1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam.PDF

113 382 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 6,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ PHƯỢNG NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH THỰC PHẨM VÀ ĐỒ UỐNG NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI C

Trang 1

NGUYỄN THỊ PHƯỢNG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH THỰC PHẨM VÀ

ĐỒ UỐNG NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN

VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Đà Nẵng- Năm 2017

Trang 2

NGUYỄN THỊ PHƯỢNG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH THỰC PHẨM VÀ

ĐỒ UỐNG NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

NGUYỄN THỊ PHƢỢNG

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 4

7 Bố cục đề tài 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THỰC PHẨM VÀ ĐỒ UỐNG 5

1.1 HIỆU QUẢ KINH DOANH 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh 6

1.1.4 Cơ sở thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 12

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 16 1.2 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THỰC PHẨM VÀ ĐỒ UỐNG 23

1.2.1 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống 23

1.2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống giai đoạn hiện nay 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 33

2.1 XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 33

Trang 5

2.1.1 Xác định các biến của mô hình 33

2.1.2 Mô hình nghiên cứu 38

2.2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 43

2.2.1 Mẫu nghiên cứu 43

2.2.2 Kiểm tra và xử lý số liệu 44

2.2.3 Xây dựng ma trận hệ số tương quan 44

2.2.4 Lựa chọn biến đưa vào mô hình 45

2.2.5 Ước lượng mô hình ban đầu 45

2.2.6 Kiểm định mô hình 45

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 46

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47

3.1 THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÀNH THỰC PHẨM VÀ ĐỒ UỐNG 47

3.1.1 Thực trạng chung về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 47

3.1.2 Mối quan hệ giữa hiệu quả kinh doanh và một số nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh 48

3.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH 55

3.2.1 Phân tích hệ số tương quan 55

3.2.2 Mô hình hồi quy 57

3.2.3 Phân tích kết quả nghiên cứu của mô hình lựa chọn 60

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 64

CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 65

4.1 KẾT LUẬN 65

4.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH 66

4.2.1 Đối với doanh nghiệp ngành thực phầm và đồ uống 66

4.2.2 Đối với cơ quan quản lý Nhà nước 76

4.2.3 Các đối tượng khác 78

Trang 6

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 79

KẾT LUẬN 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI

BIÊN BẢN HỌP HỘI ĐỒNG

CÁC NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỂN

BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

1.1 Tổng hợp nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh

hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 21

1.2 Tình hình xuất, nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu

ngành thực phẩm và đồ uống giai đoạn 2013-2015 29

1.3 Trị giá xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu ngành thực

2.1 Tổng hợp giả thiết sự ảnh hưởng của các nhân tố đến

3.1 Mối quan hệ giữa tổng doanh thu và hiệu quả kinh

doanh của doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống 49

3.2

Mối quan hệ giữa tổng tài sản doanh nghiệp và hiệu

quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành thực phẩm và

đồ uống

50

3.3 Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và hiệu quả kinh

doanh của doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống 51

3.4 Mối quan hệ giữa tỷ suất nợ và hiệu quả kinh doanh

3.5

Mối quan hệ giữa tỷ trọng tài sản cố định và hiệu quả

kinh doanh của doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ

uống

53

3.6

Mối quan hệ giữa kỳ thu tiền bình quân và hiệu quả

kinh doanh của doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ

uống

54

Trang 8

bảng Tên bảng Trang

3.7

Mối quan hệ giữa vòng quay hàng tồn kho và hiệu quả

kinh doanh của doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ

uống

55

Trang 9

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ

Số hiệu

1.1 Doanh thu tiêu thụ ngành thực phẩm và đồ uống Việt

3.1 Tỷ suất sinh lời tài sản bình quân của các doanh nghiệp

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nâng cao hiệu quả kinh doanh là mục tiêu quan trọng và then chốt của mọi doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được trong quá trình sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Các đại lượng này chịu tác động bởi rất nhiều các nhân tố khác nhau với các mức độ khác nhau, do đó có ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Việc tìm ra các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh các doanh nghiệp phục vụ cho các nhà quản lý doanh nghiệp và các nhà đầu tư có được những lựa chọn, đánh giá và quyết định phù hợp nhất tùy vào mục đích của mình Đặc biệt, việc tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh có ý nghĩa quan trọng với các nhà quản lý trong việc đưa ra các chính sách liên quan để từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao giá trị của doanh nghiệp

Ngành thực phẩm và đồ uống là ngành công nghiệp quan trọng, phổ biến

và có tiềm năng phát triển Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay thì vấn đề cạnh tranh về chất lượng và giá cả hàng hóa càng trở nên gay gắt, sản phẩm của các công ty nước ngoài hay các công ty liên doanh chiếm một ưu thế nhất định trên thị trường do vậy các doanh nghiệp luôn không ngừng phấn đấu nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình Tuy nhiên chịu sự tác động của rất nhiều nhân tố khác nhau nên việc xác định mức độ tác động của từng nhân tố đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là vô cùng quan trọng, nhằm giúp cho doanh nghiệp có biện pháp hợp lý và hiệu quả, thúc đẩy quá trình phát triển kinh doanh và tồn tại của doanh nghiệp

Trang 11

Trong những năm trở lại đây, có nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu vấn đề này với nhiều kết quả, tùy vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh của từng loại hình doanh nghiệp mà mức độ tác động của các nhân tố đến hiệu quả kinh doanh là khác nhau Để tiếp tục phát triển vấn đề này nhằm tìm ra nhân tố nào thực sự có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong ngành thực phẩm và đồ uống Vì các lý đo dó trên tác giả chọn

đề tài: "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của

các doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu Đề tài hướng đến việc xây dựng mô

hình để đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp Từ đó, đưa ra các hàm ý chính sách đến các chủ thể liên quan nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh trong thực tiễn cho các doanh nghiệp trong ngành

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung cơ bản sau:

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và xác định mô hình cho phép nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh;

- Vận dụng mô hình đã xây dựng trong nhận diện, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm

và đồ uống niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam;

- Dựa trên kết quả nghiên cứu, tiến hành đo lường và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới hiệu quả kinh doanh, từ đó rút ra một số kết luận, hàm ý chính sách đối với các doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống cùng các chủ thể liên quan

Trang 12

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài đặt ra một số câu hỏi nghiên cứu sau:

-quả kinh doanh của doanh nghiệp?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tương nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống niêm yết trên Sàn chứng khoán Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi nội dung đề tài: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống niêm yết trên Sàn chứng khoán Việt Nam

+ Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu với 55 doanh nghiệp thuộc ngành thực phẩm và đồ uống niêm yết trên Sàn chứng khoán Việt Nam

+ Phạm vi về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian 3 năm từ 2013-2015 được giới hạn ở các doanh nghiệp ngành thực phẩm

và đồ uống niêm yết trên Sàn chứng khoán Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này tác giả đã kết hợp phương pháp định tính và định lượng

Trang 13

- Phương pháp định tính: Qua việc thu thập thông tin, dùng phương pháp thông kê mô tả, so sánh để phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống niêm yết trên Sàn chứng khoán Việt Nam

- Phương pháp định lượng: Sử dụng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh là mô hình ảnh hưởng cố định, mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên Từ đó, kiểm định sự tác động của các nhân tố đến hiệu quả kinh doanh và tiến hành phân tích kết quả

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

- Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa cơ sở lý luận, các kết quả nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước về hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp

để làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài Đồng thời xây dựng được mô hình nghiên cứu sự ảnh hưởng của các nhân tố và nhận diện được các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

- Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống niêm yết trên Sàn chứng khoán Việt Nam Đồng thời kết quả nghiên cứu là bằng chứng thực nghiệm cho các nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp,

hỗ trợ cho các nhà quản trị doanh nghiêp và chủ thể có liên quan sử dụng để đưa ra các quyết định

7 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài đuợc kết cấu với 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và tổng quan về ngành thực phẩm và đồ uống

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4: Hàm ý chính sách

Trang 14

- Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá” Như vậy, hiệu quả được đồng nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, có thể

do tăng chi phí mở rộng sử dụng nguồn lực sản xuất Nếu cùng một kết quả

có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này doanh nghiệp cũng đạt hiệu quả

- Quan điểm nữa cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ so sánh tương đối giữa kết quả và chi phí để đạt được kết quả đó Ưu điểm của quan điểm này là phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế Tuy nhiên chưa biểu hiện được tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chưa phản ánh được hết mức độ chặt chẽ của mối liên hệ này

- Quan điểm khác nữa lại cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là mức độ thoả mãn yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội cho rằng quỹ tiêu dùng với ý nghĩa là chỉ tiêu đại diện cho mức sống của mọi người trong các doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh” Quan điểm này có ưu điểm là đã bám sát mục tiêu của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là

Trang 15

không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân Nhưng khó khăn ở đây là phương tiện để đo lường thể hiện tư tưởng định hướng đó Theo giáo trình Phân tích tài chính, Đại Học Đà Nẵng của PGS.TS Trương Bá Thanh & TS.Trần Đình Khôi Nguyên (2009), “Hiệu quả kinh doanh” là xem xét hiệu quả sử dụng toàn bộ phương tiện kinh doanh trong quá trình sản xuất, tiêu thụ Hiệu quả kinh doanh biểu hiệu mối quan hệ tương đối giữa kết quả kinh doanh và phương tiện tạo ra kết quả nên chỉ tiêu này thường có công thức:

HQKD =

1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh

Theo công thức về hiệu quả kinh doanh nêu ở trên thì có nhiều chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và mỗi chỉ tiêu thể hiện một

ý nghĩa nhất định

a Hiệu quả cá biệt: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cá biệt được xây

dựng cho từng quá trình sản xuất kinh doanh trên cơ sở so sánh từng loại phương tiện, từng nguồn lực được sử dụng với kết quả mà doanh nghiệp đạt được

Hiệu suất sử dụng tài sản =

Giá trị sản xuất Tổng tài sản bình quân

Số CNSX bình quân năm Kết quả (Doanh thu, lợi nhuận, )

Phương tiện (Chi phí, tài sản, VCSH, )

Trang 16

NSLĐ ngày = Giá trị sản xuất

Tổng số ngày làm việc của CNSX

Số vòng quay = Giá trị sản xuất

Vốn lưu động bình quân

b, Hiệu quả tổng hợp: Các chỉ tiêu này thể hiện khả năng sử dụng một

cách tổng hợp tất cả các nguồn lực để tạo ra kết quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Phân tích khả năng sinh lời từ các hoạt động của doanh nghiệp

Tỷ suất lợi nhuận

trên doanh thu thuần =

Lợi nhuận thuần HĐKD

- Phân tích khả năng sinh lời tài sản

+ Tỷ suất sinh lời tài sản (ROA)

Tỷ suất sinh lời

tài sản (ROA) =

Lợi nhuận trước (sau) thuế

x 100%

Tổng Tài sản bình quân

Trang 17

Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) sẽ giúp nhà quản lý doanh nghiệp trả lời câu hỏi: "Những gì doanh nghiệp có thể làm được với các tài sản mà doanh nghiệp có sẵn" Nếu như giá trị chỉ tiêu này càng cao càng cho thấy khả năng quản lý của doanh nghiệp Do đó, tỷ suất sinh lợi của tài sản là kết quả tổng hợp của những cố gắng của doanh nghiệp trong việc nâng cao hiệu quả cá biệt của các yếu tố sử dụng cho quá trình sản xuất kinh doanh, là kết quả của nỗ lực mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng doanh số và tiết kiệm các chi phí

Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) được sử dụng trong nội bộ của doanh nghiệp để theo dõi tình hình sử dụng tài sản theo thời gian, theo dõi hoạt động của doanh nghiệp trong tình hình chung của ngành và so sánh với các doanh nghiệp trong cùng ngành Patricia Fairfield và Teri Lombardi Yohn

đã thực hiện một nghiên cứu về tỷ suất sinh lợi của tài sản Họ đã chứng minh được rằng phân tích sự thay đổi của tỷ suất sinh lợi của tài sản có vai trò quan trọng trong việc dự báo tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai

+ Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (RE)

Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA) đã phản ánh một cách tổng hợp hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên kết quả về lợi nhuận còn chịu tác động bởi thuế thu nhập doanh nghiệp và cấu trúc nguồn vốn Vì vậy, để thấy rõ thật sự hiệu quả của hoạt động thuần kinh

tế ở doanh nghiệp, còn có thể sử dụng chỉ tiêu tỷ suất sinh lờii kinh tế của tài sản

RE = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

x 100%

Tổng Tài sản bình quân

Trang 18

Nói đến hiệu quả doanh nghiệp các nghiên cứu trên thế giới đều dùng thuật ngữ “Firm Performance” khái niệm này là một vấn đề gây tranh cãi về tài chính chủ yếu là do ý nghĩa đa chiều của nó Nghiên cứu về hoạt động doanh nghiệp xuất phát từ lý thuyết tổ chức và quản lý chiến lược (Murphy, Trailer & Hill 1996): Hiệu quả hoạt động đo lường trên cả phương diện tài chính và tổ chức Hiệu quả hoạt động tài chính như tối đa hóa lợi nhuận, tối

đa hóa lợi nhuận trên tài sản, và tối đa hóa lợi ích của cổ đông là vấn đề cốt lõi của tính hiệu quả của doanh nghiệp (Chakravarthy, 1986) Các biện pháp hiệu suất hoạt động, chẳng hạn như tốc độ tăng trưởng doanh số bán hàng và tăng trưởng thị phần, cung cấp một định nghĩa rộng hơn về hiệu suất khi họ tập trung vào các yếu tố cuối cùng dẫn đến hoạt động tài chính (Hoffer & Sandberg, 1987)

Việc đo lường hiệu quả hoạt động có thể bị tác động bởi mục tiêu của công ty mà mục tiêu này có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách đo lường hiệu quả hoạt động của công ty và sự phát triển của thị trường chứng khoán

và thị trường vốn Ví dụ, nếu thị trường chứng khoán không phát triển cao và các hoạt động lúc đó chỉ tiêu đo lường theo giá trị thị trường không cung cấp một thông tin chính xác Các biến đại diện cho hiệu quả hoạt động phổ biến là lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) hoặc lợi nhuận trên đầu tư (ROI) Những đo lường hiệu quả hoạt động theo kế toán này đại diện cho các chỉ số tài chính thu được từ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập đã được sử dụng bởi nhiều nhà nghiên cứu (ví dụ, Mehran (1995), và Ang, Cole & Line (2000)

Ngoài ra, còn có các đo lường hiệu quả hoạt động khác được gọi là đo lường hiệu quả hoạt động thị trường, chẳng hạn như giá mỗi cổ phiếu với thu nhập trên mỗi cổ phiếu (P/E), tỷ số giá thị trường của vốn chủ sở hữu trên giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu (MBVR), và Tobin Q Hai biện pháp kế toán,

Trang 19

ROA và ROE, được sử dụng như là chỉ tiêu cho hoạt động của công ty, và ba chỉ tiêu hoạt động thị trường là P/E, MBVR, và Q Tobin Hiệu quả hoạt động

đo lường bằng ROA và ROE thường được sử dụng nhiều nhất

Trở lại với giáo trình “Phân tích tài chính” - Đại học Kinh tế Đà Nẵng,

có viết hiệu quả của doanh nghiệp được xem xét một cách tổng thể bao gồm hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính Trong đó chỉ tiêu phản ánh tổng hợp hiệu quả tài chính là tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Đây là một chỉ số được sử dụng để dễ so sánh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành nghề với quy mô khác nhau, hoặc giữa các doanh nghiệp trong nhiều ngành nghề khác nhau, hoặc giữa nhiều hoạt động đầu tư khác nhau như tiền gửi tiết kiệm, bất động sản, chứng khoán, vàng, ngoại tệ, dự án kinh doanh…chính vì vậy nó sẽ giúp nhà đầu tư đưa ra các quyết định tài trợ nhanh chóng

Nhược điểm lớn nhất của chỉ số ROE là nó có thể dễ dàng bị bóp méo bởi các chiến lược tài chính của nhà quản trị doanh nghiệp Ví dụ, nhà quản trị có thể dự đoán được vì một lý do gì đó mà lợi nhuận của doanh nghiệp có khả năng bị ảnh hưởng và suy giảm nên doanh nghiệp sẽ tăng đầu tư vào dư

nợ hoặc mua lại cổ phiếu từ nguồn tiền mặt tích trữ, và chính những hoạt động này sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện được đáng kể chỉ số ROE Trong khi

đó chỉ số ROA có tính đến số lượng tài sản được sử dụng để hỗ trợ các hoạt động kinh doanh Chỉ số này xác định công ty có thể tạo ra một tỷ suất lợi nhuận ròng đủ lớn trên những tài sản của mình.Không giống ROE, đo lường

tỷ suất sinh lợi của tài sản ROA bao gồm tất cả các loại tài sản của một doanh nghiệp, nghĩa là tổng tài sản được sử dụng chứ không phải là tài sản thuần (bao gồm vốn cổ đông, vốn hình thành từ lợi nhuận để lại, vốn chênh lệch do phát hành cổ phiếu ra công chúng cao hơn mệnh giá, các quỹ dự trữ phát triển

dự phòng) Ví dụ như lượng tiền mà doanh nghiệp có được do vay nợ sẽ được

Trang 20

cân bằng với một trách nhiệm tương ứng với một khoản nợ phải trả Chính vì vậy, chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản được dùng đánh giá việc sử dụng toàn

bộ số tiền được đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh mà không cần quan tâm đến nguồn gốc từ vay nợ hay từ vốn chủ sở hữu David Lindo tin rằng tỷ suất sinh lợi của tài sản là chỉ số tài chính tốt nhất được sử dụng để đo lường mối quan hệ giữa lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được và khoản đầu tư vào các tài sản cần thiết để đạt được lợi nhuận đó

Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh khác nhau mà mức độ đầu tư vào tài sản mà doanh nghiệp cần sử dụng khác nhau Ví dụ như đối với các doanh nghiệp sản xuất thiết bị lớn như sản xuất ô tô thì cần một khối lượng tài sản hữu hình lớn trong khi đó một doanh nghiệp quảng cáo hay sản xuất phần mềm máy tính chỉ cần một lượng thiết bị tối thiểu và do đó

có thể tạo ra được tỷ suất ROA cao hơn Tuy nhiên trong trường hợp kinh doanh thất bại, các doanh nghiệp có nhiều tài sản hữu hình lớn có thể chuyển đổi thành tiền trong khi một doanh nghiệp sử dụng chủ yếu là các tài sản trí tuệ sẽ gặp nhiều khó khăn Do đó mặc dù chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) làm cho công việc phân tích cơ bản trở nên dễ dàng hơn, giúp nhà đầu

tư nhận ra cơ hội cổ phiếu tốt và giảm thiểu những rủi ro có thể xảy ra nhưng việc sử dụng chỉ tiêu nên áp dụng trong việc so sánh đánh giá các doanh nghiệp trong cùng một ngành nghề kinh doanh Như vậy, trong nghiên cứu này, tác giả nhận thấy việc sử dụng chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của tài sản – ROA

để đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm và

đồ uống là phù hợp và chính xác nhất

Trang 21

1.1.4 Cơ sở thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

a Các nghiên cứu trên thế giới

Bài viết của Wei Xu (2005), thực hiện nghiên cứu “Mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả kinh doanh” Dữ liệu nghiêu cứu gồm 1.300 công ty niêm yết trên sàn giai dịch chứng khoán Thượng Hải Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả kinh doanh bị tác động rất lớn bởi biến tỷ lệ nợ, biến tốc độ tăng trưởng không có tác động đến hiệu quả kinh doanh

Dimitris Margaritis & Maria Psillaki (2007), nghiên cứu “Mối quan hệ giữa cơ cấu vốn, quyền sở hữu và hiệu quả kinh doanh của công ty” Dữ liệu nghiên cứu bao gồm các công ty ở Pháp thuộc lĩnh vực kinh doanh truyền thống như: ngành dệt may, dược phẩm và lĩnh vực công nghiệp phát triển như máy tính, nghiên cứu và phát triển Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nhân quả giữa tỷ lệ nợ và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cho thấy hiệu quả kinh doanh tác động đến tỷ lệ nợ và ngược lại, tỷ lệ nợ tác động dương (+) đến hiệu quả kinh doanh khi tỷ lệ nợ ở mức trung bình

Zeitun & Titan (2007), nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh trên cả hai phương diện là tài chính và thị trường Dữ liệu được thực hiên từ năm 1989-2003 của 167 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Amman-Jordan thuộc 16 ngành nghề kinh doanh khác nhau trong lĩnh vực phi tài chính Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh bao gồm: Tỷ lệ nợ, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản, quy mô công

ty, thuế, ngành nghề kinh doanh, tỷ trọng tài sản cố định, trong đó biến nợ có tác động mạnh mẽ nhất Các yếu tố tác động dương: tốc độ tăng trưởng tổng tài sản, quy mô công ty, thuế Yếu tố tác động âm: tỷ trọng tài sản cố định Onaolapo & Kajola (2010), nghiên cứu các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh Dữ liệu nghiên cứu của 30 công ty phi tài chính niêm yết trên

Trang 22

sàn giao dịch chứng khoán Nigeria từ năm 2001-2007 Kết quả cho thấy tỷ lệ

nợ, tỷ trọng tài sản cố định có tác động âm (-) đến hiệu quả kinh doanh, vòng quay tài sản, quy mô doanh nghiệp, số năm thành lập công ty tác động dương (-) đến hiệu quả kinh doanh

Một nghiên cứu khác của Camelia Burja (2011) về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của một doanh nghiệp trong ngành hóa chất Rumani sử dụng mô hình phân tích hồi quy bội với biến độc lập của nghiên cứu là tỷ suất sinh lời tài sản (ROA) Dữ liệu được thu nhập từ báo cáo tài chính hằng năm của công ty này với khoảng thời gian 1999-2009 Kết quả nghiên cứu của Camelia Burja chỉ ra sự ảnh hưởng của cấu trúc tài chính (tỷ suất nợ và đòn bẩy tài chính), số vòng quay hàng tồn kho, số vòng quay nợ phải thu, tỷ lệ tài sản cố định và tỷ suất chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp tới ROA của doanh nghiệp này Mà từ đó, tác giả đưa ra kiến nghị doanh nghiệp nên chú trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng và kỹ thuật (tài sản cố định), cố gắng tiết kiệm nhằm cắt giảm tối thiểu các khoản chi phí bán hàng

và quản lý doanh nghiệp Nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa cấu trúc tài chính, tỷ trọng TSCĐ, số vòng quay hàng tồn kho và nợ phải thu với tỷ suất sinh lời tài sản cố định (ROA)

Nghiên cứu thực nghiệm của Amdemikael Abera (2012) về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp trên địa bàn Addis Ababa - Ethiopia, trong đó tác giả có nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến

tỷ suất sinh lời tài sản (ROA) Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng nhân tố tỷ trọng tài sản cố định, tỷ suất sinh lời doanh thu (lợi nhuận trước thuế/doanh thu) và nhân tố quy mô của doanh nghiệp là các nhân tố có ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời tài sản của doanh nghiệp với mối quan hệ thuận chiều Ba nhân tố tỷ suất chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp và tỷ suất nợ là hai chỉ tiêu tác động nghịch chiều tới ROA Đặc biệt, trong phần nghiên cứu của mình, tác

Trang 23

giả còn xem xét sự ảnh hưởng của 3 nhân tố vĩ mô (nhân tố bên ngoài) vào

mô hình nghiên cứu là tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP), lạm phát và lãi suất Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) và lạm phát có tác động thuận chiều với tỷ suất sinh lời tài sản ROA, còn yếu tố lãi suất lại hoàn toàn không hề ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn Đây là nghiên cứu khá mới về mặt thời gian lẫn nội dung, bởi trong nghiên cứu đã xem xét sự tác động tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp bao gồm cả các nhân tố bên trong doanh nghiệp cũng như tác động của các nhân tố vĩ mô Nghiên cứu của Bashir và cộng sự (2013) về hiệu quả hoạt động về các doanh nghiệp ngành dệt tại một số nước đang phát triển ở Châu Á về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh (ROA) giai đoạn từ 2010-2012 Trong nghiên cứu nhóm tác giả đưa ra 5 nhân tố cơ bản: quy mô doanh nghiệp (tổng tài sản), số lượng lao động, cơ cấu tài sản (tỷ trọng tài sản cố định), tuổi doanh nghiệp và số vòng quay vốn lưu động Bằng phương pháp xây dựng mô hình hồi quy bội, kết quả nghiên cứu cho thấy: Số lượng lao động, cơ cấu tài sản

và số vòng quay vốn lưu động là ba nhân tố có mối quan hệ ảnh hưởng đến ROA Trong đó số vòng quay vốn lưu động có mối quan hệ thuận chiều tới ROA, hai nhân tố cơ cấu tài sản và số lượng lao động có mối quan hệ ngược chiều tới hiệu quả hoạt động kinh doanh Ngược lại nhân tố số lượng lao động

và tuổi doanh nghiệp là các nhân tố không có ý nghĩa thống kê tới hiệu quả hoạt động doanh nghiệp

b Các nghiên cứu tại Việt Nam

Luận văn của Nguyễn Lê Thanh Tuyền (2013), “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam”, luận văn thạc sĩ kinh doanh, Đại học Đà Nẵng Dữ liệu nghiên cứu gồm 45 công ty ngành sản xuất chế biến thực phẩm

Trang 24

niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Kết quả nghiên cứu đã cho thấy tốc độ tăng trưởng tác động dương, quản trị nợ phải thu của khách hàng, đầu tư tài sản cố định, cơ cấu vốn, rủi ro kinh doanh tác động âm, quy mô và thời gian hoạt động không ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Luận văn của Hoàng Thị Thắm (2014), “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngành khoáng sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng Dữ liệu gồm 16 công ty thuộc ngành khoáng sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

suất Trong đó nhân tố quy mô của doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu có tác động dương, cơ cấu tài sản, cấu trúc tài chính, chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp, lãi suất có tác động âm đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Luận văn của Võ Thị Tuyết Hằng (2015), “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu qủa kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam”, thạc sĩ quan trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng Dữ liệu nghiên cứu gồm 107 doanh nghiệp trong ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô của doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng tài sản tác động dương, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, kỳ thu tiền bình quân tác động âm đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nhân tố tỷ lệ nợ ngắn hạn, tỷ trọng tài sản cố định không ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 25

Tóm lại, Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các nhân tố có

thể ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp là: quy mô doanh nghiệp, cấu trúc tài sản trong doanh nghiệp, cấu trúc tài chính, tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp, tỷ suất chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp, số vòng quay hàng tồn kho, số vòng quay vốn lưu động, lãi suất, lạm phát và tốc

độ tăng trưởng kinh tế Các nghiên cứu thực nghiệm này là cơ sở để tác giả

tiếp tục phát triển nghiên cứu

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Trên cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh doanh và các nghiên cứu thực nghiệm ở trên thế giới và Việt Nam có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Đề tài chia các nhân tố thành hai nhóm đó

là nhóm nhân tố thuộc về doanh nghiệp và nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp Nhóm các nhân tố thuộc về doanh nghiệp: Quy mô doanh nghiệp, tốc

độ tăng trưởng tài sản, cấu trúc tài chính, cơ cấu tài sản cố định, quản trị các khoản phải thu, số vòng quay hàng tồn kho, tỷ suất chi phí bán hàng và quản

lý doanh nghiệp và nhóm các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp là: Tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát và lãi suất

a Nhân tố bên trong doanh nghiệp

- Quy mô doanh nghiệp

Quy mô doanh nghiệp có thể được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu khác nhau như: doanh thu, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu Doanh nghiệp có quy mô lớn

sẽ có điều kiện thuận lợi về uy tín, thương hiệu, thị phần, sức mạnh tài chính nên dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn vay, lãi suất vay ưu đãi, hạn mức vay lớn, Những doanh nghiệp này với sức mạnh về tài chính, tài sản và khả năng quản lý sẽ dễ dàng khai thác lợi thế theo quy mô nhằm tối thiểu hóa chi phí đầu vào và gia tăng hiệu quả đầu ra Một số nghiên cứu trước đây đều

Trang 26

nhận thấy quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Trong nghiên cứu của Zeitun & Tian (2007), Onaolapo & Kajola (2010), Amdemikael Abera (2012), quy mô doanh nghiệp có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

- Tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp

Tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp cao hay thấp là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp đang phát triển hay đang trì trệ trong quá trình hoạt động kinh doanh Một doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao sẽ có nhiều cơ hội đầu tư trong tương lai và lợi thế trong việc tiếp cận nguồn vốn hơn những doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng thấp Theo nghiên cứu của Zeitun & Titan (2007) thì tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp tác động dương đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, còn nghiên cứu của Wei Xu (2005) thì tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp không ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

- Cấu trúc tài chính

Cấu trúc tài chính doanh nghiệp được hiểu một cách chung nhất là quan

hệ tỷ lệ giữa toàn bộ nợ phải trả và vốn chủ sở hữu được tính toán từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính được lựa chọn nghiên cứu là tỷ suất nợ (bằng tổng nợ/tổng nguồn vốn) hoặc tỷ suất nợ/vốn chủ sở hữu

Việc xác định sự ảnh hưởng của cấu trúc tài chính tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp theo hướng thuận hay nghịch vẫn còn nhiều bàn cãi Theo lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng các doanh nghiệp các doanh nghiệp thích tài trợ nội bộ hơn là tài trợ bên ngoài Thứ tự ưu tiên sẽ là: lợi nhuận giữ lại, phát hành nợ mới, phát hành vốn cổ phần mới

Việc tài trợ bằng các nguồn vốn bên ngoài có thể dẫn tới nguy cơ phải chịu các áp lực thanh toán các khoản chi phí về tiền lãi, sẽ làm sụt giảm lợi

Trang 27

nhuận trước thuế của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Amdemikael Abera (2012) và Võ Đức Nghiêm (2013) cho kết quả tương tự

về mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ suất nợ và ROA

Nghiên cứu của Wei Xu (2005), Onaolapo & Kajola (2010), đều cho rằng cấu trúc tài chính tác động âm đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

- Cơ cấu tài sản

Cơ cấu tài sản được đo lường bằng giá trị tài sản cố định trên tổng tài sản Một số quan điểm và kết quả nghiên cứu trong nước chỉ ra rằng các doanh nghiệp có tỷ trọng tài sản cố định cao thì cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn dễ dàng hơn, hiệu quả kinh doanh mang lại cũng cao hơn so với các doanh nghiệp có tỷ trọng tài sản cố định thấp Thêm vào đó, lợi ích từ lá chắn thuế từ khấu hao tài sản cố định là điều kiện làm tăng hiệu quả tài chính trong doanh nghiệp

Ngược lại, theo quan điểm của Zeitun & Titan (2007), Camelia Burja (2011) hay Bashir và cộng sự (2013) cho rằng: một tỷ lệ tài sản cố định cao,

dự báo cho việc sử dụng vốn lưu động sẽ không hiệu quả, bởi nó làm giảm nguồn vốn đầu tư vào hàng tồn kho, cũng như dự trữ tiền mặt thấp Điều này

có thể khiến công ty không đáp ứng được nhu cầu của sự gia tăng cho các sản phẩm hoặc dịch vụ khi thị trường đòi hỏi, ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của công ty Hay nghiên cứu của Võ Thị Thúy Hằng (2015) thì cho rằng tỷ trọng tài sản không ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh cuả doanh nghiệp vì một số lý do như doanh nghiệp lựa chọn công nghệ, máy móc thiết bị chưa phù hợp với hoạt động kinh doanh, chưa sử dụng hiệu quả tài sản cố định,

quyết định thuê mua tài sản cố định chưa hợp lý

- Quản trị các khoản phải thu

Trang 28

Để đánh giá khả năng quản lý các khoản nợ phải thu khách hàng của doanh nghiệp người ta thường sử dụng chỉ tiêu số vòng quay nợ phải thu khách hàng và kỳ thu tiền bình quân Trong quá trình hoạt động kinh doanh,

để tăng doanh thu bán hàng thì doanh nghiệp có rất nhiều biện pháp khác nhau trong đó có biện pháp bán chịu hàng hóa, đây là một trong những biện pháp hữu hiệu để làm tăng số lượng sản phẩm tiêu thụ Những nếu nguồn vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng dài sẽ không mang lại hiệu quả sử dụng vốn, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Nghiên cứu của Camelia Burja (2011), Nguyễn Lê Thanh Tuyền (2013), Võ Thị Thúy Hằng (2015) cũng chỉ ra rằng kỳ thu tiền bình quân tác động ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

- Số vòng quay hàng tồn kho

Đối với các doanh nghiệp thương mại thì vốn lưu động chiếm tỷ lệ cao trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp Hàng tồn kho là nguồn vốn lưu động quan trọng Tốc độ luân chuyển vốn hàng tồn kho nhanh hay chậm thể hiện sản phẩm của doanh nghiệp làm ra được thị trường đón nhận như thế nào Chỉ tiêu đo lường tốc độ luân chuyển vốn lưu động là số vòng quay hàng tồn kho

và số ngày một vòng quay hàng tồn kho Nếu số vòng quay hàng tồn kho tăng cho thấy sản phẩm của doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường, sản phẩm tiêu thụ mạnh mang lại doanh thu cao, nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp Nghiên cứu của Bashir và cộng sự (2013), Camelia Burja (2011) đã chỉ ra điều đó

- Tỷ suất chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp

Tỷ suất chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp được đo lường bằng tổng chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp trên doanh thu thuần hoạt động kinh doanh Trong hoạt động kinh doanh có thể nói rằng: “cắt giảm chi phí là con đường cơ bản để tăng lợi nhuận trong doanh nghiệp” Nghiên cứu

Trang 29

của Amdemikael Abera (2012) về hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn địa bàn Addis Ababa – Ethiopia đã chỉ ra phải đặc biệt chú trọng việc tiết kiệm chi phí kinh doanh

b Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

- Tốc độ tăng trưởng GDP

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là thước đo hiệu quả kinh tế chung của một đất nước, là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định Tốc độ tăng trưởng kinh tế là một trong các nhân tố vĩ mô có tác động mạnh mẽ tới hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế Nghiên cứu thực nghiệm của Amdemikael Abera (2012) chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng GDP có mối quan hệ thuận chiều với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Nghiên cứu của Hoàng Thị Thắm (2013) thì cho rằng tốc độ tăng trưởng GDP không ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

- Lạm phát

Lạm phát là sự gia tăng trong mức giá chung của nền kinh tế theo thời gian Tỷ lệ lạm phát thấp hoặc trung bình trong một quốc gia có thể tác động tích cực trên các lĩnh vực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Lạm phát cao ảnh hưởng theo xu hướng tiêu cực nhiều hơn tới các chủ thể trong nền kinh tế, mà ảnh hưởng nhiều nhất là tới hoạt động sản xuất kinh doanh Nói chung các lý thuyết kinh tế đều cho rằng lạm phát cao tác động làm gia tăng các khoản chi phí đầu vào, giảm năng suất lao động nếu doanh nghiệp không

có các chính sách chế độ làm việc thoả đáng cho nhân viên, nhu cầu tiêu dùng giảm tác động này làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ khó khăn hơn kéo theo sự giảm sút về mặt lợi nhuận hay lạm phát có mối quan hệ ngược chiều (-) với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 30

Nghiên cứu của Amdemikael Abera (2012) mang lại kết quả ngược lại, lạm phát tăng ROA tăng Bởi lợi nhuận của công ty vẫn có thể gia tăng nếu như mức tăng giá sản phẩm bình quân cao hơn so với mức tăng bình quân chi phí đầu vào trong khi số lượng sản phẩm bán ra không sụt giảm nhiều Như vậy lạm phát tăng làm tăng doanh thu, nếu doanh nghiệp khéo léo tiết kiệm chi phí thì lợi nhuận sẽ tăng lên

- Lãi suất

Lãi suất là giá cả của tín dụng là tỷ lệ mà theo đó tiền lãi được người đi vay trả cho các khoản vay đối với người cho vay Lãi suất thấp sẽ giúp cho doanh nghiệp cân nhắc sử dụng nợ nhiều hơn bởi tiết kiệm được các khoản chi phí sử dụng vốn và lợi ích từ lá chắn thuế mang lại mà doanh nghiệp có thể gia tăng được lợi nhuận làm tăng hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Ngược lại, lãi suất cao sẽ làm cho chi phí của việc sử dụng vốn nhiều hơn làm gia tăng các khoản chi phí kinh doanh từ đó sụt giảm lợi nhuận trong doanh nghiệp và doanh nghiệp không tận dụng lợi ích từ lá chắn thuế mang lại Bảng 1.1 trình bày tổng hợp các nghiên cứu thực tiễn về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp để làm căn cứ xác định các nhân tố dự kiến ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống trong chương 2

Bảng 1.1: Tổng hợp nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng

đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Nhân tố Nghiên cứu thực nghiệm Kết quả

1 Quy mô doanh

nghiệp

Trang 31

Nhân tố Nghiên cứu thực nghiệm Kết quả

3 Cơ cấu tài sản

Trang 32

Nhân tố Nghiên cứu thực nghiệm Kết quả

- Ngành thực phẩm và đồ uống rất đa dạng về ngành nghề, sản phẩm, quy trình công nghệ, mức độ chế biến, Theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ v/v Ban hành hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam, sản xuất thực phẩm và đồ uống thuộc phân ngành cấp

2, được xếp vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

Trang 33

Các hoạt động sản xuất của ngành gồm nhiều tiểu ngành nhỏ:

+ Chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt;

+ Chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản;

+ Chế biến và bảo quản rau quả; Sản xuất dầu, mỡ động, thực vật; Chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa;

+ Xay xát và sản xuất bột;

+ Sản xuất thực phẩm khác;

+ Sản xuất đồ uống có cồn và không cồn

Trong khi đó, kinh doanh các sản phẩm thực phẩm và đồ uống thuộc phân ngành cấp 3, xếp vào ngành Bán buôn và bán lẻ

- Ngành thực phẩm và đồ uống sử dụng phần lớn đầu vào là các sản phẩm của ngành nông nghiệp và thủy sản, do vậy có thể nói ngành thực phẩm

và đồ uống phát triển cùng sự tiến bộ của ngành nông nghiệp và thủy sản nhưng cũng đồng thời chịu tác động bởi tình hình phát triển chung của cả ngành kinh tế và các chính sách của Chính phủ

- Sự phát triển của ngành thực phẩm đồ uống không đòi hỏi lượng vốn lớn như ngành công nghiệp nặng song đem lại hiểu quả kinh tế-xã hội cao

- Hoạt động kinh doanh chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: thói quen, niềm tin, thu nhập của người tiêu dùng, dân số, chính sách của Nhà nước, hội nhập kinh tế nên về dài hạn ngành thực phẩm còn được hỗ trợ bởi nhiều yếu tố tích cực như: dân số đông với tốc độ tăng trưởng bình quân 1,2% /năm; cơ cấu dân số trẻ (68% hay 60,7 triệu người dưới 40 tuổi ); tỷ lệ đô thị hóa cao đạt 35,7% năm 2015 ; thu nhập bình quân đầu người tăng cao mạng lưới bán lẻ dày đặc khuyến khích người dân mua hàng và làm tăng giá trị tiêu thụ; luật thuế được cải cách theo chiều hướng có lợi cho các doanh nghiệp; chính sách mở cửa giao thương buôn bán ngày càng được mở rộng, rào cản dần được tháo gỡ cho doanh nghiệp khi xuất khẩu hàng hóa,…

Trang 34

- Theo tổ chức nghiên cứu của Economist Intelligence Unit (EIU), năm

2015, quy mô tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình Việt Nam đạt 127,7 tỷ USD trong đó chi tiêu cho thực phẩm và đồ uống đạt 55,3 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 43,3% tiêu dùng cả nước Dự báo đến năm 2020, Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng cao về tiêu dùng thực phẩm và đồ uống

- Tiêu dùng nội địa có những đặc điểm nổi bật như: thị trường bị chi phối bới các doanh nghiệp lớn (đồ uống; sản xuất dầu mỡ động thực vật; chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa) do chi phí đầu tư ban đầu lớn và mức độ canh tranh trong các lĩnh vực này là rất cao Thị trường chịu sự cạnh tranh của thương lái tư nhân rất cao (chế biến, bảo quản và các sản phẩm từ thịt; chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản; chế biến và bảo quản rau quả), do 85% người tiêu dùng vẫn có thói quen mua thịt tươi hàng ngày ở chợ truyền thống thay vì mua hàng tuần tại siêu thị

1.2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống giai đoạn hiện nay

Nhu cầu tiêu dùng ở Việt Nam vẫn tăng trưởng chậm, người tiêu dùng còn thận trọng trong chi tiêu do bối cảnh kinh tế gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, hệ thống bán lẻ phát triển mạnh, thói quen và chỉ số tiêu dùng của người dân Việt Nam ngày càng cao cho thấy một thị trường hứa hẹn cho ngành bán lẻ nói chung và ngành thực phẩm đồ uống nói riêng Lĩnh vực bán

lẻ thực phẩm và nước giải khát tại Việt Nam đang rất phân tán, với sự hiện diện của chỉ một vài doanh nghiệp lớn Lĩnh vực bán lẻ thực phẩm và đồ uống chủ yếu bị chi phối bởi các nhà bán lẻ ngoài doanh nghiệp, bao gồm các nhà bán lẻ truyền thống và cửa hàng thực phẩm độc lập Các doanh nghiệp thâm nhập bán lẻ chủ yếu giới hạn trong các khu vực đô thị

Thị trường thực phẩm đồ uống được kiểm soát bởi một số doanh nghiệp lớn như các doanh nghiệp nội địa Vinamilk, Kinh Do, Masan Consumer, Minh

Trang 35

Phú, Vinafood, Halico, Bibica, Sabeco, các doanh nghiệp nước ngoài như Nestle (cà phê); Nabati Indonesia (bánh kẹo); Diageo, Heineken, Carlsberg, SABMiller (đồ uống có cồn); Kirin Beverage (nước ngọt); AEON, E-mart và Công ty Đầu tư U&I, FamilyMart, NTUC FairPrice (đa dạng hóa các sản phẩm thực phẩm thông qua bán lẻ tổ chức) Các công ty đa quốc gia lớn đang thiết lập các đơn vị độc lập và công ty liên doanh để đầu tư vào các lĩnh vực như cà phê, bánh kẹo, đồ uống có cồn, nước ngọt, và hệ thống phân phối bán lẻ

Doanh thu tiêu thụ ngành thực phẩm và đồ uống Việt Nam không ngừng tăng trong giai đoạn 2013-2016 và dự báo tiếp tục trong giai đoạn 2017-2019, với mức tăng trưởng kép hàng năm đạt 16,1% nhờ thu nhập cải thiện và xu hướng tiêu dùng sản phẩm giá trị cao hơn, được thể hiện thông qua biểu đồ sau:

(Nguồn: FBI)

Biểu đồ 1.1: Doanh thu tiêu thụ ngành thực phẩm và đồ uống Việt Nam

qua các năm

Trang 36

Năm 2013, Việt Nam sản xuất hơn 60.1 tỷ USD giá trị sản xuất thực phẩm và đồ uống, chiếm 40.5% tổng giá trị tiêu thụ của cả nước Tiêu thụ lương thực thực phẩm và đồ uống năm 2013 tăng 8,2% so với năm 2012 Tiêu thụ thực phẩm và đồ uống trong nước đạt 42.8 tỷ USD chiếm 71,2% tổng giá trị sản xuất thực phẩm và đồ uống, 29% còn lại thuộc về xuất khẩu (thủy sản, gạo, cà phê, hạt điều, …)

Tiêu thụ thực phẩm trong nước đạt 34,8 tỷ USD Mặc dù sức mua giảm mạnh đối với ngành hàng tiêu dùng nhanh trong năm 2013, nhưng sức mạnh tổng hợp của một nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng, cơ cấu dân số vàng, tỷ lệ

đô thị hóa nhanh chóng và sự gia tăng của tầng lớp trung lưu cũng như mạng lưới bán lẻ dày đặc sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng tiêu dùng hàng thực phẩm trong trung và dài hạn Hơn nữa, với bản chất là một ngành thiết yếu cho cuộc sống, lương thực thực phẩm luôn là một trong những ngành mục tiêu để cân bằng danh mục đầu tư

Nông sản, các loại thịt, trứng và thủy sản tiếp tục là ba ngành hàng lớn nhất với tổng giá trị 26,7 tỷ USD, đóng góp 76,8% vào tổng giá trị tiêu thụ lương thực thực phẩm trong nước (không tính xuất khẩu) Các sản phẩm nông sản và sữa có doanh thu tăng trưởng hai con số 11,8% và 16.5% so với năm

2012 Sữa, dầu ăn và chất béo và mì gói là các ngành hàng có doanh thu năm

2013 vượt 1 tỷ USD, trong đó doanh thu ngành sữa đạt 2,9 tỷ USD với mức tăng trưởng cao nhất 16,5% so với năm ngoái Ngoài ra, doanh thu ngành bánh kẹo và bánh nướng đạt 1,3 tỷ USD, tăng hơn 8,2% so với năm 2012 Trên thị trường đồ uống, đồ uống có cồn là ngành hàng lớn nhất với 70% đóng góp vào tổng giá trị bán lẻ đồ uống Doanh thu ngành hàng này tăng 6,3% lên 5,6 tỷ USD, mức tăng thấp nhất so với các loại đồ uống khác Bia chiếm phần lớn trong tiêu thụ đồ uống có cồn, Sabeco, Habeco là những công ty nội thống lĩnh thị phần của thị trường bia Việt Nam Nước giải khát có mức tăng

Trang 37

trưởng cao nhất 12,4% đạt 1,7 tỷ USD doanh số bán, trong khi đó, đồ uống nóng là phân khúc nhỏ nhất mang về 0,7 tỷ USD doanh thu trong năm 2013 Trên thị trường nước giải khát, PepsiCo và Coca-Cola thống trị thị trường nước ngọt có gas, Tân Hiệp Phát chiếm giữ mảng không gas Đồ uống nóng là phân khúc nhỏ nhất chỉ mang về 0,7 tỷ USD doanh thu trong năm 2013 Thị trường

đồ uống nóng dưới sự quản lý của Nestle, Vinacafe và Vinatea

Năm 2014, 2015 do thu nhập của Việt Nam tăng và sự phát triển của ngành công nghiệp bán lẻ nên tình hình sản xuất, tiêu thụ ngành thực phẩm và

đồ uống có xu hướng tăng với mức tăng trung bình là 5,1%/năm Năm 2015, tổng quy mô tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình Việt Nam đạt 127,7 tỷ USD Trong đó, chi tiêu cho thực phẩm và đồ uống đạt 55,3 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 43,3% tổng mức tiêu dùng cả nước Tỷ trọng này giữ khoảng cách xa so với tỷ trọng mua sắm các sản phẩm dịch vụ lớn tiếp theo là Nhà ở và vật liệu xây dựng (10,2%); Giải trí, giáo dục (9,4%); Giao thông, viễn thông (9,2%)… Điều này gián tiếp cho thấy giá trị sản xuất của ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống là rất lớn

Sản xuất sữa và các sản phẩm từ sữa ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao Sản lượng ngành sữa năm 2015 tăng 16,2% - mức tăng trưởng cao nhất trong

3 năm qua Trong giai đoạn 2013-2015, ngành sữa có tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 20,2% Sản lượng sữa chế biến tăng mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng cao của người dân

Tăng trưởng doanh thu bán hàng đồ uống có cồn tăng đều qua các năm Tăng trưởng doanh thu cao, đạt 13,3%/năm giai đoạn 2011-2015 Tiêu thụ bia/đầu người tại Việt Nam tăng nhanh, đạt 31,5 lít/người năm 2015 từ mức 6,6 lít/người năm 2010 Tiêu thụ bia của Việt Nam đứng đầu Đông Nam Á, đứng thứ 5 châu Á Xu hướng tiêu dùng theo hướng tăng tiêu thụ bia cao cấp

Trang 38

giúp tăng giá trị thị trường và mở ra cơ hội cho doanh nghiệp sản xuất phát triển tiếp phân khúc này

Tốc độ tăng trưởng doanh thu đồ uống không cồn liên tục tăng trong giai đoạn 2013-2015: Theo công ty nghiên cứu BMI, năm 2015, quy mô doanh thu nước giải khát đạt 84,9 nghìn tỷ đồng (4 tỷ USD), tăng 5,7% so với năm

2014 Trong đó, nước uống có gas đạt 14,0 nghìn tỷ, tăng 9,3% so với năm

2014, chiếm tỷ trọng 16,5%; nước uống không gas đạt 70,9 nghìn tỷ, tăng 5%, chiếm 83,5%

Đồng hành với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu ngành thực phẩm và đồ uống đã có nhiều thay đổi và gặt hái được nhiều thành công đáng kể Tình hình xuất nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu ngành được thể hiện thông qua bàng sau:

Bảng 1.2: Tình hình xuất, nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu ngành thực

phẩm và đồ uống giai đoạn 2013-2015

Tình hình xuất khẩu Tình hình nhập khẩu

(Triệu

USD)

Tỷ trọng

(%)

Trị giá nhập khẩu ngành thực phẩm và

đồ uống

(Triệu USD)

Tổng trị giá nhập khẩu

(Triệu

USD)

Tỷ trọng

Trang 39

xuất khẩu của ngành thực phẩm khá cao trong tổng trị giá xuất khẩu của toàn ngành ở mức trung bình khoảng 13%, cho thấy đây là ngành công nghiệp có tiềm năng phát triển ở thị trường ngoài nước trong tương lai Các sản phẩm

Bảng 1.3: Trị giá xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu ngành thực

Việt Nam là một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về xuất khẩu

gạo, thủy sản, cà phê,… Rau quả có tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao

nhất trong số các mặt hàng nông sản năm 2015 khi đạt mức tăng 23,5% - năm thứ 5 liên tiếp tăng trưởng 2 chữ số Xuất khẩu rau quả sẽ tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới do nhiều loại rau quả được trồng theo tiêu chuẩn quốc tế và bắt đầu được cấp phép xuất khẩu vào nhiều thị trường khó tính là Mỹ, Nhật Bản, Úc…Hạt điều là ngành thế mạnh của Việt Nam khi giữ vững vị thế xuất

Trang 40

khẩu số 1 thế giới (thị phần 55,5%) trong 10 năm qua Tăng trưởng xuất khẩu của ngành cũng liên tục trên 10% từ năm 2013 Nguồn cung điều trồng hạn chế tại một số quốc gia và thường xuyên bị tác động bất lợi từ thời tiết là những yếu tố giúp ngành điều tăng tích cực những năm qua và trong thời gian tới Ngành Gạo tuy đang đối mặt với xuất khẩu suy giảm

Tuy nhiên thương hiệu về thực phẩm của Việt Nam vẫn còn đang mờ nhạt trên thị trường thế giới Sản phẩm ngành thực phẩm và đồ uống ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người nên vấn đề thực phẩm sạch và chất lượng là mối quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng Để sản phẩm Việt xâm nhập vào các thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản,…và được nhiều người biết đến thì doanh nghiệp ngành thực phẩm cần nổ lực nhiều hơn nữa trong việc tạo ra sản phẩm chất lượng Quá trình hội nhập đã mang lại nhiều

cơ hội nhưng cũng đối mặt với không ít thử thách cho doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống Chính sách mở của hội nhập tạo điện kiện cho các công ty nước ngoài hoặc công ty liên doanh có cơ hội đầu tư ở Việt Nam, sản phẩm xâm nhập vào nội địa tăng cao đồng nghĩa doanh nghiệp trong nước chịu sự cạnh tranh gay gắt về chất lượng và giá cả, đòi hỏi doanh nghiệp ngành thực phẩm không ngừng phấn đấu vươn lên để khẳng định chỗ đứng của mình

Ngày đăng: 28/11/2017, 10:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đoàn Ngọc Phi Anh (2010), Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính và hiệu quả tài chính: tiếp cận theo phương pháp đường dẫn, Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng- số 5 (40).2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính và hiệu quả tài chính: tiếp cận theo phương pháp đường dẫn
Tác giả: Đoàn Ngọc Phi Anh
Năm: 2010
[2]. Võ Thị Tuyết Hằng (2015), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu qủa kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam, thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu qủa kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Võ Thị Tuyết Hằng
Năm: 2015
[3]. Nguyễn Bích Hậu (2015), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp nhóm ngành sản xuất thực phẩm và đồ uống niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam , luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp nhóm ngành sản xuất thực phẩm và đồ uống niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Bích Hậu
Năm: 2015
[4]. Ngô Thanh Hoàng (2007), Giải pháp xây dựng cấu trúc vốn cho phát triển dàn hạn của các công ty cổ phần thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp xây dựng cấu trúc vốn cho phát triển dàn hạn của các công ty cổ phần thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Ngô Thanh Hoàng
Năm: 2007
[5]. Nguyễn Thị Thanh Nga (2010), Các nhân tố ảnh tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh , luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Nga
Năm: 2010
[6]. PGS.TS Trương Bá Thanh & TS. Trần Đình Khôi Nguyên (2009), Giáo trình Phân tích tài chính , Đại Học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phân tích tài chính
Tác giả: PGS.TS Trương Bá Thanh & TS. Trần Đình Khôi Nguyên
Năm: 2009
[7]. Nguyễn Hòa Nhân (2013), giáo trình Tài chính doanh nghiệp , Nhà xuất bản tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình Tài chính doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hòa Nhân
Nhà XB: Nhà xuất bản tài chính
Năm: 2013
[8]. Nguyễn Lê Thanh Tuyền (2013), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam, luận văn thạc sĩ kinh doanh, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lê Thanh Tuyền
Năm: 2013
[9]. Hoàng Thị Thắm (2014), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngành khoáng sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam , luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngành khoáng sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Hoàng Thị Thắm
Năm: 2014
[14]. Modigliani, F., and M. Miller, (1958), The Cost of Capital, Corporation Finance and the Theory of Investment, American Economic Review 48, 261-297 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Cost of Capital, Corporation Finance and the Theory of Investment, American Economic Review 48
Tác giả: Modigliani, F., and M. Miller
Năm: 1958
[16]. Rami Zeituna and Gary Gang Tian, Capital Structure and Corporate Performance Evidence from Jordan, Australasian Accounting Business and Finance Journal Sách, tạp chí
Tiêu đề: Capital Structure and Corporate Performance Evidence from Jordan
[17]. Onaolapo, Kajola A, Kajola, Sunday O (2010) Capital structure and firm performce: evidan from Nigeria, European Journal of Economics, Finance and Administrative Sciences Sách, tạp chí
Tiêu đề: Capital structure and firm performce: evidan from Nigeria
[18]. Jajan R.G. and Zingales (1995), Is there an optimal capital structure? Some evidence from International data, The journal finance Sách, tạp chí
Tiêu đề: Is there an optimal capital structure? Some evidence from International data
Tác giả: Jajan R.G. and Zingales
Năm: 1995
[19]. Wei Xu, Xiangzhen Xu, Shoufeng Zhang (2005), An empirical study on relationship between corporation performance and capital structure, China-USA Business Review Sách, tạp chí
Tiêu đề: An empirical study on relationship between corporation performance and capital structure
Tác giả: Wei Xu, Xiangzhen Xu, Shoufeng Zhang
Năm: 2005
[11]. Amdemikael Abera (2012), Factors Affecting Profitability - an Empirical Study on Ethiopian bussiness Industry Khác
[13]. D. Margaritis, M. Psillaki (2007), Capital structure and firm efficiency, Journal of Business Finance and Accouting Khác
[15]. Naizuli Ruth Wakida (2005), Capital structure and financial performance - a case of selected medium size enterprises in Kampala Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w