Từ viết tắt Nội dung ABSDA Giá trị tuyệt đối của biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh BCTC áo cáo tài ch nh BIG 4 Nhóm 4 công ty kiểm toán: KPMG, PricewaterhouseCoopers PWC, Deloitte
Trang 1VÕ NHƯ TÙNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN 2008 – 9 Đ N CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM Y T TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 15
Trang 2VÕ NHƯ TÙNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN 2008 – 9 Đ N CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM Y T TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS Đoàn Thị Ngọc Trai
Đà Nẵng - Năm 15
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn ký và ghi rõ họ tên
Võ Nhƣ Tùng
Trang 41.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3.Câu hỏi nghiên cứu 3
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5.Phương pháp nghiên cứu 4
6.Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu 4
7.Tổng quan tài liệu 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUY T VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN VÀ ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN 10
1.1 KIỂM TOÁN 10
1.2 CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN 10
1.2.1.Định nghĩa chất lượng kiểm toán 10
1.2.2.Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán 12
1.2.3 Mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán và chất lượng báo cáo tài chính 16
1.2.4.Đo lường chất lượng kiểm toán 18
1.3.KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN 2008 –2009… 32
1.3.1 Khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009 32
1.3.2 Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới Việt Nam 34
CHƯƠNG GIẢ THU T VÀ PHƯƠNG PH P NGHI N CỨU 38
2.1 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 38
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.2.1 Chọn mẫu và dữ liệu thực hiện nghiên cứu 39
2.2.2 Đo lường chất lượng kiểm toán 41
2.2.3 Mô hình nghiên cứu 45
Trang 53.1.1 Tính toán các biến 51
3.1.2 Kết quả phân tích 56
3.2 KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 67
3.2.1 Kiểm định giả thuyết 67
3.2.2 Kiểm tra các điều kiện vận dụng mô hình 69
CHƯƠNG 4 K T LUẬN TỪ K T QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ KI N NGHỊ NHẰM GIẢM THIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU TỚI CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM Y T TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 72
4.1 KẾT LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 72
4.2 CÁC KIẾN NGHỊ 77
K T LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 QUY T ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 6Từ viết tắt Nội dung
ABSDA Giá trị tuyệt đối của biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh BCTC áo cáo tài ch nh
BIG 4
Nhóm 4 công ty kiểm toán: KPMG, PricewaterhouseCoopers (PWC), Deloitte Touche Tohmatsu (D&T), Ernst and Young (E&Y)
DA Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh
GFC Khủng hoảng tài chính toàn cầu
Non BIG 4
Nhóm các công ty kiểm toán không thuộc nhóm BIG 4: KPMG, PricewaterhouseCoopers (PWC), Deloitte Touche Tohmatsu (D&T), Ernst and Young (E&Y)
Trang 7Số hiệu
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp các biến trong mô hình 48 Bảng 3.1 Bảng gán giá trị các biến giả trong mô hình 52
Bảng 3.2 Tổng hợp dữ liệu thu thập từ báo cáo tài chính của
Bảng 3.3 Bảng thống kê mô tả các biến trong mô hình 56 Bảng 3.4 Biểu đồ tỷ lệ khu vực ngành nghề 57
Bảng 3.6 Bảng tổng hợp kết quả hồi quy 61 Bảng 3.7 Bảng tổng hợp kết quả hồi quy sau khi loại trừ các biến
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm toán là một chủ đề nghiên cứu rộng và được nhiều đối tượng quan tâm vì tính chất vô cùng quan trọng của vấn đề này đối với nhiều đối tượng, bao gồm: nhà đầu tư, các tổ chức tài ch nh, ngân hàng, các cơ quan ch nh phủ… Kiểm toán quan trọng vì nó là cách thức hiệu quả nhất để giải quyết vấn đề đại diện giữa quyền sở hữu và quản lý doanh nghiệp, phát sinh từ sự bất đối xứng thông tin và xung đột lợi ích giữa hai đối tượng trên Trong các nội dung rộng lớn của kiểm toán thì chất lượng kiểm toán là một vấn đề phức tạp, khó khăn để xác định và đo lường một cách chính xác và hiệu quả Nghiên cứu chất lượng kiểm toán có ý nghĩa quan trọng không chỉ đánh giá xem các ý kiến kiểm toán ch nh xác có được ban hành hay không mà còn xem xét xem liệu hoạt động kiểm toán được tiến hành có nhằm hướng tới mục đ ch giải quyết các vấn đề đại điện giữa người sở hữu và người quản lý doanh nghiệp hay không
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009 là cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhất trong lịch sử kể từ cuộc đại khủng hoảng (Friedman & Friedman, 2009) [21] Cuộc khủng hoảng này bắt đầu từ năm 2007 với cuộc khủng hoảng nhà đất tại Mỹ và lan rộng ra toàn cầu, tác động nghiêm trọng tới mọi tổ chức, doanh nghiệp, định chế tài chính, kinh tế khác nhau, gây nên cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu GFC cùng với sự đổ
vỡ của các công ty dẫn đến khủng hoảng đã làm gia tăng mức độ chỉ trích chất lượng kiểm toán và gia tăng áp lực nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán (Holm & Zaman, 2012) [23] Các hoạt động kiểm toán bị đặt dấu hỏi nghiêm trọng (Sikka 2009), ví dụ: Kiểm toán viên kiểm toán cho ngân hàng Mỹ Lehman rother đã thất bại trong việc đưa ra ý kiến chính xác về tình hình tài
ch nh cũng như khả năng hoạt động liên tục của ngân hàng này với việc đưa
Trang 9ra ý kiến đồng ý trong báo cáo kiểm toán quý của ngân hàng này hai tháng trước khi vụ phá sản lớn nhất nước Mỹ của Lehman rother được công bố [30] Giá trị lớn của lệ phí kiểm toán cũng nêu lên dấu hỏi về sự độc lập của kiểm toán viên và khả năng mà kiểm toán viên đứng về phía lợi ích của nhà quản lý được nêu ra; đồng thời câu hỏi cũng được nêu ra rằng liệu kiểm toán viên có thực hiện được một cuộc kiểm toán chính xác và hiểu được các công
cụ tài chính phức tạp, hiện đại trong bối cảnh hiện nay (Sikka, 2009) [30] Việt Nam với đặc thù là một nền kinh tế non trẻ, đang phát triển và hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới đã chịu những ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng tài ch nh đối với mọi mặt của nền kinh tế Giai đoạn 2002 –
2007, Việt Nam luôn được coi là một trong những đầu tàu tăng trưởng của nền kinh tế thế giới với tốc độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn đạt 7.8%,
đã suy giảm xuống mức 6.18% vào năm 2008 và 5.32 % vào năm 2009 Xuất khẩu vốn là động lực của nền kinh tế Việt Nam chịu thiệt hại nghiêm trọng trong bối cảnh khó khăn, suy giảm chi tiêu của thị trường toàn cầu trong khủng hoảng tài chính Đi kèm với khủng hoảng là lạm phát bùng nổ trong nước vào đầu năm 2008, sức mua yếu kém của thị trưởng nội địa trong nước càng đẩy nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2008 – 2009 chìm sâu vào những khó khăn Thị trường chứng khoán Việt Nam suy giảm nghiêm trọng với chỉ
số VN – Index giảm 65.95%, chỉ số HASTC – Index (HNX – Index hiện nay) suy giảm 67.1% trong năm 2008 và tiếp tục suy giảm và chạm đáy vào quý 1 năm 2009 Điều này cho thấy tác động to lớn của GFC đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam; đồng thời GFC cũng đặt ra những áp lực to lớn tương tự đối với kiểm toán viên, công ty kiểm toán trong việc duy trì chất lượng kiểm toán trong bối cảnh khó khăn tác động chung tới các doanh nghiệp tại Việt Nam Câu hỏi được đặt ra rằng liệu các công ty kiểm toán, các kiểm toán viên tại Việt Nam ứng xử như thế nào trong khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác
Trang 10động của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán tại Việt Nam
Từ những vấn đề nêu trên, nhận thấy thực tiễn cần có một nghiên cứu về ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán tại Việt Nam, mà cụ thể hơn là chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong khủng
hoảng tài chính, tác giả xin được thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu
ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” Nghiên cứu nhằm mục đ ch lấp dần vào khoảng
trống nghiên cứu mối quan hệ giữa khủng hoảng tài chính và chất lượng kiểm toán tại Việt Nam hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của nghiên cứu là nghiên cứu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công
ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Mục tiêu khác của nghiên cứu liên quan đến vấn đề đại diện đó là nghiên cứu nhằm làm rõ xem liệu kiểm toán có thực hiện được vai trò của mình trong việc giải quyết vấn đề đại diện trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu hay không Hoạt động kiểm toán bằng việc giải quyết hay không giải quyết được vấn đề đại diện góp phần ảnh hưởng tới việc phân bổ nguồn lực kinh tế
xã hội một cách hiệu quả trong điều kiện khủng hoảng tài chính toàn cầu
3 Câu hỏi nghiên cứu
Mục đ ch nghiên cứu đã nêu dẫn đến câu hỏi nghiên cứu của đề tài là: “
Chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam bị ảnh hưởng như thế nào bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu?”
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính
Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện đối với kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (ngoại trừ các công ty thuộc nhóm tài chính – ngân hàng)
+ Về thời gian: Nghiên cứu được thực hiện dựa trên báo cáo tài ch nh đã được kiểm toán của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2009
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đi theo hướng tiếp cận thực chứng bằng cách sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến nhằm chứng minh giả thuyết nghiên cứu Nghiên cứu đầu tiên được thực hiện bằng việc đưa ra giả thuyết nghiên cứu, sau đó tiến hành thu thập số liệu báo cáo tài chính sau kiểm toán, báo cáo kiểm toán trong phạm vi đối tượng và thời gian nghiên cứu Tiếp theo, tác giả tiến hành tính toán các dữ liệu thu thập được và phân tích, mô tả mối quan hệ giữa các đối tượng trong mô hình nghiên cứu dựa trên cơ sở dữ liệu tính toán, thu thập Kết quả phân tích, mô tả này sẽ được sử dụng để đưa ra kết luận về giả thuyết nghiên cứu
6 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm giúp các đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính tại Việt Nam, bao gồm: Nhà đầu tư, cơ quan nhà nước, các tổ chức tài
ch nh, ngân hàng, … nhận rõ được tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp Qua đó, giúp nhà đầu tư, ngân hàng, các tổ chức tài chính sử dụng thông tin tài ch nh được cung cấp từ báo cáo tài chính một cách phù hợp hơn, góp phần tăng hiệu quả
Trang 12phân phối nguồn lực tài chính, kinh tế tới các doanh nghiệp, góp phần hạn chế ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tới bản thân nhà đầu tư, tổ chức tài
ch nh, ngân hàng; giúp cho các cơ quan nhà nước, tổ chức nghề nghiệp liên quan có cơ sở để kiện toàn các ch nh sách, văn bản, quy định nghề nghiệp liên quan tới kế toán, kiểm toán nhằm hạn chế ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tới tính trong sạch, lành mạnh của thông tin trên thị trường, góp phần giúp nền kinh tế vững mạnh, hạn chế ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tới toàn bộ nền kinh tế
Nghiên cứu cũng cung cấp một cơ sở thực tiễn vấn đề đại diện trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu Qua đó, nghiên cứu góp phần giúp chủ
sở hữu doanh nghiệp thực hiện quản trị doanh nghiệp một cách hiệu quả hơn, hạn chế những ảnh hưởng của sự bất đối xứng thông tin, mối xung đột lợi ích giữa người chủ sở hữu và người quản lý, đặc biệt trong điều kiện khủng hoảng tài chính toàn cầu
7 Tổng quan tài liệu
Nghiên cứu về chất lượng kiểm toán là một trong những đề tài nghiên cứu còn hết sức mới mẻ tại Việt Nam và nghiên cứu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam là một chủ đề hoàn toàn mới và chưa từng có nghiên cứu chính thức và có đầu tư nào về chủ đề này từng được thực hiện tại Việt Nam Do đó, tham khảo cơ sở lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu về chất lượng kiểm toán, đặc biệt là chất lượng kiểm toán trong điều kiện khủng hoảng đã được thực hiện trên thế giới là hết sức cần thiết trong thực hiện các nghiên cứu tại Việt Nam
Các nghiên cứu về chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính được thực hiện bởi nhiều tác giả bao gồm: DeAngelo, Denfond và Zhang, Francis, Svanstrom, Choi … Các tác giả này tập trung vào nghiên cứu các nhân tố ảnh
Trang 13hưởng đến chất lượng kiểm toán và cách thức đo lường chất lượng kiểm toán Một số yếu tố được phát hiện ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán qua các nghiên cứu của các tác giả trên bao gồm: T nh độc lập của kiểm toán viên, nhóm Big 4( DeAngelo, 1981), dịch vụ phi kiểm toán (Svanstrom, 2013), chi phí kiểm toán (Blankley, 2012), quy mô khách hàng kiểm toán (Reynolds và Francis, 2001) [10], [16], [29], [31], … Còn nhiều những ý kiến chưa đồng nhất về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán trong các nghiên cứu này và tương tự vậy, còn nhiều khác biệt không thống nhất về cách thức đo lường chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính Nhiều nghiên cứu sử dụng các phép đo khác nhau để đo lường chất lượng kiểm toán; bao gồm: Sai sót trọng yếu, ý kiến kiểm toán, đánh giá của người sử dụng thông tin và phép đo được nhiều nghiên cứu chia sẽ, đồng thuận và được sử dụng trong nghiên cứu này
đó là phép đo dựa trên đo lường chất lượng lợi nhuận theo biến kế toán dồn
t ch Phép đo này được ủng hộ bởi Defond và Zhang (2013) khi cho rằng chất lượng lợi nhuận là đại diện phù hợp cho chất lượng báo cáo tài chính và mục tiêu cuối cùng của kiểm toán là ngăn ngừa nhà quản lý đưa ra các báo cáo lợi nhuận tốt hơn thực tế [17] Và chất lượng kiểm toán đối với khoản mục chất lượng lợi nhuận thường được đo lường bằng biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (Defond và Zhang, 2013) [17] Hai nhà nghiên cứu chỉ ra ưu điểm của phép đo này mà nhiều phép đo khác không có được và tác giả cũng đồng ý và cho rằng phù hợp với nghiên cứu này đó là: Đây là một phép đo liên tục nên
nó biểu diễn được những thay đổi nhỏ trong chất lượng kiểm toán kể cả xảy
ra trong giới hạn chuẩn mực kế toán được áp dụng [17] Nhiều nghiên cứu khác cũng sử dụng chất lượng lợi nhuận được đo lường theo biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh DA để đo lường chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính
đã được tiến hành, bao gồm: Balsam (2003), Carey và Simnett (2006), Francis and Yu (2009), Choi (2010), Francis (2011), Gunny và Zhang (2012), Svanstrom
Trang 14(2013) (Jueming Bing, Chu, X.H , Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014) là một trong những cơ sở chứng minh rằng phép đo này là phù hợp để đo lường chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính [24] Mặt khác phép đo này phù hợp với cỡ mẫu nhỏ và một khung thời gian ngắn (Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) nên tác giả cho rằng phép đo này là hoàn toàn phù hợp để áp dụng trong nghiên cứu này để đo lường chất lượng kiểm toán [32]
Nhiều mô hình được nghiên cứu để đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh DA, bao gồm: Mô hình Healy (1985), Mô hình DeAngelo (1986),
Mô hình Jones (1991), Mô hình Modified Jones (1991), Mô hình Friedlan (1994) Mô hình Jones được cho là hiệu quả nhất để đo lường DA tuy nhiên các hầu hết các nghiên cứu áp dụng đo lường DA tại Việt Nam sử dụng mô hình Friedlan (1994) là một biến thể của mô hình DeAngelo (1986) là phương pháp chính bởi nó phù hợp với mức độ nghiên cứu và thời gian giới hạn của những nghiên cứu này, bao gồm: Nguyễn Thị Minh Trang (2012), Nguyễn Thị Uyên Phương (2014) [4], [5]… Những giới hạn về thời gian và mức độ nghiên cứu của tác giả trong nghiên cứu này là tương ứng với các nghiên cứu trước đó mà tác giả đã đề cập và nhận định rằng mô hình Friedlan (1994) vẫn đảm bảo việc đo lường DA với kết quả được kiểm chứng qua các nghiên cứu trên, tác giả quyết định sử dụng mô hình Friedlan (1994) là mô hình để tính toán DA trong nghiên cứu này
Nghiên cứu ảnh hưởng của khủng hoảng tài ch nh đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính còn là một đề tài nghiên cứu mới trên thế giới Nghiên cứu chính mà tác giả lấy làm cơ sở để tham khảo và phát triển nghiên cứu của mình là nghiên cứu của Sotheara Riel và Carl Tano (2014) [32]; với đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu đến chất lượng kiểm toán” Nghiên cứu của Sotheara Riel và Carl Tano (2014) với mục đ ch tìm hiểu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng
Trang 15kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết tại Thụy Điển trong và sau giai đoạn khủng hoảng [32] Sotheara Riel và Carl Tano đã sử dụng biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh DA để đo lường cho chất lượng kiểm toán [32] Các quan sát trong nghiên cứu của Sotheara Riel và Carl Tano bao gồm: Biến khủng hoảng, quy mô khách hàng kiểm toán, hiệu quả hoạt động kinh doanh (ROA), nhóm công ty kiểm toán BIG 4, tăng trưởng tài sản … Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ thuận giữa chất lượng kiểm toán và giai đoạn khủng hoảng hay chất lượng kiểm toán tăng lên trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu Sotheara Riel và Carl Tano (2014) cho rằng trong giai đoạn khủng hoảng chất lượng kiểm toán tăng lên bởi sự thận trọng của các kiểm toán viên khi đối phó với các rủi ro từ khủng hoảng tài chính [32] Tác giả cho rằng kết quả nghiên cứu của Sotheara Riel và Carl Tano không thể áp dụng để đưa ra kết luận tương tự tại Việt Nam vì nghiên cứu của Sotheara Riel và Carl Tano dựa vào cơ sở dữ liệu tại Thụy Điển là một nước phát triển với các doanh nghiệp kiểm toán lâu đời và khuôn khổ chính sách, chuẩn mực kế toán, kiểm toán của nước này là hoàn thiện hơn so với Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển và hệ thống chính sách, chuẩn mực kế toán, kiểm toán còn chưa hoàn thiện, còn vay mượn nhiều các chính sách trên thế giới Do đó cách thức ứng xử hay hành vi của các công ty kiểm toán, công
ty niêm yết trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu có thể khác nhau giữa hai nước Vì vậy tác giả cho rằng không thể sử dụng kết quả nghiên cứu của Sotheara Riel và Carl Tano (2014) để đưa ra kết luận trong nghiên cứu về vấn đề tương tự trong bối cảnh tại Việt Nam được
Kế thừa và phát huy các nghiên cứu trước đó về chất lượng kiểm toán, tác giả quyết định thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009 tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết tại Việt Nam” Đề tài được thực hiện nhằm
Trang 16tìm hiểu xem liệu chất lƣợng kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam chịu tác động nhƣ thế nào trong khủng hoảng tài chính toàn cầu và tập trung nghiên cứu chất lƣợng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết tại Việt Nam Những nghiên cứu trên mà tác giả đề cập là cơ sở lý thuyết và thực tiễn quan trọng để thực hiện đề tài này
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUY T VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN VÀ
ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN
1.1 KIỂM TOÁN
Một định nghĩa được sử dụng rộng rãi về kiểm toán xem kiểm toán như là: “Hệ thống quy trình khách quan nhằm thu thu thập và đánh giá các bằng chứng của các cơ sở dẫn liệu liên quan đến các sự kiện và hoạt động kinh tế; xác định mức độ phù hợp của các cơ sở dẫn liệu này với các chuẩn mực, tiêu chuẩn thiết lập và công bố kết quả hoạt động đến người quan tâm” (Eilifsen,
2010, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) [32]
Có nhiều đối tượng sử dụng thông tin, do đó kiểm toán nhằm phục vụ cho các loại đối tượng này cũng được chia thành nhiều loại khác nhau
Phân loại theo mục đ ch kiểm toán thì kiểm toán được chia thành:
+ Kiểm toán hoạt động
+ Kiểm toán tuân thủ
+ Kiểm toán báo cáo tài chính
Phân loại theo chủ thể kiểm toán thì kiểm toán được chia thành:
+ Kiểm toán nội bộ
1.2.1 Định nghĩa chất lượng kiểm toán
Chất lượng kiểm toán và các yếu tố cấu thành chất lượng kiểm toán luôn
là một đề tài được tranh cải rộng rãi Francis (2011) chia sẻ quan điểm rằng
Trang 18không phải dễ dàng để định nghĩa chất lượng kiểm toán bởi vì nó là một khái niệm phức tạp và một định nghĩa đơn giản là không đủ [19]
Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 220 (VSA 220) và Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế số 220 (IAS 220): “Chất lượng kiểm toán là mức độ thỏa mãn về t nh khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán đồng thời thỏa mãn về mong muốn có những ý kiến đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính, kế toán của đơn vị được kiểm toán với thời gian định trước và giá phí thích hợp” DeAngelo (1981) xem chất lượng kiểm toán như sự đánh giá của thị trường
về khả năng kiểm toán viên phát hiện các hành vi vi phạm của khách hàng và báo cáo các vi phạm này [16]
Defond và Zhang (2013) cho rằng những định nghĩa trên xem kiểm toán như một quá trình chỉ gồm hai chức năng ch nh là kiểm tra và báo cáo các hành vi vi phạm chuẩn mực kế toán và để đạt được chất lượng kiểm toán cao thì kiểm toán viên không chỉ xem xét sự phù hợp giữa báo cáo tài chính với chuẩn mực kế toán mà còn xem xét xem liệu báo cáo tài chính có phản ánh thực tế tình hình kinh tế của doanh nghiệp hay không [17] Do đó, Defond và Zhang (2013) định nghĩa chất lượng kiểm toán là sự phản ánh liên kết giữa kiểm toán với chất lượng báo cáo tài chính, hệ thống kế toán tài chính và các đặc điểm vốn có của khách hàng và chất lượng kiểm toán cao hơn là một sự đảm bảo cao hơn rằng báo cáo tài chính đã kiểm toán phản ánh thực tế tình hình hoạt động kinh tế, hệ thống kế toán tài ch nh, đặc điểm vốn có của công
ty [17] Quan điểm của Defond và Zhang là quan điểm mà tác giả ủng hộ và
là đặt làm cơ sở cho phát triển nghiên cứu này
Quan điểm pháp lý về chất lượng kiểm toán liên quan đến việc phát hành báo cáo kiểm toán thích hợp cho báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán
Mỹ (GAAP) cho rằng chất lượng kiểm toán là một biến nhị phân khi chất
Trang 19lượng kiểm toán là tốt hoặc tồi tệ (Francis, 2011) [19] Francis (2011), Svanstrom (2013), Defond và Zhang (2013) xem chất lượng kiểm toán như một sự biến đổi liên tục [17], [19], [31]; đây là quan điểm mà tác giả nghiên cứu cho rằng phù hợp và chia sẽ cùng quan điểm trong nghiên cứu này
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán
a Phí kiểm toán
Chi phí kiểm toán có phải là mối đe dọa đến chất lượng kiểm toán? Antle (2006) trong một nghiên cứu được thực hiện tại Anh và Mỹ đã tìm thấy rằng phí kiểm toán cao dẫn đến một sự chấp nhận cao hơn bình thường mức
độ dồn tích kế toán [7] Eshleman và Guo (2014) cho rằng chi phí kiểm toán cao hơn so với mức hợp lý theo khối lượng công việc của kiểm toán có thể là nguyên nhân khiến các kiểm toán viên đánh mất t nh độc lập và chấp nhận các vấn đề kế toán tại doanh nghiệp [18] Trompeter (1994, trích dẫn bởi Eshleman và Guo, 2014) cho rằng các cam kết kiểm toán được thực hiện bởi các thành viên trong nhóm kiểm toán chứ không phải là các công ty kiểm toán, các thành viên trong nhóm kiểm toán được hưởng phần lớn các khoản thu bổ sung từ các khách hàng và chấp nhận rủi ro bằng cách thuận theo khách hàng bất kể các rủi ro danh tiếng cho công ty kiểm toán [18] Các kết quả nghiên cứu dẫn đến cơ sở rằng tồn tại khả năng ph kiểm toán cao gây
ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng kiểm toán
b Dịch vụ phi kiểm toán
Vấn đề mối quan hệ giữa dịch vụ phi kiểm toán và chất lượng kiểm toán được thảo luận nghiêm túc từ sự kiện sụp đổ của Enron Đây là bằng chứng thực tế cho mối quan hệ giữa việc cung cấp dịch vụ phi kiểm toán và chất lượng kiểm toán Solomon (2010) cho rằng sự yếu kém trong thực hiện kiểm toán Enron của Arthur Anderson dẫn đến sự sụp đổ của cả hai công ty một phần do sự độc lập của kiểm toán viên bị tổn hại vì họ đồng thời cung cấp
Trang 20dịch vụ phi kiểm toán cho Enron và điều đó có ý nghĩa rằng các kiểm toán viên có một động cơ tài ch nh to lớn để đứng về phía lợi ích của nhà quản lý
và che dấu các thông tin tài chính trọng yếu liên quan đến trách nhiệm pháp lý
bổ sung và không đề cập chúng trong các báo cáo thường niên [33] Tuy nhiên các nghiên cứu của Svanstrom (2013) lại cho thấy sự gia tăng chất lượng kiểm toán khi gia tăng thực hiện các dịch vụ phi kiểm toán cho khách hàng [31] Antle (2006) cũng đồng quan điểm với Svanstrom khi tìm thấy tác động của việc thu thập kiến thức lớn từ việc cung cấp các dịch vụ phi kiểm toán cho cùng một khách hàng [7] Các quan điểm của Svanstrom và Antle cũng đồng thời được các công ty kiểm toán lớn ủng hộ Tác động làm suy giảm hay gia tăng chất lượng kiểm toán khi thực hiện dịch vụ phi kiểm toán đồng thời với dịch vụ kiểm toán do đó còn nhiều tranh cãi
c Khuôn khổ pháp lý
Francis (2011) cho rằng các cơ chế được thiết lập, trong đó có khuôn khổ pháp lý mà các hoạt động kiểm toán được thực hiện có thể ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán [19] Theo Francis thì các khuôn khổ pháp lý có ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán khi xem xét định nghĩa một thất bại kiểm toán hay một cuộc kiểm toán kém chất lượng là như thế nào và kết quả của sự yếu kém này là gì, ai, cơ quan nào phải hành động khi các xảy ra các trường hợp chất lượng kiểm toán kém [19] Yếu tố khác mà Francis cũng đề cập đó
là thị trường kiểm toán và ngành nghề kiểm toán mà tại đó hoạt động kế toán
và công ty kiểm toán được thiết lập [19]
d Văn phòng thực hiện kiểm toán
Sự khác nhau về quốc gia, khu vực, thành phố của các văn phòng kiểm toán là một cơ sở dẫn đến chất lượng kiểm toán khác nhau; bất kể rằng các văn phòng này cùng thuộc một công ty kiểm toán (Sundgren và Svanstrom,
2012, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) [17] Nghiên cứu được
Trang 21thực hiện bởi Choi vào năm 2010 cho thấy rằng có một mối quan hệ tích cực giữa quy mô văn phòng kiểm toán và chất lượng kiểm toán [16]
e Nhiệm kỳ kiểm toán
Khi kiểm toán viên đương nhiệm có mối quan hệ lâu dài với khách hàng,
họ trở nên ít đòi hỏi hơn trong việc áp dụng các công cụ kiểm toán và quy trình kiểm toán tiên tiến để thực hiện kiểm toán và thậm chí họ trở nên ít hoài nghi hơn (Shockley, 1982, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) [32] Trong khi đó, các nhà đầu tư và các tổ chức tài chính trung gian coi việc tăng nhiệm kỳ kiểm toán là hướng đến việc cải thiện chất lượng kiểm toán (Ghosh & Moon, 2005, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) [32]
f Nhiệm kỳ đối tác kiểm toán
Carey và Simnett (2006, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) thực hiện nghiên cứu tại Úc và kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có một mối liên hệ giữa nhiệm kỳ đối tác kiểm toán và chất lượng kiểm toán [32] Theo nghiên cứu này thì việc tăng nhiệm kỳ đối tác kiểm toán đi liền với xu hướng giảm phát hành báo cáo kiểm toán với lưu ý về khả năng hoạt động liên tục; như một dấu hiệu của việc suy giảm chất lượng kiểm toán Tuy nhiên một nghiên cứu được thực hiện bởi Chi và Huang (2005) cho thấy rằng việc gia tăng nhiệm kỳ đối tác kiểm toán giúp cải thiện chất lượng kiểm toán [13]
g Tính độc lập của kiểm toán viên
Mỗi kiểm toán viên đều phải thực hiện kiểm toán tuân thủ theo các chuẩn mực kiểm toán và đó là yêu cầu tối thiểu để đảm bảo chất lượng kiểm toán DeAngelo (1981) sử dụng t nh độc lập của kiểm toán viên như một thước đo chất lượng kiểm toán [16] Cô cho rằng các công ty kiểm toán lớn độc lập tài ch nh hơn các công ty kiểm toán nhỏ vì họ không phụ thuộc vào một nguồn tài chính duy nhất nào và họ có danh tiếng có thể bị mất đi và họ phải duy trì sự độc lập để tránh đánh mất danh tiếng này hay dính vào các
Trang 22cuộc kiện tụng [16] Francis và Wilson (1988) cũng ủng hộ quan điểm của DeAngelo với lập luận rằng các công ty kiểm toán lớn đã xây dựng được thương hiệu trong thời gian dài vì vậy họ có xu hướng cung cấp chất lượng kiểm toán cao hơn các công ty nhỏ [20]
h Quy mô khách hàng
Reynolds và Francis (2001) cho rằng kiểm toán viên có thể thỏa hiệp
t nh độc lập của mình trong quan hệ với các khách hàng lớn mà họ phụ thuộc kinh tế [29] Bên cạnh đó, các khách hàng lớn có rủi ro tiềm tàng cao hơn đối với các kiểm toán viên và công ty kiểm toán (Reynolds & Francis, 2001) [19] Công ty kiểm có nguy cơ bị mất uy t n và đối mặt với nguy cơ kiện tụng lớn hơn và kiểm toán viên phải đối mặt với nguy cơ bị xử phạt cao hơn khi không thực hiện đúng các dịch vụ kiểm toán cho các khách hàng lớn hơn là các công
ty nhỏ (Shafer, 1999, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) [32] Điều đó chứng tỏ quy mô khách hàng tác động theo cả hai hướng đến chất lượng kiểm toán
i Các yếu tố khác
Nghiên cứu của Madhogarhia (2009) cho rằng các công ty tăng trưởng cao thì chất lượng kiểm toán của các công ty này thường thấp hơn với mức độ dồn tích kế toán cao hơn bình thường [27] Tuy nhiên, Manry (2008) trong nghiên cứu của mình nhận thấy không có mối liên hệ giữa các công ty tăng trưởng cao và chất lượng kiểm toán [28]
Để có một quá trình kiểm toán đạt chất lượng cao thì yêu cầu kiểm toán viên phải có năng lực và phán đoán nghề nghiệp tốt Theo Smith và Kida (1991, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014), kiểm toán viên có trình độ cao về chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp với xu hướng ít sai lệch hơn [32] Ngoài ra một nghiên cứu về quỹ thời gian kiểm toán của kiểm
Trang 23toán viên của Gramling (1999) cho thấy rằng chất lượng kiểm toán có thể bị suy giảm do sự sụt giảm thời gian kiểm toán để duy trì lợi nhuận [22]
1.2.3 Mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán và chất lượng báo cáo tài chính
a Mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán và chất lượng báo cáo tài chính
Chất lượng kiểm toán là một phần của chất lượng báo cáo tài chính (trong nghiên cứu này tác giả ngầm định báo cáo tài ch nh là báo cáo tài ch nh sau kiểm toán) vì chất lượng kiểm toán làm tăng chất lượng báo cáo tài chính (Defond và Zhang, 2013) [17] Tuy nhiên chất lượng kiểm toán không phải là thành phần duy nhất của chất lượng báo cáo tài chính, chất lượng báo cáo tài chính còn bị ảnh hưởng bởi chất lượng báo cáo tài ch nh trước kiểm toán được quyết định bởi hệ thống báo cáo tài chính hay hệ thống thông tin tài
ch nh của công ty Mối quan hệ này được Defond và Zhang (2013) biểu diễn quan công thức [17]:
FRQ = f(AQ,R,I)
Trong đó:
FRQ: Chất lượng báo cáo tài chính
AQ: Chất lượng kiểm toán
R: Hệ thống báo cáo tài chính
I: Đặc điểm nội tại của công ty
Chất lượng kiểm toán theo đó chỉ đảm bảo chất lượng báo cáo tài chính phù hợp với với hệ thống báo cáo tài ch nh và đặc điểm nội tại của doanh nghiệp
Chất lượng kiểm toán có thể được suy ra từ chất lượng lợi nhuận, chất lượng kiểm toán cao hơn là sự giảm bớt mức độ điều chỉnh lợi nhuận và gia tăng t nh thông tin của báo cáo tài chính (Jueming Bing, Chu, X.H , Anqui Li,
Trang 24Xinyi Zhu, 2014) [24] Balsam (2003, trích dẫn bởi Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014) cho rằng tồn tại mối quan hệ thuận giữa chất lượng kiểm toán và chất lượng báo cáo tài ch nh được đo lường bằng chất lượng lợi nhuận [24] Nếu chất lượng lợi nhuận là cao, tính thông tin và hữu dụng của lợi nhuận sẽ mang tính phù hợp cao hơn Các nghiên cứu gần đây đồng ý rằng chất lượng kiểm toán là chất lượng lợi nhuận của báo cáo tài
ch nh đã được kiểm toán (Francis, 2011) [19] Nhiều nghiên cứu sử dụng chất lượng báo cáo tài ch nh đo lường bằng chất lượng lợi nhuận làm đại diện cho chất lượng kiểm toán bao gồm: Balsam (2003), Carey và Simnett (2006), Francis and Yu (2009), Choi (2010), Francis (2011), Gunny và Zhang (2012), Svanstrom (2013) (Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014) [24]…
b Chất lượng lợi nhuận
Chất lượng lợi nhuận có được khi báo cáo lợi nhuận đảm bảo cung cấp thông tin trung thực về chỉ tiêu lợi nhuận cũng như hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Koh (2013; trích dẫn bởi Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014) cho rằng tồn tại hệ thống khen thưởng cho nhà quản lý dựa vào việc liệu công ty có đạt được hay vượt qua mục tiêu lợi nhuận đặt ra không [24] Do đó có một khả năng rõ ràng rằng các nhà quản lý có động lực
để thực hiện điều chỉnh lợi nhuận Francis and Yu (2009, trích dẫn bởi Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014) công bố kết quả nghiên cứu rằng có một tỷ lệ cao bất thường các công ty vừa đủ mức đạt mục tiêu lợi nhuận và một tỷ lệ thấp bất thường các công ty gần đạt mức mức chỉ tiêu lợi nhuận và Francis and Yu (2009) cũng cho rằng đây là bằng chứng cho việc các công ty đang thực hiện quản trị lợi nhuận, điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt mục tiêu lợi nhuận đề ra [24] Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu (2014) cho rằng chất lượng kiểm toán là cao nếu không có việc điều chỉnh lợi
Trang 25nhuận này; và do đó, nếu kiểm toán viên phát hiện việc điều chỉnh lợi nhuận thì báo cáo tài chính sẽ trung thực hơn [24] Tuy nhiên nếu doanh nghiệp không tiến hành quản trị lợi nhuận thì sẽ ít khả năng đạt được hay vượt mức mục tiêu lợi nhuận đề ra (Francis and Yu, 2009, trích dẫn bởi Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014) [24] Vì vậy theo Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu (2014) thì việc “đạt hay vượt mức lợi nhuận” tương ứng với khả năng tồn tại hay không tồn tại quản trị lợi nhuận là một cách thức logic để đo lường chất lượng lợi nhuận cũng như chất lượng kiểm toán [24] Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu (2014) cũng cho rằng quản trị lợi nhuận liên quan chặt chẽ đến việc điều chỉnh mức độ dồn tích kế toán hay các nhà quản lý thường điều chỉnh mức độ dồn tích kế toán
để đạt hay vượt mục tiêu lợi nhuận đề ra [24]
1.2.4 Đo lường chất lượng kiểm toán
Các nghiên cứu trước đây về chất lượng kiểm toán sử dụng nhiều biến quan sát khác nhau để đo lường chất lượng kiểm toán Chất lượng kiểm toán
là một khái niệm khó quan sát và định lượng cũng như việc người sử dụng báo cáo tài chính không thể hoàn toàn nhìn thấy các mức độ bảo đảm được cung cấp bởi các công ty kiểm toán (DeFond & Zhang, 2013) [17] Phần dưới đây trình bày các quan sát đại diện để đo lường chất lượng kiểm toán Các quan sát đại diện này được chia làm hai loại là đo lường dựa vào yếu tố đầu vào và đo lường dựa vào yếu tố đầu ra
a Phép đo dựa vào yếu tố đầu vào
Đo lường dựa vào các yếu tố đầu vào được sử dụng cho các nghiên cứu chú ý đến yếu tố đầu vào của kiểm toán Nhưng vì đầu vào kiểm toán không đảm bảo rằng chúng tương ứng với kết quả kiểm toán và do đó quan sát này khá không ổn để do lường chất lượng kiểm toán (Defond & Zhang, 2013) [17] Dưới đây là các yếu tố đầu vào dùng để đo lường chất lượng kiểm toán
Trang 26 Đặc điểm kiểm toán
Đặc điểm kiểm toán như là độ lớn của công ty kiểm toán; thường được chia thành nhóm BIG 4 hay không phải BIG 4, tức trong nhóm 4 công ty kiểm toán lớn nhất thế giới hay ngoài nhóm này; hoặc chuyên ngành kiểm toán (khách hàng tập trung vào nhóm ngành nào) DeAngelo (1981) cho rằng các công ty kiểm toán lớn độc lập tài ch nh hơn các công ty kiểm toán nhỏ vì
họ không phụ thuộc vào một nguồn tài chính duy nhất nào và họ có danh tiếng có thể bị mất đi và họ phải duy trì sự độc lập để tránh đánh mất danh tiếng này hay dính vào các cuộc kiện tụng [16] Các công ty kiểm toán lớn chịu chi phí vô cùng lớn để xây dựng thương hiệu và uy tín (Francis & Wilson, 1988) [20] Do đó chất lượng kiểm toán được cung cấp bởi các công
ty kiểm toán lớn được cho rằng thường cao hơn nhóm còn lại Đặc điểm kiểm toán bao gồm độ lớn của công ty thường được sử dụng như một biến độc lập
để biểu diễn chất lượng kiểm toán hoặc một biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu chất lượng kiểm toán Nhưng biến này có nhược điểm là đây là một biến nhị phân hay chất lượng kiểm toán theo quan sát này được cho rằng như nhau trong hai nhóm chất lượng thấp và cao (Defond và Zhang, 2013) [17]
Phí kiểm toán
Phí kiểm toán là một quan sát phổ biến thường được sử dụng để đo lường chất lượng kiểm toán Các nghiên cứu sử dụng phí kiểm toán để đo lường chất lượng kiểm toán cho rằng phí kiểm toán đại diện cho cả hai yếu tố cung và cầu kiểm toán hay khách hàng sẵn sàng trả phí kiểm toán cao hơn cho kết quả kiểm toán chất lượng hơn Đồng thời họ cũng cho rằng lợi thế của quan sát này là nó là phép đo liên tục có thể nắm bắt được sự thay đổi nhỏ trong chất lượng kiểm toán Một nhược điểm lớn của quan sát này đó là chi
Trang 27phí kiểm toán bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác (Defond & Zhang, 2013 [17])
b Phép đo dựa vào yếu tố đầu ra
Phép đo dựa vào các yếu tố đầu ra sử dụng các yếu tố đầu ra của quá trình kiểm toán nhằm đo lường chất lượng kiểm toán Dưới đây là các quan sát theo yếu tố đầu ra dùng để đo lường chất lượng kiểm toán
Sai sót trọng yếu:
Khi một kiểm toán viên phát hiện các sai sót thì họ phải thông báo cho ban quản lý và ban kiểm toán công ty Những người này có thể chọn không sửa chữa những sai sót đó nếu họ cho rằng chúng không trọng yếu Tuy nhiên việc xem xét giá trị nào là trọng yếu hay không trọng yếu phụ thuộc vào đánh giá chuyên môn và đo đó có khả năng rằng những đánh giá này bị ảnh hưởng bởi các vấn đề chiến lược của công ty (Keune và Johnstone, 2012) [25]
Sai sót trọng yếu thường được đo lường bằng cách xem xét việc điều chỉnh các báo cáo tài ch nh đã phát hành; chúng t khi xảy ra và dưới sự kiểm soát trực tiếp của công ty kiểm toán và được coi là sai sót kiểm toán quan trọng (Defond & Zhang, 2013) [17] Do đó sai sót trọng yếu được phát hiện thông qua việc xem xét các báo cáo tài ch nh đã phát hành nếu tồn tại, được phát hiện trên báo cáo tài chính thì tương ứng cho chất lượng kiểm toán kém khi mà kiểm toán viên đã không phát hiện được các sai sót trọng yếu tồn tại trên báo cáo tài chính trước khi xem xét điều chỉnh lại sai sót trọng yếu này
Ý kiến kiểm toán đã được công bố có thể không chính xác nữa tương ứng với chất lượng kiểm toán thấp Tuy nhiên nếu báo cáo tài chính được phát hành nhưng không phát sinh trường hợp xem xét điều chỉnh hay điều chỉnh sai sót trọng yếu thì cũng không hoàn toàn tương ứng với báo cáo tài chính chất lượng cao vì có thể các sai sót này bị bỏ sót và không được kiểm toán viên phát hiện vì nhiều nguyên nhân
Trang 28Phép đo này chỉ biểu diễn chất lượng kiểm toán thấp và là một phép đo nhị phân, do đó phép đo này không biểu diễn được sự thay đổi nhỏ trong chất lượng kiểm toán và cũng có những trường hợp khi mà sai sót trọng yếu xảy ra nhưng không được phát hiện và sửa chữa bởi công ty kiểm toán và các bên liên quan, đo đó làm hạn chế tính chính xác của phép đo
Ý kiến kiểm toán
Một ý kiến về khả năng hoạt động liên tục có ý nghĩa rằng kiểm toán viên có nghi ngờ đáng kể về khả năng công ty được kiểm toán có tiếp tục hoạt động hay không (Defond & Zhang, 2013) [17] Carson (2013) giải thích rằng các đánh giá này dựa trên các bằng chứng thu thập được trong quá trình kiểm toán và nếu có bằng chứng về khả năng công ty được kiểm toán sẽ không tiếp tục hoạt động, kiểm toán viên phải yêu cầu thông tin từ nhà quản lý để giải quyết vấn đề [12] Carson tiếp tục lưu ý rằng nếu các kiểm toán viên tiếp tục nghi ngờ về khả năng tiếp tục hoạt động của công ty được kiểm toán và điều này không được trình bày đầy đủ trong báo cáo tài chính thì kiểm toán viên phải điều chỉnh ý kiến kiểm toán và trình bày lý do đối với mối lo ngại của mình [12]
Một sự suy giảm xu hướng của kiểm toán viên trong việc phát hành các
ý kiến kiểm toán về khả năng hoạt động liên tục của khách hàng được xem như việc các kiểm toán viên không chịu đựng được các áp lực từ nhà quản lý
và do đó chất lượng kiểm toán được xác định là suy giảm (DeFond & Zhang, 2013) [17] DeFond & Zhang (2013) cũng cho rằng đây là một quan sát trực tiếp để đo lường chất lượng kiểm toán vì kiểm toán viên có toàn quyền ra ý kiến kiểm toán và là một sự nghiêm trọng khi kiểm toán viên không đưa ra ý kiến thích hợp [17] Tuy nhiên DeFond & Zhang (2013) cũng lưu ý rằng phép
đo này chỉ biểu diễn được chất lượng kiểm toán thấp và không phản ánh được
sự thay đổi nhỏ trong chất lượng kiểm toán và ý kiến này chỉ được trình bày
Trang 29cho các công ty có hiệu quả kinh tế kém và không nói gì trường hợp các công
ty có hiệu quả kinh tế tốt [17]
Đánh giá của người sử dụng thông tin
Đo lường dựa trên đánh giá của người sử dụng thông tin là phép đo lường chất lượng kiểm toán dựa trên cách người sử dụng thông tin cảm nhận
và phản ứng với những thông tin được kiểm toán (Defond & Zhang, 2013) [17] Ví dụ về các quan sát của phép đo này bao gồm: sự phản ứng của thị trường chứng khoán với các sự kiện được kiểm toán, đánh giá của ủy ban kiểm toán về chất lượng kiểm toán, sự thay đổi trong thị phần của công ty kiểm toán …
Defond và Zhang (2013) xem đây là một phép đo gián tiếp của chất lượng kiểm toán, đặc biệt khi các phản ứng của nhà đầu tư được đo lường khi
mà kiểm toán có tác động rất nhỏ đến việc định giá công ty so với hiệu quả hoạt động của công ty và các yếu tố kinh tế toàn cầu [17] Hơn nữa với các phản ứng của thị trường chứng khoán là ảnh hưởng của nhiều sự kiện khác nhau bên ngoài yếu tố kiểm toán, đo đó phép đo này là vô cùng gián tiếp
Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh
Mục tiêu của đo lường chất lượng lợi nhuận là nghiên cứu mức độ đại diện của báo cáo lợi nhuận nhằm phản ánh các sự kiện kinh tế và một trong những mục đ ch ch nh của kiểm toán là ngăn nhà quản lý đưa ra các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tốt hơn thực tế (Defond & Zhang, 2013) [17]
Và quản trị lợi nhuận là kim chỉ nam của báo cáo tài chính chất lượng thấp (Kinney, 2004, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) [32] Chất lượng kiểm toán được xem xét thông qua chất lượng lợi nhuận của CTC đã được kiểm toán, thường được đo lường bằng biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh là một trong những quan sát phổ biến nhất để đại diện cho chất lượng lợi nhuận cũng như chất lượng
Trang 30kiểm toán, được xác định dựa trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán (Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014 [24])
Lợi nhuận được trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm hai phần là phần dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và phần giá trị kế toán dồn tích Và phần giá trị kế toán dồn tích này gồm hai phần: Phần không điều chỉnh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh và phần điều chỉnh bởi các hành vi kế toán bị thao túng bởi nhà quản lý được đo lường bằng biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh DA
Defond và Zhang (2013) chỉ rõ rằng DA không phải là một quan sát đo lường trực tiếp chất lượng kiểm toán như là ý kiến kiểm toán vì kiểm toán viên không thể kiểm soát trực tiếp DA như đối với việc đưa ra ý kiến kiểm toán [17] Nếu quản trị lợi nhuận trong phạm vi cho phép của chuẩn mực và quy định kế toán thì nó không phải là một vi phạm nghiêm trọng Defond và Zhang (2013) cũng chỉ ra rằng phép đo này có bất lợi là thiếu sự đồng nhất về cách thức đo lường quản trị lợi nhuận để phản ánh kết quả nghiên cứu [17] Tuy nhiên hai ông cho rằng quan sát này nắm bắt được sự thay đổi nhỏ trong chất lượng kiểm toán xảy ra trong giới hạn chuẩn mực kế toán được áp dụng
và lợi thế khác là quan sát này đại diện cho chất lượng báo cáo lợi nhuận hay báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là mục tiêu cuối cùng kiểm toán [17] Với những lợi thế rằng phép đo chất lượng kiểm toán thông qua biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh nắm bắt được sự thay đổi nhỏ trong chất lượng kiểm toán và đồng nhất với nhận định của tác giả về chất lượng kiểm toán là một biến biến đổi liên tục nên tác giả cho rằng phù hợp khi sử dụng biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) để đo lường cho chất lượng kiểm toán trong nghiên cứu này Ngoài ra một lợi thế khác của phép đo này mà tác giả cũng cho rằng phù hợp trong nghiên cứu của tác giả là: phép đo chất lượng
Trang 31kiểm toán thông qua biến kế toán dồn tích DA phù hợp với một cỡ mẫu nhỏ
và một khung thời gian ngắn (Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) [32]
c Các mô hình đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA)
Một trong những nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận là nguyên tắc
cơ sở dồn tích Theo nguyên tắc này thì doanh thu, chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ chứ không căn cứ vào thời điểm thu và chi tiền hay việc ghi nhận doanh thu, chi phí không căn cứ vào thực tế dòng tiền đi vào hay đi ra khỏi doanh nghiệp Do đó giữa dòng tiền trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập trên cơ sở tiền và lợi nhuận trên báo cáo kết quả kinh doanh được lập trên cơ sở dồn tích có một khoản chênh lệch Chênh lệch này được gọi là biến kế toán dồn tích và được xác định theo công thức:
+
iến ế toán ồn t ch
h ng thể điều ch nh
được (Non Discretionary Accruals - NDA)
Phần biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) phản ảnh tình trạng cụ thể của từng doanh nghiệp và không thể điều chỉnh được bởi nhà quản trị Trong khi đó phần biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) chính là phần lợi nhuận mà doanh nghiệp có được nhờ sử dụng các phương
Trang 32pháp kế toán Do đó DA thường được sử dụng để nghiên cứu, phát hiện hành
vi quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp
Có nhiều mô hình nghiên cứu quản trị lợi nhuận thông qua đo lường biến toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) trên thế giới nhưng những mô hình phổ biến nhất bao gồm: The Healy Model (1985), The DeAngelo Model (1986), The Jones Model (1991), Modified Jones Model (1995), The Friedlan (1994) Dưới đây tác giả trình bày tóm tắt các mô hình phổ biến trên và ưu nhược điểm của từng mô hình để tìm ra mô hình phù hợp cho sử dụng trong nghiên cứu này
The Healy Model (1985)
n A
kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) Nhưng Healy (1985) lại không trình bày sự khác biệt giữa biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh và biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (Awidat Marai và Vladan Pavlovic, 2014) [8] Healy (1985) cho rằng giá trị trung bình của biến kế toán dồn tích có thể
Trang 33điều chỉnh bằng 0 và tổng giá trị biến kế toán dồn tích bằng tổng giá trị biến
kế toán dồn tích không thể điều chỉnh và do đó giá trị NDA trong mô hình không đổi theo thời gian
DeAngelo (1986, trích dẫn bởi Awidat Marai và Vladan Pavlovic, 2014) cho rằng áp dụng mô hình Healy (1985) khi giá trị biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) quá lớn thì việc tính toán bằng mô hình trên có thể đưa ra kết quả sai lầm trong nhận định hành vi quản trị lợi nhuận [8] Mô hình Healy (1985) giả định rằng giá trị biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) không đổi theo thời gian nhưng thực tế giá trị NDA bị biến đổi khi doanh nghiệp, công ty thay đổi mức độ hoạt động Mô hình Healy (1985)
do đó không kiểm soát được được những thay đổi trong mức độ hoạt động của doanh nghiệp như tăng trưởng quy mô, mở rộng sản xuất …Do đó việc tính toán giá trị biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) trong mô hình có thể không chính xác, bị sai lệch nhiều so với thực tế Tuy nhiên ưu điểm dễ nhận thấy của mô hình này đó là việc tính toán đơn giản
The DeAngelo Model (1986)
iến kế toán không thể điều chỉnh của công ty i tại năm sự kiện t:
A
TA NDA
iến kế toán có thể điều chỉnh của công ty i tại năm sự kiện t:
it it
Trang 34có hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay giá trị biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) là 0 Mô hình của DeAngelo (1986) khác biệt với mô hình Healy (1985) khi giá trị biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) được đo lường theo giá trị biến kế dồn tích năm liền trước thay vì trung bình biến kế toán dồn tích trong giai đoạn nghiên cứu DeAngelo (1986) cho rằng sự biến đổi về mức dộ dồn tích giữa hai kỳ chính là mức độ điều chỉnh lợi nhuận nên phần biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) được đo lường bằng chênh lệch biến kế toán dồn tích giữa hai kỳ
Mô hình DeAngelo (1986) cũng giả định rằng giá trị biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) không đổi theo thời gian Do đó tính toán trong mô hình của DeAngelo (1986) cũng chỉ thực sự chính xác khi biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh không đổi theo thời gian Như đã biết, giá trị biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh lại chịu ảnh hưởng bởi mức độ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên nếu doanh nghiệp đang trong thời gian đoạn tăng trưởng, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh thì giá trị biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) có thể biến động
do đó ảnh hưởng đến kết quả tính toán của mô hình Vì vậy mô hình DeAngelo (1986) tương tự như mô hình Healy (1985) có giá trị tính toán biến
kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) có thể không đúng, sai lệch nhiều so với thực tế Đồng thời tương tự như mô hình Healy (1985) thì ưu điểm dễ nhận thấy của mô hình DeAngelo (1986) là dễ dàng trong việc tính toán giá trị các biến trong mô hình
The Jones Model (1991)
1 3
1 2
1 1
it it
t
A
PPE A
REV A
Trong đó:
REVt = Doanh thu thuầnt – Doanh thu thuầnt-1
Trang 35PPEt : Nguyên giá TSCĐ hữu hình cuối năm t
At-1 : Tổng tài sản cuối năm t-1
α1, α2, α3 : các tham số của từng công ty
Ước t nh các tham số α1, α2, α3 thông qua mô hình sau ở kỳ ước t nh:
2 1
1 1
1
it it it
it it
it
it
A
PPE a
A
REV a
A
a A
TA
Trong đó:
a1, a2, a3 : Kết quả ước t nh α1, α2, α3 thông qua ước t nh OLS
TAit : Total accruals của năm t của công ty i
ε : Residual, tương đương với phần discretionary accruals Nghiên cứu của Jones là một trong những nghiên cứu đầu tiên trình bày
mô hình trong đó ước lượng sự thay đổi của biến kế toán dồn tích được dự đoán thông qua các biến khác (Awidat Marai và Vladan Pavlovic, 2014) [8] Jones cho rằng biến doanh thu và mức độ khấu hao tài sản cố định có ảnh hưởng đến mức độ dồn tích nên Jones thêm hai biến này vào mô hình tính toán biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (Tianran, 2010) [34] Theo Jones (1991, trích dẫn bởi Tianran, 2010) thì biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) biến đổi dựa vào mức độ biến đổi của doanh thu và nguyên giá tài sản cố định giữa năm sự kiện và năm liền trước [34]
Mô hình Jones khắc phục được nhược điểm quan trọng của mô hình Healy (1985) và mô hình DeAngelo (1986) khi loại bỏ được giả thuyết rằng biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) không thay đổi qua các năm Trong mô hình Jones (1991) thì doanh thu được xem là phần không thể điều chỉnh được tuy nhiên nhà quản lý có thể sử dụng các khoản phải thu khách hàng để điều chỉnh lợi nhuận (Tianran, 2010) [34] Do đó việc tính toán giá trị biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) trong mô hình Jones (1991) do đó vẫn còn bị sai lệch, không chính xác nếu nhà quản trị thực hiện
Trang 36các hành vi quản trị doanh thu thông qua việc thay đổi kì giao dịch kinh tế mà các khoản doanh thu phát sinh
The Modified Jones Model (1995)
1 3
1 2
1 1
it it
it it
A
PPE A
REC REV
A
Trong đó:
RECt Phải thu khách hàng nett – Phải thu khách hàng nett-1
Dechow (1995) và các cộng sự của mình đã đề xuất một mô hình điều chỉnh của mô hình Jones (1991) bằng việc thay biến doanh thu bằng biến doanh thu bằng tiền Trong đó, biến doanh thu bằng tiền là phần chênh lệch giữa biến động doanh thu và biến động khoản phải thu khách hàng Thay đổi của Dechow và cộng sự đã khắc phục được nhược điểm của mô hình Jones (1991) khi loại bỏ ngầm định rằng biến doanh thu là biến không thể điều chỉnh Mô hình Modified Jones (1995) là mô hình phổ biến nhất và hiệu quả nhất để đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) hay phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp (Tianran, 2010) [34]
Tuy nhiên, hạn chế của mô hình Modified Jones (1995) cũng như mô hình Jones (1991) là để ước tính các tham số trong mô hình tính toán tại mỗi công ty, doanh nghiệp thì đòi hỏi phải thu thập một lượng dữ liệu thời gian lâu dài trong quá khứ của doanh nghiệp Khó khăn này là điểm yếu của mô hình khi áp dụng mô hình vào tính toán trong thực tế đối với các doanh nghiệp, công ty có cơ sở dữ liệu quá khứ ngắn Bối cảnh tại Việt Nam thì thị trường chứng khoán vừa mới được tạo lập từ năm 2000 và các công ty niêm yết tại Việt Nam thậm chí còn non trẻ hơn vậy rất nhiều do đó việc áp dụng
mô hình Jones (1991) hay Modified Jones (1995) tại Việt Nam là vô cùng khó khăn
Trang 37 Industry Model (Mô hình ngành) của Dechow và Sloan (1991)
1 2
A
TA median
Hạn chế lớn nhất của mô hình mà chính Dechow (1991) đã nhận ra đó là quy gộp biến động của các doanh nghiệp cùng ngành là như nhau, không tính đến biến động cụ thể trong hoạt động, tình hình thực tế khác nhau của các doanh nghiệp cùng ngành Nếu trong cùng một ngành mà các doanh nghiệp
có sự khác nhau trong tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh thì kết quả tính toán của mô hình sẽ tồn tại những sai biệt rõ ràng so với thực tế Điểm yếu khác của mô hình là việc tính toán các tham số trong mô hình đòi hỏi phải
có một lượng dữ liệu khá nhiều các doanh nghiệp cùng ngành, tuy nhiên nhiều ngành nghề, nhiều nền kinh tế thì tồn tại số lượng hạn chế các doanh nghiệp thật sự đúng ngành với nhau do đó ảnh hưởng đến kết quả tính toán của mô hình
Friedlan Model (1994)
Mô hình Friedlan (1994) là một biến thể của mô hình DeAngelo với:
Trang 38it it
it
Sales
NDA Sales
A
TA DA
Trong đó:
Salesit: Doanh thu năm t của công ty i
Mô hình Friendlan (1994) cải tiến mô hình DeAngelo (1986) theo biến doanh thu Theo đó, biến doanh thu được đưa thêm vào mô hình nhằm kiểm soát sự thay đổi mức độ hoạt động của doanh nghiệp Do đó mà mô hình Friedlan (1994) hạn chế được nhược điểm của mô hình DeAngelo (1986) và Healy (1985) khi có những thay đổi trong mức độ hoạt động của doanh nghiệp Tính toán giá trị biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) và biến
kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) theo mô hình Friedlan (1994) vì vậy là chính xác hơn khi so sánh với hai mô hình của DeAngelo (1986) và Healy (1985)
Mô hình Modified Jones (1995) được xem là mô hình phổ biến nhất và hiệu quả nhất để đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) hay phát hiện hành vi quản trị lợi nhuận (Tianran, 2010) [34], tuy nhiên việc áp dụng mô hình này hay mô hình Jones (1991) đòi hỏi một cơ sở dữ liệu quá khứ lâu dài cần thiết để ước lượng các tham số trong mô hình Đối tượng của nghiên cứu này là các công ty niêm yết tại Việt Nam mà hầu hết đều hết sức non trẻ trong bối cảnh non trẻ chung của thị trường chứng khoán Việt Nam Việc thu thập đầy đủ cơ sở dữ liệu quá khứ lâu dài để áp dụng mô hình Modified Jones (1995) hay Jones (1991) là vô cùng khó khăn hay thậm chí không khả thi Mô hình Industry Jones (1991) lại không phù hợp với nghiên cứu này khi đối tượng nghiên cứu của tác giả là toàn bộ các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt động trong giai đoạn nghiên cứu Tổng hợp các điều kiện thực tế đó, tác giả cho rằng phù hợp khi sử dụng mô
Trang 39hình Friedlan (1994) là một biến thể cải tiến của mô hình DeAngelo (1986) để
áp dụng tính toán biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) trong điều kiện Việt Nam cũng như điều kiện của nghiên cứu này
1.3 KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN 2008 –
2009
1.3.1 Khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ nước Mỹ cuối năm 2007
và là cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhất trong lịch sử kể từ cuộc đại khủng hoảng (Friedman & Friedman, 2009) [21] Theo Osterholm (2010,
trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano , 2014): “Các khoản cho vay nhà đất
trong thị trường nhà ở Mỹ trong thời gian này đã được chứng khoán hóa và bán trên toàn thế giới và từ đó chúng được tái hình thành trong các công cụ tài chính khác nhau trên toàn cầu Sự điều chỉnh giá cả trong thị trường nhà đất do đó không chỉ ảnh hưởng đến Mỹ mà lan ra toàn cầu và các ngân hàng phải chịu đựng những khó khăn kinh tế vô cùng lớn Điều này dẫn đến một giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu” [32]
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009 là một sự điều chỉnh lại giá nhà đất tại Mỹ sau thời gian thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng và điều kiện tín dụng rộng rãi đối với thị trường nhà đất tại Mỹ, nơi mà các khoản tín dụng này được chứng khoán hóa và bán đi dưới dạng các công
cụ tài chính phức tạp trên toàn thế giới Khi bong bóng thị trường nhà tại Mỹ
vỡ ra, các khoản cho vay tín dụng nhà đất dưới chuẩn tan biến, các ngân hàng phải gánh chịu những tổn thất kinh tế to lớn, kéo theo niềm tin vào hệ thống ngân hàng suy giảm nghiêm trọng Mỹ là trung tâm của hệ thống tài chính toàn cầu đo đó toàn bộ hệ thống tài chính toàn cầu bị cuốn vào khủng hoảng Khủng hoảng kinh tế cũng phơi bày những khó khăn của kiểm toán trong điều kiện tình hình kinh tế khó khăn và sự giảm sút tính thanh khoản của thị
Trang 40trường (Xu, 2013) [35] Xu viết: “Nhiều công ty phải đối mặt với vấn đề đảm bảo đủ vốn vay để tiếp tục hoạt động và các công ty này gia tăng áp lực lên các công ty kiểm toán khi đưa ra ý kiến về khả năng hoạt động liên tục” [35] Trong giai đoạn khó khăn kinh tế nghiêm trọng, khó khăn càng tăng thêm cho kiểm toán viên trong việc đánh giá khi nào là th ch hợp để phát hành nhận xét
về khả năng hoạt động liên tục và vì GFC làm tăng rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp nên nó cũng làm tăng rủi ro các kiểm toán viên phát hành ý kiến không chính xác (Xu, 2013) [35] Khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng gây ra những khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp bao gồm nguy cơ hiệu quả hoạt động suy giảm, kết quả kinh doanh thu lỗ, tình hình sản xuất đình đốn do
đó dẫn đến rủi ro kiểm toán cao hơn đối với kiểm toán viên Khủng hoảng tài chính toàn cầu cùng với sự thất bại, phá sản của nhiều công ty làm gia tăng mức độ chỉ tr ch đối với nghề nghiệp kiểm toán (Holm & Zaman, 2012) [23] Sikka (2009) đặt ra câu hỏi về thực tế hoạt động kiểm toán khi mà kiểm toán viên thất bại trong việc đưa ra ý kiến về khả năng hoạt động liên tục hay điều chỉnh ý kiến cho phù hợp cho các ngân hàng mà ngay sau đó gặp những vấn
đề tài chính như Lehman Brothers; ngân hàng Lehman Brothers nhận ý kiến nhận ý kiến chấp nhận cho báo cáo tài chính quý chỉ hơn hai tháng trước khi tuyên bố phá sản [30] Sikka (2009) cho rằng có một sự không rõ ràng khi Lehman Brothers và nhiều thực thể tài chính khác làm cách nào thuyết phục các kiểm toán viên không phát hành các báo cáo kiểm toán lưu ý về khả năng hoạt động liên tục và tình hình thực tế ngân hàng, phơi bày mức độ đòn bẩy tài chính cao cũng như thực tế rủi ro kinh doanh lớn [30] Mức phí kiểm toán cao đặt ra câu hỏi về tính độc lập của kiểm toán viên và khả năng mà họ đứng
về phía lợi ích của nhà quản lý và câu hỏi cũng được đặt ra về năng lực của kiểm toán viên liên quan đến khả năng kiểm toán chính xác và hiểu được các công cụ tài chính phức tạp hiện tại