách khác có một điểm tối ưu ở đó chi phí sử dụng vốn trung bình của doanh nghiệp là nhỏ nhất và giá trị doanh nghiệp cao nhất
Tuy nhiên, không có một lý thuyết cơ sở thể hiện chi phí sử dụng nợ sẽ tăng bao nhiêu do nguy cơ vỡ nợ Hạn chế này sẽ được khắc phục trong lý thuyết M&M
1.2.2 Lý thuyết về cấu trúc vốn theo quan điểm hiện đại
a Lý thuyết về cấu trúc vốn theo quan điểm của Modigliani và Miller
Nội dung của lý thuyết M&M được phát biểu thành hai mệnh đề: Giá trị doanh nghiệp và chi phí sử dụng vốn, với hai giả định được đưa ra: môi trường có thuế và môi trường không có thuế Mô hình này nhằm phân tích tác động của thuế và chi phí sử dụng vốn lên sự thay đổi cơ cấu vốn của DN
Trang 30* Trường hợp không có thuế (Modigliani và Miller công bố năm 1958): Các giả định:
(1) Không có thuế TNDN và thuế TNCN
(2) Không có chi phí giao dịch
(3) Không có chi phí phá sản và chi phí khốn khó tài chính
(4) Lãi suất tiền vay của cá nhân và DN là như nhau
(5) Thị trường vốn là thị trường hoàn hảo
Mệnh đề số 1: Trong điều kiện không có thuế giá trị công ty có vay nợ
(VL) bằng giá trị của công ty không vay nợ (VU), nghĩa là VL = VU
Giả sử có hai DN có quy mô vốn và tài sản như nhau, nhưng cơ cấu vốn khác nhau, DN A có cơ cấu 70% Nợ - 30% VCSH còn DN B có cơ cấu 30% Nợ - 70% VCSH Theo mệnh đề 1 của lý thuyết M&M cho rằng cơ cấu vốn của DN như việc “cắt bánh”, dù cắt kiểu gì (DN A hay DN B) thì kích cỡ chiếc bánh hay giá trị DN là không thay đổi Vì vậy, không có cơ cấu vốn nào được coi là tối ưu và DN cũng không thể nào tăng giá trị bằng cách thay đổi
cơ cấu vốn
Đồ thị 1.2 Mệnh đề I trong môi trường không có thuế
Trang 31Mệnh đề số 2: Lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có quan hệ cùng
chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ
E
D k k k
k E 0 ( 0 D)
Trong đó:
k E : Lợi nhuận yêu cầu hay lợi nhuận kỳ vọng trên vốn cổ phần
k D: Lãi suất hay chi phí sử dụng nợ
k 0: Chi phí sử dụng vốn khi công ty sử dụng 100% vốn cổ phần
D: Giá trị nợ hay trái phiếu của công ty phát hành
E: Giá trị vốn cổ phần của công ty
Khi một DN tăng sử dụng đòn bẩy tài chính tức là tăng sử dụng nợ trong cơ cấu vốn thì rủi ro tài chính hay rủi ro mất khả năng thanh toán mà
DN gặp phải cũng gia tăng Do đó, lợi nhuận trên vốn cổ phần cũng phải tăng lên
Như vậy, trong trường hợp không có thuế thì cấu trúc vốn của DN không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp
+ Trường hợp có thuế (Modigliani và Miller công bố năm 1963):
Các giả định của lý thuyết M&M gần như không thay đổi Duy chỉ có giả định môi trường không có thuế chỉ đúng trong một số ít trường hợp chẳng hạn như công ty mới thành lập hay được miễn thuế trong 3 năm đầu như công
ty ở Việt Nam mới được cổ phần hóa Do đó, lý thuyết được xem xét trong trường hợp giả định môi trường có thuế
Mệnh đề số 1: Trong trường hợp có thuế thu nhập công ty, giá trị công
ty có vay nợ (VL) bằng giá trị công ty không vay nợ (VU) cộng với hiện giá của lá chắn thuế Phương trình lý thuyết của M&M như sau:
V L =V U +T.D
Trong đó: V L : Tổng giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ
Trang 32V U : Tổng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ
D : Tổng số nợ sử dụng
T : Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong trường hợp có thuế, khi công ty vay nợ thì tiết kiệm được thuế
do lợi ích tấm chắn thuế từ lãi vay Do đó, giá trị công ty vay nợ sẽ lớn hơn công ty không vay nợ nhờ phần tiết kiệm được
Đồ thị 1.3 Mệnh đề I trong môi trường có thuế
Ví dụ, một doanh nghiệp đang xem xét hai phương án tài trợ vốn Phương án 1, công ty không sử dụng nợ trong cấu trúc vốn Phương án 2, công
ty vay một khoản nợ là D với lãi suất là k d
Chỉ tiêu Phương án 1 Phương án 2
Chúng ta biết rằng giá trị doanh nghiệp chính là hiện giá của dòng tiền
với suất chiết khấu thích hợp Với phương án không vay nợ, lãi suất k 0 = 0
Trang 33Khi đó, thu nhập ròng của doanh nghiệp là X(1-T) thì giá trị doanh nghiệp trong trường hợp này là: V U = PV[X(1-T)] =
0
) 1 (
k
T X
Tương tự, thu nhập ròng của doanh nghiệp theo phương án có vay nợ là:
T X
0
) 1 (
= V U + TD
Như vậy, việc sử dụng nợ hay sử dụng đòn bẩy tài chính làm tăng giá trị doanh nghiệp Sử dụng nợ càng nhiều thì giá trị doanh nghiệp càng tăng và gia tăng đến tối đa khi doanh nghiệp được tài trợ 100% nợ
Mệnh đề số 2: Trong trường hợp có thuế, lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ
phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số
nợ, mối quan hệ này được diễn tả bởi công thức:
E
D T k
k k
b Lý thuyết cân đối (The trade – off Theory)
Modigliani và Miller cho rằng, trong trường hợp có thuế, giá trị công ty tăng lên và chi phí sử dụng vốn trung bình giảm xuống khi công ty gia tăng tỷ
số nợ Điều này có nghĩa, công ty nên sử dụng nợ càng nhiều càng tốt Lý thuyết M&M đã không tính đến động thái của công ty trên thực tế Một số tác
Trang 34giả khác phản bác lại rằng trên thực tế không phải giá trị công ty tăng mãi khi
tỷ số nợ gia tăng, bởi vì khi tỷ số nợ gia tăng làm phát sinh một loại chi phí, gọi
là chi phí khốn khó tài chính (Financial Distress Costs), làm giảm đi sự gia
tăng giá trị của công ty có vay nợ Đến một điểm nào đó của tỷ số nợ, chi phí khốn khó tài chính sẽ vượt qua lợi ích của lá chắn thuế, khi ấy giá trị công ty có vay nợ bắt đầu giảm dần Lý luận tương tự, chi phí sử dụng vốn trung bình của công ty bắt đầu tăng lên
Việc ra đời sau đã giúp lý thuyết cân đối có cách nhìn nhận vấn đề đầy
đủ hơn so với lý thuyết M&M Theo Jensen và Meckling (1976), các doanh nghiệp phải cân đối giữa chi phí khốn khó tài chính, chi phí đại diện và khoản lợi từ thuế để xác định một cấu trúc vốn tối ưu Cấu trúc vốn tối ưu được xác định tại điểm mà khoản lợi từ thuế có được do tài trợ nợ cân bằng với chi phí
do tài trợ bằng nợ Theo M&M, khoản lợi này chính là phần khấu trừ thuế của lãi vay, góp phần khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nợ để tài trợ cho hoạt động kinh doanh
Đồ thị 1.4 Cấu trúc vốn tối ưu khi có thuế và chi phí khốn khó tài chính
Giá trị doanh nghiệp khi có chi phí khốn khó tài chính
GTDN có vay nợ theo lý thuyết M&M Giá trị doanh nghiệp (V)
Trang 35Theo đồ thị 1.4 cho thấy, khi gia tăng lượng nợ sử dụng doanh nghiệp
có được lợi ích bằng hiện giá của lá chắn thuế Lợi ích này làm cho giá trị doanh nghiệp có vay nợ tăng lên Mặt khác, cùng với sự gia tăng của lượng
nợ sử dụng chi phí khốn khó tài chính cũng tăng theo Chính chi phí này làm giảm đi lợi ích của lá chắn thuế Khi lượng nợ tăng lên đến điểm B*, hiện giá chi phí khốn khó tài chính bằng đúng hiện giá của lá chắn thuế Điểm B* được gọi là điểm tối ưu, ở đó giá trị doanh nghiệp đạt mức tối đa và chi phí sử dụng vốn trung bình thấp nhất Nếu doanh nghiệp tiếp tục gia tăng sử dụng nợ thì hiện giá của chi phí khốn khó tài chính sẽ vượt qua hiện giá của lá chắn thuế, khi đó giá trị doanh nghiệp sẽ bắt đầu giảm và chi phí sử dụng vốn tăng
lên Giá trị doanh nghiệp lúc này là:
V L = V U + T.D - Chi phí khốn khó tài chính
Cấu trúc vốn tối ưu trong trường hợp này là cấu trúc vốn gồm một phần
nợ và một phần vốn chủ sở hữu, khi lợi ích từ một đồng nợ tăng thêm vừa đủ
để bù trừ sự gia tăng của chi phí khốn khó tài chính dự tính Thật ra khái niệm chi phí khốn khó tài chính là khái niệm lý thuyết Trên thực tế rất khó quan sát
và xác định được loại chi phí này như là chi phí do mất khách hàng và nhà cung cấp, mất nhân viên giỏi, hay chi phí mất đi do ban quản lý bận tâm vào những khó khăn tài chính của doanh nghiệp,…
Lý thuyết cân đối của cấu trúc vốn thừa nhận tỉ lệ nợ mục tiêu có thể khác nhau giữa các doanh nghiệp Các doanh nghiệp có tài sản hữu hình an toàn và nhiều thu nhập chịu thuế để được khấu trừ nên có tỉ lệ nợ mục tiêu cao Các doanh nghiệp ít sinh lợi có các tài sản vô hình nhiều rủi ro nên dựa chủ yếu vào tài trợ vốn cổ phần
Lý thuyết cân đối giải thích được những khác biệt trong cấu trúc vốn của nhiều ngành (do sự khác nhau của tài sản); tuy nhiên lại không thể giải thích được một tình trạng khá phổ biến là các doanh nghiệp có lợi nhuận cao
Trang 36lại có tỷ suất nợ thấp Để lý giải điều này, lý thuyết trật tự phân hạng đưa ra quan điểm ở phần sau
c Lý thuyết thông tin bất đối xứng (The Asymmetric Information Theory)
Một trong các giả thuyết của mô hình M&M là các nhà đầu tư và nhà quản trị có cùng thông tin về triển vọng tương lai của doanh nghiệp Tuy nhiên, so với các nhà đầu tư bên ngoài các nhà quản trị thường có thông tin đầy đủ hơn về triển vọng tương lai Hiện tượng này gọi là sự bất cân xứng về thông tin
Thông tin bất cân xứng có ảnh hưởng quan trọng đối với cơ cấu vốn của doanh nghiệp Theo đó, lý thuyết về cơ cấu vốn hình thành thêm hai trường phái: Lý thuyết tín hiệu và lý thuyết trật tự phân hạng
Theo lý thuyết tín hiệu, việc lựa chọn cơ cấu vốn của một doanh nghiệp
có thể truyền những dấu hiệu cho người đầu tư bên ngoài về thông tin bên trong của doanh nghiệp Lý thuyết này bắt đầu từ công trình của Ross (1977)
và Lyland, Pyle (1977) Theo đó, nhà quản trị biết rõ hơn nhà đầu tư bên ngoài về triển vọng của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp được dự báo sẽ có triển vọng hoạt động tốt, nhà quản trị không muốn chia sẻ lợi nhuận với những người chủ sở hữu mới Tuy nhiên, khi doanh nghiệp dự báo có triển vọng không sáng sủa, nhà quản trị mong muốn chia sẻ những rủi ro này với những người chủ mới của doanh nghiệp Do vậy, khi một doanh nghiệp công
bố phát hành thêm cổ phiếu cũng đồng nghĩa triển vọng của doanh nghiệp không được tốt, hoặc tương đương với suy nghĩ của các nhà quản trị là các cổ phiếu của công ty hiện tại được đánh giá quá cao
- Lý thuyết trật tự phân hạng (The Pecking – order Theory)
Lý thuyết trật tự phân hạng được Myers và Majluf công bố vào năm
Trang 371984 Lý thuyết này được phát triển từ nghiên cứu đầu tiên của Donaldson năm
1961, lý giải các quyết định tài trợ của doanh nghiệp dựa trên cơ sở thông tin bất cân xứng
Các ông cho rằng có một trật tự ưu tiên khi tài trợ các khoản đầu tư: Đầu tiên là việc sử dụng các nguồn vốn hiện có bên trong doanh nghiệp (lợi nhuận giữ lại), tiếp theo là các khoản vay nợ và cuối cùng là huy động vốn cổ phần mới Do thông tin bất cân xứng giữa người bên trong và người bên ngoài, các doanh nghiệp sẽ thích tài trợ bởi các nguồn vốn bên trong hơn là nguồn vốn bên ngoài để tránh bán các chứng khoán dưới mệnh giá Nếu các khoản tài trợ bên ngoài là không thể tránh khỏi thì các khoản nợ ít rủi ro sẽ được ưu tiên sử dụng và cuối cùng là khoản tăng vốn góp thông qua việc huy động các
cổ đông mới Trật tự phân hạng trên phản ánh chi phí tương đối của các nguồn lực tài trợ là có sự khác nhau Do vậy, Myers và Majluf (1984) cho rằng sẽ không có một cấu trúc tài chính tối ưu đối với các doanh nghiệp Lý thuyết này về sau được mở rộng bởi nhiều nhà nghiên cứu khác như Krasker (1986), Brennan và Kraus (1987), Noe (1988)
Nói chung, chi phí phát hành các loại chứng khoán khác nhau là lý do giúp giải thích hàm ý của trật tự phân hạng Phát hành cổ phiếu thường có chi phí đắt nhất, bởi vì doanh nghiệp phải cung cấp rất nhiều các thông tin về dự
án đầu tư để thuyết phục các cổ đông đồng ý trả một khoản tiền hợp lý, trong khi các thông tin này thật sự rất quý giá trong một môi trường kinh doanh cạnh tranh Vay nợ cũng buộc doanh nghiệp cũng tiết lộ một ít thông tin nhưng rõ ràng là có giới hạn hơn
Lý thuyết này giúp giải thích vì sao các doanh nghiệp có khả năng sinh lời nhiều hơn thường là có tỷ lệ nợ vay thấp hơn (điều mà lý thuyết cân bằng không giải thích được) Lý giải đơn giản lý thuyết này cung cấp là bởi vì không phải doanh nghiệp đó có tỷ lệ nợ mục tiêu thấp mà vì họ không cần
Trang 38tiền bên ngoài Các doanh nghiệp có khả năng sinh lời ít hơn thì phát hành nợ
vì họ không có đủ nguồn vốn nội bộ cho các dự án đầu tư và vì nợ đứng đầu trong trật tự phân hạng của tài trợ từ bên ngoài
Đối với lý thuyết này, tác động từ tấm chắn thuế được xếp hàng thứ hai Một doanh nghiệp có tỷ suất sinh lời cao đồng thời có nhiều cơ hội tăng trưởng sẽ dùng nợ vay từ bên ngoài nhiều hơn bởi vì lúc này nguồn lợi nhuận giữ lại mặc dù nhiều nhưng không đủ để tài trợ cho tất cả
Như vậy, lý thuyết trật tự phân hạng không cung cấp một công thức để tính cấu trúc vốn tối ưu nhưng nó giúp giải thích các mô hình quan sát đối với các thứ tự ưu tiên trong tài trợ
d Lý thuyết chi phí đại diện (The Agency Theory)
Lý thuyết cấu trúc vốn dựa trên chi phí đại diện được đề cập đến đầu tiên trong một nghiên cứu của Fama và Miller năm 1972 Về sau, lý thuyết chi phí đại diện được phát triển sâu hơn trong nghiên cứu của Jensen và Meckling năm 1976 và sau đó là nghiên cứu của Jensen năm 1986
Lý thuyết này cho rằng, hoạt động tài chính của doanh nghiệp liên quan đến các giới hữu quan khác nhau Trong đó chủ yếu là cổ đông, nhà quản lý và các trung gian tài chính Giữa họ có sự khác nhau về lợi ích và cách tiếp cận nợ
Vì thế, có thể xuất hiện các mâu thuẫn và để giải quyết các mâu thuẫn này sẽ xuất hiện chi phí đại diện
Theo M.Jensen và Meckling (1976) có hai dạng mâu thuẫn về đại diện Mâu thuẫn giữa người chủ sở hữu và nhà quản lý và mâu thuẫn giữa người chủ sở hữu và chủ nợ
Đối với mâu thuẫn giữa người chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp, vấn đề đại diện phát sinh khi người quản lý sở hữu ít hơn 100% phần vốn chủ sở hữu Kết quả là người chủ sở hữu không nhận được toàn bộ lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh, nhưng họ phải gánh chịu toàn bộ chi phí
Trang 39cho các hoạt động này Đối với nhà quản lý doanh nghiệp đơn thuần chỉ là người làm thuê nên họ luôn tìm cách tối đa hóa lợi ích của bản thân trước; sau
đó mới tính đến lợi ích của cổ đông và họ được hưởng nhiều quyền lợi khi kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tốt như lương cao, tiền thưởng
Do đó, khi ra quyết định họ chỉ quan tâm đến các quyết định ngắn hạn và ít rủi ro thì các cổ đông lại tính đến lợi ích dài hạn Vì thế, để giải quyết mâu thuẫn này, người chủ sở hữu phải chi các chi phí đại diện để kiểm soát hoạt động của nhà quản trị như chi phí cho hệ thống kiểm tra, kiểm toán hoặc hệ thống kiểm soát bên ngoài thông qua thị trường tài chính Ngoài ra, theo M.Jensen vay nợ cũng được xem như một giải pháp để giải quyết mâu thuẫn này Theo ông, khi tỷ suất nợ cao doanh nghiệp phải đối mặt với nguy cơ phá sản và nhà quản lý phải đối mặt với nguy cơ mất việc làm và danh dự Do đó,
họ phải nỗ lực và nâng cao năng lực quản lý của mình Từ đó, giảm được các chi phí đại diện
Mâu thuẫn thứ hai là mâu thuẫn giữa chủ nợ và chủ sở hữu doanh nghiệp Mâu thuẫn này xuất hiện trong các hợp đồng vay nợ, khi cân nhắc mức vay cho các dự án đầu tư Cụ thể là, nếu một khoản đầu tư có thu nhập cao hơn giá trị của khoản nợ, người chủ sở hữu sẽ hưởng lợi toàn bộ khoản thu nhập này sau khi đã trừ đi nợ vay và tiền lãi đã ấn định trước Tuy nhiên, nếu dự án đầu tư đó không thành công, người chủ doanh nghiệp chỉ gánh chịu thua lỗ ở một mức độ nhất định do trách nhiệm hữu hạn của khoản đầu tư Kết quả là chủ doanh nghiệp thích thực hiện các dự án đầu tư nhiều rủi ro vì suy cho cùng họ chỉ mất đi tối đa phần vốn góp dẫn đến rủi ro phá sản của chủ nợ tăng lên Chi phí đại diện phát sinh do mâu thuẫn này được thể hiện khi các chủ nợ yêu cầu tăng lãi suất vay nợ do họ nhận thấy có sự gia tăng rủi ro phá sản Ngoài ra, để tự bảo vệ mình các chủ nợ thường xây dựng các điều khoản hạn chế trong hợp đồng vay Từ đó làm giảm sự linh hoạt của doanh nghiệp
Trang 40khi quyết định đầu tư, tài trợ và phân phối cổ tức Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn bị giám sát để bảo đảm rằng các điều khoản trong hợp đồng được thực hiện đầy đủ Những chi phí này được chuyển sang cho chủ doanh nghiệp
và làm tăng chi phí của nợ
Nếu tính thêm chi phí đại diện thì giá trị doanh nghiệp được tính theo công thức:
V L = V U + T.D - Các chi phí phát sinh liên quan
Các chi phí phát sinh liên quan gồm chi phí khốn khó tài chính và chi phí đại diện
Những nghiên cứu về chi phí đại diện cho thấy, chi phí đại diện làm giảm lợi ích do sử dụng nợ để tài trợ Trong mô hình này, Jensen và Meckling (1976) cho rằng một cấu trúc tối ưu có thể đạt được bằng việc cân đối giữa chi phí đại diện với lợi ích do sử dụng nợ Lý thuyết về chi phí đại diện là mối quan tâm đối với các doanh nghiệp nhỏ vì chi phí đại diện phát sinh lớn hơn
từ những mâu thuẫn cơ bản về lợi ích giữa người chủ sở hữu và các chủ nợ
Như vậy, lý thuyết đại diện giải thích vì sao các công ty có quy mô lớn,
có dòng tiền tự do càng nhiều thường có khuynh hướng sử dụng nhiều nợ hơn trong cấu trúc vốn của mình Giải thích của lý thuyết này là do điều khoản trong hợp đồng vay nợ sẽ kiểm soát được phần nào các hành vi của các nhà quản lý không hướng đến mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
Với các lý thuyết về cấu trúc vốn đã trình bày, cho thấy rằng có nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc vốn nhưng đều có mục đích chung là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp và tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn Việc sử dụng nợ đem lại lợi ích cho doanh nghiệp bởi tác động “lá chắn” của lãi vay nhưng đồng thời tồn tại chi phí phá sản và chi phí đại diện nên lượng nợ sử dụng sẽ
bị hạn chế do sự cân đối giữa lợi ích và rủi ro Ngoài ra, do tích chất bất cân xứng về thông tin giữa các giới hữu quan của doanh nghiệp nên nguồn vốn