1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại tại Việt Nam

124 218 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN MINH HUY NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH Đà Nẵn

Trang 1

NGUYỄN MINH HUY

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng, Năm 2015

Trang 2

NGUYỄN MINH HUY

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60.34.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRƯƠNG BÁ THANH

Đà Nẵng, Năm 2015

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Minh Huy

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Cấu trúc của luận văn 2

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 8

1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VÊ CÔNG BỐ THÔNG TIN 8

1.2 PHÂN LOẠI CÔNG BỐ THÔNG TIN 10

1.2.1 Phân loại thông tin theo tính chất bắt buộc hoặc tự nguyện 10

1.2.2 Phân loại thông tin theo phạm vi bao quát 10

1.2.3 Phân loại thông tin theo thời gian 11

1.2.4 Phân loại theo nguồn thông tin 11

1.3 YÊU CẦU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 11

1.3.1 Yêu cầu thông tin kế toán 11

1.3.2 Yêu cầu thông tin kế toán thuộc BCTC 12

1.3.3 Yêu cầu công bố thông tin trên thị trường chứng khoán 14

1.4 SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 16

1.5 CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN : 20

1.5.1 Chỉ số chất lượng 20

1.5.2 Chỉ số phạm vi 25

Trang 5

TIN 28

1.6.1 Lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin 28

1.6.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM37 2.1 GIỚI THIỆU HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM, TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG, MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ 37

2.1.1 Lịch sử và phát triển 37

2.1.2 Tình hình hoạt động 42

2.1.3 Môi trường hoạt động 45

2.1.4 Sơ lược về hoạt động công bố thông tin của các Ngân hàng thương mại Việt Nam 53

2.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 56

2.2.1.Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 56

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 60

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 71

3.1 MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM THÔNG QUA CHỈ SỐ Ij (CHỈ SỐ CÔNG BỐ THÔNG TIN) 71

3.2 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 73

3.2.1 thống kê mô tả các biến độc lập trong mô hình 73

Trang 6

3.2.4 Phân tích hồi quy bội giữa chỉ số công bố thông tin với các nhân tố

ảnh hưởng 78

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83

CHƯƠNG 4: HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KIẾN NGHỊ 84

4.1 HOÀN THIỆN CÁC NỘI DUNG THÔNG TIN CÔNG BỐ 84

4.2 HOÀN THIỆN CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 85

4.3 TĂNG CƯỜNG GIÁM SÁT CÁC NGÂN HÀNG CÓ QUY MÔ NHỎ, HOẠT ĐỘNG YẾU KÉM 85

4.4 TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC LẬP VÀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH 86

4.5 TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA THÀNH VIÊN ĐỘC LẬP TRONG HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ 86

4.6 TĂNG CƯỜNG KỶ LUẬT THỊ TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM 88

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 7

BCĐKT : Bảng cân đối kế toán

BCKQKD : Báo cáo kết quả kinh doanh

BCLCTT : Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

BCTC : Báo cáo tài chính

BCTN : Báo cáo thường niên

CBTT : Công bố thông tin

HĐQT : Hội đồng quản trị

NHTM : Ngân hàng thương mại

NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần

NHTMCPNN : Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước

TSCĐ : Tài sản cố định

TTCK : Thị trường chứng khoán

Trang 8

Việt Nam

71

3.2 Thống kê mô tả biến chỉ số công bố thông tin 72

3.7 Giả thuyết và kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến

mức độ công bố thông tin của các ngân hàng thương mại

80

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 mở ra một thách thức lớn cho Việt Nam, đó là tái cấu trúc nền kinh tế mà trọng tâm là tái cơ cấu ngân hàng Tại Hội thảo quốc tế “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng – Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam” ngày 21 tháng 12 năm 2011 do trường Đại học Kinh tế

- ĐHQGHN (VNU-UEB, Ủy ban giám sát tài chính quốc gia (NFSC) và Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam (DIV) phối hợp đồng tổ chức, các chuyên gia đều nhất trí cho rằng Việt Nam cần phải tăng cường minh bạch thông tin về hệ thống ngân hàng thương mại khi tiến hành tái cơ cấu khu vực huyết mạch của nền kinh tế Việc minh bạch thông tin báo cáo tài chính sẽ giúp lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng, giúp cho nhà đầu tư, người gửi tiền … đều có thể tin tưởng vào hoạt động của ngân hàng, hạn chế tình trạng thông tin bất đối xứng

và thông qua đó góp phần giảm chi phí thông tin cho các nhà đầu tư Tuy nhiên, một thực tế hiện nay là các ngân hàng thương mại Việt Nam dường như lại không chú trọng đến việc công bố thông tin tình hình hoạt động ra bên ngoài, gây ra tâm lý bất an cho xã hội Vậy đâu là nguyên nhân cho việc thiếu minh bạch thông tin ngành ngân hàng và các biện pháp để giải quyết thực trạng này?

Đã có nhiều bài báo, ý kiến chuyên gia, người dân về thực trạng thiếu minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính nhưng chưa có tài liệu nào làm rõ những nguyên nhân khiến việc công bố thông tin ngành ngân hàng vẫn còn bất cập Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào giải quyết thực trạng vấn đề này, tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức

độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại tại Việt Nam” làm đề tài tốt nghiệp

Trang 10

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về mức độ công bố thông tin và các nhân

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu mức độ công bố thông tin của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Thông tin công bố trong báo cáo tài chính năm 2012 của 16 ngân hàng thương mại tại Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu các dữ liệu qua thời gian kết hợp giữa lý luận và thực tiến, thu thập số liệu, vận dụng mô hình đã nghiên cứu để kiểm chứng số liệu, phân tích kết quả và đưa ra kết luận, gợi ý nhằm nâng cao chất lượng công bố thông tin của các ngân hàng thương mại

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt,bảng biểu, và phụ lục, luận văn được bố cục gồm 04 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về mức độ công bố thông tin và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu

Chương 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị

Trang 11

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Đã có nhiều tài liệu đi trước điều tra về mức độ công bố thông tin của ngân hàng và các công ty, và những nhân tố ảnh hưởng liên quan đến các thuộc tính đặc biệt của công ty như là thời gian hoạt động, quy mô, khả năng sinh lời, thành phần hội đồng quản trị, tài sản cố định, kỷ luật thị trường, v.v…

Đầu tiên phải kể đến nghiên cứu của Kahl và Belhaoui (1981), đây là một nghiên cứu toàn diện, thực hiện điều tra mức độ CBTT của 70 ngân hàng tại 18 quốc gia khác nhau Kết quả chỉ ra rằng mức độ CBTT thì khác nhau giữa các quốc gia được chọn mẫu, và có một mối quan hệ tích cực giữa quy

mô ngân hàng với mức độ CBTT Hossain (2001) điều tra thực nghiệm mức

độ CBTT của 25 ngân hàng tại Bangladesh và mối quan hệ giữa khả năng sinh lợi của công ty, và quy mô công ty kiểm toán với mức độ CBTT Tổng cộng 61 khoản mục thông tin, gồm cả bắt buộc và tự nguyện, đã được bao gồm trong chỉ số CBTT, và phương pháp cho điểm các chỉ mục thì mang tính phân đôi Kết quả cho thấy quy mô và tính sinh lợi của các ngân hàng có ảnh hưởng đến mức độ CBTT Tuy nhiên, quy mô công ty kiểm toán không có ý nghĩa thống kê ở các mức độ thông thường trong mô hình Chipalkatti (2002) kiểm tra mối quan hệ giữa bản chất và chất lượng của CBTT báo cáo thường niên của 17 ngân hàng Ấn Độ với các biến đại diện cho cấu trúc vi mô của thị trường Tác giả xây dựng một chỉ số minh bạch thông tin ngân hàng bao gồm

90 khoản mục thông tin trong đó có xem xét đến đề xuất của ủy ban Basel và IAS 30 Nghiên cứu cho thấy không có mối quan hệ giữa mức độ CBTT với phần trăm cổ phần do chính phủ nắm giữ, và phần trăm cổ phần do nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ Kết quả cũng chỉ ra rằng ngân hàng càng lớn thì cung cấp càng nhiều thông tin minh bạch và không có sự khác biệt giữa điểm số CBTT của ngân hàng với mức độ sinh lời, nhưng ngân hàng có mức sử dụng

Trang 12

đòn bẩy thấp có xu hướng CBTT nhiều hơn Bauman và Nier (2003) xác định vấn đề của việc phát triển một bộ các yêu cầu CBTT theo trụ cột 3 Basel II

mà cải thiện khả năng của các thành phần tham gia thị trường trong việc đánh giá giá trị của ngân hàng trong đó có sử dụng bộ dữ liệu độc nhất của gần 600 ngân hàng tại 31 quốc gia trong thời kì 1993-2000 Bộ dữ liệu bao gồm thông tin chi tiết về các khoản mục được công bố bởi các ngân hàng trong tài khoản hàng năm của các ngân hàng Các khoản mục này cấu thành nên chỉ số CBTT tổng hợp phản ánh mức độ CBTT của ngân hàng, và tác giả sau đó phân tích từng tiểu mục trong số 17 tiểu mục CBTT mà làm nên chỉ số CBTT tổng hợp

để điều tra liệu có khoản mục nào về CBTT bảng CĐKT của ngân hàng thì có lợi nhất với ngân hàng và hữu dụng nhất với thị trường tài chính Kết quả nhìn chung khẳng định giả thiết rằng CBTT giúp làm giảm dao động cổ phiếu, gia tăng giá trị thị trường, và gia tăng tính hữu dụng của các tài khoản công ty trong dự đoán việc định giá Nier and Baumann (2006) thực hiện điều tra 729 ngân hàng ở 32 quốc gia Kết quả chỉ ra rằng mức độ công bố tự nguyện đòi hỏi các ngân hàng giảm khẩu vị rủi ro và tăng cường việc bù đắp rủi ro bằng vốn cổ phần Mohammed Hossain (2008) cũng đã tiến hành một cuộc điêu tra thực nghiệm về mức độ công bố bắt buộc và tự nguyện của các công ty ngân hàng niêm yết ở Ấn Độ Kết quả nghiên cứu lại chỉ ra rằng các biến quy mô, lợi nhuận, thành phần hội đồng quản trị và kỷ luật thị trường có ý nghĩa, trong khi các biến về thời gian hoạt động, sự phức tạp của kinh doanh và quy mô tài sản dài hạn đang nắm giữ không có ý nghĩa trong giải thích mức độ công bố thông tin Jameel và cộng sự (2013) điều tra thực nghiệm mức độ CBTT trong BCTN của 15 ngân hàng tại Sri Lanka Tổng cộng 140 khoản mục thông tin (gồm cả bắt buộc và tự nguyện) đã được chọn trong xây dựng chỉ số CBTT Kết quả cho thấy các ngân hàng ở Srilanka CBTT bắt buộc tốt hơn thông tin tự nguyện, đồng thời cũng chỉ ra rằng quy mô tài sản, hiệu quả hoạt

Trang 13

động kinh doanh (ROA), tỷ lệ nợ xấu và thành phần HĐQT ảnh hưởng tích cực đến mức đô CBTT trong khi các biến thời gian hoạt động, tài sản cố định,

tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu không có ý nghĩa thống kê Raoudha Dhouibi (2013) thực hiện khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định công bố thông tin tự nguyện của các ngân hàng niêm yết ở Thổ nhĩ Kỳ, và sử dụng mô hình hồi qui Prais-winsten để kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện với mẫu gồm 10 ngân hàng trong thời kỳ 2000-2011 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô hội đồng quản trị, số lượng cổ phần sở hữu bởi cổ đông lớn và cổ đông nhà nước thì đều có ảnh hưởng tiêu cực đến việc công bố thông tin Tuy nhiên, quy mô ngân hàng, số lượng cổ phần nắm giữ bởi nhà đầu tư nước ngoài và hiệu quả hoạt động ngân hàng lại có tác động tích cực đến việc công bố thông tin của công ty

Nghiên cứu của Kamal, Al-Hussaini, AL-Kwari và Nuseibeh, (2006) tìm ra rằng có mối quan hệ đáng kể giữa quy mô công ty với mức độ CBTT Aljifri (2008) kiểm tra mức độ CBTT trong BCTN của 31 công ty niêm yết trong UAE và cho thấy lĩnh vực kinh doanh khác nhau có ảnh hưởng mức độ CBTT Tuy nhiên, quy mô, tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần, và khả năng sinh lời không có ảnh hưởng đến mức độ CBTT Alsaeed (2006) nghiên cứu mối quan

hệ giữa các đặc tính đặc biệt của công ty với mức độ CBTT ở Saudi Arabia Một tổng 20 khoản mục công bố tự nguyện được xây dựng để đánh giá mức

độ CBTT trong BCTN của 40 công ty Các kết quả chỉ ra rằng trung bình của chỉ số CBTT đã thấp hơn mức trung bình Kết quả cũng chỉ ra rằng quy mô công ty có quan hệ tích cực với mức độ CBTT tuy nhiên nợ, quyền sở hữu bị phân tán, thời gian hoạt động, biên lợi nhuận, ngành công nghiệp và quy mô công ty kiểm toán không có ảnh hưởng đến mức độ CBTT Hossain và Reaz’s (2007) điều tra thực nghiệm mức độ CBTT tự nguyện mức độ CBTT của 38 công ty ngân hàng niêm yết ở Ấn Độ Kết quả chỉ ra rằng tồn tại mối quan hệ

Trang 14

giữa các đặc biệt của công ty với mức độ CBTT tự nguyện Nghiên cứu cho thấy các ngân hàng Ấn Độ đang công bố một lượng đáng kể thông tin tự nguyện Các kết quả chỉ ra rằng quy mô và tài sản cố định có ý nghĩa thống kê trong khi những biến khác thời gian hoạt động, sự đa dạng hóa, thành phần HĐQT, niêm yết nhiều ngoại tệ và tính phức tạp của kinh doanh không có ảnh hưởng đến mức độ CBTT Craig và Diga (1998) nghiên cứu thực nghiệm thực trạng CBTT của 145 công ty đại chúng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán ASEAN vào thơi điểm 31/12/1993 và được chọn một cách ngẫu nhiên Tổng cộng, 530 khoản mục CBTT đã được chọn để tính chỉ số chỉ số CBTT sau khi xem xét pháp luật của công ty và các quy định trên thị trường chứng khoán trong các quốc gia khác nhau Kết quả chỉ ra rằng tồn tại mối quan hệ giữa điểm số CBTT của các công ty với tài sản, quy mô, lợi nhuận, và tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu

Tại Việt Nam, nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT mới chỉ tập trung vào các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán gồm:

Nghiên cứu của Lê Trường Vinh, Hoàng Trọng (2008) về tính minh bạch của thông tin được công bố từ các doanh nghiệp niêm yết cho thấy nhân

tố Q có ảnh hưởng đến sự minh bạch trong CBTT Nghiên cứu của tác giả Đoàn Nguyễn Phương Trang (2010) về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Kết quả cho thấy nhân tố chủ thể kiểm toán và khả năng sinh lời có ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các doanh nghiệp niêm yết Tiếp đến nghiên cứu của tác giả Lê Thị Trúc Loan (2012) chỉ ra rằng tỷ suất lợi nhuận (ROE)

có ảnh hưởng đến mức độ CBTT của doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam Nguyễn Công Phương và đồng sự (2012) trong “Nghiên cứu thực trạng CBTT trong BCTC của các công ty niêm yết trên SGDCK TP HCM” đã xây

Trang 15

dựng hệ thống chỉ mục đo lường mức độ công bố khá hoàn chỉnh, đồng thời lập luận một cách chặt chẽ về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT, qua

đó đưa ra nhiều giải pháp hữu ích để cải thiện mức độ CBTT trong BCTC Tuy nhiên nghiên cứu chưa phân tích ảnh hưởng của các nhân tố thuộc về đặc điểm quản trị và sở hữu đến mức độ CBTT của doanh nghiệp

Tác giả Phạm thị Bích Vân trong bài viết về “Mối quan hệ giữa cơ chế quản trị công ty và CBTT trong BCTN: Nghiên cứu tại TTCK VN” (2012) đã thực hiện nghiên cứu dựa trên BCTN năm 2011 của 101 công ty niêm yết Kết quả cho thấy các biến đại diện cho cơ chế quản trị công ty như: số lượng thành viên HĐQT, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập không điều hành, sở hữu vốn là tổ chức có mối tương quan thuận và có ý nghĩa thống kê với biến mức

độ CBTT Tuy nhiên, sự tách rời giữa CEO và chủ tịch HĐQT có mối tương quan nghịch với mức độ CBTT

Kế thừa và phát triển các nghiên cứu ở nước ngoài, luận văn tiếp tục xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam thông qua sử dụng các mô hình, kết quả các nhân tố của các tác giả đã nghiên cứu trước đây như: quy mô tài sản ngân hàng, tỷ suất sinh lợi, tỷ trọng TSCĐ… những nhân tố có ảnh hưởng đến mức

độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính của ngân hàng

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ

THÔNG TIN

1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VÊ CÔNG BỐ THÔNG TIN

Công bố thông tin được sử dụng để phát hành tất cả các thông tin liên quan đến giao dịch, đảm bảo kinh doanh Mục tiêu của tiết lộ đầy đủ là để đảm bảo tính minh bạch, qua đó các NĐT khi tham gia vào thị trường chứng khoán có được đầy đủ những thông tin tốt và thông tin xấu Gibbins Richardon và Waterhouse (1990, 122) CBTT là một quy định công khai, phát hành có chủ ý các thông tin tài chính và phi tài chính cả về số lượng và chất lượng theo yêu cầu hoặc tự nguyện, thông qua các kênh chính thức hoặc không chính thức

Theo quan điểm của Bộ Tài Chính, được thể hiện trong Sổ tay công bố thông tin dành cho các công ty niêm yết thì “CBTT được hiểu là phương thức

để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng” Chúng ta thừa nhận minh bạch thông tin “là sự công bố thông tin kịp thời và đáng tin cậy, nó cho phép những người sử dụng thông tin đó có thể đánh giá chính xác về tình hình và hiệu quả của một ngân hàng, hoạt động kinh doanh

và rủi ro liên quan đến các hoạt động này” (Theo International Finance Corporation, Public disclosure and transparency, Yerevan, May 2006)

Cụ thể hơn, công bố thông tin kế toán (Accounting Disclosure) là toàn

bộ thông tin được cung cấp thông qua hệ thống các báo cáo tài chính của một công ty trong thời kỳ nhất định (bao gồm cả các báo cáo giữa niên độ và báo cáo thường niên)

Trang 17

Công bố thông tin bao gồm công bố bắt buộc và các công bố tự nguyện hay không bắt buộc Công bố bắt buộc (Mandatory disclosure) là những công

bố kế toán được yêu cầu bởi luật pháp và những quy định của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ Những công bố này phải được trình bày theo những quy định của Luật Kinh Doanh, Ủy ban chứng khoán, các cơ quan quản lý về

kế toán, GAAP và sự lựa chọn của doanh nghiệp, không bắt buộc Có nghĩa là một công ty có thể hoặc không cần phải công bố các thông tin kế toán mà pháp luật không yêu cầu Theo Adina P và Ion P (2008), công bố tự nguyện chỉ như là các thông tin được cung cấp thêm nhằm thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp như các nhà phân tích tài chính, các công ty tư vấn, các NĐT là các tổ chức… Theo xu hướng hiện nay thì các các công bố tự nguyện đang thu hút mối quan tâm lớn của người sủ dụng thông tin vì tính ảnh hưởng của nó, và các công ty cũng ngày càng được khuyến cáo là sẽ thu được nhiều lợi ích hơn khi cung cấp các thông tin dạng này

Công bố thông tin là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc công

bố hiệu quả các nguồn lực của xã hội và giảm thiểu sự nhiễu loạn thông tin giữa doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp (Adian, Ion-2008) Chính vì thế mà trong mọi nền kinh tế, tác động của hành vi CBTT là đặc biệt to lớn Ảnh hưởng này không chỉ giới hạn ở tầm

vi mô trong tình hình tài chính của từng đơn vị, của NĐT mà lan rộng ra cả nền kinh tế Đó là lý do vì sao mà các nghiên cứu về CBTT, tác động và các yếu tố ảnh hưởng không ngừng được thực hiện bởi các nghiên cứu trên khắp thế giới Việc nghiên cứu ảnh hưởng của việc CBTT kế toán đến việc ra quyết định vẫn đã và đang là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản trị doanh nghiệp không chỉ ở các nước phát triển mà còn cả các nước đang phát triển

Trang 18

Các đối tượng sử dụng thông tin có thể tiếp cận qua nhiều kênh như website của các doanh nghiệp, báo chí, các cơ quan quản lý… có thể sử dụng bao gồm một hệ thống đa dạng các báo cáo thường niên, báo cáo CBTT bất thường khi niêm yết, khi tái chào bán chứng khoán hoặc có các sự kiện bất thường xảy ra trong quá trình hoạt động của đơn vị

Theo quan điểm của bộ tài chính CBTT là sự minh bạch hóa thông tin

trên thị trường chứng khoán (Sổ tay công bố thông tin dành cho các công ty

niêm yết)

Thông tin thị trường chứng khoán rất đa dạng và phong phú, thông tin

sẽ phản ánh tinh hình, bản chất của doanh nghiệp, qua đó các nhà đầu tư có thể nhận định, phân tích và đầu tư có hiệu quả Vì vậy để đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt động một cách minh bạch, công khai thì thông tin tiết lộ cung cấp của các doanh nghiệp thực hiện một cách doanh nghiệp thực hiện một cách công khai, nguyên tắc công khai được hiểu như là sự cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực và kịp thời

1.2.PHÂN LOẠI CÔNG BỐ THÔNG TIN

1.2.1 Phân loại thông tin theo tính chất bắt buộc hoặc tự nguyện

- Thông tin bắt buộc: Là các thông tin mà ngân hàng bắt buộc phải

công bố theo quy định của các văn bản pháp luật của một quốc gia, như Luật Doanh nghiệp, chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định về CBTT

của UBCK và SGDCK

- Thông tin tự nguyện: Là các thông tin mà doanh nghiệp tự nguyện

công bố để nhà đầu tư có thể hiểu rõ hơn về tình hình hoạt động của doanh nghiệp mà các thông tin này không bắt buộc phải công bố theo quy định Việc

CBTT tự nguyện nhằm thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng

1.2.2 Phân loại thông tin theo phạm vi bao quát

- Thông tin đơn lẻ của từng nhóm chứng khoán

Trang 19

- Thông tin ngành, thông tin nhóm ngành

- Thông tin nhóm cổ phiếu đại diện và tổng thể thị trường

- Thông tin của SGDCK hay cả quốc gia, thông tin có tính quốc tế 1.2.3 Phân loại thông tin theo thời gian

- Thông tin quá khứ, thông tin hiện tại và thông tin dự báo cho tương lai

- Thông tin theo thời gian (phút, ngày…)

- Thông tin tổng hợp theo thời gian (tuần, tháng, quý, năm…)

1.2.4 Phân loại theo nguồn thông tin

- Thông tin trong nước và quốc tế

- Thông tin của các tổ chức tham gia thị trường Tổ chức niêm yết,

công ty chứng khoán và thông tin của SGDCK

- Thông tin tư vấn của các tổ chức tư vấn đầu tư và tổ chức xếp hạng

tín nhiệm

- Thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng (báo, truyền hình,

mạng Internet…)

1.3 YÊU CẦU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN

1.3.1 Yêu cầu thông tin kế toán

Theo VAS 01: Chuẩn mực chung, quy định rõ các yêu cầu cơ bản đối với kế toán

Thứ nhất là trung thực, các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của các nghiệp vụ kinh

Trang 20

Thứ tư là kịp thời, các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép

và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ

Thứ năm là dễ hiểu, các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong báo cáo tài chính phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng Người sử dụng ở đây được hiểu là người có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình Thông tin về những vấn đề phức tạp trong báo cáo tài chính phải được giải trình trong phần thuyết minh

Thứ sáu là có thể so sánh, các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ

kế toán trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng báo cáo tài chính có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch

1.3.2 Yêu cầu thông tin kế toán thuộc BCTC

Theo VAS 01: Chuẩn mực chung cũng quy định rõ các yếu tố cơ bản của báo cáo tài chính Báo cáo tài chính phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp bằng cách tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng tính chất kinh tế thành các yếu tố của báo cáo tài chính Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định tình hình tài chính trong Bảng cân đối kế toán là Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu Các yếu tố liên quan trực tiếp đến đánh giá tình hình và kết quả kinh doanh trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là Doanh thu, thu nhập khác, Chi phí và Kết quả kinh doanh

Trang 21

- Doanh thu và Thu nhập khác

- Yêu cầu lập và trình bày báo cáo tài chính:

Trung thực và hợp lý;

Lựa chọn và áp dụng chính sách kế toán phù hợp với từng quy định của từng chuẩn mực kế toán

- Nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính, gồm:

Hoạt động liên tục; cơ sở dồn tích; nhất quán; trọng yếu; bù trừ; có thể

so sánh

- Kết cấu và nội dung chủ yếu của BCTC

Những thông tin chung về doanh nghiệp cần phải được trình bày trong từng BCTC

Kỳ báo cáo

Kết cấu và nội dung bảng cân đối kế toán

Kết cấu và nội dung của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Kết cấu và nội dung của báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Kết cấu và nội dung của bảng thuyết minh BCTC

Trang 22

1.3.3 Yêu cầu công bố thông tin trên thị trường chứng khoán

Các yêu cầu của CBTT được quy định lần đầu tiên tại thông tư 57/2004/TT-BTC Thông tư 38/2007/TT-BTC đã quy định cụ thể hơn các yêu cầu của việc CBTT Đến thông tư 52/2012/TT-BTC càng nhấn mạnh việc CBTT phải đầy đủ chính xác và kịp thời theo quy định của pháp luật hoạt động CBTT phải do giám đốc hoặc người ủy quyền CBTT thực hiện, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do người được ủy quyền, thông tư 52/2012/TT-BTC quy định cụ thể là:

Việc công bố thông tin phải đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định của pháp luật

Việc CBTT phải do người đại diện theo pháp luật của công ty hoặc người được ủy quyền CBTT thực hiện Người đại diện theo pháp luật của công ty phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, kịp thời và đầy đủ về thông tin do người được ủy quyền CBTT công bố

Trường hợp thực hiện CBTT thông qua người được ủy quyền CBTT, công ty đại chúng, tổ chức phát hành, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ phải đăng ký một (1) người được ủy quyền thực hiện CBTT theo phụ lục

I kèm theo Thông tư này Trường hợp thay đổi người được ủy quyền CBTT phải thông báo bằng văn bản cho UBCKNN, SGDCK ít nhất năm (5) ngày làm việc trước khi có sự thay đổi

Trường hợp có bất kỳ thông tin nào làm ảnh hưởng đến giá chứng khoán thì người đại diện theo pháp luật của công ty hoặc người được ủy quyền CBTT phải xác nhận hoặc đính chính thông tin đó trong thời hạn hai mươi bốn (24) giờ, kể từ khi nhận được thông tin đó hoặc theo yêu cầu của UBCKNN, SGDCK

Việc CBTT phải được thực hiện đồng thời với việc báo cáo UBCKNN, SGDCK về nội dung công bố, cụ thể như sau:

Trang 23

Công ty đại chúng, tổ chức phát hành, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ khi thực hiện CBTT phải đồng thời báo cáo UBCKNN; SGDCK, TTLKCK khi thực hiện CBTT phải đồng thời báo cáo UBCKNN đối với những thông tin phát sinh từ SGDCK, TTLKCK;

Tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch, công ty chứng khoán thành viên, công ty quản lý quỹ có quản lý quỹ đại chúng dạng đóng và công ty đầu tư chứng khoán đại chúng khi thực hiện CBTT phải đồng thời báo cáo UBCKNN, SGDCK;

Công ty quản lý quỹ có trách nhiệm CBTT về hoạt động của quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng do mình quản lý theo quy định của pháp luật có liên quan Trường hợp công ty quản lý quỹ là công ty đại chúng thì phải thực hiện trách nhiệm CBTT áp dụng cho công ty đại chúng

Ngày CBTT là ngày thông tin xuất hiện trên phương tiện CBTT; ngày báo cáo về việc CBTT là ngày gửi fax, gửi dữ liệu điện tử (qua email hoặc qua hệ thống công nghệ thông tin tiếp nhận báo cáo), ngày UBCKNN, SGDCK nhận được thông tin công bố bằng văn bản

Ngôn ngữ thực hiện CBTT trên thị trường chứng khoán Việt Nam phải

là Tiếng Việt Trường hợp pháp luật quy định CBTT bổ sung bằng ngôn ngữ khác, ngôn ngữ thực hiện CBTT bao gồm tiếng Việt và ngôn ngữ khác theo quy định

Trường hợp có sự thay đổi nội dung thông tin đã công bố, các đối tượng CBTT theo quy định tại điều 1 Thông tư này phải đồng thời báo cáo và

có văn bản giải trình cho UBCKNN, SGDCK (trường hợp là tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch)

Các đối tượng CBTT thực hiện bảo quản, lưu giữ thông tin đã báo cáo, công bố theo quy định của pháp luật

Trang 24

1.4 SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Để thị trường chứng khoán tồn tại và phát triển thì việc công bố thông tin, còn được gọi là hệ thống thông báo và hệ thống công bố công khai, có nghĩa là công ty có báo cáo các thay đổi tài chính, thông tin và dữ liệu của các điều kiện hoạt động bộ phận và thị trường chứng khoán trong các quy định theo pháp luật nhằm đảm bảo an ninh chính quyền, lợi ích của nhà đầu tư và chấp nhận sự giám sát của công chúng xã hội, và làm cho tất cả các thông tin

và dữ liệu công cộng hoặc công bố, để giúp các nhà đầu tư chủ động hoàn toàn trong mọi tình hình Việc công bố thông tin không chỉ bao gồm công bố thông tin trước khi nó được phát hành, cũng bao gồm tiết lộ tiếp tục của thông tin sau khi các công ty được niêm yết, trong đó chủ yếu là tạo thành hệ thống, công khai, minh bạch, hệ thống báo cáo định kỳ và báo cáo tạm thời của doanh nghiệp niêm yết

Trong thị trường chứng khoán, tính không chắc chắn và rủi ro là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến giá chứng khoán và tạo thành đặc điểm của chứng khoán Kể từ khi thu thập thông tin có thể làm thay đổi đánh giá về sự không chắc chắn và rủi ro của chứng khoán, thông tin có ảnh hưởng rất lớn và

có ý nghĩa quyết định đối với biến động giá cả và giá cả, sự cân bằng của thị trường chứng khoán Các nhà đầu tư chỉ có thể đưa ra quyết định hợp lý và thực hiện đánh giá chính xác khi họ có đủ kiến thức toàn diện về các thông tin đến các hoạt động của công ty niêm yết

Trong tình trạng như vậy, giá chứng khoán thực sự có thể phù hợp với giá trị thực tế của nó Đó là để nói, chứng khoán có giá trị gia tăng cao có được mức giá cao tương ứng và các dự án với chất lượng tuyệt với có thể có được đủ vốn, có thể đảm bảo rằng thị trường chứng khoán hoạt động có hiệu quả Vì vậy có thể thấy thông tin đóng vai trò rất quan trọng đối với thị trường

Trang 25

chứng khoán Việc công bố thông tin là quá trình dai dẳng về thời điểm công

bố thông tin và là sự kết hợp của quãng thời gian thường xuyên và không thường xuyên Theo kinh nghiệm các nhà nghiên cứu các doanh nghiệp trên toàn thế giới, thị trường chứng khoán là một kết quả cần thiết của sự phát triển hệ thống công ty cổ phần Chỉ khi cổ đông được cung cấp một mức độ thông tin công bố đầy đủ mà giúp họ nhận ra giá trị cổ phần của mình tại bất

kỳ thời điểm nào, việc giao dịch sẽ được thúc đẩy nhanh chóng hơn và lợi ích

có thể được tạo ra từ vốn quy mô lớn

Công bố thông tin hay nói cách khác là thông tin kế toán còn được xem

là thông tin nền tảng cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Kết quả dịch chuyển nguồn vốn trong doanh nghiệp, tình hình sản xuất kinh doanh của các tổ chức niêm yết, mức cổ tức được chia trong kỳ, cách tạo và sử dụng tiền của các doanh nghiệp niêm yết và các thông tin khác trong báo cáo tài chính, chính là yếu tố củng cố niềm tin của nhà đầu tư, cổ đông cũng như các đối tác khác của doanh nghiệp Đó chính là chìa khóa cho sự thành công và phát triển bền vững của thị trường chứng khoán

Chính vì thế sự đầy đủ của thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết là điều trước tiên mà các nhà đầu tư, cổ đông, ngân hàng quan tâm Qua những số liệu được trình bày đầy đủ của doanh nghiệp công bố, các đối tượng sử dụng thông tin có thể dễ dàng nhận thấy, phân tích

và đánh giá được tình hình tài chính cũng như triển vọng trong tương lai, qua

đó nhà đầu tư, các cổ đông, các tổ chức tín dụng có thể có những quyết định đúng đắn, đầu tư có hiệu quả

 Đối với công tác quản lý thị trường

Giúp cho các tổ chức công bố thông tin một cách chính xác chủ yếu nhằm phục vụ các nhà đầu tư Việc công bố các thông tin định kỳ, bất thường

sẽ giúp các nhà đầu tư có cách nhìn đầy đủ và khách quan hơn về các khoản đầu tư của mình

Trang 26

Là công cụ quản lý gián tiếp không chỉ có tác động trở lại trong việc quản lý hoạt động công bố thông tin mà còn có tác động quản lý các DNNY

từ chính các thông tin công bố Tính công bằng của thị trường, các mặt trái của thị trường thể hiện ngay trong các số liệu mà các doanh nghiệp niêm yết hay các công ty phát hành công bố

Việc công bố các thông tin của công ty đại chúng là điều kiện bắt buộc Các thông tin đó chính là tình hình hoạt động của công ty, doanh thu, lợi nhuận, kế hoạch phát triển… Do vậy việc công bố thông tin chính là cộng cụ cho phép các công ty đại chúng thực hiện nghĩa vụ của mình, nhằm duy trì nguyên tắc trong thị trường một cách hiệu quả

Theo dõi liên tục quá trình phát triển của các tổ chức Các tổ chức chào bán, doanh nghiệp niêm yết luôn luôn giữ lại được các số liệu về tình hình phát triển, giúp cho các công ty hay tổ chức có thể đáp ứng được các đòi hỏi của công chúng đầu tư hay Trung tâm giao dịch chứng khoán trong mọi lúc Các số liệu đó còn có thể được tổng hợp để đưa ra thành các thông tin có tính

hỗ trợ quyết định và đánh giá sự phát triển của tổ chức, các loại chứng khoán trong quá khứ, hiện tại và tương lai

Đáp ứng nhu cầu thông tin của các nhà đầu tư Việc công bố thông tin của tổ chức phát hành là có tính chất nghĩa vụ, nếu chúng ta biết tận dụng khả năng của hệ thống thông tin một cách có hiệu quả, gián tiếp đã tạo ra cơ hội cho các nhầ đầu tư cũng như tạo khả năng phát triển cho thị trường chứng khoán, nhà đầu tư có thể nhanh chóng hiểu được khả năng hoạt động của doanh nghiệp, xu hướng và cơ hội phát triển để đầu tư vào chính doanh nghiệp đó Sự đa dạng hóa trong hoạt động công bố thông tin giúp cho các nhà quản lý, nhà đầu tư có nhiều cách nhìn nhận và kiểm tra, giám sát khác nhau đối với các doanh nghiệp niêm yết

Báo cáo nhanh chóng tình hình hoạt động theo định kỳ Hoạt động

Trang 27

công bố thông tin sẽ đảm bảo cho phép các doanh nghiệp niêm yết có khả năng công bố thông tin về tình hình hoạt động của mình theo định kỳ, cho nên nếu chúng ta xây dựng được các tiêu chuẩn cho các thông tin công bố thì chúng ta có thể nhanh chóng hệ thống hóa được các yếu cầu thông tin Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức phát hành công bố thông tin của mình một cách nhanh chóng, thuận tiện nhất đảm bảo tính chính xác của dữ liệu thông tin

 Đối với nhà đầu tư

Đảm bảo nhận được thông tin một cách chính xác Hoạt động công bố thông tin sẽ đảm bảo công bố thông tin một cách chính xác cho các nhà đầu

tư, nhà đâu tư luôn cần có các thông tin cần thiết cho các dự báo, phỏng đoán

để nắm bắt thị trường nhằm phục vụ cho nhu cầu đầu tư của mình

Đảm bảo tính công bằng chống các hành vi gian lận Tính công bằng của thông tin thể hiện ở hệ thống thông tin đối xử công bằng, lành mạnh đối với các nhà đầu tư, đang đầu tư hay chính là các đối tượng khai thác và xử lý thông tin Người ta vẫn nói rất nhiều tới sự thành công trên thị trường chứng khoán phần lớn là biết cách nắm bắt thông tin đưa ra các quyết định hợp lý tại nhiều thời điểm có lợi nhất dựa trên những hiểu biết về thông tin thị trường

Hoạt động công bố thông tin phải đảm bảo theo nguyên tắc bảo đảm sự công bằng đối với mọi nhà đầu tư, nhà đầu tư có thể khai thác thông tin một cách trực tiếp thông qua hệ thống truyền thông, máy tính nối mạng hoặc gián tiếp thông qua các bản tin, công ty tư vấn

Các công bố thông tin sẽ được xây dựng dựa trên nguyên tắc đảm bảo tính công bằng, có trật tự, đáp ứng được nhu cầu cần thiết cho mọi nhà đầu tư

Đảm bảo cung cấp thông tin liên tục và đa dạng Việc công bố thông tin định kỳ hay bất thường của các tổ chức tham gia thị trường theo một nguyên tắc nhất định sẽ cho ta một kho dữ liệu khổng lồ về các thông tin trong quá

Trang 28

khứ, các khả năng lưu trữ thông tin sẽ cho phép chúng ta lưu trữ lại tất cả những biến động thị trường trong mọi thời kỳ phát triển, giúp cho các nhà đầu

tư có thể nhận định, lập luận về sự phát triển của các loại chứng khoán, giúp

họ đánh giá đúng đắn hơn trên cơ sở của các loại thông tin đó

 Đối với Trung tâm giao dịch chứng khoán

Là công cụ giúp cho Trung tâm giao dịch chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán công bố thông tin kịp thời Hệ thống công bố thông tin giúp cho trung tâm giao dịch chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán công bố thông tin kịp thời tạo điều kiện tốt cho các nhà đầu tư cũng như các đối tượng thị trường có được cái nhìn nhanh nhất về sự thay đổi của thị trường cũng như chứng khoán mà mình quan tâm

1.5 CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN :

Từ các nghiên cứu trước, đặc biệt là phương pháp được Fracisso, Maria

và Marco sử dụng trong nghiên cứu “Thiết kế các chỉ số công bố - có hay không sự khác biệt?” lấy báo cáo tài chính được công bố bởi các doanh nghiệp, chúng ta tham khảo ba chỉ số sau để đo lường mức độ CBTT

Beretta và Bozzolan 2005 phân biệt hai phương diện được đo lường bởi hai chỉ số khác nhau: Chỉ số số lượng có liên quan và chỉ số giàu có của thông tin được hệ thống trong bảng sau:

Trang 29

Các chỉ số thành phần

QLI chỉ số chất

lượng

Chỉ số số lượng liên quan (RQT)

Phần dư chuẩn hóa của một hàm hồi quy OLS

Chỉ số giàu

có của thông tin (RCN)

Độ rộng (WID)

Độ bao phủ (COV)

Độ phân tán (DIS) Các dấu hiệu kinh tế và đo lường (ESM): loại đo lường (tài chính, phi tài chính, định lường, không thể định lượng) và dấu hiệu kinh tế (tích cực, tiêu cực hay trung bình) Tài liệu đầu ra (OLT): tình hình kinh doanh hiện tại, các giả thiết, kỳ vọng quản trị, kế hoạch hành động, các quyết định, sự kiện đã xảy ra

Độ mạnh của chỉ số này đã được đánh giá bởi các phương pháp khác và

nó đã được nhận diện như là một cách đo lường chất lượng thông tin khả thi

+ Chỉ số số lượng quan hệ (RQT) được tính toán bởi sự khác nhau giữa công bố thực hiện và công bố kỳ vọng, nó được ước tính thông qua phần dư được chuẩn hóa của hồi quy OLS, sử dụng kích cỡ và ngành công nghiệp như một biến độc lập Nhiều nghiên cứu thực nghiệm thể hiện sự ủng hộ cho ảnh hưởng của cả kích cỡ ngành công nghiệp trong công bố Sự khác nhau giữa

số lượng của thông tin được công bố và giá trị mong đợi của nó càng lớn thì chỉ số giá trị càng cao trong nghiên cứu

+ Chỉ số độ giàu có của thông tin (RCN): mục đích để nhắm đến chất lượng công bố, nó bao gồm hai phương diện khác: độ rộng và độ sâu của thông tin

Trang 30

Độ rộng (WID) phụ thuộc vào cả độ bao phủ (COV) của những chủ đề quan trọng (chủ đề được công bố ít nhất một lần được chia thành trong tổng

số chủ đề được xem xét) và độ phân tán (DIS) của sự công bố (dùng để đo lường sự tập trung của các mục được công bố) Các công bố hiện tại được phân loại vào các tài khoản – đề nghị trong báo cáo của jenkins (AICPA, 1994) Những mục sau được chọn:

1 INF

st i

1 IS

1

st

j i

p np D

Giá trị của phương diện độ rộng được tiếp cận như là ý nghĩa số học của giá trị độ bao phủ và độ phân tán

Trang 31

tin Theo giả thiết rằng số chủ đề được công bố cao hơn sẽ dẫn đến tăng độ rộng từ đó tăng độ giàu của thông tin Đồng thời, số lượng thông tin cung cấp

ở mỗi chủ đề càng cao thì chất lượng thông tin sẽ càng cao thay cho việc chỉ công bố một vài đơn vị thông tin trong chúng (tính phân tán cao hơn) Vì phương diện độ bao phủ (COV) được xây dựng trên những cách tương tự như hầu hết các chỉ số được chấp nhân trong các nghiên cứu lý thuyết trước, sự đo lường này cũng được kiểm tra một cách độc lập, để mở rộng sự so sánh với các chỉ số khác

Độ sâu (DEP) phụ thuộc vào loại đo lường được sử dụng trong một đơn

vị thông tin (MRS), trong mối liên hệ của các dấu hiệu kinh tế của các mục được công bố (ES) và trong quan điểm tóm tắt sơ lược (the outlook profile) của thông tin được công bố (OLT) Các câu chứa thông tin về phương pháp

đo lường và các dấu hiệu kinh tế , cũng như thông tin về các hành động, các chương trình hay bất cứ thông tin nào cũng hữu dụng cho việc dự báo phải đóng góp cho chất lượng công bố của các công ty trên toàn cầu Vì thế, những đặc trưng này được mong đợi để tăng độ giàu của thông tin

Đầu tiên, dấu hiệu kinh tế và chỉ số đo lường (ESM) được tính toán như sau:

+ idi tổng số công bố (số câu) trong báo cáo của công ty i

+ MSRij mang giá trị 1 nếu một đo lường của j thông tin hiện hành (định lượng hay định tính) được công bố trong báo cáo thường niên của công

ty hoặc 0 nếu trường khác

+ Esij mang giá trị 1 nếu thông tin tài chính j được công bố trong báo cáo thường niên của công ty hoặc 0 nếu trường hợp khác

Trang 32

Thứ hai, chỉ số quan điểm trích lược (OLT) được tính:

+ OTLi là chỉ số về quan điểm trích lược của công ty i

+ ACPij mang giá trị 1 nếu j thông tin (hiện hành) được công bố bởi công ty liên quan đến việc ra quyết định, hành vi hay chương trình hoặc 0 nếu trường hợp khác

+ Flij mang giá trị 1 nếu j thông tin hiện hành hành được công bố bởi công ty có hữu dụng cho dự đoán của nhà đầu tư (doanh thu, thu nhập, và dữ liệu tài chính khác)

Độ sâu được tính trung bình của dấu hiệu kinh tế, chỉ số đo lường và chỉ số quan điểm trích lược

0

1 (ES ) 2

Cuối cùng, chỉ số chất lượng (QLI) là trung bình giữa chỉ số số lượng

và chỉ số về độ giàu thông tin Cách tính lấy trung bình một cách đơn giản xuất phát từ việc không có bằng chứng hay một động cơ nào về lý thuyết để tạo trọng số cho các chỉ số Giá trị của chỉ số sẽ thuộc dãy 0 đến 1

Trang 33

1.5.2 Chỉ số phạm vi

Chỉ số phạm vi (SCI) là một chỉ số tự xây dựng, nó tương tự với các chỉ

số đã được chấp nhận trong các nghiên cứu lý thuyết trước Dựa theo một danh sách các khoản mục, chỉ số được tính bằng cách chia số thông tin hiện hành được công bố Danh sách này được chọn dựa trên sự hướng dẫn của các chuyên gia và kế hoạch phân loại được đề xuất bởi Robb, Single và Zarzeski (2001) Nơi mà thông tin hiện hành được chia thành 3 nhóm: Bối cảnh phối hợp, môi trường và các chiến lược 3 loại này được đưa vào để đạt đến một chỉ số phức tạp hơn: thông tin liên quan đến chính sách cổ tức, các vấn đề về đầu tư và tổ chức Kể từ đây, sáu loại thông tin hiện hành sẽ được xem xét

+ Môi trường (các văn bản luật, điều kiện tự nhiên, hệ thống kinh tế, v.v ) + Sự phát triển của công ty (vị trí trong thị trường, thu nhập của công ty) + Mục tiêu, chiến lược và chính sách kinh doanh

+ Thông tin về đầu tư trong tương lai

+ Tổ chức và cấu trúc hợp nhất

Ngoài ra, giá trị cao hơn bổ nhiệm cho những thông tin định lượng hơn

là những thông tin chỉ mang tính chất tường thuật, theo giả thiết rằng các thông tin định lượng rõ ràng hơn những thông tin chỉ mang tính định tính Thủ tục này tương đồng với các nghiên cứu trước (Botosan, 1997) Những thông tin định lượng dường như đưa đến một trách nhiệm pháp lý lớn hơn và

do đó tạo ra sự tăng lên trong chi phí thuộc về thương hiệu (Bhroirai, 1997) Những thông tin định lượng dường như đưa đến một trách nhiệm pháp lý lớn hơn và do đó tạo sự tăng lên trong chi phí thuộc về thương hiệu (Bhrojraj, 1999) Những thông tin chỉ mang tính tường thuật thường dễ bị điều chỉnh, bóp méo hơn (Balata & Breton, 2005) Tuy nhiên, chỉ số phạm vi không phải

là một chỉ số được cân đo; tầm quan trọng của mỗi thành tố là như nhau Sự chấm câu cho mỗi mục thông tin từ 0 – nếu không phải thông tin hiện hành,

Trang 34

0,5 nếu thông tin mang tính tường thuật và 1 nếu thông tin định lượng (bảng dưới)

_ _ _ os _ _ of _ _

i

i

No items company SCI

Total p sible no items company

Mục thông tin Không công

bố

Thông tin tường thuật

Thông tin định lượng Môi trường

0.5 0.5 0.5

1.5.3 Chỉ số số lượng

Chỉ số số lượng (QNI) được thiết kế để đo lường số lượng thông tin được công bố bởi công ty, nhắm vào chỉ số đơn vị (số câu) thông tin hiện hành Từng câu thông tin sẽ được xem xét Nó là một chỉ số đơn giản chỉ nắm bắt số lượng tuyệt đối của công bố Chỉ số này được tiêu chuẩn hóa để làm cho nó liên quan với mẫu (ví dụ), được tính như sau:

Trang 35

1 ( min) / ( ax min) 2

i

Với:

- Fii là số câu thông tin được công bố bởi công ty i

- Max là số câu lớn nhất của thông tin hiện hành được công bố trong mẫu

- Min là số câu ít nhất của thông tin hiện hành được công bố trong mẫu

- Chỉ số số lượng cũng được xếp từ 0 đến 1

Đó là những phương pháp đo lường mức độ công bố thông tin cả về

số lượng và chất lượng mà tác giả đã tham khảo Nhưng trong luận văn tác giả chỉ đề cập cũng như sử dụng chỉ số đo lường công bố thông tin về lượng

Vì vậy, chúng ta chọn cách ghi nhận theo phương pháp tiếp cận không lượng hóa để tính chỉ số công bố thông tin Trong trường hợp này, điều quan trọng là công bố tư liệu có công bố thông tin trên báo cáo tài chính hay không Nếu mục thông tin được công bố, giá trị 1 sẽ được mã hóa cho dữ liệu, nếu không công bố sẽ nhận giá trị 0 Như vậy, chỉ số công bố thông tin của công

ty sẽ được tính như sau:

ij 1

nj

i j j

d I

n

Với:

- Ij: chỉ số công bố thông tin của công ty j, 0Ij1;

- D=1 nếu mục thông tin được công bố, = 0 nếu mục thông tin I không được công bố

- n = số lượng mục thông tin mà công ty có thể công bố

Điều quan trọng ở đây là các mục thông tin tham gia vào việc tính chỉ

số công bố trên giác độ bình đẳng như nhau để tính ra giá trị trung bình Các mục thông tin được chỉ ra ở phụ lục 1-các chỉ mục công bố thông tin

Trang 36

1.6 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN

1.6.1 Lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin

Theo các nghiên cứu trước, lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin gồm: Lý thuyết đại diện, lý thuyết dấu hiệu, lý thuyết chi phí chính trị, lý thuyết về chi phí sở hữu

a Lý thuyết đại diện

Lý thuyết đại diện cho rằng một doanh nghiệp không phải là thực thể thống nhất, duy nhất Lý thuyết đại diện đã chỉ ra được mối quan hệ doanh nghiệp cổ đông, nhà quản lý và các chủ nợ Có mục tiêu chung đó là lợi ích Nhưng không phải lúc nào lợi ích cũng giống nhau Nếu cả hai bên tối đa hóa lợi ích thì nhà quản lý có thể điều hành quản lý dưới sự giám sát của cổ đông

Do đó mức độ công bố thông tin càng nhiều, càng chi tiết rõ ràng càng giảm bớt chi phí nhà quản lý và giảm sự nghi ngờ giữa lợi ích của nhà quản lý và

cổ đông Một số các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin liên quan đến

lý thuyết này như là quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời qua các nghiên cứu của Wallace (1995), Owusu – Ansah (1998) Các doanh nghiệp có quy mô lớn thường công bố thông tin nhiều hơn Chi phí đại diện phụ thuộc vào kích cỡ doanh nghiệp (Rodriguez Pere, 2004) Vì vậy các doanh nghiệp có quy mô lớn thường công bố thông tin nhiều hơn đển giảm chi phí này Tương tự, theo lý thuyết này các doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao thường phải làm rõ, chi tiết các thông tin của chủ nợ, vì vậy sẽ cung cấp thông tin nhiều hơn các doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính thấp Chính vì

sự xung đột lợi ích có thể xảy ra khi thông tin không đầy đủ, bất đối xứng nên lợi nhuận cao, mức độ sinh lời cao cũng cần phải công bố thông tin nhiều hơn

để hạn chế xảy ra vấn đề này

Trang 37

b Lý thuyết dấu hiệu

Lý thuyết dấu hiệu được giả định là thông tin không bằng nhau có sẵn cho các bên cùng một lúc và thông tin không đối xứng có thể dẫn đến giá trị thấp cho một chính sách đầu tư tối ưu khác Lý thuyết dấu hiệu cho rằng các quyết định tài chính của công ty là các dấu hiệu được gửi đi bởi các nhà quản

lý cho các nhà đầu tư để xem xét những thông tin phản hồi và dấu hiệu này là nền tảng cho chính sách truyền thông tài chính Lý thuyết tín hiệu giả định rằng các công ty có kết quả hoạt động tốt thường sử dụng thông tin tài chính như là một công cụ truyền tín hiệu đến thị trường (Ross, 1997) Các doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao thì có xu hướng công bố thông tin nhiều hơn các doanh nghiệp có khả năng sinh lời thấp, việc công bố thông tin nhiều để tạo niềm tin, và thu hút NĐT (Singhvi, Desai, 1971) Quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời và mức độ tăng trưởng là các nhân tố ảnh hưởng đến mức

độ công bố thông tin của các doanh nghiệp, việc công bố nhiều sẽ là một tín hiệu hướng các nhà đầu tư quan tâm đến doanh nghiệp

c Lý thuyết chi phí chính trị

Lý thuyết về ảnh hưởng của chính trị cho rằng các nhà quản lý nhà nước ra quyết định có liên quan đến lợi ích của công ty (chẳng hạn chính sách thuế, hạn chế độc quyền, cạnh tranh,…) dựa trên thông tin được công bố bởi các công ty (Watts và Zimmerman, 1986) Các công ty sẽ công bố thông tin

tự nguyện nhiều hơn để hạn chế chi phí chính trị này Quy mô và mức độ sinh lời thôi thúc các công ty công bố nhiều thông tin hơn để giảm các chi phí này Các công ty lớn hơn phải chịu chi phí chính trị cao hơn, dẫn đến mức độ CBTT lớn hơn (Watts và Zimmerman, 1986) Một mức độ CBTT cao hơn mong đợi sẽ ủng hộ cho một mức lợi nhuận lớn hơn cho công ty vì vậy tránh

đi trách nhiệm pháp lý (Lang và Lungholm, 1993) và cũng như một sự biện minh cho mức độ lợi nhuận của công ty (Giner, 1997) Chi phí chính trị và

Trang 38

môi trường cạnh tranh cũng ảnh hưởng đến mức độ thông tin được công bố trong một lĩnh vực (Mora và Rees, 1996)

d Lý thuyết chi phí sở hữu

Các chi phí sở hữu được xem xét như một hạn chế quan trọng của việc CBTT Những bất lợi của cạnh tranh ảnh hưởng đến quyết định cung cấp các thông tin riêng tư Nhiều nhà nghiên cứu giả thuyết rằng việc công bố thông tin nhiều hơn đến nhà đầu tư có thể làm tổn hại đến vị trí cạnh tranh của công

ty trên thị trường (Verecchina (1983), Darrough và Stoughton (1990), Feltham và Xie (1992) Các nghiên cứu này cho rằng các doanh nghiệp được khuyến khích không công vố thông tin để mà làm giảm vị thế cạnh tranh của

họ mặc dầu chi phí huy động vốn có thể cao hơn

Lý thuyết này được mở rộng trong nghiên cứu của Verrrecchina (2001)

và Dye (2001), lý thuyết này được giả định rằng không có mâu thuẫn giữa nhà quản trị và chủ sở hữu và các công bố tự nguyện là luôn luôn có thể tin cậy được

Các nghiên cứu trước cũng xem xét chi phí bắt nguồn từ việc tập hợp

và chuẩn bị thông tin như một sự cản trở trong việc tiết lộ nhiều hơn thông tin tình nguyện Kích cỡ công ty đóng một vai trò quan trọng để hạn chế tối thiểu những chi phí này, nó giảm đi đối với những công ty lớn hơn (Land và Lundholm, 1993)

Dựa vào các lý thuyết nêu trên, và những nghiên cứu trước đây đã dùng các biến như quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, chất lượng kiểm toán… để giải thích mức độ công bố thông tin của các ngân hàng thương mại Việt Nam

1.6.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin

Các nghiên cứu trước đây trên thế giới cho rằng mức độ CBTT của doanh nghiệp nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng chịu ảnh hưởng bởi một số nhân tố Các nhà nghiên cứu trước đây cũng đã vận dụng những lý

Trang 39

thuyết công bố thông tin với những lập luận khác nhau để lý giải cho sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT nói chung và CBTT trong BCTC nói riêng

Đã có những nghiên cứu sâu rộng ở các quốc gia đã và đang phát triển nhằm đo lường mức độ CBTT của các công ty tài chính và phi tài chính (Chẳng hạn, Cerf, 1961; Singhvi và Desai 1971, Buzby, 1974; Kahl và Belkaoui, 1981; Marston, 1986; Wallace, 1987; Cooke, 1989a, 1989b, 1991,

1992, 1993; Malone và cộng sự., 1993; Hossain và cộng sự, 1994; Wallace và Naser, 1995; Inchausti, 1997l; Craig và Diga, 1998; Hossain, 2000; Hossain, 2001; Haniffa và Cooke, 2002; Akhtaruddin, 2005) những nghiên cứu này cũng đã lập luận và giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT: các yếu tố liên quan đến cấu trúc doanh nghiệp như là quy mô, đòn bẩy, tỷ lệ sở hữu … các yếu tố liên quan đến hiệu quả của doanh nghiệp như tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán Các yếu tố liên quan đến thị trường là lĩnh vực hoạt động, cấu trúc sở hữu, chất lượng kiểm toán, thị trường niêm yết

a Quy mô doanh nghiệp

Lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu và một số nghiên cứu cho rằng các công doanh nghiệp có quy mô lớn thì mức độ CBTT nhiều hơn các công ty có quy mô nhỏ Có thể giải thích rằng doanh nghiệp có quy mô lớn thì có nhà đầu tư lớn hơn doanh nghiệp có quy mô nhỏ và thu hút nhiều sự chú ý hơn từ các nhà phân tích Doanh nghiệp có quy mô lớn chó nhiều nguồn thông tin công bố cho nhà đầu tư tốt hơn so với doanh nghiệp có quy mô nhỏ Quy mô doanh nghiệp được đánh giá qua các chỉ tiêu tổng tài sản, doanh thu thuần, tổng nguồn vốn hay số lao động của doanh nghiệp Trong một số nghiên cứu xuyên quốc gia, đã phát hiện mối liên hệ thuận chiều giữa các điểm về vốn hóa thị trường và mức độ công bố thông tin

Trang 40

b Khả năng sinh lời

Theo lý thuyết tín hiệu, các doanh nghiệp có lợi nhuận cao muốn phân biệt mình với các công ty có lợi nhuận thấp, thông qua tín hiệu, giúp họ tăng giá trị cổ phiếu và thu hút các nhà đầu tư Có thể tình hình tài chính trong quá khứ ảnh hưởng đến mức độ CBTT của doanh nghiệp (Khanna & Srinivasan, 2004) Các doanh nghiệp có lợi nhuận có thể muốn công bố thông tin của doanh nghiệp cho nhà đầu tư bên ngoài hơn là doanh nghiệp có ít lợi nhuận Ngược lại vẫn có những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả.cũng có xu hướng CBTT nhiều hơn để giửi thích tại sao tình hình hoạt động của họ lại như vậy

d Thời gian hoạt động

Có nhiều ý kiến cho rằng các doanh nghiệp có thời gian hoạt động lâu năm thì việc CBTT của doanh nghiệp đó nhiều hơn, các doanh nghiệp có thời gian hoạt động càng lâu thì việc lập, trình bày BCTC theo thời gian sẽ được cải thiện hơn vì vậy có thể công bố nhiều thông tin hơn doanh nghiệp mới hoạt động Owusu-Ansah (1998) đã chứng minh rằng thời gian hoạt động của

Ngày đăng: 28/11/2017, 10:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w