1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào tới kết quả sản xuất lúa của hộ nông dân Trường hợp 3 xã vùng ven thành phố Kon Tum

100 258 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 715,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả ước lượng các yếu tố đầu vào ảnh hưởng đến kết quả sản xuất lúa của nông hộ 03 xã vùng ven thành phố Kon... Nên các yếu tố đầu vào luôn ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất của

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI QUANG BÌNH

Đà Nẵng – Năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hòa

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi hay giả thiết nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

7 Bố cục của đề tài 4

8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 8

1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8

1.1.1 Lý thuyết về kết quả sản xuất 8

1.1.2 Lý thuyết về các yếu tố đầu vào 11

1.1.3 Các lý thuyết có liên quan 17

1.1.4 Mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và kết quả sản xuất 19

1.2 TỔNG QUAN VỀ CÂY LÚA 23

1.2.1 Khái quát về cây lúa 23

1.2.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 24

1.2.3 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam 25

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .29

2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN 29

2.1.1 Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu 29

2.1.2 Xã Hòa Bình 30

Trang 5

2.1.3 Xã Đoàn Kết 32

2.1.4 Xã Kroong 33

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 35

2.2.2 Xây dựng mô hình nghiên cứu 37

2.2.3 Mẫu và thông tin mẫu 37

2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin 38

2.2.5 Phương pháp phân tích thông tin 39

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

3.1 KẾT QUẢ SẢN XUẤT LÚA CỦA CÁC NÔNG HỘ 41

3.1.1 Thực trạng sản xuất lúa của địa bàn nghiên cứu 41

3.1.2 Quá trình sản xuất lúa 43

3.1.3 Thuận lợi và khó khăn trong sản xuất lúa của các nông hộ 47

3.1.4 Tình hình tiêu thụ 49

3.1.5 Kết quả sản xuất lúa 50

3.2 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO ĐẾN KẾT QUẢ SẢN XUẤT LÚA CỦA CÁC NÔNG HỘ THUỘC 3 XÃ: HÒA BÌNH, ĐOÀN KẾT, KROONG 52

3.2.1 Kết quả mô hình 52

3.2.2 Phân tích kết quả 57

3.2.3 Đánh giá mức độ ảnh hưởng 63

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 66

4.1 BÀN LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 66

4.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 69

4.2.1 Cơ sở khoa học của hàm ý chính sách 69

4.2.2 Hàm ý chính sách nhằm nâng cao kết quả sản xuất lúa của các nông hộ trên địa bàn nghiên cứu 71

Trang 6

KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số

hiệu

1.2 Đồ thị thể hiện sản lượng và diện tích lúa thế giới giai đoạn

3.1 Kết quả sản xuất và dự kiến chỉ tiêu phát triển năm 2020

của một số cây trồng chủ yếu

42

3.6 Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất lúa của các nông hộ năm

2015 (Bình quân cho 1 sào)

52

Trang 9

3.13 Kết quả kiểm định đa cộng tuyến 58

3.18 Phân tích kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan (bậc

1)

60

3.20 Kết quả ước lượng các yếu tố đầu vào ảnh hưởng đến kết

quả sản xuất lúa của nông hộ 03 xã vùng ven thành phố Kon

Trang 11

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở nước ta, sản xuất nông nghiệp vẫn là một ngành quan trọng trong nền kinh tế Nó cung cấp lương thực và là nguồn thu nhập chính cho một bộ phận lớn dân số, đồng thời là nguồn nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành công nghiệp Trong những năm gần đây, ngành nông nghiệp nước ta đã có những tiến bộ vượt bậc, đời sống của người nông dân không ngừng được nâng cao Tuy nhiên, thu nhập của người nông dân nhìn chung vẫn ở mức rất thấp so với mức thu nhập của các ngành khác, người nông dân phải chịu rất nhiều rủi

ro trong quá trình sản xuất nông nghiệp bởi lẽ sản xuất nông nghiệp của họ chưa thực sự đạt năng suất cao mang lại kết quả sản xuất như mong muốn Chính vì vậy, hiện nay có một thực trạng là nhiều hộ nông dân có xu hướng

đa dạng hóa nguồn thu nhập để giảm rủi ro, tăng thu nhập và đảm bảo đời sống bằng cách trồng xen vụ hay trồng nhiều loại cây trồng hơn làm cho cây lúa không còn là cây trồng chủ yếu như trước đây của các hộ nông dân Đặc biệt ở các tỉnh Tây Nguyên gần đây khi mà năng suất và giá cả các loại cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao như hồ tiêu, cao su, cà phê… Đã chiếm phần lớn đất đai làm cho các hộ nông dân dần chuyển sang trồng các loại cây này dẫn đến đất canh tác lúa bị thu hẹp lại Kon Tum cũng là một trong số các tỉnh mà người dân chịu ảnh hưởng nặng nề của giá cả và biến động của thị trường làm cho những năm gần đây diện tích trồng lúa bị thu hẹp lại thay vào

đó là các loại cây trồng như trên đặc biệt là nông dân các vùng ven thành phố Kon Tum

Đứng trước tình hình đó đòi hỏi phải có sự ổn định về mặt tâm lý cho các hộ nông dân vùng ven thành phố Kon Tum để sản xuất lúa là ngành luôn được coi trọng hàng đầu của họ, muốn vậy phải có sự chuẩn bị tốt về mọi thứ,

Trang 12

2

từ khâu đầu vào cho đến đầu ra mà đầu vào là vấn đề được quan tâm không kém Trước khi vào mùa sản xuất họ phải tính toán xem chi phí của các yếu tố đầu vào có cao không, có mang lại thu nhập ổn định cho họ trong mùa tới hay không, từ đó mà họ sẽ cân nhắc để mở rộng hay thu hẹp diện tích trồng lúa trong mùa vụ Nên các yếu tố đầu vào luôn ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất của các hộ nông dân, bởi dĩ nhiên một giống lúa tốt đạt chất lượng cao thêm vào đó được bón phân và chăm sóc đều đặn thì sẽ mang lại năng suất cao như mong đợi hơn là các giống lúa năng suất thấp hay không được bón phân kĩ và chu đáo

Chính vì lẽ đó mà những năm gần đây nông dân vùng ven thành phố Kon Tum đã không ngừng thay đổi giống lúa và chọn loại phân bón tốt phục

vụ cho sản xuất của mình nhưng thật sự mang lại hiệu quả kinh tế cao hay không thì vẫn còn là một câu hỏi khó trả lời khi mà thị trường chịu sự biến động mạnh về giá cả và các yếu tố khác Xuất phát từ những thực tại ở trên là

người dân sống trong thành phố Kon Tum tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu

ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào tới kết quả sản xuất lúa của hộ nông dân: trường hợp 3 xã vùng ven thành phố Kon Tum” làm đề tài luận văn

1 Đánh giá thực trạng việc trồng lúa của các hộ nông dân Tỉnh Kon Tum

2 Xác định các yếu tố đầu vào quan trọng tác động đến kết quả sản xuất lúa

3 Gợi ý một số giải pháp nhằm giúp các hộ nông dân có hướng sản

Trang 13

3

xuất tốt hơn trong mùa vụ tới

3 Câu hỏi hay giả thiết nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu:

1 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đến kết quả sản xuất lúa của các nông hộ như thế nào?

2 Nên sử dụng yếu tố đầu vào để sản xuất lúa ở đây như thế nào trong những năm tới?

Giả thuyết nghiên cứu:

GT1: Tất cả các yếu tố đầu vào đều ảnh hưởng tích cực tới kết quả sản xuất cao cho các nông hộ?

GT2: Phân bón hữu cơ là yếu tố đầu vào quan trọng nhất, ảnh hưởng tốt đến kết quả sản xuất?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các hộ nông dân trồng lúa thuộc 3 xã vùng ven

thành phố Kon Tum, Tỉnh Kon Tum

Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại các hộ nông dân của 3

xã vùng ven thành phố Kon Tum với 150 mẫu điều tra

- Về thời gian: Được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 10/2015 đến tháng 06/2016

5 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu sơ bộ: Thực hiện thông qua phương pháp định tính

- Nghiên cứu chính thức: Thực hiện thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng, điều tra lấy số liệu thực tế, thu thập thông tin trực tiếp bằng cách phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân tại địa bàn nghiên cứu

Các phương pháp thống kê, mô tả, so sánh cũng được sử dụng trong đề tài Phương pháp nghiên cứu sẽ được trình bày kỹ hơn ở chương 2

Trang 14

4

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài nghiên cứu mang lại một số ý nghĩa về lý thuyết và thực tiễn cho những người làm công tác quản lý ngành nông nghiệp, các trung tâm khuyến nông, các hộ gia đình trồng lúa Đề tài sẽ cho kết quả mới, bổ sung cho các công trình nghiên cứu trước đó, đồng thời đề tài có thể làm cơ sở để tỉnh Kon Tum quy hoạch phát triển, đề ra chiến lược sử dụng yếu tố đầu vào trong việc trồng lúa nhằm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả

Kết quả nghiên cứu còn là nguồn tham khảo tốt cho Trung tâm khuyến nông, các nhà hoạch định chiến lược ngành lúa thuộc vùng Tây nguyên, Đông

Chương 2: Đặc điểm địa bàn và Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Bàn luận và hàm ý chính sách

8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Năm 2013 Micah B Masuku có bài nghiên cứu “Factors Affecting the Productivity and Profitability of Vegetables Production in Swaziland” (Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận của các loại rau sản xuất ở Swaziland) đã chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất của rau là vốn, giá bán, số lượng phân bón, khoảng cách đến nơi tiêu thụ và giới tính của người dân Trong bài nghiên cứu này ngoài vấn đề về giá của các loại rau sẽ sản xuất của những người dân còn đề cập đến vấn đề giá cả của các mặt hàng nông sản có liên quan, ví dụ như giá bán cà rốt làm ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất trồng rau của các hộ nông dân Tương tự như vậy các yếu tố quyết

Trang 15

5

định lợi nhuận của sản xuất rau là trình độ học vấn, đất đai và các loại hình tiếp thị, tác giả cũng đưa ra giả thiết là nếu người dân có thêm một năm giáo dục thì lợi nhuận cũng sẽ được tăng lên Từ đó tác giả sẽ đưa ra các giải pháp hoạch định chính sách để cải thiện năng suất của người trồng rau như thông qua việc tham gia các cuộc hội thảo và khuyến khích người dân tham gia nhằm được đào tạo các kỹ năng về trồng trọt các loại rau quả, từ đó giúp họ tăng năng suất bình quân trên mỗi ha của các loại rau được sản xuất, do đó lợi nhuận cũng sẽ được nâng cao

Năm 2007, Adebayo trong bài của mình về “Nghiên cứu các yếu tố quyết định đến việc sản xuất lúa nước ở bang Adamawa” đã cho kết quả là quy mô diện tích (đất đai) và hạt giống là hai yếu tố chính ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của lúa Tuy nhiên trong nghiên cứu của mình tác giả cũng không phủ nhận tầm quan trọng của các loại thuốc bảo vệ thực vật nhưng với mức độ nhỏ hơn Trong nghiên cứu này tác giả chỉ ra rằng người dân đã sử dụng hạt giống quá mức so với quy mô diện tích đất đai mà họ có trong khi đất đai và thuốc diệt cỏ đang được sử dụng hợp lý Từ đó tác giả cũng kiến nghị người dân nên giảm thiểu số lượng hạt giống khi gieo sạ nhằm tối đa hóa diện tích đất sẵn có và đồng thời cũng sử dụng số lượng thuốc diệt cỏ tương ứng nhằm nâng cao hiệu quả của các yếu tố đầu vào này

Năm 2008, Rios et al trong nghiên cứu về các yếu tố đầu vào ảnh hưởng đến năng suất của các hộ gia đình sản xuất nông sản cũng tiến hành một phân tích theo hướng của quan hệ nhân quả giữa sự tham gia vào thị trường hàng nông sản và năng suất , kết quả cho thấy các hộ gia đình có năng suất cao có xu hướng tham gia vào thị trường hàng nông sản nhiều hơn và mang lại kết quả sản xuất cao hơn nữa bởi qua đó họ được trao đổi kinh nghiệm và tiếp cận được tiến bộ kỹ thuật nhanh hơn

Năm 2009, trong đề tài của Nguyễn Thị Thúy Hằng về “ Phân tích các

Trang 16

6

nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất lúa ở huyện Tiểu Cần - tỉnh Trà Vinh” có sử dụng phương pháp hồi quy đa biến để phân tích các nhân tố diện tích, sản lượng, tổng chi phí, ngày công lao động, áp dụng kỹ thuật mới, kinh nhiệm ảnh hưởng như thế nào đến năng suất và các nhân tố chi phí giống, chi phí phân, chi phí thuốc, ngày công lao động, năng suât, chi phí cày xới, giá lúa ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận Kết quả đối với năng suất lúa thì chỉ có biến sản lượng, tổng chi phí là có ảnh hưởng cùng chiều, còn biến diện tích thì ảnh hưởng ngược chiều Còn đối với lợi nhuận thì chỉ có biến phân, thuốc là ảnh hưởng ngược chiều, còn giá, năng suất thì ảnh hưởng cùng chiều trong đó biến ăng suất là ảnh hưởng mạnh nhất đến lợi nhuận

Năm 2010 trong đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất lúa hai vụ ở huyện Thạnh Trị” của Võ Thị Phụng, tác giả đã nêu lên các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất lúa là tuổi hay số năm kinh nghiệm của người dân, số lao động của hộ gia đình trồng lúa, diện tích đất, giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hay kiến thức nông nghiệp của người dân trồng lúa…

Trong tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, tập 2 số 1/2004 có bài viết về nghiên cứu của tác giả Lê Thị Minh Châu “Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả kỹ thuật của sản xuất lúa tại tỉnh Hà Tây” đã sử dụng hàm sản xuất để xác định và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa, việc sử dụng hàm sản xuất biểu thị tiềm năng mà người sản xuất có thể đạt được khi họ sử dụng một công nghệ nhất định, và các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lúa là phân bón, thuốc trừ sâu, lao động, giống, mùa

vụ Còn khi phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật tác giả có đưa ra định nghĩa “Với một công nghệ nhất định, hiệu quả kỹ thuật là khả năng để sản xuất ra cùng một khối lượng sản phẩm với số lượng đầu vào ít nhất” Tùy thuộc vào việc sử dụng phần mềm máy tính, các yếu tố ảnh hưởng

Trang 17

7

đến hiệu quả kỹ thuật có thể được xác định bằng mô hình hiệu quả kỹ thuật hoặc mô hình kỹ thuật không hiệu quả bởi vì một yếu tố làm tăng hiệu quả kỹ thuật có nghĩa là nó làm giảm sự không hiệu quả và ngược lại Qua đó tác giả cũng đưa ra những yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật là giới tính,

số năm trồng lúa, tuổi, trình độ học vấn, cơ hội tiếp cận với thông tin khuyến nông và diện đất trồng lúa của hộ dân

Trong nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các nông

hộ có một số tác giả đưa ra như sau Với tác giả Nguyễn Việt Anh và các cộng sự trong đề tài về “Các yếu tố ảnh hưởng đến tổng thu nhập của các nông hộ” năm 2010 cho rằng đó là các yếu tố trình độ học vấn của chủ hộ, tuổi của chủ hộ và số lao động trong hộ Còn đối với hai tác giả Mai Văn Nam

và Định Công Thành trong đề tài “ Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ” năm 2011 thì yếu tố chính ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ chỉ

là số lao động mà thôi Còn trong nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và các cộng sự trong nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông

hộ tại Vĩnh Long” năm 2011 lại cho rằng các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các nông hộ ở đây là số nhân khẩu, trình độ học vấn của chủ hộ, tuổi của lao động và kinh nghiệm sản xuất

Trang 18

1.1.1 Lý thuyết về kết quả sản xuất

a Khái niệm kết quả sản xuất

Kết quả sản xuất là những gì mà hộ gia đình (doanh nghiệp) đạt được sau một quá trình sản xuất nhất định, kết quả là mục tiêu cần thiết của hộ gia đình Kết quả sản xuất có thể là những đại lượng cụ thể có thể định lượng cân

đo đong đếm được, cũng có thể là những đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như uy tín, sự tín nhiệm về những kết quả mà các nông hộ đạt được sau một quá trình sản xuất được đánh giá dựa vào chất lượng sản phẩm, thường được bao gồm bởi 3 tiêu chí định tính là năng suất, sản lượng và thu nhập của họ

Kết quả là chỉ tiêu nói lên giá trị được tạo ra của quá trình hoạt động sản xuất trong một khoảng thời gian nhất định Để đánh giá lợi ích mang lại cho quá trình hoạt động sản xuất đó là bao nhiêu thì căn cứ vào chỉ tiêu hiệu quả Chỉ tiêu này là cơ sở cho việc lựa chọn phương án sản xuất tối ưu Nó phản ánh được lượng kết quả hữu ích cuối cùng đạt được và phần hao phí vật chất, lao động bỏ ra trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh

b Các tiêu chí thể hiện của kết quả sản xuất

Kết quả sản xuất thường được thể hiện bằng nhiều chỉ tiêu cụ thể như năng suất, sản lượng, thu nhập, lợi nhuận, giá trị sản xuất tạo ra… Tuy nhiên trong quá trình và phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ lấy sản lượng làm tiêu chí thể hiện của kết quả sản xuất để từ đó phân tích mức độ ảnh hưởng của

Trang 19

9

các yếu tố đầu vào đến sản lượng như thế nào

- Sản lượng: Là số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một không

gian và thời gian nhất định

- Năng suất: Theo Từ điển Oxford “năng suất là tính hiệu quả của hoạt

động sản xuất được đo bằng việc so sánh giữa khối lượng sản xuất trong

những thời gian hoặc nguồn lực được sử dụng để tạo ra nó”

Theo từ điển kinh tế học hiện đại của MIT (Mỹ) “Năng suất là đầu ra trên một đơn vị đầu vào được sử dụng Tăng năng suất xuất phát từ tăng tính hiệu quả của các bộ phận vốn, lao động Cần thiết phải đo năng suất bằng đầu

ra thực tế, nhưng rất ít khi tách riêng biệt được năng suất của nguồn vốn và lao động”

Năm 1950 Tổ chức hiệp tác kinh tế Châu Âu đưa ra định nghĩa chính thức như sau: Năng suất là thương số thu được bằng cách chia đầu ra cho một trong những nhân tố sản xuất Trong trường hợp này có thể nói về năng suất của vốn, năng suất đầu tư hoặc năng suất của nguyên vật liệu., tuỳ theo cách xem xét đầu ra trong mối quan hệ với vốn, đầu tư hay nguyên liệu

Năng suất: Là lượng sản phẩm chính của một loại cây trồng thu hoạch được trên một đơn vị diện tích trồng trong một năm Năng suất lúa là toàn bộ sản lượng lúa được sản xuất ra trong một không gian và thời gian nhất định

- Thu nhập: Michael P Todaro (1998) cho rằng: “Thu nhập của hộ gia

đình nông dân là số lượng hàng hóa và dịch vụ vật chất mà hộ gia đình nông dân có thể dùng thu nhập bằng tiền của họ mua được, với thu nhập bằng tiền chỉ đơn giản là tổng số tiền mà hộ gia đình kiếm được hàng tháng, năm” Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc (FAO) cho rằng: “Thu nhập của hộ gia đình nông dân trong sản xuất nông nghiệp chính là phần tiền thưởng cho người chủ sở hữu các yếu tố sản xuất cố định như đất đai, nguồn vốn và nguồn lao động khi đưa các yếu tố này tham gia vào quá trình sản xuất

Trang 20

10

để tạo ra sản phẩm” Do đó trong xác định thu nhập của hộ gia đình nông dân, FAO coi hộ gia đình nông dân như là một doanh nghiệp tự làm chủ, theo đó: Thu nhập hộ gia đình = Tổng giá trị nông sản - chi phí các yếu tố sản xuất trung gian đầu vào - chi trả nguồn vốn đã tiêu dùng - chi thuê lao động - chi trả lãi suất và chi trả tiền thuê đất Thu nhập của hộ sản xuất nông nghiệp là giá trị bằng tiền biểu hiện cho kết quả của quá trình sản xuất và được xác định thông qua các thước đo sau:

Thu nhập gộp - giá trị tổng sản phẩm hay tổng doanh thu là tích của giá

bán sản phẩm và tổng sản lượng đầu ra

Thu nhập ròng - lợi nhuận là hiệu số giữa tổng doanh thu và tổng chi

phí, thu nhập ròng phản ánh hiệu quả kinh tế của sản xuất

Thu nhập lao động gia đình là tổng của lợi nhuận và chi phí cơ hội của

lao động gia đình tham gia vào quá trình sản xuất

Cụ thể được phản ánh bằng các chỉ tiêu sau:

- Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị của cải vật chất và dịch vụ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp sáng tạo ra trong một thời kì nhất định, thường là một vụ hoặc một năm

GO = Q x P Trong đó: Q là sản lượng/khối lượng

P là giá bán Chỉ tiêu này phản ánh giá trị sản xuất sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh, là cơ sở để tính các chỉ tiêu khác

- Chi phí sản xuất: Bao gồm chi phí trung gian và chi phí về lao động gia đình

+ Chi phí trung gian (IC): là bộ phận cấu thành giá trị sản xuất bao gồm những chi phí vật chất và dịch vụ cho sản xuất (không kể khấu hao), như phân

Trang 21

- Thu nhập: phản ánh thu nhập từ sản xuất lúa của các nông hộ

Thu nhập = Giá trị sản xuất - Chi phí sản xuất Trong đó chi phí sản xuất bao gồm chi phí trung gian và khấu hao tài sản cố định

- Năng suất lúa (N): Chỉ tiêu này nói lên sản lượng thu được trên một đơn vị diện tích, được xác định bằng công thức sau:

Trong đó: Q: sản lượng lúa

S: diện tích gieo lúa

1.1.2 Lý thuyết về các yếu tố đầu vào

Yếu tố đầu vào hay còn gọi là yếu tố sản xuất là bất kỳ hàng hóa hay dịch vụ nào được dùng để sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ khác Yếu tố đầu vào bao gồm lao động, máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, năng lượng, v.v Hàng hóa và dịch vụ là những đầu ra của sản xuất

Ví dụ, Công ty Coca Cola sử dụng các yếu tố đầu vào là lao động, máy

móc thiết bị, nước, gaz, đường, v.v để sản xuất ra nước giải khát Để sản xuất

ra lúa gạo, chúng ta cần có nước, phân, lao động, giống, v.v

S Q

N =

Trang 22

12

Vì vậy có thể khái quát một số yếu tố đầu vào trong sản xuất lúa như sau:

a Nguồn lao động nông nghiệp

Nguồn lao động nông nghiệp bao gồm toàn bộ những người tham gia vào sản xuất nông nghiệp Nguồn lao động nông nghiệp là yếu tố sản xuất đặc biệt tham gia vào quá trình sản xuất không chỉ về số lượng người lao động mà còn cả chất lượng nguồn lao động Đặc biệt là yếu tố phi vật chất của lao động như kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm lao động được xem như yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến gia tăng sản lượng Do đó, đầu tư nâng cao chất lượng nguồn lao động chính là đầu tư làm gia tăng giá trị yếu tố đầu vào đặc biệt này

Nhìn chung, nguồn lao động nông nghiệp Việt Nam chất lượng không cao do kỹ năng, kiến thức, tay nghề còn hạn chế, vì vậy thời gian tới cần đầu

tư nâng cao chất lượng nguồn lao động mới tạo sự gia tăng mạnh về năng suất lao động Để nâng cao chất lượng nguồn lao động hay nói cách khác nâng cao vốn con người thì lao động đó phải được giáo dục và đào tạo, đó là kiến thức

để tạo ra sự sáng tạo, một yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế

b Đất nông nghiệp

Đất là tư liệu sản xuất quan trọng nhất và chưa thể thay thế được đối với sản xuất trên quy mô lớn của ngành nông nghiệp và đặc biệt đối với trồng trọt, đặc điểm khác biệt của đất so với những tư liệu sản xuất khác là chất lượng của đất sẽ tăng lên nếu sử dụng đất một cách hợp lý Tính chất đặc biệt này là do độ phì nhiêu của đất tạo nên, độ phì nhiêu của đất được hình thành

và bồi đắp bởi ba nguồn: thứ nhất từ nguồn tự nhiên do các tác động lý, hoá, sinh trong tự nhiên tạo thành; thứ hai là từ nguồn nhân tạo do áp dụng hệ thống canh tác hợp lý; và thứ ba là nguồn tiềm năng do sự kết hợp của hai nguồn tự nhiên và nhân tạo đến một lúc nào đó sẽ làm tăng độ phì nhiêu của đất Bị giới hạn về mặt diện tích và lãnh thổ nên quỹ đất là có hạn cả về số lượng và không gian, và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ngày càng làm

Trang 23

để nâng cao năng suất trên một đơn vị diện tích đất canh tác

c Nước tưới

Trong lĩnh vực nông nghiệp, nước tưới được xem là yếu tố quan trọng, việc tưới nước đúng phương pháp, kỹ thuật có tác dụng nâng cao năng suất và sản lượng lúa Để xây dựng một chế độ tưới hợp lý cần tính toán đến yêu cầu sinh lý của cây, điều kiện thời tiết khí hậu, lượng mưa từng vùng, đặc điểm của đất Trong điều kiện khí hậu của Tây Nguyên, có mùa khô hạn kéo dài và khốc liệt, nếu cay lúa không được kiểm tra nước thường xuyên và bổ sung nước trong mùa khô thì ruộng dễ bị khô hạn, dẫn đến sản lượng lúa thấp từ đó kết quả sản xuất kém Ngược lại, nếu được kiểm tra nước thường xuyên và đầy đủ, hợp lý thì cây lúa sẽ cho sản lượng cao

Nước còn hòa tan các chất dinh dưỡng và vận chuyển chúng trong đất

để cung cấp cho cây Các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây hầu hết là chất khoáng nếu không được hòa tan trong nước thì rễ cây không hút được Nước trong đất góp phần vào việc cải tạo đất, nó tạo điều kiện cho vi sinh vật hoạt động phân giải các chât hữu cơ làm tăng độ phì nhiêu của đất Trong quá trình sinh trưởng cây trồng cần nhiều nước cho bộ rễ phát triển mạnh hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn

d Giống

Giống lúa: là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới năng suất và hiệu quả kinh tế của cây lúa Mỗi giống có năng suất nhất định và cho năng suất cao

Trang 24

14

khi đảm bảo yêu cầu kĩ thuật của chúng Tuy nhiên mỗi giống chỉ phù hợp với từng loại đất cụ thể, từng miền khí hậu nhất định cho nên việc lựa chọn giống phù hợp và cho năng xuất cao đối với từng địa phương là hết sức quan trọng

và cần thiết

Ngày nay với sự phát triển không ngừng của khoa học, các loại giống mới được tạo ra ngày càng nhiều nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Tuy nhiên mỗi loại giống có những đặc điểm riêng, có giống chịu hạn tốt,

có giống kháng bệnh tốt và kháng sâu tốt, Những đặc tính này nếu được khai thác phù hợp với từng loại đất và khí hậu thì nó sẽ mang lại năng suất cao và phẩm chất tốt hơn cho cây trồng giúp người nông dân bán được giá cao hơn

e Phân bón

Theo Viện KHKT nông lâm nghiệp Tây Nguyên (1999), lượng phân bón và kỹ thuật bón phân đã trở thành một biện pháp quyết định đến năng suất cây nông nghiệp Đối với cây lúa, có thể sử dụng những loại phân bón sau: phân hóa học hay phân NPK, phân hữu cơ Tuy nhiên, sử dụng phân NPK, phân hữu cơ hợp lý, đặc biệt là phân NPK sẽ đạt năng suất cao (Lê Ngọc Báu, 1999)

Trong phân bón có 16 dưỡng chất cần thiết cho cây trồng Trong đó có

3 nguyên tố do nước và không khí cung cấp ( C, H, O) Mười ba nguyên tố khác do đất đai và phân bón do con người cung cấp Phân bón được chia thành các lọa phân sau đây gắn liền và với tác dụng của chúng lên cây trồng

+ Phân đạm (URE): là chất tạo hình cho cây lúa là thành phần chủ yếu của Protein

+ Phân lân: Lân có vai trò quan trọng trong đời sống của cây trồng Lân

có trong thành phần của hạt nhân tế bào, rất cần cho việc hình thành các bộ phận mới của cây Lân tham gia vào thành phần các enzim, các prôtêin, tham gia vào quá trình tổng hợp các axit amin Lân kích thích sự phát triển của rễ

Trang 25

15

cây, làm cho rễ ăn sâu vào đất và lan rộng ra chung quanh, tạo thêm điều kiện cho cây chống chịu được hạn và ít đổ ngã Lân kích thích quá trình đẻ nhánh, nảy chồi, thúc đẩy cây ra hoa kết quả sớm và nhiều Lân làm tăng đặc tính chống chịu của cây đối với các yếu tố không thuận lợi: chống rét, chống hạn, chịu độ chua của đất, chống một số loại sâu bệnh hại v.v…

+ Phân Kali: Kali có vai trò chủ yếu trong việc chuyển hoá năng lượng trong quá trình đồng hoá các chất dinh dưỡng của cây Kali làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với các tác động không lợi từ bên ngoài và chống chịu đối với một số loại bệnh Kali tạo cho cây cứng chắc, ít đổ ngã, tăng khả năng chịu úng, chịu hạn, chịu rét Kali làm tăng phẩm chất nông sản và góp phần làm tăng năng suất của cây Kali làm tăng hàm lượng đường trong quả làm cho màu sắc quả đẹp tươi, làm cho hương vị quả thơm và làm tăng khả năng bảo quản của quả Kali làm tăng chất bột trong củ khoai, làm tăng hàm lượng đường trong mía

f Công nghệ

Công nghệ là phát triển và ứng dụng của các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu và quy trình để giúp đỡ giải quyết những vấn đề của con người

Nó thể hiện kiến thức của con người trong giải quyết các vấn đề thực tế để tạo

ra các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc quy trình tiêu chuẩn (Wikipedia, 2007) Ngày nay công nghệ được coi là sự kết hợp giữa phần cứng và phần mềm Trong đó, phần cứng được xem là máy móc, nhà xưởng, thiết bị; phần mềm bao gồm ba thành phần: (1) con người: kiến thức, kỹ năng, tay nghề, kinh nghiệm của người lao động, (2) thông tin: bí quyết, qui trình, phương pháp, (3) tổ chức: bố trí, sắp xếp, điều phối và quản lý

Như đã nêu phần trên, công nghệ được xem là đầu vào quan trọng làm thay đổi phương pháp sản xuất, tăng năng suất lao động Ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất sẽ nâng cao qui mô sản lượng, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm

Trang 26

Thuốc bảo vệ thực vật có hiệu quả chống lại sâu bệnh trong nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như thông qua đường ruột, thông qua miệng, qua da, qua đường hô hấp

Thuốc bảo vệ thực vật có các loại sau: Thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh, thuốc trừ cỏ, thuốc trừ nấm mốc, thuốc trừ vi khuẩn, thuốc trừ gặm nhấm, thuốc trừ ốc sên, thuốc trừ tuyến trùng…

Thuốc bảo vệ thực vật gồm các dạng như: Nhũ dầu, dung dịch, bột hòa nước, huyền phù, hạt, viên, thuốc phun bột

Khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật chúng ta cần lưu ý tuân thủ theo nguyên tắc 4 đúng đó là đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều lượng, nồng độ và đúng cách Đồng thời trong quá trình sử dụng chúng ta cũng có thể pha trộn hỗn hợp thuốc (tức là pha hai hay nhiều loại thuốc) nhằm trừ cùng lúc được nhiều dịch hại

h Mùa vụ

Biết lịch mùa vụ cho sản xuất nông nghiệp của vùng để biết mức độ ô nhiễm môi trường hiện tại và tiềm tàng do sử dụng nông dược Đồng thời nó giúp xác định những tháng thuận lợi và khó khăn hoặc những tháng có thay đổi quan trọng có thể tác động việc sản xuất của nông hộ Tùy điều kiện và tình hình sản xuất của vụ trước đó mà người sản xuất quyết định thời điểm gieo trồng, nhưng thường rơi các các khoảng thời gian như trên Trung bình

Trang 27

17

một vụ kéo dài 95 đến 105 ngày Khi kết thúc một vụ thì các hộ mất trung bình 15 ngày để chuẩn bị giống và chuẩn bị đất để xuống giống vụ tiếp theo Vào các thời điểm như cuối tháng 3, cuối tháng 7 đến cuối tháng 8 và đầu tháng 11 nông dân thu hoạch gần như liên tiếp nên trong thời gian này rất khan hiếm lao động làm cho giá thuê lao động tăng cao vì hiện nay trong khâu

cắt thì nông dân chỉ cắt thủ công nên hao tốn rất nhiều lao động

1.1.3 Các lý thuyết có liên quan

a Khái niệm về nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng nông nghiệp còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản

Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển

và nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế Hoạt động nông nghiệp không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội, mà còn gắn với các yếu

tố tự nhiên

b Khái niệm về sản xuất nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức

ăn gia súc, tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn nuôi gia súc, gia cầm…

Trong sản xuất nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cây trồng và vật nuôi, chúng là những sinh vật Trong sản xuất nông nghiệp, sự hoạt động của lao động và tư liệu sản xuất có tính thời vụ Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên một

Trang 28

18

địa bàn rộng lớn và mang tính khu vực

c Khái niệm về hộ

Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung

và có chung một ngân quỹ Hay nói khác hơn, hộ sản xuất là hình thức liên kết giữa các thành viên của nó thông qua hình thức sống chung, sở hữu chung, hoạt động kinh tế chung và hưởng thụ chung các tài sản và thành quả sản xuất của hộ gia đình

Hộ có những đặc trưng riêng biệt, không giống như là các đơn vị kinh

tế khác, do đó có thể thấy rằng: nông hộ là một đơn vị kinh doanh xã hội khá đặc biệt Trong cấu trúc nội tại của hộ, các thành viên cùng huyết tộc là chủ thể đích thực của hộ Do đó, hộ có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý, sử dụng các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối và sử dụng, tiêu dùng trong một đơn vị kinh tế Do đó, hộ có thể cùng lúc thực hiện được nhiều chức năng mà các đơn vị khác không có được

d Khái niệm về hộ nông dân

Hộ nông dân (nông hộ) là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nông nghiệp và nông thôn Các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau chặt chẽ trước tiên bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, dựa trên cơ sở huyết thống, ngoài ra còn do truyền thống qua nhiều đời, do phong tục tập quán, tâm lí đạo đức gia đình, dòng họ Về kinh tế, các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau trên các mặt quan hệ sở hữu, quan hệ quản lí

và quan hệ phân phối, mà cốt lõi của nó là quan hệ lợi ích kinh tế Các thành viên trong nông hộ có cùng mục đích và cùng lợi ích chung là làm cho hộ mình ngày càng phát triển, ngày càng giàu có Trong mỗi nông hộ thường bố

mẹ vừa là chủ hộ, vừa là người tổ chức việc hiệp tác và phân công lao động trong gia đình, vừa là người lao động trực tiếp Các thành viên trong hộ cùng lao động, gần gũi nhau về khả năng, trình độ, tình hình và hoàn cảnh, tạo điều

Trang 29

19

kiện thuận lợi cho việc phân công và hiệp tác lao động một cách hợp lí

1.1.4 Mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và kết quả sản xuất

Vì trong nghiên cứu đề tài lấy sản lượng làm chỉ tiêu thể hiện của kết quả sản xuất nên ở đây chúng ta tập trung tìm hiểu về mối quan hệ giữa sản lượng và các yếu tố đầu vào

Như chúng ta đã biết trong sản xuất nông nghiệp chúng ta cần rất nhiều các yếu tố đầu vào, nó cũng rất quan trọng để tạo nên sản phẩm nông nghiệp, kết quả của sản xuất đạt tốt hay xấu cũng bị phụ thuộc bởi sự đóng góp của các yếu tố đầu vào này rất lớn Các yếu tố đầu vào trong sản xuất rất nhiều và tùy thuộc vào từng loại cây trồng trong nông nghiệp mà các yếu tố này có mức độ ảnh hưởng khác nhau, chúng ta thường thấy các yếu tố đầu vào như phân bón, nước tưới, thời tiết, khí hậu, diện tích đất đai, giống, phân…

Để nghiên cứu một quá trình sản xuất tổng quát, chúng ta có thể chia các đầu vào, theo tiêu thức chung nhất của mọi quá trình sản xuất, thành lao động và vốn Lúc này mối quan hệ giữa số lượng các yếu tố đầu vào và số lượng đầu ra (sản lượng) làm ra của quá trình sản xuất được biểu diễn bằng hàm sản xuất Hàm sản xuất của một loại sản phẩm nào đó cho biết số lượng sản phẩm tối đa của sản phẩm đó (sản lượng, ký hiệu là Q) có thể được sản xuất ra bằng cách sử dụng các phối hợp khác nhau của vốn (K) và lao động (L), với một trình độ công nghệ nhất định Vì thế, hàm sản xuất thông thường được viết như sau:

Q = f(K, L) Trong đó: Q là số lượng sản phẩm tối đa có thể được sản xuất ra ở một trình độ công nghệ nhất định ứng với các kết hợp của các yếu tố đầu vào là

lao động (L) và vốn (K) khác nhau Hàm sản xuất chỉ có ý nghĩa đối với những giá trị không âm của K và L Thông thường hàm sản xuất được giả

định là hàm số đồng biến với vốn và lao động trong miền xác định của hàm số

Trang 30

20

sản xuất vì trong một chừng mực nhất định, khi sử dụng nhiều yếu tố đầu vào hơn, nhà sản xuất sẽ sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn Sản lượng Q sản xuất ra thay đổi tùy thuộc vào sự thay đổi của số lượng vốn và lao động

Như ta đã biết, hàm sản xuất mô tả mối quan hệ giữa số lượng của các yếu tố đầu vào (vốn và lao động) và sản lượng đầu ra Thí dụ, hàm sản xuất

có thể biểu diễn sản lượng lúa mà một nông dân có thể thu hoạch được với một số lượng lao động và diện tích đất đai, phân bón, thuốc trừ sâu nhất định; hàm sản xuất mô tả số lượng áo quần do một xưởng may sản xuất ra trong, chẳng hạn, một tuần khi sử dụng một số lượng lao động và máy móc thiết bị nào đó Để xem xét tác động của một yếu tố sản xuất nào đó đến sản lượng, chúng ta khảo sát sự thay đổi của sản lượng khi số lượng yếu tố sản xuất đó thay đổi trong khi các yếu tố sản xuất khác giữ nguyên Bây giờ, chúng ta hãy xét ảnh hưởng của lao động (hay vốn) đến sản lượng đầu ra khi số lượng lao động (hay vốn) được sử dụng trong sản xuất thay đổi trong khi số vốn (hay lao động) không đổi Khi xem xét tác động này, ta có các khái niệm về năng suất biên và trung bình

Trước hết, chúng ta hãy phân tích quá trình sản xuất lúa của một nông dân Để sản xuất ra lúa, giả sử người nông dân cần hai yếu tố đầu vào chủ yếu

là đất đai và lao động Giả sử anh ta có một diện tích đất và các công cụ sản xuất cố định nhưng anh ta có thể thuê nhiều hay ít lao động tùy theo điều kiện sản xuất

Bảng 1.1 mô tả mối quan hệ giữa số lượng các yếu tố đầu vào và sản lượng lúa của quá trình sản xuất này Diện tích đất đai được giữ cố định ở một đơn vị (1 hecta chẳng hạn) và số lượng lao động được sử dụng trong sản xuất tăng dần từ 1 đến 10 Rõ ràng, nếu không có lao động nào thì quá trình sản xuất không diễn ra và sản lượng sẽ bằng không Khi bắt đầu sử dụng một lao động, sản lượng tăng lên 3 đơn vị; ta nói năng suất biên của người lao động

Trang 31

21

thứ nhất là 3 Khi tăng số lao động lên 2, sản lượng tăng từ 3 lên 7 đơn vị; ta nói năng suất biên của lao động thứ hai này là 4 Tương tự, khảo sát sự thay đổi của sản lượng khi tăng dần số lao động, chúng ta có thể hình thành cột năng suất biên của lao động Đó là cột 4 trong bảng 1.1

Năng suất biên của một yếu tố sản xuất nào đó (vốn hay lao động) là lượng sản phẩm tăng thêm được sản xuất ra do sử dụng thêm một đơn vị yếu

tố sản xuất đó Như vậy, năng suất biên của vốn và lao động có thể được tính lần lượt như sau:

Bảng 1.1 Mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất lúa

Đất đai (ha) Lao động

=

Trang 32

22

Như vậy, năng suất biên của một yếu tố sản xuất nào đó chính là đạo hàm của tổng sản lượng theo số lượng yếu tố sản xuất đó Như vậy, về mặt hình học, năng suất biên là độ dốc của đường tiếp tuyến của đồ thị hàm sản xuất tại từng điểm cụ thể

Chúng ta hãy tìm hiểu xem tại sao lại có sự giảm dần này trong quá trình sản xuất Với diện tích đất đai là 1 ha, người lao động đầu tiên có cả diện tích đất và công cụ để làm việc Anh ta có rất nhiều công việc để làm và có thể diện tích đó là quá sức đối với anh ta Với sự giúp đỡ của người thứ hai hay người thứ ba, mọi người sẽ sản xuất ra nhiều hơn, năng suất biên của những người này tăng dần Với 3 lao động, diện tích đất có thể vừa đủ để mọi người làm việc hết sức mình và mỗi người chuyên tâm làm công việc theo kỹ năng của mình chẳng hạn như: cắt lúa, vận chuyển và phơi Khi số lao động tăng lên 4, diện tích đất cũng như số công cụ lao động phải được chia sẻ cho mỗi người và họ sẽ không làm việc hết khả năng của mình Sản lượng sẽ tăng chậm hơn và năng suất biên của người thứ tư giảm xuống Rõ ràng khi thêm nhiều lao động thì mỗi lao động chỉ có ít vốn và diện tích để làm việc, thời gian “chết” nhiều hơn và mỗi người khó có thể làm việc theo khả năng của mình nên năng suất biên cứ giảm dần Cho đến người thứ tám, công việc của người này có thể là mang nước uống cho những người khác nên hầu như sản lượng không tăng lên nữa và năng suất biên của anh ta bằng không Ở những mức lao động cao hơn, tình trạng lãng công có thể xảy ra nên sản lượng có thể giảm sút Năng suất biên có thể âm Đối với hầu hết các quá trình sản xuất, năng suất biên của các yếu tố sản xuất (vốn và lao động) cũng diễn biến theo quá trình tương tự

Như vậy, các yếu tố đầu vào biến đổi sẽ làm cho đầu ra biến đổi, cụ thể khi áp dụng các thiết bị, công cụ, công nghệ hiện đại thì tất yếu làm cho đầu

ra (sản lượng) lớn hơn

Trang 33

23

1.2 TỔNG QUAN VỀ CÂY LÚA

1.2.1 Khái quát về cây lúa

Trên thế giới, cây lúa được 250 triệu nông dân trồng, là lương thực chính của 1,3 tỉ người nghèo nhất trên thế giới, là sinh kế chủ yếu của nông dân Là nguồn cung cấp năng lượng và dinh dưỡng lớn nhất cho con người, bình quân 180 - 200 kg gạo/người/ năm tại các nước châu Á , khoảng 10 kg/ người/ năm tại các nước châu Mỹ Ở Việt Nam, dân số hiện nay là 93 triệu

và 100% người Việt Nam sử dụng lúa gạo làm lương thực chính Lúa gạo là nguồn xuất khẩu đem lại thu nhập lớn hàng năm cho quốc gia với số tiền hàng tỉ USD Việc phát triển sản xuất lúa gạo là rất cần thiết vì nó vừa góp phần ổn định an ninh lương thực quốc gia vừa mang lại nguồn lợi lớn cho đất nước Sản phẩm chính của cây lúa là gạo, dùng làm lương thực hàng ngày Ngoài ra cây lúa còn cho chúng ta một số sản phẩm phụ như tấm, trấu, rơm rạ…

Cũng như các cây trồng khác cây lúa chịu sự tác động lớn của các yếu

tố điều kiện tự nhiên như: nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, lượng mưa, lũ lụt, hạn hán… Nếu cấy lúa gặp điều kiện thuận lợi cây sẽ sinh trưởng phát triển tốt cho năng suất cao Ngược lại nếu gặp thời tiết khắc nghiệt tùy theo mức độ khác nhau mà cây có thể bị chết hoặc còi cọc, sinh trưởng và phát triển chậm cho năng suất thấp

Trên thực tế năng suất lúa được quyết định bởi tổng hòa rất nhiều các yếu tố: giống, kĩ thuật chăm sóc, điều kiện tự nhiên, yếu tố con người và nhiều khi là do tác động của yếu tố thị trường Mỗi giống lúa khác nhau cho năng suất khác nhau và cùng một giống lúa với biện pháp thâm canh khác nhau có thể cho năng suất khác nhau Mỗi giống lúa thích hợp với từng loại đất nhất định và cho năng suất cao khi đảm bảo yêu cầu kĩ thuật Chính vì vậy mà cần thiết phải nắm rõ các đặc điểm của cây lúa để có biện pháp canh

Trang 34

24

tác thích hợp Ngoài ra sản xuất lúa còn mang nặng tính thời vụ Thời gian gieo cấy và thu hoạch dồn dập đã gây sức ép lớn về lao động khi thời vụ đến nhưng sau khi thời vụ qua đi thì lao động lại nhàn rỗi nhiều Do đó phải có thêm nghề phụ để ổn định cuộc sống, giải quyết vấn đề lao động trong lúc nông nhàn

1.2.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới

Lúa là một loại lương thực quan trọng đối với 3,5 tỷ người, chiếm 50% dân số thế giới Theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới FAO năm 2015 sản lượng lúa đạt 749,1 triệu tấn tăng 1% so với năm 2014 (741,8 triệu tấn) và có xu thế tăng trong những năm tiếp theo

Sản lượng lúa tại châu Á chiếm tới 90,4% toàn thế giới, tức là 677,7 triệu tấn Tỷ lệ này vẫn đang liên tục tăng vì vấn đề dân số gia tăng ở khu vực này Theo thống kê, sản lượng lúa cao chủ yếu nhờ sản lượng tăng mạnh tại Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Pakistan và Việt Nam Trong đó, sản lượng lúa của Việt Nam năm 2015 đạt tới 44,7 triệu tấn

Sản lượng lúa tại Châu Phi đạt 28,7 triệu tấn, tăng 0,8% so với sản lượng năm 2014 Sản lượng tăng tại các nước Tây Phi đã bù đắp những thiếu hụt do sự suy giảm tại một nước ở Đông và Nam Phi

Tại vùng trung Mỹ và Caribe sản lượng lúa gạo duy trì ở mức ổn định

3 triệu tấn Vùng nam Mỹ sản lượng lúa đạt 25,4 triệu tấn năm 2015 tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2014 Sản lượng lúa gạo tại châu Âu giữ ở mức ổn định đạt 4.1 triệu tấn năm 2015

Trang 35

25

Bảng 1.2 Đồ thị thể hiện sản lượng và diện tích lúa thế giới

giai đoạn 2006 - 2015

(Nguồn: Tổng cục thống kê)

1.2.3 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam

Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa có chiều dài bờ biển lên tới 3000km, địa hình phức tạp nhiều sông núi, do đó hình thành nhiều vùng canh tác lúa khác nhau Căn cứ vào điệu kiện tự nhiên, tập quán canh tác, sự hình thành mùa vụ và phương pháp gieo trồng, nghề trồng lúa nước được hình thành và chia ra là 3 vùng chính: đồng bằng sông Hồng, đồng bằng ven biển miền Trung và đồng bằng Nam Bộ

Trang 36

Đông Xuân (Ng ha)

Hè Thu (Ng ha)

Vụ Mùa (Ng ha)

Trang 37

27

Năm Tổng diện tích

(Nghìn ha)

Tổng sản lượng (Nghìn tấn)

Đông Xuân (Ng ha)

Hè Thu (Ng ha)

Vụ Mùa (Ng ha)

từ năm 2010

Từ năm 2005 trở lại đây sản lượng lúa gạo có xu thế tăng dần Ngoài việc tăng diện tích trồng lúa thì việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp bằng việc tạo ra những giống lúa mới có năng suất cao, chống chọi được với nhiều loại sâu bệnh cũng góp phần nâng cao sản lượng lúa gạo của cả nước

Theo số liệu thống kê cứ mỗi tấn lúa tạo ra khoảng 200 kg vỏ trấu (vỏ trấu chiếm khoảng 20% khối lượng thóc) Như vậy, trung bình hàng năm thế giới tạo ra khoảng 150 triệu tấn vỏ trấu, lượng trấu của Việt Nam khoảng 8,94

Trang 38

28

triệu tấn chiếm khoảng 5,96% lượng trấu thế giới Hiện nay, lượng trấu này vẫn chưa được tận dụng một cách hợp lý nhất là ở những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Phần lớn vỏ trấu được đốt hoặc đổ thẳng ra hệ thống kênh mương gây ô nhiễm môi trường

Sản lượng lúa gạo của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang

có xu hướng gia tăng, điều đó đồng nghĩa với việc lượng vỏ trấu thải ra ngày càng nhiều Do đó, tìm một giải pháp xử lý hiệu quả vỏ trấu là một bài toán hết sức cấp bách Từ yêu cầu thực tiễn trên nhóm đề tài dưới sự chủ trì của PGS TS Nguyễn Văn Tư (Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội) đã nghiên cứu và hoàn thiện phương pháp chế tạo than hoạt tính từ vỏ trấu Đề tài không những giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường mà còn giúp người dân trồng lúa có cơ hội nâng cao thu nhập góp phần vào việc phát triển nền kinh tế quốc gia

Trang 39

29

CHƯƠNG 2

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN

2.1.1 Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu

Kon Tum, còn được viết là Kontum, là một tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên của Việt Nam Đây là tỉnh nằm về phía cực Bắc của Tây Nguyên, có

vị trí địa lý nằm ở ngã ba Đông Dương, phần lớn nằm ở phía Tây dãy Trường

giáp địa phận tỉnh Quảng Nam với chiều dài ranh giới 142 km, phía Nam giáp với tỉnh Gia Lai chiều dài ranh giới 203 km, phía Đông giáp với tỉnh Quảng Ngãi với chiều dài ranh giới dài 74 km, phía Tây giáp với nước CHDCND Lào (142,4 km) và Vương quốc Campuchia (138,3 km)

Địa hình Kon Tum chủ yếu là đồi núi, chiếm khoảng 2/5 diện tích toàn tỉnh, bao gồm những đồi núi liền dải có độ dốc 150 trở lên Địa hình núi cao liền dải phân bố chủ yếu ở phía bắc - tây bắc chạy sang phía đông tỉnh Kon Tum, đa dạng với gò đồi, núi, cao nguyên và vùng trũng xen kẽ nhau khá phức tạp, tạo ra những cảnh quan phong phú, đa dạng vừa mang tính đặc thù của tiểu vùng, vừa mang tính đan xen và hoà nhập, Kon Tum có độ cao trung bình từ 500 mét đến 700 mét, riêng phía Bắc có độ cao từ 800 mét - 1.200 mét, đặc biệt có đỉnh Ngọc Linh cao nhất với độ cao 2.596 mét

Khí hậu Kon Tum có nét chung của khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa của phía Nam Việt Nam, lại mang tính chất của khí hậu cao nguyên Khí hậu Kon Tum chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Trong đó, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng

3 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm vào khoảng 2.121 mm, lượng

Trang 40

30

mưa năm cao nhất 2.260 mm, năm thấp nhất 1.234 mm, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8 Mùa khô, gió chủ yếu theo hướng đông bắc, nhưng vào mùa mưa, gió chủ yếu theo hướng tây nam Nhiệt độ trung bình trong

2.1.2 Xã Hòa Bình

Là một xã vùng ven của thành phố Kon Tum, nằm cách trung tâm thành phố 08 km về phía Nam Có diện tích tự nhiên 6017,93 ha, gồm 09 thôn (làng), trong đó có 04 thôn (làng) đồng bào dân tộc thiểu số

- Về vị trí địa lý:

+ Phía Đông : Giáp với xã Chư Hreng

+ Phía Tây : Giáp với xã Ia Chim

+ Phía Nam : Giáp với Huyện Chư pah, tỉnh Gia Lai

+ Phía Bắc : Giáp với phường Trần Hưng Đạo

- Về dân số: xã Hòa Bình có 1.414 hộ, 6.872 khẩu, trong đó ĐB.DTTS

có 501 hộ, 2.505 khẩu, chiếm 36,45% dân số toàn xã Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân hàng năm 1,5%

- Về kinh tế: Trong 05 năm qua, UBND xã Hòa Bình quản lý, điều hành thực hiện các chỉ tiêu về cây trồng, vật nuôi đều đạt và vượt so với Nghị quyết HĐND xã và kế hoạch UBND thành phố Kon Tum giao Tuy nhiên, trong những năm qua do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, giá cả các mặt hàng nông sản hạ thấp; thời tiết diễn biến thất thường, thiên tai xảy ra, dịch bệnh gia súc, gia cầm gây ảnh hưởng đến sản xuất, chăn nuôi, đời sống kinh tế nhân dân gặp nhiều khó khăn

- Về văn hóa xã hội:

+ Y tế: Xã Hòa Bình có 01 Trạm y tế, gồm có 05 giường, 05 phòng chức năng với 07 cán bộ y tế (trong đó có 01 bác sỹ, 01 y sỹ, 01 ĐDTH, 02

Ngày đăng: 28/11/2017, 10:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w