1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Năng lực và các năng lực ngữ văn cần phát triển ở học sinh

26 4K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 54,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ những phương pháp dạy học truyền thống mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và nhược điểm của chúng. Dạy học Ngữ Văn phải phát hiện được bản thân học sinh có được những ưu, nhược điểm như thế nào về năng lực của bản thân để từ đó giúp các em hình thành những năng lực tiêu biểu trong việc tiếp nhận tri thức văn học. Hiện nay việc dạy học Ngữ Văn đang dần được nâng cao và có nhiều phương pháp mới mẻ để cải thiện chất lượng học của học sinh. Tất cả những năng lực mà chúng tôi đưa lên bài thuyết trình là những năng lực thiết yếu giúp học sinh cảm thụ tốt được một tác phẩm văn học từ đó để các em hiểu được giá trị, những tư tưởng mà tác giả muốn thể hiện.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Dạy học là một quá trình sáng tạo nghệ thuật, ở đó không chỉ truyền đạtkiến thức mà còn phải khơi dậy được niềm đam mê cho học sinh Ngày nay việcdạy học đang nhận được rất nhiều sự quan tâm từ phía cộng đồng điều đó đồngnghĩa với việc vai trò của người giáo viên cũng được nâng cao Làm thế nào đểtạo cho học sinh một môi trường học tập bổ ích? Làm thế nào để các em bộc lộđược khả năng của mình?… Đó là những câu hỏi mà mỗi người dạy học cầnphải suy nghĩ

Đặc biệt trong môn Ngữ Văn việc dạy học cần phải được đầu tư kĩ lưỡng.Một tiết dạy môn Ngữ Văn có thể tạo được niềm hứng khởi cho học sinh nếungười dạy học tạo được một phong cách mới mẻ và một tiết dạy Ngữ Văn cũng

có thể là nỗi ám ảnh đối với học sinh nếu người dạy học chỉ có thể nhắc lại kiếnthức Cả người dạy học và học sinh đều cần phải bồi dưỡng năng lực của mình.Lấy người học làm trung tâm để truyền đạt kiến thức, người dạy học cần phảihiểu được những năng lực nào cần thiết cho học sinh Vậy đối với môn NgữVăn, người học sinh cần phải có những năng lực nào? Trong bài thuyết trìnhngày hôm nay nhóm chúng tôi xin đưa ra một số năng lực cần thiết trong việchọc môn Ngữ Văn của học sinh

Trang 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ 1.1 Năng lực

1.1.1 Khái niệm năng lực

Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê) chủ biên thì năng lực có thể hiểu

Theo tài liệu tâm lí học năng lực “là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của

cá nhân để phù hợp với yêu cầu của một hệ thống nhất định đảm bảo cho hoạt động đó có hiệu quả” (Dẫn theo Tâm lí học đại cương, Đinh Thị Kim Thoa).

Ở góc độ giáo dục: “Năng lực là một hệ thống các cấu trúc tinh thần và khả năng huy động các kiến thức, kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành và thái

độ, cảm xúc giá trị đạo đức động lực của một người để thực hiện thành công các hành động trong bối cảnh cụ thể”

Như vậy dù được nhìn nhận ở góc độ nào thì năng lực vẫn được nhìnnhận ở hai khía cạnh là tiềm năng và hiện thực

1.1.2 Phân loại

Năng lực được chia thành 2 nhóm:

Năng lực chung: Là những năng lực cần thiết để cá nhân có thể tham

gia hiệu quả trong nhiều hoạt động và bối cảnh xã hội khác nhau của đời sống

xã hội Năng lực chung cần thiết cho hoạt động sống của con người và đượcchia thành các nhóm sau:

Trang 3

- Năng lực làm chủ và phát triển bản thân bao gồm:

+ Năng lực tự học+ Năng lực giải quyết vấn đề+ Năng lực sáng tạo

+ Năng lực quản lí bản thân

- Năng lực xã hội bao gồm:

+ Năng lực giao tiếp+ Năng lực hợp tác

- Năng lực công cụ bao gồm:

+ Năng lực tính toán+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ+ Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin

Năng lực chuyên biệt: Liên quan đến một số môn học cụ thể (ví dụ:

Năng lực cảm thụ văn học trong môn Ngữ Văn), hoặc một lĩnh vực hoạt động

có tính chuyên biệt (Ví dụ: Năng lực chơi một loại nhạc cụ) cần thiết ở một hoạtđộng cụ thể, đối với một số người hoặc cần thiết ở những bối cảnh nhất định.Các năng lực chuyên biệt không thể thay thế năng lực chung

1.2 Định hướng phát triển năng lực hiện nay

Nghị quyết TW 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện nêu rõ “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tích cực, chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật, đổi mới tri thức,

kĩ năng phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang đổi mới hình

Trang 4

thức tổ chức dạy học đa dạng, chú ý các hoat động xã hội ngoại khóa nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông đối với dạy học”

Như vậy cần phải có sự chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang

bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực phẩm chất con người Học đi đôivới hành, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dụcgia đình và giáo dục xã hội

Với sự đổi mới mang tính cấp thiết thì chương trình giáo dục truyềnthống được xem là chương trình giáo dục định hướng nội dung, định hướng đầuvào, chú trọng việc truyền đạt kiến thức, trang bị cho người học hệ thống trithức khách quan với nhiều lĩnh vực khác nhau Từ những thiếu sót trong cáchgiáo dục cũ việc đổi mới chương trình dạy theo định hướng phát triển năng lựcngười học được chú trọng

- Học giao tiếp xã hội -> có năng lực xã hôi Hợp tác nhóm học cách ứng

xử, có tinh thần trách nhiệm, có khả năng giải quyết các mối quan hệ trong hợptác

- Học tự trải nghiệm đánh giá-> có năng lực nhân cách Tự đánh giá đểhình thành các giá trị chuẩn mực đạo đức

Về chuẩn đầu ra

- Năng lực chung: Năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, nănglực tự học…

Trang 5

- Năng lực chuyên biệt.

Về năng lực

Giúp học sinh phát triển năng lực giao tiếp ở tất cả các hình thức đọc,viết, nói, nghe và năng lực giao tiếp đa phương thức thông qua nội dung nhữngtri thức phổ thông nền tảng về tiếng Việt và văn học, góp phần phát triển vốn trithức căn bản của một người có văn hóa Ở cấp trung học phổ thông, chươngtrình còn trang bị thêm cho học sinh những tri thức theo định hướng nghềnghiệp, đáp ứng yêu cầu phân hóa, chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông cóchất lượng Ngoài ra chương trình môn Ngữ văn còn góp phần giúp học sinhphát triển các năng lực khác như năng lực tự chủ và tự học, năng lực hợp tác,năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực tư duy, đặcbiệt là năng lực lập luận, phản biện, năng lực tưởng tượng

1.3 Mục đích dạy học theo định hướng phát triển năng lực

- Phương pháp dạy học truyền thống:

+ Chủ yếu thầy nói – trò nghe Giáo viên dạy và học sinh là người đượcdạy, giáo viên biết mọi thứ và học sinh không biết gì, giáo viên suy nghĩ và họcsinh buộc phải nghĩ theo cách nghĩ của giáo viên, giáo viên nói và học sinh lắngnghe, giáo viên quyết định chọn lựa và học sinh phải làm Nói chung giáo viên

là chủ còn học sinh là khách thể của quá trình dạy –học

+ Giáo viên quan tâm trước hết đến việc truyền đạt kiến thức, hướng đếnmục tiêu làm cho học sinh hiểu và ghi nhớ kiến thức Phương pháp này ít quantâm đến việc phát triển tư duy, huấn luyện kĩ năng và rèn luyện thái độ chongười học dẫn đến tình trạng hầu hết học sinh đều thụ động

+ Hậu quả của phương pháp cũ dẫn đến việc thụ động của người họctrong việc tiếp nhận tri thức Sự thụ động này là nguyên nhân tạo ra sự trì trệcho người học, ngại đọc tài liệu, ngại tranh luận, thiếu khả năng thuyết trình,

Trang 6

lười tư duy và thiếu tính sáng tạo trong tư duy khoa học Học sinh chấp nhận tất

cả những gì giáo viên trình bày, sự trao đổi thông tin trong lớp hầu như chỉmang tính một chiều Xét trong thời nay thì việc dạy theo cách truyền đạt nộidung không còn phù hợp và lạc hậu

- Dạy học theo định hướng phát triển năng lực

+ Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực làchuyển từ phương pháp tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học Đểđảm bảo được điều đó phải thực hiện việc chuyển từ phương pháp lối truyền thụmột chiều sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức rèn luyện kĩ năng, hìnhthành năng lực và phẩm chất Tăng cường học tập nhóm đổi mới quan hệ giáoviên học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển nănglực xã hội

+ Phát huy được tính tích cực, tự giác chủ động của người học, hìnhthành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi, chép,thông tin…) trên cơ sở trau dồi các phẩm chất, linh hoạt độc lập sáng tạo của tưduy

+ Cung cấp những cơ hội đặc biệt để nhận thức rõ những giá trị quantrọng thực chất trong cuộc sống Điều đó làm tăng khả năng mà thực ra là yêucầu giáo viên không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết Vì vậy vai trò mới củangười giáo viên trở thành nhân tố kích thích trí tò mò cho học sinh, mài sắcthêm năng lực nghiên cứu độc lập, tăng cường khả năng tổ chức, sử dụng kiếnthức và khả năng sáng tạo độc lập, sáng tạo của người học

+ Luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộcsống nghề nghiệp đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành thựctiễn Phát huy các thế mạnh của phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại, cácthiết bị dạy học và những ứng dụng công nghệ thông tin chú trọng hoạt độngđánh giá cả giáo viên và tự đánh giá của học sinh

Trang 7

+ Xuất phát từ những yêu cầu cấp bách về chất lượng của nguồn nhân lựcphục vụ sự phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi mỗi cơ sở đào tạo cần nhanh chóngphải thoát khỏi mô hình giáo dục truyền thống chuyển sang mô hình giáo dụctheo định hướng tiếp cận năng lực người học, chuyển từ trang bị kiến thức sangphát triển toàn diện phẩm chất người học Nghĩa là thay đổi mục tiêu quan điểmdạy học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến người học được học những gì sang ngườihọc làm được cái gì qua việc học.

Trang 8

CHƯƠNG 2: NĂNG LỰC VÀ CÁC NĂNG LỰC NGỮ VĂN CẦN PHÁT

TRIỂN Ở HỌC SINH

Trong định hướng phát triển chương trình sau năm 2015, môn Ngữ Vănđược coi là môn học công cụ, theo đó năng lực giao tiếp Tiếng Việt và năng lựcthưởng thức văn học/ cảm thụ thẩm mĩ là năng lực mang tính đặc thù của mônhọc Ngoài ra nhóm các năng lực chung cũng đóng vai trò quan trọng trong việcxác định các nội dung của môn học Đối với môn Ngữ Văn, giao tiếp nếu dừnglại ở việc đơn sơ như nghe, nói, đọc, viết thì là năng lực chung Còn khi đi sâuvào các mức độ khác cao hơn, sâu hơn, thậm chí đòi hỏi phải có năng khiếubẩm sinh trong các hình thức giao tiếp thì đó trở thành năng lực chuyên biệt.Các năng lực mà môn Ngữ Văn hướng đến trong định hướng thay đổi hiện nayđược thể hiện như sau

2.1 Năng lực giải quyết vấn đề

2.1.1 Khái niệm

Giải quyết vấn đề là một trong những kỹ năng rất cần thiết trong học tập

và làm việc bởi cuộc sống là một chuỗi những vấn đề đòi hỏi chúng ta phải giảiquyết mà không vấn đề nào giống vấn đề nào và cũng không có một công thứcchung nào để giải quyết mọi vấn đề Điều quan trọng là chúng ta phải tự trang

bị cho mình những hành trang cần thiết để khi vấn đề nảy sinh thì chúng ta cóthể vận dụng những kỹ năng sẵn có để giải quyết vấn đề đó một cách hiệu quảnhất

Trên thực tế, có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về năng lựcgiải quyết vấn đề Tuy nhiên, các ý kiến và quan niệm đều thống nhất cho rằnggiải quyết vấn đề là một năng lực chung, thể hiện khả năng của mỗi người trongviệc nhận thức, khám phá được những tình huống có vấn đề trong học tập vàcuộc sống mà không có định hướng trước về kết quả, và tìm các giải pháp để

Trang 9

giải quyết những vấn đề đặt ra trong tình huống đó, qua đó thể hiện khả năng tưduy, hợp tác trong việc lựa chọn và quyết định giải pháp tối ưu.

2.1.2 Năng lực giải quyết vấn đề của học sinh khi học môn Ngữ Văn

Với môn học Ngữ văn, năng lực này cũng cần được hướng đến khi triểnkhai các nội dung dạy học của bộ môn, do tính ứng dụng thực tiễn và quy trìnhhình thành năng lực có thể gắn với các bối cảnh học tập (tiếp nhận và tạo lậpvăn bản) của môn học, khi nảy sinh những tình huống có vấn đề Với một số nộidung dạy học trong môn Ngữ văn như: xây dựng kế hoạch cho một hoạt độngtập thể, tiếp nhận một thể loại văn học mới, viết một kiểu loại văn bản, lí giảicác hiện tượng đời sống được thể hiện qua văn bản, thể hiện quan điểm của cánhân khi đánh giá các hiện tượng văn học,… quá trình học tập các nội dung trên

là quá trình giải quyết vấn đề theo quy trình đã xác định Quá trình giải quyếtvấn đề trong môn Ngữ văn có thể được vận dụng trong một tình huống dạy học

cụ thể hoặc trong một chủ đề dạy học

Ví dụ:

Trước khi học bài “Ôn dịch thuốc lá”, giáo viên yêu cầu các em học sinh

chuẩn bị để trình bày về vấn đề hút thuốc hiện nay Trong quá trình chuẩn bị,học sinh sẽ tự đưa ra phương án để trình bày cá nhân Các em sẽ tự mình lựachọn sẽ trình bày theo cách nào: kể chuyện thuật lại, thuyết minh bằng tranhảnh, xem video, tùy vào khả năng của mỗi em Sau đó, giáo viên có thể đặt

câu hỏi như: “vì sao phải cấm hút thuốc lá”, “làm thế nào để những người xung quanh em nhận thức đầy đủ hơn về vấn đề này?”, Những câu hỏi này sẽ

để học sinh tự giải quyết mỗi học sinh sẽ có những năng lực giải quyết vấn đềkhác nhau tùy thuộc vào tư duy của mỗi em (Có thể là do có hại cho sức khỏebản thân và người chung quanh; tốn tiền, tốn thời gian, ảnh hưởng đến côngviệc; ô nhiễm môi trường (khói thuốc lá, xả tàn thuốc, bao thuốc); trong thuốc lá

có độc tố nicotin, miệng và hơi thở của người hút thuốc rất hôi, gây khó chịucho người khác, xã hội ngày càng văn minh thì càng không nên hút thuốc

Trang 10

lá, người lịch sự là người không hút thuốc lá, ) Như vậy, tùy vào tư duy củamỗi học sinh sẽ có những cách giải quyết vấn đề khác nhau và đưa ra những câutrả lời theo cách của mình.

2.1.3 Mục đích phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học Ngữ Văn

Việc quan tâm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trongdạy học môn Ngữ Văn có ý nghĩa hết sức quan trọng

Điều này giúp học sinh: Nắm vững kiến thức, có khả năng liên hệ, liênkết giữa các kiến thức bởi những vấn đề thực tiễn thường liên quan tới khôngchỉ một kiến thức văn học Có khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng vàocuộc sống, giúp các em có ý thức trách nhiệm đối với gia đình, xã hội cũng như

ý thức nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc trong cuộc sống lao động saunày của các em

2.2 Năng lực sáng tạo

2.2.1 Khái niệm

Sáng tạo có rất nhiều định nghĩa:

- Là say mê nghiên cứu, tìm tòi để tạo ra những giá trị mới về vật chất,tinh thần hoặc tìm ra cái mới, cách giải quyết mới là không bị gò bó phụ thuộcvào những cái đã có

- Là trong quá trình làm việc luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi và học hỏi để tìm

ra cái mới, cách giải quyết tốt nhất để đạt được hiệu quả tốt nhất

- Là dám làm ra một cái gì đó mới mẻ, táo bạo, khác thường nhưng vẫnrất hữu dụng

Năng lực sáng tạo được hiểu là sự thể hiện khả năng của học sinh trong

việc suy nghĩ và tìm tòi, phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập vàcuộc sống, từ đó đề xuất được các giải pháp mới một cách thiết thực, hiệu quả

để thực hiện ý tưởng Trong việc đề xuất và thực hiện ý tưởng, học sinh bộc lộ

óc tò mò, niềm say mê tìm hiểu khám phá

Trang 11

2.2.2 Năng lực sáng tạo của học sinh khi học môn Ngữ Văn

Việc hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cũng là một mục tiêu màmôn học Ngữ văn hướng tới Năng lực này được thể hiện trong việc xác địnhcác tình huống và những ý tưởng, đặc biệt những ý tưởng được gửi gắm trongcác văn bản văn học, trong việc tìm hiểu, xem xét các sự vật, hiện tượng từnhững góc nhìn khác nhau, trong cách trình bày quá trình suy nghĩ và cảm xúccủa học sinh trước một vẻ đẹp, một giá trị của cuộc sống

Năng lực suy nghĩ sáng tạo bộc lộ thái độ đam mê và khát khao được tìmhiểu của học sinh, không suy nghĩ theo lối mòn, theo công thức Trong các giờđọc hiểu văn bản, một trong những yêu cầu cao là học sinh, với tư cách là ngườiđọc, phải trở thành người đồng sáng tạo với tác phẩm (khi có được những cáchcảm nhận riêng, độc đáo về nhân vật, về hình ảnh, ngôn từ của tác phẩm; cócách trình bày, diễn đạt giàu sắc thái cá nhân trước một vấn đề, …) Khi dạy họcVăn, người giáo viên cần chú ý đến những năng lực sáng tạo cần phát triển chohọc sinh sau đây:

- Biết trình bày những kiến thức đã học dưới dạng một bản đồ tư duy sángtạo

- Biết đặt ra những câu hỏi mới về nội dung kiến thức bài học

- Biết sáng tạo từ mới từ những yếu tố tiếng có sẵn

- Biết sáng tạo cụm từ từ những từ có sẵn

- Biết sáng tạo một đoạn văn

- Biết sáng tạo một tác phẩm văn chương hoàn chỉnh – một bài văn, mộtbài thơ “Bài văn” ở đây có thể là một câu chuyện, một bài thuyết trình, diễnthuyết, một bài nghị luận v.v…

Đó là những năng lực cơ bản cần có của một học sinh khi học bộ môn Ngữvăn

Ngoài ra, trong thời điểm hiện tại, tôi muốn phát triển thêm cho học sinhnhững năng lực sáng tạo cao hơn nữa, có sự tích hợp liên môn học Chẳng hạnnhư năng lực chuyển thể tác phẩm văn học thành kịch bản sân khấu hoặc sáng

Trang 12

tác kịch bản sân khấu dựa trên những kiến thức văn học đã có Bên cạnh đó làsáng tạo các bức tranh minh họa chi tiết trong tác phẩm văn học, hoặc sáng tácbài hát, nhạc dựa trên kiến thức văn học.

Như vậy, khi học Ngữ văn, học sinh có rất nhiều thứ để sáng tạo và cầnsáng tạo

Làm thế nào để học sinh sáng tạo trong môn Ngữ Văn:

Để phát huy năng lực sáng tạo của học sinh trong môn Ngữ văn, giáo viênđóng một vai trò hết sức quan trọng Mỗi học sinh dù ở trình độ nào, lực họcnào cũng đều tiềm tàng năng lực sáng tạo, quan trọng là giáo viên cần biết cáchkhơi gợi tiềm năng ấy

- Với mỗi bài học, GV cần tìm hiểu kĩ nội dung kiến thức và dự kiến nhữngsản phẩm sáng tạo học sinh cần làm và có thể làm được

- Hướng dẫn học sinh sáng tạo một cách cụ thể, dễ hiểu, có các tiêu chíđánh giá về sự sáng tạo rõ ràng, mạch lạc để HS căn cứ vào đó mà thực hiện bàilàm của mình

- Lồng ghép những hoạt động sáng tạo dưới nhiều hình thức: trò chơi, cuộcthi, diễn kịch …

- GV nên thiết kế các hoạt động sáng tạo xuất phát từ những trải nghiệm củahọc sinh và linh hoạt trong hình thức tổ chức cá nhân hoặc nhóm để có sảnphẩm sáng tạo tốt nhất của học sinh

- Ra đề kiểm tra sáng tạo hoặc đưa tiêu chí sáng tạo vào thang điểm chấmcủa mỗi bài kiểm tra Ngoài GV đánh giá HS thì để HS tự đánh giá lẫn nhau.Quá trình đánh giá bạn và tự đánh giá cũng là quá trình HS rút ra được nhữngkinh nghiệm sáng tạo cho mình và có thể nảy ra những ý tưởng sáng tạo mới

- Đặc biệt, sau mỗi giờ học, hoạt động sáng tạo phải được tiếp nối, không bỏlửng Và giáo viên là người theo dõi, giám sát và nghiệm thu những sản phẩmsáng tạo đó của học sinh

Ví Dụ:

Trang 13

Trong buổi sinh hoạt ngoại khóa, với chủ đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân

tộc” (hình thức tự do) Cô cho chia lớp thành các nhóm Mỗi nhóm được lựachọn tùy theo trí sáng tạo của mình Với đề tài này tùy thuộc vào khả năng, kiếnthức, tính năng động, sáng tạo, của mỗi học sinh sẽ có những hình thức tham

gia khác nhau Có nhóm thì đóng dưới dạng tiểu phẩm, có nhóm hát, múa, thơ, đối, vẽ cho phép sự sáng tạo, hư cấu nhưng phải đảm bảo được tinh thần của

văn bản, mang giá trị giáo dục tiến bộ, lành mạnh, thể hiện được bản sắc vănhóa, để học sinh theo dõi, đồng thời mở rộng khả năng liên tưởng, tưởng tượngcho học sinh, đồng thời thể hiện rõ được chủ đề của buổi ngoại khóa

2.2.3 Mục đích của việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học môn Ngữ Văn

Ngữ Văn là một môn học không chỉ giúp học sinh phát huy trí tưởngtượng sáng tạo mà còn đòi hỏi học sinh phải sáng tạo để tìm hiểu và củng cốkiến thức Vì vậy, phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học NgữVăn là một nhu cầu thiết yếu Khi học sinh có được những năng lực này các em

sẽ có những cái nhìn mới mẻ và đa chiều về cuộc sống và con người Nhữngcon người, cuộc sống trong các tác phẩm văn học mà các em được học đâu đó

nó sẽ được tái hiện vào trong cuộc sống thường ngày của các em Có đượcnhững kiến thức như vậy, học sinh sẽ trở nên yêu đời và yêu cuộc sống hơn,cảm thấy cuộc sống xung quanh chúng ta vô vàng màu sắc

2.3 Năng lực hợp tác

2.3.1 Khái niệm

Học hợp tác là hình thức học sinh làm việc cùng nhau trong nhóm nhỏ đểhoàn thành công việc chung và các thành viên trong nhóm có quan hệ phụ thuộclẫn nhau, giúp đỡ nhau để giải quyết các vấn đề khó khăn của nhau Khi làmviệc cùng nhau, học sinh học cách làm việc chung, cho và nhận sự giúp đỡ, lắngnghe người khác, hoà giải bất đồng và giải quyết vấn đề theo hướng dân chủ

Ngày đăng: 28/11/2017, 10:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w