THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN KHU VỰC QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG.... THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DỰ
Trang 1HỒ THỊ MỸ LÝ
KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY
DỰ ÁN ĐẦU TƢ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN KHU VỰC QUẢNG NAM- ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
ĐàNẵng - Năm 2017
Trang 2HỒ THỊ MỸ LÝ
KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY
DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN KHU VỰC QUẢNG NAM- ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Mã số: 60.34.02.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lâm Chí Dũng
ĐàNẵng - Năm 2017
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 2
3 Câu hỏi nghiên cứu: 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: 3
7 Bố cục của luận văn: 3
8.Tổng quan tài liệu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 9
1.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 9
1.1.1 Ngân hàng phát triển 9
1.1.2 Tín dụng của Ngân hàng Phát triển 11
1.2 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 15
1.2.1 Rủi ro tín dung 15
1.2.2 Đặc điểm trong cho vay dự án đầu tư của Ngân hàng Phát triển 17
1.2.3 Đặc điểm của rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư của NHPT 20
1.3 KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DỰ ÁN ĐẦU TƯ 21
1.3.1 Nội dung kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư 21
1.3.2.Tiêu chí đánh giá hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư 30
Trang 51.3.3 Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư 32 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN KHU VỰC QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG 38
2.1.KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VDB VÀ CHI NHÁNH NHPT KHU VỰC QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG 38 2.1.1 Sự hình thành và phát triển 38 2.1.2 Tổng quan về Ngân hàng Phát triển Việt Nam – Chi Nhánh Khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng 40 2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH KHU VỰC QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG 46 2.2.1 Bối cảnh chung và đặc điểm hoạt động của chi nhánh Ngân hàng Phát triển Đà Nẵng (nay là chi nhánh Khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng) 46 2.2.2 Tổ chức hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh 47 2.2.3 Các biện pháp mà Chi nhánh đã triển khai trong công tác KSRRTD trong cho vay dự án đầu tư những năm qua 47 2.2.4 Kết quả hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư của chi nhánh thời gian qua 51 2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CHI NHÁNH 56 2.3.1 Những mặt làm được 56 2.3.2 Những tồn tại trong công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự
án đầu tư tại Chi Nhánh 57 2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 58
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
CHƯƠNG 2 GIẢI PHÁPHOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DỰ ÁNĐẦU TƯ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN KHU VỰC QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG 69 3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN – CHI NHÁNH KHU VỰCQUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG 69
3.1.1 Định hướng và phương châm chiến lược hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam 69
3.1.2 Định hướng của NHPT Chi nhánh Khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng 71
3.1.3 Định hướng hoàn thiện kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư của Ngân hàng Phát triển Chi nhánh Khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng 72
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH KHU VỰC QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG 73
3.2.1 Nâng cao chất lượng công tác thẩm định 74
3.2.2 Tăng cường giám sát khoản vay và quản lý tín dụng 75
3.2.3 Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra nội bộ hoạt động tín dụng 76
3.2.4 Nâng cao chất lượng cán bộ trực tiếp phụ trách tín dụng 77
3.2.5 Hoàn thiện công tác định giá và giám sát tài sản bảo đảm tiền vay 78
3.2.6 Xây dựng hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro 78
3.2.7 Tích cực vận dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm chuyển giao rủi ro 79
3.2.8 Đa dạng hóa trong cho vay nhằm phân tán rủi ro tín dụng và xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng 79
3.3 KIẾN NGHỊ 80
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ, các Bộ ngành 80
3.3.2 Kiến nghị với ngân hàng Nhà nước 84
Trang 73.3.3 Kiến nghị với doanh nghiệp vay vốn của VDB 85
3.3.4 Kiến nghị đối với NHPT Việt Nam 86
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 90
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TAIF (bản sao)
Trang 8NHPTVN Ngân hàng Phát triển Việt Nam
NHTM Ngân hang Thương mại
NSNN Ngân sách Nhà nước
ODA Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
PATC, PATN Phương án tài chính, Phương án trả nợ
Trang 92.5 Cơ cấu nhóm nợ cho vay dự án đầu tƣ tại chi nhánh 53
2.8 Tỷ lệ xóa nợ ròng cho vay đầu tƣ qua các năm 2013-2016 54
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đối với bất kỳ ngân hàng nào, dù là ngân hàng thương mại hay ngân hàng chính sách, với hoạt động kinh doanh lợi nhuận hay không vì mục đích lợi nhuận, cũng đều chịu ảnh hưởng của những rủi ro trong đó có rủi ro tín dụng, rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro lâu đời và quan trọng nhất
mà các ngân hàng cũng như các tổ chức tài chính trung gian khác phải đối mặt Rủi ro tín dụng là không thể trách khỏi, có thể kiểm soát, đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ Do vậy ngày nay việc tìm ra các giải pháp nhằm kiểm soát rủi ro tín dụng luôn trở thành vấn đề cấp thiết, cấp bách và là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ ngân hàng nào
Ngân hàng Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng
là một tổ chức tài chính, hoạt động không vì mục đích thương mại Đối tượng cho vay vốn tín dụng đầu tư chủ yếu là các dự án thuộc ngành, lĩnh vực, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, các chương trình kinh tế có tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững Với mục đích khuyến khích đầu tư, nâng cao hiệu quả xã hội nên các dự án vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước được hưởng nhiều ưu đãi như: Thời gian vay vốn dài, lãi suất vay vốn
ưu đãi, tài sản thế chấp cầm cố thấp, chủ yếu là tài sản hình thành từ vốn vay,… Do
đó, hoạt động cho vay dự án đầu tư bản thân nó hàm chứa nhiều yếu tố rủi ro
Trong thời gian qua, tỷ lệ nợ quá hạn tại Ngân hàng Phát triển tăng cao, rủi ro tín dụng chưa được kiểm soát chặt chẽ và có xu hướng ngày một gia tăng Cần phải giảm các thiệt hại phát sinh do rủi ro tín dụng gây ra và phải kiểm soát rủi ro tín dụng một cách bài bản và có hiệu quả
Xuất phát từ thực tế trên tôi chọn đề tài “Kiểm soát rủi ro tín dụng
trong cho vay dự án đầu tư tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Khu vực
Trang 11Quảng Nam – Đà Nẵng” để nghiên cứu, đánh giá thực trạng nhằm hoàn
thiện hơn nữa công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong vay của ngân hàng nói chung và trong cho vay dự án đầu tư nói riêng
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tín dụng đầu tư nhà nước và kiểm soát rủi
ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư tại NHPT
Tìm hiểu phân tích và đánh giá thực trạng kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư tại Chi nhánh NHPT Khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư đảm bảo chất lượng tín dụng và tăng trưởng tín dụng một cách bền vững tại Chi nhánh NHPT Khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng
Qua đó cũng kiến nghị các cấp có thẩm quyền để hoàn thiện công tác kiểm soát rủi ro tín dụng về mặt quản lý Nhà nước
3 Câu hỏi nghiên cứu:
- Nội dung của công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư của Ngân hàng Phát triển là gì? Tiêu chí đánh giá công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự án là gì?
- Thực trạng kiểm soát rủi ro trong cho vay dự án đầu tư tại Chi nhánh NHPT Khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng đã diễn biến như thê nào? Những vấn
đề nào cần được khắc phục, giải quyết?
- Để hoàn thiện công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư thì NHPT cần đưa ra nhũng giải pháp nào?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư tại NHPT nói chung và thực trạng công tác kiểm
Trang 12soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư tại Chi nhánh NHPT Khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung chủ yếu vào thực trạng kiểm soát rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay dự án đầu tư bằng nguồn vốn trong nước của Chi nhánh NHPT Khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng (trước đây là Chi nhánh Đà Nẵng) với số liệu nghiên cứu thực trạng của các dự án đầu tư vay vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Đà Nẵng từ năm 2013 đến năm 2016
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng Luận văn đã sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp và nghiên cứu một số trường hợp điển hình để làm sáng tỏ và đưa ra các kết luận mang tính khoa học, thực tiễn từ các vấn đề nghiên cứu Kết hợp giữa lý luận với thực tiễn nhằm giải quyết và làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá thực trạng kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư hiện nay tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng đã đạt những gì và tồn tại những hạn chế nào Trên cơ sở đó, đề ra những giải pháp hoàn thiện hơn nữa giúp công tác kiểm soát rủi ro tại Chi nhánh tốt hơn trong cho vay dự án đầu tư Những giải pháp này có tính khả thi khi vận dụng trong công tác quản trị tín dụng tại Chi nhánh NHPT Khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng
Những kết quả nghiên cứu này cũng có thể vận dụng cho những chi nhánh NHPT có điều kiện tương tự
7 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu được trình bày gồm 3 chương:
Trang 13Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự
án đầu tư tại Ngân hàng Phát triển
Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay
dự án đầu tư tại NHPT Khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư tại Chi Nhánh NHPT Khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng
8.Tổng quan tài liệu
Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay luôn là vấn đề quan trọng và được các ngân hàng tâm đến Trong quá trình tìm hiểu về đề tài, tác giả đã tiếp cận được một số tài liệu đã công bố và các công trình tiêu biểu sau:
1 Nguyễn Đắc Quang (2012), “Giải pháp giảm tỷ lệ nợ xấu tại VDB - Chi nhánh Quảng Nam”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng;
Đề tài nghiên cứu những cơ sở lý luận cơ bản về nợ xấu của tín dụng ngân hàng; Đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng tỷ lệ nợ xấu tại VDB – Chi nhánh Quảng Nam, nêu những mặt tồn tại và phân tích nguyên nhân của những tồn tại đó Từ đó,
đề xuất một số giải pháp phòng ngừa tại Chi nhánh; Luận văn đã sử dụng phương pháp thống kê so sánh, phân tích tổng hợp để làm rõ, toát ý nội dung nghiên cứu Tuy nhiên, cách tiếp cận của luận văn này là cách tiếp cận về giảm tỷ lệ nợ xấu
2 Nguyễn Thị Thùy Linh (2012), “Phân tích thực trạng rủi ro tín dụng tại NHPT Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP HCM;
Đề tài nghiên cứu những cơ sở lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng ngân hàng Đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng tại NHPT Việt Nam, nêu những mặt tồn tại và phân tích nguyên nhân của những tồn tại đó ảnh hưởng không tốt đến chất lượng tín dụng Từ đó, đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng trong toàn hệ thống và đưa ra các kiến nghị với các Bộ, các ban ngành có liên quan hỗ trợ và tạo điều kiện cho NHPT Việt Nam hoạt động trong công tác cho vay và quản trị rủi ro tín dụng một cách hiệu quả và an toàn Luận văn
Trang 14đã sử dụng phương pháp thống kê so sánh, phân tích tổng hợp để làm rõ, toát ý nội dung nghiên cứu.Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của luận văn là toàn hệ thống NHPT và đề cập đến một vấn đề có phạm vi quá rộng
3 Nguyễn Thanh Hòa (2011), “Giải pháp hạn chế rủi ro cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh Đà Nẵng”, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng Luận văn đã đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro cho vay sau khi thuyết phục bằng các cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng và rủi ro cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại; Trong đó, tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò và các phương thức cho vay, cũng như nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp Cuối cùng, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh Đà Nẵng Cách tiếp cận của đề tài này là hạn chế rủi ro tín dụng
4 Nguyễn Thị Phương Linh (2010), “Tăng cường kiểm soát tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Đà Nẵng” Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng
Luận văn đã khảo sát trên 2 khía cạnh lý luận và thực tiễn về kiểm soát tín dụng của Ngân hàng thương mại, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng kiểm soát tín dụng của Chi nhánh Đà Nẵng nói riêng và Ngân hàng Nông nghiệp nói chung theo định hướng của Đảng và Nhà nước Khái niệm kiểm soát tín dụng ở đây đồng nghĩa với hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ, khác với cách tiếp cận của lý thuyết quản trị rủi ro
5 Lương Khắc Trung (2012), “Giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh NHNo&PTNT quận Sơn Trà -
TP Đà Nẵng” Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng
Trang 15Luận văn đã đưa ra được cơ sở lý luận đầy đủ, rõ ràng về các biện pháp kiểm soát và tài trợ RRTD trong cho vay doanh nghiệp.Tác giả đã dùng các chỉ tiêu đánh giá để phân tích thực trạng tình hình kiểm soát và tài trợ rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay DN Qua đó, rút ra được những nhận xét có
cơ sở, chỉ ra các mặt hạn chế cần khắc phục và định hướng cho công tác kiểm soát và tài trợ rủi ro tín dụng trong tương lai Đa số các giải pháp luận văn nêu
ra phù hợp với mục tiêu của đề tài và có giá trị thực tiễn đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
6 Lê Viết Mười (2013), “Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển chi nhánh Đà Nẵng" Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng
Luận văn này đi theo hướng nghiên cứu làm rõ nội dung công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp, Tác giả đã nêu ra mặt làm được, những tồn tại và nguyên nhân của các hạn chế trong công tác kiểm soát rủi ro tín dụng tại chi nhánh Từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tac skiểm soát rủi ro cần được khắc phục và nâng cao trong thời gian đến
7 Đào Thị Thanh Thủy (2013), "Hoàn thiện công tác kiểm soát rủi ro tín dụng tại NH TMCP Công thương Bắc Đà Nẵng" Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng
Luận văn này có ưu điểm là về phần cơ sở lý luận tác giả đã nêu được khá đầy đủ và chính xác; những cơ sở lý luận và phân tích thực trạng một cách rõ ràng, cụ thể Tác giả sử dụng phương pháp tiếp cận kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp theo từng biện pháp, công cụ kiểm soát
cụ thể.Tuy nhiên, về nội dung kiểm soát rủi ro tín dụng, tác giả đi theo phương pháp tiếp cận theo quy trình cho vay chứ không đi theo các biện pháp
cụ thể Do vậy, phần các giải pháp tác giả đưa ra các giải pháp mang tính
Trang 16chung chung, thiếu trọng tâm, thiếu một số công cụ cơ bản nhằm kiểm soát rủi ro tín dụng
8 Ngô Thị Hải Yến (2015), “Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay ngành xây dựng tại NHTMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Đà Nẵng” Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng
Đề tài nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay ngành xây dựng, đánh giá chung thực trạng công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong ngành xây dựng và đưa ra những hạn chế và nguyên nhân trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Đà Nẵng Từ những hạn chế nêu ra, tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện việc kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay ngành xây dựng Tuy nhiên, mặt hạn chế của đề tài là: Luận văn chưa nêu được mục đích, yêu cầu của kiểm soát RRTD và vẫn thiếu một số công cụ cơ bản để kiểm soát RRTD
9 Nguyễn Quốc Toàn (2015), Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Luận Văn Thạc
sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng
Luận văn có bố cục chặt chẽ, rõ ràng Phần cơ sở lý luận nêu đầy đủ các nội dung làm tiền đề cho việc phân tích thực trạng quản trị RRTD của ngân hàng Tác giả đã dùng các chỉ tiêu đánh giá để phản ánh tình hình quản trị RRTD trong hoạt động cho vay DN Qua đó, rút ra được những nhận xét có
cơ sở, chỉ ra các mặt hạn chế cần khắc phục và định hướng cho công tác quản trị RRTD trong tương lai đối với Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
10 Văn Chương và Hải Bích (2016), “Làm gì để nâng cao hiệu quả tăng trưởng tín dụng”, Tạp chí Hỗ trợ phát triển, (số 116), tr 19-21
Trong hoạt động ngân hàng, việc tăng trưởng tín dụng lành mạnh là điều kiện tiền đề quan trọng giúp cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, gia tăng sản xuất, từ đó thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng Nhận thấy việc tăng
Trang 17trưởng tín dụng hiệu quả sẽ ảnh hưởng đến vị trí, vai trò, sự tồn tại và phát triển của NHPT, nên tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tăng trưởng tín dụng tại VDB trong giai đoạn hiện nay
11 Lương Văn Thành và Vũ Hồng Tráng (2016), “Giải pháp tăng trưởng tín dụng của VDB hiện nay”, Tạp chí Hỗ trợ phát triển, (số 118), tr 21-25 Tăng trưởng tín dụng luôn là yếu tố sống còn đối với hoạt động ngân hàng, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay của VDB Trong bài viết này tác giả
đã đưa ra những điểm nghẽn trong tăng trưởng tín dụng VDB, và xuất phát từ các điểm nghẽn Từ đó mạnh dạn đề xuất kiến nghị một số giải để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng VDB trong thời gian tới
12 TS.Nguyễn Cảnh Hiệp và Ths.Lê Công Hội (2016), “Quản lý rủi ro của NHPT Nhật Bản”, Tạp chí Hỗ trợ phát triển, (số 114), tr.34-37
Tác giả đã nêu và phân tích rõ quan điểm về quản lý rủi ro của Ngân hàng Phát triển Nhật Bản Ngoài RRTD là loại rủi ro quan trọng nhất được tập trung quản lý, Ngân hàng Phát triển Nhật Bản cũng chú trọng việc quản lý các loại rủi ro khác trong quá trình hoạt động của mình, bao gồm: rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động và rủi ro hệ thống Ba nhân tố then chốt trong quá trình thực thi nhiệm vụ của Ngân hàng phát triển Việt Nam, từ đó đề xuất một số hướng đi theo thời gian, lộ trình của ngành và sự
kế thừa học hỏi kinh nghiệm của các nước đi trước trên thế giới
Trang 18Ngân hàng là một loại định chế tài chính mà hoạt động đặc trưng của nó
là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền đó để cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng cơ bản gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách Về mặt sở hữu, NHTM có thể chia làm nhiều dạng khác nhau: NHTM quốc doanh, NHTM tư nhân, NHTM cổ phần, NHTM liên doanh hoặc chi nhánh NHTM nước ngoài
Hầu hết các ngân hàng với tư cách là trung gian tài chính hoạt động vì lợi nhuận, tối đa đa hóa các lợi ích tài chính của chủ sở hữu Tuy nhiên có một loại hình tổ chức trung gian tài chính hoạt động với đối tượng phục vụ đặc biệt, với mục tiêu phát triển, hướng tới lợi ích kinh tế-xã hội là chủ yếu Ngân hàng phát triển là tổ chức tài chính như vậy
Ngân hàng Phát triển Việt Nam hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm thực hiện nhiệm vụ tín dụng chính sách của Nhà nước và các nhiệm vụ khác theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; được ngân sách nhà nước cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý, được Chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước
Trang 19Hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam tuân thủ quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Luật các tổ chức tín dụng, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và quy định tại Điều lệ
Ngân hàng Phát triển Việt Nam là ngân hàng chính sách, hoạt động theo
mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Ngân hàng phát triển là ngân hàng có chức năng chủ yếu huy động các nguồn vốn trung và dài hạn dưới hình thức nhận tiền gửi, phát hành chứng từ
có giá và vay vốn để đầu tư trung và dài hạn
Hầu hết các quốc gia nhất là các nước đang phát triển đều thành lập NHPT
Ngân hàng phát triển có thể được tổ chức theo hình thức sở hữu Nhà nước với 100% vốn điều lệ thuộc NSNN (như Việt Nam) hoặc hình thức cổ phần mà Nhà nước nắm cổ phần chi phối (như Trung Quốc, Hàn Quốc) Trên thực tế, có nhiều loại hình ngân hàng phát triển như: Nhóm Ngân hàng Thế giới (The Word Bank Group), các NHPT khu vực (địa phương) và các NHPT quốc gia Các NHPT chủ yếu cho vay trực tiếp để đầu tư, mà ngoài
nó ra, vốn tư nhân không thể đáp ứng được Các khoản vay, thông thường là trung hoặc dài hạn với lãi suất mang tính ưu đãi
Ngân hàng phát triển là tổ chức tín dụng mà hoạt động chủ yếu là tài trợ trung và dài hạn cho các dự án đầu tư
Hiện tại, hoạt động tín dụng Nhà nước do ngân hàng phát triển đảm nhận Đây là một tổ chức tài chính Nhà nước thực hiện việc tài trợ chính sách Với nhiệm vụ tiếp nhận và huy động các nguồn vốn để thực hiện chính sách của Nhà nước cho một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, các vùng khó khăn và các chương trình kinh tế lớn của đất nước
Trang 20NHPT chức năng chủ yếu là cho vay đầu tư trung - dài hạn và mang tính chất phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trên cơ sở tập trung vốn cho những khu vực kinh tế thiết yếu có tính chất quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, mục tiêu lợi nhuận là thứ yếu
1.1.2 Tín dụng của Ngân hàng Phát triển
Tín dụng của NHPT là tín dụng của Nhà nước (hay là tín dụng nhà
nước-TDNN) trong lĩnh vực đầu tư và phát triển
Tín dụng ĐTPT của Nhà nước: Là sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua
các hình thức tín dụng (cho vay, bảo lãnh, hỗ trợ sau đầu tư) để tài trợ đầu tư các dự án phát triển thuộc các ngành, lĩnh vực then chốt, trọng điểm được Nhà nước khuyến khích, ưu tiên đầu tư theo mục tiêu chính sách chiến lược của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định với những ưu đãi về thời hạn, về lãi suất, về điều kiện hỗ trợ, về mức hỗ trợ đầu tư
Đối tượng của tín dụng ĐTPT là các dự án nói trên, có khả năng tạo ra nguồn thu và hoàn trả vốn trực tiếp
Tín dụng ĐTPT còn có vai trò tích cực trong việc kích thích đầu tư của các tổ chức kinh tế khác, góp phần tạo ra tốc độ phát triển kinh tế cao hơn Nguồn vốn ĐTPT có thể từ một trong các nguồn vốn sau: Nguồn vốn trong nước và nguồn vốn ngoài nước;
Tín dụng Nhà nước là quan hệ tín dụng, mà trong đó Nhà nước là người
đi vay để đảm bảo các khoản chi tiêu của Ngân sách Nhà nước (NSNN), đồng thời là người cho vay để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình trong quản lý kinh tế - xã hội và phát triển quan hệ đối ngoại
Tín dụng Nhà nước là một hoạt động thuộc lĩnh vực tài chính - tiền tệ, gắn liền với hoạt động của NSNN, có phạm vi huy động vốn rộng lớn, vừa huy động trong nước vừa huy động ngoài nước Trong nước, tín dụng Nhà nước huy động tiền nhàn rỗi của các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế, các
Trang 21tổ chức tài chính trung gian… Ngoài nước, tín dụng Nhà nước vay của các nước giàu, các tổ chức tài chính - tiền tệ thế giới và khu vực
Các hình thức tín dụng của Ngân hàng phát triển: Tín dụng ngân
hàng phát triển chủ yếu gồm các hình thức: Cho vay các dự án đầu tư và bảo lãnh
- Cho vay các dự án đầu tư là việc NHPT cho các khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư
- Bảo lãnh là việc NHPT cam kết với TCTD cho vay vốn về việc trả nợ đầy đủ, đúng hạn của bên đi vay Trong trường hợp bên đi vay không trả hoặc trả nợ không đúng hạn, NHPT sẽ trả nợ thay cho bên đi vay
Tín dụng đầu tư (TDĐT) và tín dụng xuất khẩu (TDXK) của Nhà nước đều là hình thức của tín dụng Nhà nước Hoạt động TDĐT nhằm thực hiện mục tiêu đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, hỗ trợ cho các dự
án đầu tư của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn có tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững Hoạt động TDXK nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và cá nhân phát triển sản xuất - kinh doanh hàng xuất khẩu theo chính sách khuyến khích xuất khẩu của Nhà nước
Đặc điểm tín dụng của Ngân hàng phát triển: Bên cạnh các đặc điểm
chung của TDNH, hoạt động tín dụng của NHPT có các đặc điểm thể hiện sự khác biệt rõ nét so với tín dụng khác như sau:
- Về mặt pháp lý của hoạt động NHPT: Do tính chất đặc biệt của nó, mà
mô hình NHPT thường có một khung luật riêng điều chỉnh nó, song song tồn tại với luật các TCTD, luật NH Trung ương
- Về mặt vốn: Do thực hiện chính sách phát triển kinh tế theo mục tiêu của Nhà nước nên hoạt động TDNH tại NHPT được Nhà nước hỗ trợ mạnh
mẽ về nguồn vốn thông qua việc cấp vốn trực tiếp hoặc hỗ trợ trong huy động
Trang 22vốn về lãi suất, phát hành trái phiếu Chính phủ Đây là đặc điểm khác biệt rất quan trọng so với các NHTM
Hoạt động TDNH tại NHPT gắn liền với định hướng phát triển kinh
tế-xã hội của Nhà nước Tín dụng ngân hàng phát triển là một công cụ điều tiết
vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư phát triển
- Về mặt chủ sở hữu: Vốn của NHPT là vốn của Nhà nước (100% vốn NSNN) hoặc vốn cổ phần Nhà nước trong đó Nhà nước nắm cổ phần chi phối
- Về tiêu chí hoạt động: Hoạt động tín dụng tại NHPT chủ yếu là tài trợ cho các dự án đầu tư phát triển NHPT hoạt động không vì lợi nhuận, tập trung tài trợ cho các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp, phù hợp với quy hoạch và các mục tiêu ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
- Về đối tượng vay: Hoạt động tín dụng tại NHPT chủ yếu tập trung vào các dự án đầu tư được Nhà nước khuyến khích trong từng thời kỳ, thường tập trung vào đầu tư các cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế Trong khi các hoạt động tín dụng khác có thể đáp ứng cho mọi loại khách hàng, mọi dự án thuộc mọi ngành nghề, lĩnh vực
- Phạm vi của tín dụng ĐTPT nhà nước hẹp, hạn chế:
+ Hạn chế về Danh mục các dự án vay vốn tín dụng đầu tư ở một số lĩnh vực, ngành nghề về Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội; Nông nghiệp nông thôn; Công nghiệp; Các dự án cho vay theo Hiệp định Chính Phủ; Các dự án đầu tư
ra nước ngoài theo Quyết định của Thủ tướng Chính Phủ; Các dự án cho vay theo Chương trình mục tiêu sử dụng vốn nước ngoài
+ Hạn chế về địa bàn – nơi thực hiện dự án vay vốn tín dụng đầu tư Dự
án đầu tư phát triển thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; Dự án tại vùng đồng bào dân tộc Khơ me sinh sống
Trang 23tập trung, các xã thuộc chương trình 135 và các xã biên giới thuộc chương trình 120, các xã vùng bãi ngang (không bao gồm dự án thuỷ điện, nhiệt điện, sản xuất xi măng, sắt thép; dự án đầu tư đường bộ, cầu đường bộ, đường sắt
và cầu đường sắt)
Như vậy, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước vừa có nội dung kinh
tế vừa có nội dung xã hội và chính trị Sự kết hợp hài hoà lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước là bản chất của tín dụng đầu tư phát triển, và cũng là mục tiêu hoạt động, tiêu chuẩn đánh giá hoạt động của tổ chức quản
lý tín dụng đầu tư của Nhà nước
- Về lãi suất cho vay: Hoạt động không vì lợi nhuận và thường được Nhà nước có những hỗ trợ nhất định về nguồn vốn, lãi suất huy động vốn cho NHPT, do vậy lãi suất cho vay thường thấp hơn lãi suất thị trường
- Về chủ thể quan hệ tín dụng: NHPT là tổ chức tài chính của Nhà nước (100% vốn NSNN hoặc Nhà nước chiếm cổ phần chi phối), một công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước Do vậy, khác với các loại tín dụng khác, một chủ thể trong quan hệ tín dụng này luôn là Nhà nước (hoặc cơ quan được Nhà nước giao nhiệm vụ)
- Về quy mô, thời hạn: Do tập trung vào các dự án phát triển thuộc các chương trình kinh tế lớn nên hoạt động tín dụng của NHPT thường có quy mô vốn lớn, thời hạn dài, thậm chí có thể dài tới vài chục năm Nên chứa đựng nhiều rủi ro
- Về bảo đảm tiền vay: Vì mang tính chất hỗ trợ, nên thường không đặt nặng vấn đề bảo đảm tiền vay, đôi khi Chính phủ bảo lãnh Tuy nhiên về phía người vay phải chịu sự giám sát khá chặt chẽ từ phía ngân hàng, Nhà nước
- Về mặt quản lý: Quy trình thủ tục vay, sử dụng vốn, đầu tư, xây dựng
cơ bản , bằng nguồn vốn vay NHPT phải bảo đảm tuân thủ những thủ tục
Trang 24chặt chẽ của Nhà nước và chịu sự quản lý Nhà nước như quản lý vốn ngân sách Nhà nước
Mục đích tín dụng của Ngân hàng Phát triển: hỗ trợ các dự án đầu tư
phát triển, các mặt hàng ưu tiên xuất khẩu của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn có tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững
1.2 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN
1.2.1 Rủi ro tín dung
a Khái niệm về rủi ro tín dụng
Theo A.Saunder, H.Lange, 1995, Financial Institutions Management – A modern Perpective, Irwin, Artarmon, rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn
Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1998 của Trung tâm Từ điển học, rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến Trong quan hệ tín dụng, khách hàng luôn phải đối mặt với những rủi ro từ môi trường kinh doanh Và đây chính là đối tượng thứ ba xuất hiện trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và người vay Bất cứ rủi ro nào của người vay cũng có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng Ngân hàng không thể nào loại trừ được hẳn khả năng xảy ra rủi ro
mà chỉ có thể áp dụng những giải pháp đồng bộ hữu hiệu để hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như những tác hại do chúng gây nên Như vậy, RRTD cũng được xem như là rủi ro kinh doanh nhưng xét dưới góc độ ngân hàng RRTD là rủi ro hết sức phức tạp, nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, chúng luôn tiềm ẩn trong suốt quá trình trước, trong và sau khi cho vay và
Trang 25biểu hiện ra bên ngoài là khoản vay không thu hồi được, nợ quá hạn, nợ khó đòi, mất vốn
Theo Timothy W.Koch, rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, RRTD là “ khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện, không
có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Khái niệm: Rủi ro tín dụng của NHPT là khả năng xảy những thiệt hại,
mất mát mà NHPT gánh chịu do khách hàng vay vốn không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi, không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết tại HĐTD vì bất kể lý do gì
b Phân loại rủi ro tín dụng
Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu Tùy theo tiêu chí phân laọi mà người ta chia RRTD thành các loại khác nhau
Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau đây:
Rủi ro tín dụng
RR lựa chọn RR bảo đảm RR nghiệp vụ RR nội tại RR tập trung
Trang 26Rủi ro giao dịch là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh
là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là:
+ Rủi ro lựa chọn: rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án có hiệu quả để ra quyết định cho vay
+ Rủi ro bảo đảm: rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo
+ Rủi ro nghiệp vụ: rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề
Rủi ro danh mục là một hình thức của rủi ro tín dụng là nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quan lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại:
+ Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố đặc điểm riêng mang tính riêng biệt bên trong của một chủ thể vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Nó xuất phát
từ đặc điểm hoạt động hoặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay
+ Rủi ro tập trung: Là trường hợp NH tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trong một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
1.2.2 Đặc điểm trong cho vay dự án đầu tư của Ngân hàng Phát triển
Căn cứ vào đặc điểm của hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước, mục tiêu của công tác quản lý hoạt động tín dụng ĐTPT của NHPT hoàn toàn khác với mục tiêu của công tác quản lý tín dụng của các ngân hàng thương mại
Trang 27Trong khi các mục tiêu chính của tín dụng NHTM là: tăng trưởng, kiểm soát rủi ro và sinh lời, trong đó mục tiêu cơ bản và lâu dài là sinh lời thì mục tiêu của quản lý tín dụng ĐTPT của NHPT là nhằm đạt được các mục tiêu mà Nhà nước đặt ra đối với hoạt động này
Theo đó, các mục tiêu cơ bản của tín dụng ĐTPT của NHPT bao gồm:
- Tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa
- Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững
- Kích thích đầu tư của các tổ chức kinh tế khác, góp phần tạo ra tốc độ phát triển kinh tế cao hơn
Mặt khác, vì hoạt động tín dụng ĐTPT đối diện với rủi ro tín dụng, trong một số trường hợp mức độ rủi ro tín dụng còn cao hơn so với tín dụng của NHTM nên bên cạnh việc đạt được các mục tiêu nói trên, công tác quản lý tín dụng ĐTPTcủa NHPT còn phải đặt ra mục tiêu hạn chế rủi ro tín dụng Ngoài
ra, NHPT là tổ chức được nhà nước ủy thác công tác tín dụng ĐTPT cũng phải không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ trong quá trình hoạt động tín dụng
Cho vay tín dụng đầu tư: Đối tượng vay vốn là các dự án đầu tư có khả
năng thu hồi vốn trực tiếp thuộc danh mục các dự án, chương trình do Chính phủ quyết định cho từng thời kỳ Danh mục đối tượng vay vốn cụ thể và thời hạn ưu đãi cho từng loại đối tượng thực hiện theo quyết định của Bộ trưởng
Bộ Tài chính
Tín dụng ĐTPT của Nhà nước là cho vay các dự án đầu tư, do Nhà nước quản lý, cho vay theo chủ trương của Nhà nước, vì lợi ích của Nhà nước và được hưởng nhiều ưu đãi Do vậy tín dụng ĐTPT của Nhà nước có những đặc điểm nổi bật như sau:
- Tín dụng ĐTPT của Nhà nước do Nhà nước quản lý;
Trang 28- Tín dụng ĐTPT tài trợ theo mục tiêu chính sách chiến lược của Nhà nước;
- Được hưởng chế độ ưu đãi về lãi suất;
- Quy mô vốn lớn, thời hạn cho vay dài;
- Chứa đựng nhiều rủi ro;
- Dự án đầu tư có khả năng tạo nguồn thu và hoàn trả vốn trực tiếp
- Phạm vi của tín dụng ĐTPT hẹp, hạn chế:
Chính sách tín dụng của Nhà nước với mục đích là hỗ trợ những dự án, chương trình kinh tế lớn, những vùng khó khăn hoặc những ngành nghề mà kinh tế dân doanh không làm hoặc không đủ vốn để thực hiện Điều này vô hình chung cũng tạo ra những hạn chế nhất định từ mặt trái ưu đãi của Nhà nước Chẳng hạn như:
Trong tín dụng dài hạn thì tín dụng đầu tư có tỷ lệ rủi ro rất cao Thời gian cho vay dài sẽ xuất hiện các rủi ro, mà trong quá trình thẩm định không thể lường hết được Mức vốn cho vay lớn, tập trung vào một số ngành, lĩnh vực then chốt hoặc kinh tế dân doanh không đủ khả năng vốn đáp ứng Thường những dự án như thế này lại tập trung vào các DNNN, các công ty lớn Điều này cũng vô hình chung tạo nên RRTD lớn, do mức độ tập trung vốn vào một nhóm khách hàng, ngành hàng lớn
Lãi suất tín dụng thường thấp hơn lãi suất thị trường, điều kiện bảo đảm nợ vay được nới lỏng, do vậy nó làm xuất hiện tâm lý chiếm dụng nguồn vốn “rẻ“ của các khách hàng về việc hoàn trả vốn TDNN hoặc tâm lý hiểu vốn TDNN là của Nhà nước nên tranh thủ vay càng nhiều càng tốt, ít quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn hoặc dễ xuất hiện rủi ro về trách nhiệm của khách hàng
Nhà nước khuyến khích đầu tư vào các ngành kinh tế, vùng kinh tế khó khăn; sản phẩm mới rõ ràng đối tượng cho vay TDNN đã hàm chứa rất nhiều yếu tố rủi
ro
Trang 29Sự kém đa dạng về sản phẩm tín dụng của NHPT trong cho vay dự án đầu tư, gây khó khăn trong đa dạng hóa cho vay, kiểm soát rủi ro và giảm thiểu rủi ro
1.2.3 Đặc điểm của rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư của NHPT
NHPT là một trong những loại hình tổ chức trung gian tài chính, do vậy RRTD của NHPT về bản chất cũng giống như RRTD của ngân hàng thương mại Tuy nhiên, do đặc điểm tín dụng NHPT, nên rủi RRTD của NHPT là khá cao (về tính chất) so với các ngân hàng thương mại mà một trong những nguyên nhân gây ra là do mặt trái của sự ưu đãi trong chính sách tín dụng của Nhà nước Cụ thể như sau:
- Mức độ tập trung vốn của NHPT cao: Hầu hết các dự án đầu tư mà NHPT tài trợ thường có quy mô rất lớn Đôi khi có những dự án được đầu tư bằng 100% vốn tín dụng và thuộc một số lĩnh vực, địa bàn nhất định theo quy định
- Ngành nghề, lĩnh vực khó thu hồi vốn, quy mô vốn đầu tư lớn hoặc địa bàn đầu tư khó khăn, đặc biệt khó khăn cần sự hỗ trợ của Nhà nước Như vậy, RRTD cao xuất phát từ trong bản thân các ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn và cả trong giới hạn phạm vi lựa chọn dự án, khách hàng của NHPT theo quy định của Nhà nước
- Các dự án cho vay thường là các dự án đầu tư có mức độ rủi ro cao, do quy mô vốn lớn, thời gian thực hiện dự án dài,…khả năng sinh lời thấp và thường thực hiện đa mục tiêu (kinh tế và xã hội)
- Lãi suất vay khá thấp thường tạo tâm lý ỷ lại và chiếm dụng vốn, không tích cực trả nợ từ khách hàng
- Do mang tính chất hỗ trợ, nên các dự án vay NHPT thường không đặt nặng vấn đề bảo đảm tiền vay, tài sản đảm bảo gần như chỉ gồm các tài sản hình
Trang 30thành từ vốn vay, đôi khi tính thanh khoản tài sản rất thấp Điều này làm RRTD của NHPT là khá cao RRTD cao do bản thân tài sản bảo đảm tính thanh khoản thấp, hình thành từ vốn vay, cộng thêm ý thức, ràng buộc trách nhiệm của khách hàng vì không bị ràng buộc về tài sản bảo đảm của bản thân họ
- Khách hàng vay là các tổ chức kinh tế hoặc quốc gia
1.3 KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DỰ ÁN ĐẦU
TƯ
1.3.1 Nội dung kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư
-Quản trị và các nội dung quản trị rủi ro:
Đến nay, chưa có một khái niệm thống nhất về quản trị và có nhiều cách khái niệm về quản trị, nhiều cách tiếp cận về quản trị Tuy nhiên tất cả đều dựa trên nền tảng lý thuyết quản trị nói chung (gồm 4 chức năng cơ bản: Hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra) Theo đó, có nhiều phát biểu khái niệm quản trị rủi ro
Theo Kloman, Haimes: Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi
ro
Theo Ủy ban Basel: Quản trị rủi ro là một quá trình liên tục cần được thực hiện ở mọi cấp độ của một tổ chức tài chính và là yêu cầu bắt buộc để các tổ chức tài chính có thể đạt được các mục tiêu đề ra và duy trì khả năng tồn tại và sự minh bạch về tài chính
Quản trị rủi ro là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của các nhà quản trị ngân hàng lên các đối tượng quản trị và khách thể nhằm mục tiêu phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng từ đó nâng cao mức độ an toàn, khả năng sinh lời và đạt được các mục tiêu tăng trưởng trong ngắn hạn và dài hạn của mỗi ngân hàng
Trang 31Quản trị rủi ro là việc chủ động kiểm soát các sự kiện tương lai trên cơ
sở kết quả dự báo trước các sự kiện xảy ra chứ không phải là sự phản ứng thụ động Như vậy, một chương trình quản trị rủi ro hiệu quả không những làm giảm bớt xác suất xuất hiện sai sót mà còn làm giảm mức độ ảnh hưởng của những sai sót đến việc thực hiện các mục tiêu đã định
Khái niệm: Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các
chiến lược, chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm tối đa hoá lợi ích trong phạm vi mức độ rủi ro có thể chấp nhận
- Nội dung cơ bản của Quản trị RRTD gồm: Nhận diện rủi ro, đo
lường rủi ro, kiểm soát rủi ro, tài trợ rủi ro và quản lý chương trình
Nhận dạng rủi ro tín dụng: là quá trình xác định liên tục và có hệ thống
các rủi ro của một tổ chức Các hoạt động nhận dạng nhằm phát triển thông tin về nguồn rủi ro Các yếu tố mạo hiểm, hiểm họa và nguy cơ rủi ro
Nhận dạng rủi ro bao gồm các bước: theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và quy trình cho vay để thống kê các dạng rủi ro tín dụng, nguyên nhân từng thời kỳ và dự báo được những nguyên nhân tiềm ẩn có thể gây ra rủi ro tín dụng
Đo lường rủi ro tín dụng là việc xây dựng mô hình thích hợp để lượng
hóa mức độ rủi ro của khách hàng, từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một khách hàng cũng như để trích lập dự phòng rủi ro
Kiểm soát rủi ro tín dụng là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật, công
cụ chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể sảy ra với ngân hàng
Trang 32Các biện pháp kiểm soát rủi ro như: né tránh rủi ro, ngăn ngừa rủi ro, giảm thiểu tổn thất do rủi ro cho vay gây ra, chuyển giao rủi ro, đa dạng hóa rủi ro
Tài trợ rủi ro tín dụng là việc ngân hàng dùng các nguồn tài chính trong
và ngoài ngân hàng bù đắp tổn thất các khoản cho vay khi rủi ro xảy ra Nợ rủi ro sau khi được xử lý sẽ được thu hồi hoặc được chuyển qua theo dõi ngoại bảng
Các nguồn tài trợ rủi ro tín dụng
+ Nguồn từ ngân hàng
+ Nguồn từ bên ngoài ngân hàng
Quản lý chương trình là thiết lập nên những thủ tục mà các hoạt động
quản trị rủi ro dài hạn và hàng ngày phải tuân theo Định kỳ xem xét lại, kiểm tra, đánh giá các thủ tục trong tiến trình quản trị rủi ro nhằm bảo đảm cho chúng hoạt động tốt nhất Điểm mấu chốt là chỉ rõ được nguyên nhân dẫn tới sai lệch cả về mặt chủ quan và khách quan Tính hiệu quả hôm nay không bảo đảm chắc chắn cho tính hiệu quả trong tương lai, mà nó luôn luôn đặt ra những vấn đề mới cho công tác quản trị
Công việc này có thể xem là vừa cuối cùng, nhưng cũng là tiền đề của các công việc trên Một hệ thống quản trị rủi ro tốt nó phải là một quá trình liên tục Xác định mục tiêu và nhận diện rủi ro để mà quản trị, hay nói khác là để xây dựng và vận hành quản lý chương trình quản trị rủi ro Nhưng cũng từ đó mà luôn soát xét lại mục tiêu và nhân diện, bổ sung những rủi ro mới xuất hiện
Trong Luận văn này, tác giả tiếp cận khái niệm kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư theo nội dung để nghiên cứu
Kiểm soát rủi ro
Kiểm soát rủi ro trong cho vay dự án đầu tư là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật, công cụ chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa,
Trang 33né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi
có thể sảy ra với ngân hàng
Kiểm soát rủi ro trong cho vay dự án đầu tư là kiểm soát chất lượng tín dụng của tất cả các khoản vay dự án đầu tư của Ngân hàng
Kiểm soát rủi ro có vai trò quan trọng trong quản trị rủi ro Công tác quản trị rủi ro có đạt mục tiêu như mong muốn hay không phụ thuộc hiệu quả
sử dụng các biện pháp kiểm soát rủi ro Kiểm soát rủi ro hiệu quả giúp cho NHPT ngăn ngừa được khả năng xảy ra rủi ro, giảm thiểu mức độ tổn thất xảy
ra
Các biện pháp kiểm soát rủi ro như: né tránh rủi ro, ngăn ngừa rủi ro, giảm thiểu tổn thất do rủi ro cho vay gây ra, chuyển giao rủi ro, đa dạng hóa rủi ro
a Các biện pháp né tránh rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư
Né tránh theo cách hiểu thông thường là tránh xa cái gì, với ai hay nói cách khác là không đối diện với cái gì, với ai Từ đó có thể nói né tránh rủi ro
là không đối diện với rủi ro
Né tránh rủi ro là việc né tránh những đối tượng, những hoạt động hoặc những nguyên nhân làm phát sinh tổn thất, mất mát có thể xảy ra Thông qua hoạt động thẩm định hồ sơ vay vốn dự án đầu tư, xếp loại và sàng lọc khách hàng: đối với những khách hàng đã thấy rõ ràng là không đủ điều kiện vay vốn, có nguy cơ rủi ro lớn, không phù hợp với chính sách cho vay thì biện pháp tốt nhất là né tránh, từ chối cho vay khi thẩm định vay vốn của khách hàng NHPT thông báo từ chối cho vay đến khách hàng và nêu rõ không đủ điều kiện để vay vốn
Bằng cách né tránh rủi ro, NHPT chủ động né tránh những hoạt động, những doanh nghiệp, những khoản cho vay dự án đầu tư có thể làm phát sinh tổn thất và gây rủi ro cho NHPT Đây là quyết định thường được đánh giá là
Trang 34tương đối dễ dàng, đơn giản, triệt để và chi phí thấp tuy nhiên có một số hạn chế:
- Ngân hàng không thể né tránh hoàn toàn được rủi ro mà thường chỉ né tránh một phần hoặc né tránh ở một mức độ nào đó thôi
- Phải xây dựng được tiêu chí sàng lọc khoa học, toàn diện và đào tạo cán bộ có năng lực và đạo đức tốt mới có thể phát huy được hết vai trò của việc sàng lọc khách hàng, tức là có thể né tránh được những khách hàng kém, không đủ năng lực, dự án không mang lại hiệu quả và khả thi, trong giai đoạn này NHPT lựa chọn được những khách hàng tốt và dự án đầu tư có hiệu quả Ngược lại, nếu không đạt được yêu cầu trên thì việc sàng lọc khách hàng và
dự án trở nên phản tác dụng
- Né trách rủi ro tín dụng ở đây có nghĩa là không đối diện với RRTD bằng nhiều hình thức như quyết định từ chối cho vay hoặc đưa ra các quyết định loại bỏ rủi ro tín dụng để ngân hàng không còn đối diện với nó trong cho vay nữa
- Để công tác né tránh RRTD được thực hiện có hiệu quả, Ngân hàng thường sử dụng các biện pháp sau đây: Từ chối cho vay, giới hạn tín dụng trên một khách hàng, giới hạn tỷ lệ dư nợ những lĩnh vực, ngành có rủi ro tín dụng cao trên tổng dư nợ
b Các biện pháp ngăn ngừa rủi ro tín dụng trong cho vay dự án
Bằng cách loại bỏ những nguyên nhân gây ra rủi ro, đối với những khoản vay mà yếu tố rủi ro được xác định nhưng có thể khắc phục được thì ngân hàng có thể xem xét, cân nhắc để cho vay và thực hiện việc giám sát nhằm không xảy ra các nguy cơ gây ra rủi ro như: sử dụng vốn sai mục đích, không đảm bảo vốn tự có tham gia Phương án sản xuất kinh doanh/Dự án đầu tư, tiến độ thực hiện và nguồn thanh toán, tuân thủ việc thực hiện hợp đồng với đối tác…
Trang 35Đối với các khách hàng vay mà NHPT không thể thực hiện biện pháp
né tránh rủi ro tín dụng, NHPT tiến hành các hoạt động ngăn ngừa RRTD để
nó không xảy ra Theo cách hiểu thông thường thì ngăn ngừa là các hoạt động nhằm ngăn cản khả năng xảy ra sự việc không mong muốn nào đó nhằm giảm thiểu tổn thất do sự việc đó xảy ra
Với ý nghĩa như vậy, ngăn ngừa RRTD trong cho vay dự án đầu tư là các hoạt động của NHPT nhằm loại bỏ những nguyên nhân gây ra rủi ro Tóm lại, ngăn ngừa RRTD trong cho vay dự án đầu tư là các hoạt động của NHPT nhằm ngăn cản khả năng xảy ra RRTD trong cho vay dự án đầu tư nhằm giảm thiểu tổn thất vốn của NHPT Các hoạt động này thường được thực hiện trước, trong và sau khi cho vay
Bằng cách loại bỏ những nguyên nhân gây ra rủi ro, đối với những khoản vay mà yếu tố rủi ro được xác định nhưng có thể khắc phục được thì ngân hàng có thể xem xét, cân nhắc để cho vay và thực hiện việc giám sát nhằm không xảy ra các nguy cơ gây ra rủi ro như: sử dụng vốn sai mục đích, không đảm bảo vốn tự có tham gia phương án sản xuất kinh doanh/dự án đầu tư, tiến
độ thực hiện và nguồn thanh toán, tuân thủ việc thực hiện hợp đồng với đối tác…
Các biện pháp ngăn ngừa rủi ro trong cho vay dự án đầu tư thườnggồm:
- Yêu cầu vốn tự có (vốn đầu tư) đảm bảo vốn đối ứng khi tham gia dự
Trang 36c Các biện pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư
Né tránh, ngăn ngừa rủi ro tín dụng là những biện pháp can thiệp vào xác suất xảy ra RRTD trong cho vay dự án đầu tư Tuy nhiên, có những rủi ro tín dụng mà NH không thể ngăn ngừa hay chỉ ngăn ngừa được một phần, một mức độ nào đó thì khi đó NHPT phải dùng các biện pháp giảm thiểu những tổn thất do RRTD trong cho vay dự án đầu tư gây ra Đây là biện pháp mà NHPT sử dụng trước khi rủi ro xảy ra
Giảm thiểu RRTD trong cho vay dự án đầu tư là việc NHPT chủ động sử dụng các biện pháp nhằm giảm mức độ thiệt hại cũng như tổn thất do rủi ro trong cho vay dự án mang lại nếu như rủi ro xảy ra
Giảm thiểu tổn thất là biện pháp giảm thiểu tổn thất tấn công vào các rủi
ro bằng cách giảm bơt giá trị hư hại khi tổn thất xảy ra Như vây, giảm thiểu tổn thất trong cho vay dự án đầu tư ở đây được hiểu là biện pháp giảm thiểu tổn thất tấn công vào các rủi ro tín dụng trong cho vay dự án bằng cách làm giảm bớt giá trị hư hại khi tổn thất xảy ra
Các biện pháp giảm thiểu rủi ro trong cho vay: Phải đảm bảo đủ nguồn
để thực hiện dự án, Biện pháp bảo đảm tiền vay, cho vay đồng tài trợ, Mua bảo hiểm tài sản trong thời gian thi công,
d Các biện pháp chuyển giao rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư
Chuyển giao rủi ro tín dụng là việc tạo ra nhiều thực thể khác nhau thay
vì một thực thể phải gánh chịu RRTD, thông qua việc chuyển giao toàn bộ tài sản và hoạt động có RRTD đến một người hay một nhóm người khác hoặc cả hai
Nói cụ thể, Chuyển giao rủi ro tín dụng là việc sắp xếp để một vài đối tượng gánh chịu hoàn toàn hay một phần tổn thất xẩy ra trong cho vay, đây là biện pháp làm giảm sự tác động của tổn thất lên toàn bộ ngân hàng Có thể
Trang 37chuyển giao rủi ro cho công ty bảo hiểm, người kinh doanh rủi ro, hoặc bảo lãnh của bên thứ ba
Các biện pháp chuyển giao rủi ro trong cho vay dự án đầu tư gồm:
- Chuyển giao rủi ro cho công ty bảo hiểm: Có hai hình thức chuyển giao
rủi ro cho các công ty bảo hiểm
+ Bảo hiểm tài sản: Đây là hình thức chuyển giao rủi co cho công ty bảo hiểm thông qua khách hàng vay Để giảm rủi ro, NHPT yêu cầu doanh nghiệp vay vốn phải mua bảo hiểm liên quan đến khoản vay.Trong quá trình giải ngân thì Chi nhánh yêu cầu khách hàng vay phải mua bảo hiểm đối với tài sản hình thành từ vốn vay thuộc đối tượng mua bảo hiểm bắt buộc trong suốt thời hạn vay vốnnhư: Bảo hiểm công trình, nhà xưởng, kho hàng, máy móc thiết
bị, phương tiện vận tải, hàng hóa, nhất là các tài sản bảo đảm tiền vay để khi rủi ro xẩy ra NHPT nhận được khoản đền bù từ công ty bảo hiểm thông qua khách hàng vay Đối với tài sản hình thành từ vốn vay đã đi vào hoạt động thì yêu cầu bắt buộc đối với khách hàng vay khi mua bảo hiểm tài sản thì trong nội dung hợp đồng phải ghi rõ đơn vị thụ hưởng là NHPT
+ Bảo hiểm tín dụng: NHTM trực tiếp mua bảo hiểm tín dụng cho các khoản mà NHTM cho vay, công ty bảo hiểm sẽ bồi thường cho NHPT những thiệt hại, tổn thất khi rủi ro tín dụng xẩy ra Thông thường, bảo hiểm tín dụng chỉ đảm bảo cho phần nợ bị mất hoàn toàn sau khi được xác định rõ ràng không áp dụng cho toàn bộ khoản vay
- Chuyển giao rủi ro cho bên mua nợ: Tìm kiếm khách hàng (Các công
ty mua bán nợ) để bán lại các khoản nợ có vấn đề với một tỷ lệ nhất định để thu hồi nợ Thực chất của việc bán nợ chính là chuyển giao rủi ro và cơ hội cho bên kinh doanh mua bán nợ sau khi ngân hàng cho vay chấp nhận một mức tổn thất nhất định
Trang 38- Trong công tác cho vay dự án đầu tư, việc buộc các khách hàng hay nhà thầu phải thực hiện đúng trình tự xây dựng cơ bản Trước khi hợp đồng xây lắp có hiệu lực và được tạm ứng số tiền theo quy định trong hợp đồng thì chủ thầu đều phải có thư bảo đảm thực hiện hợp đồng và thư bảo lãnh tạm ứng Đây là biện pháp mà ngân hàng phòng ngừa rủi ro xảy ra khi dự án đầu
tư đó không triển khai và thực hiên theo dự kiến thì đã có bên thứ ba chịu trách nhiệm về điều này (đó là các NH phát hành các thư Bảo lãnh nêu trên)
- Sử dụng công cụ phái sinh: Công cụ phái sinh có thể được xem như là một loại hình bảo hiểm rủi ro tài chính khi thực hiện các hợp đồng kinh tế mà bản chất là phân tán rủi ro tiềm ẩn và đương nhiên, lợi nhuận của các giao dịch cùng được chia sẻ cho các bên
- Chứng khoán hóa là việc NHTM tập hợp, đóng gói các khoản vay chưa đáo hạn có chung đặc điểm như cùng kỳ hạn, lãi suất, loại hình cho vay, hình thức bảo đảm, bán cho nhà đầu tư dưới hình thức chứng khoán nợ Các chứng khoán nợ này cho phép người sở hữu nhận được khoản tiền thanh toán
từ người vay Những lợi ích cơ bản của chứng khoán hóa đối với NHTM bán
là tăng khả năng thanh khoản của tài sản, chuyển đổi các tài sản có tính thanh khoản thấp sang tài sản có thanh khoản cao hơn, chuyển đổi lĩnh vực đầu tư sang các thị trường mới có khả năng sinh lợi cao hơn
e Biện pháp đa dạng hóa trong cho vay doanh nghiệp
Là việc ngân hàng đa dạng hóa danh mục cho vay, thực hiện cho vay với nhiều loại sản phẩm, nhiều khách hàng, không tập trung cho vay quá nhiều vào một số ít ngành nghề, lĩnh vực, hình thức cấp vốn, một ít khách hàng hoặc nhóm khách hàng nhằm mục đích phân tán rủi ro Bản chất của đa dạng hóa là hạn chế rủi ro đặc thù, rủi ro dao động phụ thuộc theo một vài công ty, một ngành công nghiệp, một lĩnh vực hoạt động Nguyên tắc của phân tán rủi ro là không bỏ hết trứng vào cùng một giỏ
Trang 391.3.2.Tiêu chí đánh giá hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư
Do đặc thù của hoạt động tín dụng đầu tư nên có thể bổ sung một chỉ tiêu sau trong đánh giá kết quả kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu
kế hoạch đề ra trong năm mà NHPT giao cho chi nhánh thực hiện Nếu chỉ tiêu này không đạt được thì cũng thể hiện được rủi ro tín dụng đang tăng và
có nguy cơ xảy ra
Việc kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay dự án đầu tư là hạn chế thiệt hại do rủi ro gây ra bằng cách duy trì rủi ro tín dụng trong phạm vi các tham
số có thể chấp nhận được Do đó, để đánh giá kết quả kiểm soát RRTD, các
NH thường đánh giá qua các chỉ số sau:
Mức RRTD sẽ giảm xuống khi tỷ lệ dư nợ cho vay DN từ nhóm 2 đến nhóm 5 giảm và ngược lại
Trang 40- Biến động trong cơ cấu nhóm nợ
Theo quyết định số: 493/2005/QĐ-NHNN ngày 25/04/2005 của NHNNVN thì nợ vay đƣợc đƣợc phân thành 05 nhóm nợ:
có vấn đề
- Tỷ lệ xóa nợ ròng
Xóa nợ ròng = Dƣ nợ xóa trong kỳ – Số tiền đã thu hồi đƣợc
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ nợ xấu đã đƣợc xuất toán theo dõi ngoại bảng và cho biết mức độ tổn thất tín dụng thực sự của Ngân hàng (theo từng năm)