LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn “Nghiên cứu đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng của một số giống hoa hồng trồng tại Mê Linh - Hà Nội” là
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN HÀ MINH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ
GIỐNG HOA HỒNG TRỒNG TẠI
MÊ LINH - HÀ NỘI
Chuyên ngành: Sinh thái học
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy (cô) giáo, đồng nghiệp, bạn bè và người thân
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy
giáo TS Dương Tiến Viện người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong
quá trình nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu cùng các thầy cô giáo trong Khoa Sinh - KTNN và các cán bộ Phòng Sau đại học trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo, cán bộ, bà con nhân dân xã Mê Linh - huyện Mê Linh - T.p Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, các thầy cô giáo trường THPT Tiền Phong đã quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Bên cạnh đó tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè - những người luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện bản luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Hà Minh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn “Nghiên
cứu đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng của một số giống hoa hồng trồng tại Mê Linh - Hà Nội” là trung thực và không trùng lặp với các đề tài
khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc Mọi sự
giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, Khoa Sinh - KTNN, Phòng Sau đại học và Nhà trường về các thông tin, số liệu trong đề tài
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Hà Minh
Trang 4MỤC LỤC
M ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
4 Điểm mới của đề tài 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Nguồn gốc và phân bố của cây hoa hồng trên thế giới 3
1.2 Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa hồng 5
1.2.1 Nhiệt độ 5
1.2.2 Ánh sáng 6
1.2.3 Độ ẩm 6
1.2.4.Đất 6
1.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa hồng trên thế giới và Việt Nam 7
1.3.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa hồng trên thế giới 7
1.3.2.Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa hồng ở Việt Nam 10
1.4 Nghiên cứu trongvà ngoài nước về chọn tạo giống hoa hồng 14
1.4.1 Nghiên cứu về chọn tạo giống hoa hồng trên thế giới 14
1.4.2 Những nghiên cứu về chọn tạo giống hoa hồng trong nước 15
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNGVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Phạm vi nghiên cứu 19
2.3 Nội dung nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 19
2.5 Các chỉ tiêu theo dõi 20
Trang 52.5.1 Các chỉ tiêu về đặc điểm hình thái 20
2.5.2 Các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển 20
2.5.3 Các chỉ tiêu về năng suất và chất lượng hoa 20
2.5.4 Các chỉ tiêu về mức độ sâu bệnh hại 21
2.6 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 21
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 Đặc điểm hình thái củacác mẫu giống hoa hồng 22
3.1.1 Đặc điểm hình thái các giống nghiên cứu 22
3.1.2 Đặc điểm dạng cây, đường kính tán của các mẫu giống hoa hồng 30
3.1.3 Đặc điểm hình thái lá của các giống hoa hồng 31
3.1.4 Kích thước và cấu trúc lá kép của các mẫu giống hoa hồng 33
3.1.5 Cấu trúc hoa của các mẫu giống hoa hồng 35
3.2 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của các mẫu giống hoa hồng 36
3.3 Năng suất, chất lượng của các mẫu giống hoa hồng 40
3.4 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại chính của các mẫu giống hoa hồng 42
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
PHỤ LỤC ẢNH 50
Trang 6BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Ký hiệu Tên đầyđủ
1 ADN Acid deoxyribo nucleotide
2 BNN PTNT Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn
3 FAO Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hiệpQuốc
(Food and Agricultural Organization)
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Nguồn gốc một số loài hoa hồng trên thế giới 3
Bảng 1.2 Một số nhóm hoa hồng chính và vùng phân bố của chúng 4
Bảng 1.3 Diện tích, giá trị kinh tế hoa cắt và cây trang trí của một số nước trồng chính trên thế giới năm 2003 7
Bảng 3.1 Đặc điểm dạng cây, đường kính tán của một số giống hoa hồng 31
Bảng 3.2 Đặc điểm hình thái lá của các giống hoa hồng 32
Bảng 3.3 Kích thước và cấu trúc lá kép của các mẫu giống hoa hồng 34
Bảng 3 4 Cấu trúc hoa của các mẫu giống hoa hồng 35
Bảng 3.5 Chiều cao cây, đường kính thân và cành, số cành và số lá trên cành cấp 1 37
Bảng 3.6 Chiều dài cành, chiều dài và đường kính cuống hoa của các mẫu giống hoa hồng 39
Bảng 3.7 Năng suất, chất lượng hoa của các mẫu giống hoa hồng 40
Bảng 3.8 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại chính của các mẫu giống hoa hồng 42
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Biểu đồ tỷ lệ (%) giá trị nhập khẩu hoa hồng của các nước EU
năm 2003 8
Hình 3.1 Năng suất các mẫu giống hoa hồng 41
Ảnh 1 Giống Phấn hồng 23
Ảnh 2 Giống Nhung đen 24
Ảnh 3 Giống Kem 25
Ảnh 4 Giống Vàng thẫm 26
Ảnh 5 Giống Đỏ pháp 27
Ảnh 6 Giống Cam 28
Ảnh 7 Giống Cánh sen 29
Ảnh 8 Giống Đỏ son 30
Trang 9MỞ Đ U
1 Lí do chọn đề tài
Hoa là một món quà vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người Mỗi loài hoa mang một vẻ đẹp riêng, một sắc thái riêng, có thể nói hoa là một sản phẩm đặc biệt vừa mang lại giá trị tinh thần, vừa mang lại giá trị kinh tế cao Nhiều nước trên thế giới như Hà Lan, Bungari… đã có nền sản xuất hoa rất phát triển và là nguồn thu nhập quan trọng của đất nước
Trên thế giới và ở Việt Nam hoa hồng được xem là chúa tể của các loài hoa và là loài hoa được người tiêu dùng ưa chuộng nhất Với ưu điểm về kiểu dáng sang trọng lại đa dạng về màu sắc, hương thơm, cũng như có thể trồng
và thu hoạch quanh năm ở nhiều vùng khí hậu và sinh thái khác nhau nên rất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất Trong tự nhiên, giống hoa hồng có khoảng 150 loài, phân bố khắp bán cầu bắc, từ Alaska cho đến Mexico và ở
cả Bắc Phi [47]
Việt Nam có khí hậu đa dạng, đất đai màu mỡ, phong phú là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của hàng trăm loài hoa Thực tế, trong những năm gần đây, diện tích và sản lượng hoa ở Việt Nam tăng lên nhanh chóng và đang ngày càng đáp ứng tiêu dùng trong nước
Việt Nam khu vực sản xuất hoa hồng đã tăng đáng kể trong những năm gần đây và có thể sẽ tăng nhiều hơn nữa trong những năm tới Khu vực sản xuất thường tập trung ở các thành phố lớn như Mê Linh, Tây Tựu (Hà Nội), Sapa (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm Đồng ), thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng Hiện có khoảng 15.000 ha đất trồng hoa ở nước ta, hoa của Việt Nam
đã và đang dần dần chiếm một thị phần lớn thị trường trong nước bởi giá thành và chất lượng sản phẩm
Thực tiễn của nghề trồng hoa cho thấy, muốn đạt hiệu quả cao thì không chỉ cần hoa cao cấp cho tiêu thụ nội địa mà còn hướng tới xuất khẩu
Trang 10Nhưng để có hoa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thì cần phải có những giống hoa hồng cho năng xuất, chất lượng tốt
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, việc triển khai đề tài “Nghiên cứu
đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng của một số giống hoa hồng trồng tại Mê Linh - Hà Nội” vừa có cơ sở khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu
sắc
2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá và lựa chọn được một số giống hoa hồng có năng suất, chất lượng cao, phù hợp với điều kiện Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng, nhằm bổ sung và thay thế các giống hoa hồng có năng suất và chất lượng thấp hơn góp phần nâng cao thu nhập, đáp ứng nhu cầu thị trường hiện nay
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần bổ sung vốn kiến thức cho chuyên
ngành Sinh thái học và là cơ sở khoa học cho những nghiên cứu về các giống cây hoa hồng ở Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài giúp đánh giá và tìm ra những
giống hoa hồng có năng suất và chất lượng cao để nhân rộng trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
4 Điểm mới của đề tài
Đề tài đánh giá được đặc điểm sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu và năng suất của một số giống hoa hồng tại Mê Linh - Hà Nội để làm cơ
sở cho việc nhân rộng những giống hoa hồng mới cho năng suất cao, chống chịu tốt phục vụ sản xuất trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc và phân bố của cây hoa hồng trên thế giới
Khoảng 5000 năm trước đây hoa hồng đã được trồng ở Trung Quốc, Tây Á và Bắc Phi Sau đó, hoa hồng đã di thực đi khắp nơi trên thế giới Gudin Serge (2000) cho rằng có 8 nhóm hoa hồng cổ xưa, từ chúng hình thành nên nhiều giống hoa hồng phổ biến trên thế giới sau này Nhóm có
nguồn gốc từ Trung Quốc Rosa bracteata (1675), Rosa bracteata (1675), Rosa sericea ptericantha (1890) và Rosa wichuraiana variegata (1890) Nhóm có nguồn gốc từ Nhật Bản Rosa rugosa Nhóm có nguồn gốc từ Bắc
Mỹ Rosa foliolosa (1880) và nhóm phát sinh từ cực Bắc bán cầu Rosa nutkana (Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Nguồn gốc một số loài hoa hồng trên thế giới
bán cầu
(Nguồn: Gudin Serge, 2000)[29]
Hoa hồng được tìm thấy ở vùng ôn đới từ hàn đới đến cận nhiệt đới, tập trung nhiều nhất ở một số nước như Mỹ, Iraq, Ethiopia và Trung Quốc Nhiều
Trang 12nhà khoa học đã chia hoa hồng thành 10 nhóm lớn, với 115 loài phân bố ở 8 vùng chủ yếu trên thế giới [33]
Theo Rehder (1940) [35] nghiên cứu 10 nhóm hoa hồng lớn với 115 loài phân bố ở 8 vùng chủ yếu trên thế giới (bảng 1.2)
Bảng 1.2 Một số nhóm hoa hồng chính và vùng phân bố của chúng
Nhóm Số
loài
Số NST Vùng phân bố Những loài chủ yếu
R cymosa Tratt
R floliosa Nutt
Chinensis
R gigantean Colelt ex Cre’p
Pimpinelifolae 10 14-28 Châu Á Nam Âu
Trang 13Do nhu cầu sử dụng, cho nên từ lâu, các loài trong chi Rosa được lai
tạo rất nhiều để tạo ra các loài và các giống lai có nhiều đặc tính quý, đáp ứng thị hiếu của con người Loài được lai nhiều nhất là Hồng thơm hay còn gọi là
Hồng trà (Rosa x odorata (Andr.) Sweet, 1818 là loài lai giữa R chinensis x
R gigantea có nguồn gốc từ châu Âu, được nhập trồng phổ biến ở khắp nơi
trên thế giới và Việt Nam Các giống hoa hồng nổi tiếng nhất trên thế giới
như Rosa x odorata cv Old Blush, Rosa x odorata cv Hume's Blush, Rosa x odorata cv Fortune's Double Yellow, đều thuộc loài này, nhưng nhiều khi được trích dẫn là Rosa chinensis Từ Rosa x odorata, người ta lại lai tiếp với
các giống hoặc loài khác để tạo ra các giống mới khác (tới 2000 giống lai), ví dụ: Hồng nhung (Red velvet rose), Hồng pháp (Gallic rose), Hà Minh Tâm (2013) [12], Gu Cuizhi & Kenneth R Robertson (2003) [28], Nguyễn Tiến Hiệp (2003) [4] và Phạm Hoàng Hộ (1999) [5], E Vidal (1968) [41]
1.2 Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa hồng
1.2.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sinh trưởng, phát triển của cây hoa hồng Nhiệt độ ảnh hưởng đến cây hoa hồng bao gồm: nhiệt độ ngày, đêm, chênh lệch nhiệt độ ngày - đêm và nhiệt độ đất Nhiệt độ còn ảnh hưởng đến sự ra hoa và nở hoa, quang hợp, hô hấp và sự tạo thành các sản phẩm trao đổi chất đặc biệt là sắc tố do vậy mà ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất
Theo Hoàng Ngọc Thuận (2005) nhiệt độ thích hợp nhất cho cây hoa hồng sinh trưởng và phát triển là 18 - 220C, nhiệt độ quá cao (>380C) hoặc quá thấp (<80C) đều làm ảnh hưởng đến cây hoa hồng [17]
Theo Moe R và Kristoffersen (1999) nhiệt độ tối thích cho cây hoa hồng thường là 23 - 250C, có một số giống từ 21 - 230C, tổng tích ôn của hoa hồng > 17000C Nhiệt độ đêm có ảnh hưởng lớn tới số lượng hoa và số lần ra
Trang 14hoa do ảnh hưởng tới hoạt động của bộ rễ Đa số các giống ở nhiệt độ đêm khoảng 160C cho số lượng và chất lượng hoa tốt Đồng thời cho biết nhiệt độ ngày cao hơn đêm sẽ rút ngắn thời gian phát dục của hoa hai ngày nhưng không làm cho cánh dài ra [32]
1.2.2 Ánh sáng
Hoa hồng là cây ưa sáng, trong điều kiện ánh sáng đầy đủ đảm bảo cho cây có thể sinh trưởng phát triển thuận lợi nhất Ánh sáng tác động tới hoa hồng nói riêng, cây trồng nói chung thông qua cường độ chiếu sáng và thời gian chiếu sáng Theo Hoàng Ngọc Thuận cây hoa hồng yêu cầu cường độ chiếu sáng 10.000 - 12.000 lux, thời gian chiếu sáng thích hợp từ 8 - 12h/ngày Ánh sáng cung cấp năng lượng cho quá trình quang hợp tạo ra chất hữu cơ cho cây, có tới 90% chất khô trong cây là do quá trình quang hợp tạo nên Quang hợp phụ thuộc vào quang phổ ánh sáng và cường độ chiếu sáng, đối với hoa hồng nếu cường độ ánh sáng giảm thì năng suất và chất lượng đều giảm [16], [19]
1.2.3 Độ ẩm
Độ ẩm có ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng và phát triển của cây hoa hồng thông qua độ ẩm không khí và độ ẩm đất Cây hoa hồng yêu cầu độ ẩm đất khoảng 60 - 70%, độ ẩm không khí 80 - 85% Trong điều kiện thích hợp cây sinh trưởng phát triển tốt, ít sâu bệnh, chất lượng cao Lượng mưa từ 800
- 2000mm và phân bố đều quanh năm là thích hợp [16]
1.2.4.Đất
Đất là một trong những yếu tố môi trường rất quan trọng với sự sinh trưởng, phát triển của thực vật nói chung, là nơi nâng đỡ, cung cấp nước và
chất dinh dưỡng, không khí cho cây trồng
Cây hoa hồng yêu cầu đất tốt, sạch, nhiều mùn, hơi nhẹ và thoát nước tốt, pH= 5,5 - 6,5 Đất trồng phải là nơi trải nắng, ít nhất phải có 8h nắng/ngày [17]
Trang 15Bộ rễ hoa hồng phân bố ở tầng đất 60cm trở lên, một số giống phân bố trên 1m, mực nước ngầm trên 40cm để tránh ảnh hưởng đến bộ rễ Đất trồng hồng tốt nhất là đất Macgarit (đất đen đá vôi) hoặc đất giàu mùn Loại đất này
có kết cấu viên, khả năng giữ mùn tốt, thoáng khí, có lợi cho sự phát triển của
bộ rễ [3]
1.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa hồng trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa hồng trên thế giới
Các nước sản xuất hoa hồng chính là Hà Lan, Mỹ, Côlômbia, Nhật, Israel, trong đó Hà Lan là nước trồng và xuất khẩu hoa hồng lớn nhất thế giới
Mỹ là nước trồng hoa hồng nhiều nhưng nhập khẩu cũng nhiều Năm 1996
Mỹ sản xuất 3,5 tỷ cành và nhập khẩu 8,3 tỷ bông [42]
Tình hình sản xuất hoa cắt nói chung của các nước trên thế giới năm
2003 được Hiệp hội hoa Hà Lan giới thiệu (bảng1.3)
Bảng 1.3 Diện tích, giá trị kinh tế hoa cắt và cây trang trí của một số
nước trồng chính trên thế giới năm 2003
Tên nước Diện tích (1000 ha) Giá trị (triệu Euro)
Trang 16Hà Lan 28%
Đức 26%
Pháp 14%
Anh 11%
Italya 7%
Úc 4%
Các nước khác 10%
Hình 1.1 Biểu đồ tỷ lệ (%) giá trị nhập khẩu hoa hồng của các nước EU
Sỹ, Tây Ban Nha [26]
Sản xuất hoa hồng ở Hà Lan phát triển không ngừng Từ năm 1950, hoa hồng chủ yếu trồng ngoài đồng ruộng với chu kỳ trồng lại của hoa hồng
từ 7 - 10 năm Thời kỳ này, những kỹ thuật mới còn chưa pháttriển
Gần đây Mexico và Nam Phi là các nước mới trồng và tiêu thụ hoa hồng ở mức cao Thị trường nội địa của họ tiêu thụ khoảng 70% lượng hoa hồng sản xuất ra, ngược lại với 15 năm trước đây, hầu hết hoa hồng sản xuất
ra nhằm mục tiêu xuất khẩu Những nước khác như Nga, Argentina trước đây chủ yếu nhập khẩu hoa hồng, đến nay đã bắt đầu phát triển trồng hoa hồng để đáp ứng cho thị trường nội địa của họ [34]
Trang 17Hiệu quả kinh tế của việc sản xuất hoa hồng mang lại rất lớn nên các quốc gia trên thế giới đang ngày càng chú ý và đầu tư vào ngành sản xuất hoa nói chung và sản xuất hoa hồng nói riêng Chính vì vậy, diện tích, năng suất
và sản lượng hoa hồng không ngừng được tăng lên
Từ những năm 1970, nhà lưới được xây dựng ồ ạt với số lượng lớn, hiện đại Thời kỳ này, Hà Lan quan tâm đến việc thay đổi giống mới kết hợp với các yếu tố môi trường [39]
Từ những năm 1980 trở đi, khoa học ngày càng phát triển, những nguyên vật liệu nhân tạo như giá thể, nhà lưới, hệ thống tưới tiêu, phân bón…
đã được áp dụng làm thúc đẩy sản xuất Cây hoa hồng được trồng trong nhà lưới có các điều kiện tối ưu về môi trường nên cây hoa hồng được sinh trưởng phát triển ngày càng tốt hơn [22]
Mỹ là nước sản xuất hoa cắt lớn trên thế giới Giá trị sản xuất hoa cắt đạt 424 triệu USD trong năm 2001 và chủ yếu phục vụ nội tiêu Hoa hồng chiếm khoảng 30% thị trường các loại hoa cắt [46] Tại Mỹ, hoa hồng được sản xuất nhiều nhất ở bang California, chiếm 66% tổng giá trị hoa hồng được sản xuất tại Mỹ [37], [38]
Châu Á có diện tích trồng hoa hồng đứng thứ 3 trên thế giới Các nước trồng hoa nhiều nhất là Ấn Độ, Nhật Bản, Israel và Trung Quốc [25]
Trung Quốc bắt đầu sản xuất hoa hồng từ những năm 50 của thế kỷ
XX Hiện nay, Quảng Đông là tỉnh trồng nhiều hoa hồng nhất, hàng năm sản xuất 2 tỷ 96 triệu bông, sau đó là các tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên, Hồ Bắc trong
đó hoa có chất lượng cao nhất là hoa hồng trồng ở Vân Nam [24]
Ngày nay, tổng diện tích trồng hoa của Trung Quốc lên tới 10.600 ha Vân Nam đã trở thành trung tâm sản xuất hoa thương mại lớn nhất của Trung Quốc Sản xuất hoa chủ yếu trong nhà lưới với những kỹ thuật tiên tiến và các giống hoa có năng suất cao [19]
Trang 18Năm 2017, Lễ hội hoa hồng Bulgaria do Đại sứ quán Cộng hoà Bulgaria, TW Hội hữu nghị Việt Nam - Bulgaria đồng phối hợp tổ chức, nhân ngày Quốc khánh nước Cộng hoà Bulgaria, ngày 3/3 Tại lễ hội, đã có hơn
300 loài hoa hồng đặc sắc trên thế giới được tụ hội [45]
1.3.2.Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa hồng ở Việt Nam
Việt Nam có diện tích đất tự nhiên hơn 33 triệu ha nhưng diện tích trồng hoa ở Việt Nam chỉ chiếm 0,02% diện tích đất đai Hoa được trồng lâu đời và tập trung một số vùng trồng hoa truyền thống như Ngọc Hà, Quảng
An, Tây Tựu (Hà Nội), Đằng Hải, Đằng Lâm (Hải Phòng), Hoành Bồ, Hạ Long (Quảng Ninh), Triệu Sơn (Thanh Hoá), Gò Vấp, Hóc Môn (TP Hồ Chí Minh),…với tổng diện tích trồng khoảng 3500 ha [43]
Phong trào trồng hoa ở Việt Nam trong những năm gần đây đã được chú ý phát triển, diện tích hoa tăng nhanh Điều kiện khí hậu và đất đai đa dạng đã tạo điều kiện để trồng nhiều loại hoa, trong đó phát triển hệ thống trồng hoa thâm canh đã được nhà nước quan tâm và hỗ trợ Theo Viện Nghiên cứu Rau - Quả thì hiện nay lợi nhuận thu được từ 1 ha trồng hoa cao hơn 10-
15 lần so với trồng lúa và 7-8 lần so với trồng rau Gần 90% các loài hoa được trồng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ở trong nước, tuy nhiên thị trường xuất khẩu cũng đang tăng nhanh với 1 số loại hoa đặc thù của Việt Nam (hoa sen, hoa nhài và một số loài hoa mà các nước ôn đới trồng khó khăn trong mùa Đông (hồng, cúc…) Theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2003 cả nước
có 9430 ha hoa và cây cảnh các loại với giá trị sản lượng 482,6 tỷ đồng [43]
Thống kê của Cục Trồng trọt cho thấy, năm 2014, cả nước có khoảng 22.671,9 ha diện tích trồng hoa, trong đó các tỉnh miền Bắc có 9.237,6 ha, miền Nam có khoảng 13.434,3 ha [46]
Cũng theo Cục Trồng trọt, trong vòng 10 năm gần đây (2005 - 2015) diện tích hoa đã tăng 2,3 lần, giá trị sản lượng tăng 7,2 lần (đạt 6.500 tỷ đồng,
Trang 19trong đó xuất khẩu xấp xỉ 50 triệu đô - la Mỹ) Mức tăng thu nhập trên một đơn vị héc ta là ba lần, hình thành nhiều mô hình đạt từ 800 triệu đến 2,5 tỷ đồng trên một héc ta [46]
Việt Nam đã hình thành 3 vùng trồng hoa lớn sau:
Vùng hoa đồng bằng sông Hồng: với khí hậu 4 mùa và nhiều vùng khí hậu đặc thù nên rất thích hợp cho trồng nhiều loại hoa nhất là hoa hồng Hoa được trồng ở hầu hết các tỉnh của vùng trong đó tập trung nhiều ở các thành phố lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương, Vĩnh Phúc… Hoa ở vùng này chủ yếu phục vụ tiêu thụ trong nước và một số chủng loại nhỏ đã xuất khẩu sang Trung Quốc (hoa hồng, cúc…) Hoa hồng là loài hoa phổ biến nhất chiếm 35%, tiếp đến hoa cúc 30%, hoa đồng tiền 10%, còn lại là các loài hoa khác 25% [46]
Vùng hoa Đà Lạt: Đà Lạt có điều kiện khí hậu thời tiết rất phù hợp cho trồng các loại hoa, mặc dù diện tích không lớn nhưng đây là nơi sản xuất các loại hoa cao cấp với chất lượng tốt như hoa phong lan, địa lan, hoa hồng, hoa đồng tiền… Diện tích trồng các loại hoa tăng 1,74 lần so với kế hoạch đề ra trong giai đoạn 1996 - 2000, chỉ riêng năm 2000 đã thu hoạch được 25,5 triệu cành hoa [46] Hồng Đà Lạt không chỉ được đánh giá cao bởi người tiêu dùng Việt Nam mà còn bởi cả các bạn hàng thế giới với ưu điểm hoa to, cành thẳng, bền, thơm, sinh trưởng và phát triển tốt, khả năng kháng bệnh cao… Trong diện tích trồng hoa của vùng Trung du và miền núi phía Bắc, diện tích trồng hoa hồng
đã chiếm tới trên 55,27% với sản lượng 26,53 triệu bông/năm [10]
Vùng hoa đồng bằng sông Cửu Long: Đây là vùng có khí hậu ấm, nóng quanh năm nên thích hợp với các loài hoa nhiệt đới: hoa lan, đồng tiền… Thành phố Hồ Chí Minh là nơi phát triển hoa lan nhiệt đới nhanh nhất trong
cả nước, nhiều trang trại hoa lan đã được thành lập, kinh doanh và phát triển theo mô hình trang trại hoa lan tại Thái Lan [43]
Trang 20Diện tích hoa ngày càng tăng cao đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, nhất là ở các thành phố lớn Tính riêng ở Hà Nội có khoảng 300 cửa hàng bán các loại hoa chất lượng cao, đó là chưa kể các hàng hoa nhỏ và cả những người bán rong Ước tính, lượng hoa tiêu thụ từ các nguồn trên ở mức hơn 1 triệu cành các loại trong một ngày Tại Đà Lạt diện tích hoa cắt cành của vùng này năm 1996 chỉ có 174 ha, đến năm 2000 đã tăng lên 853 ha và hiện nay có khoảng 1467 ha (hoa cúc chiếm khoảng 24%, với sản lượng khoảng 10 - 13 triệu cành, với khoảng 84 tỷ đồng) [43]
Trong các loại hoa được trồng chính tại Việt Nam, diện tích trồng hoa hồng có tỷ lệ cao nhất chiếm 35 - 40% Do hoa hồng có khả năng thích nghi
và cho năng suất hoa cao, chất lượng hoa tốt nên rất được coi trọng để sản xuất hoa thương mại [14]
Hoa hồng ở Việt Nam có nhiều giống: các giống cổ như hồng bạch, hồng nhung, hồng quế,… thường có mùi thơm quyến rũ Hiện nay, đã có thêm nhiều giống hồng mới hoa to, mọc đơn và không có gai được nhập nội
về trồng ở một số địa phương Nhìn chung, các loại hoa hồng đều thuộc loại cây có biên độ sinh thái rộng Tùy theo loại giống, cây có thể thích nghi với vùng có khí hậu ẩm mát quanh năm, như Sapa, Đà Lạt… hay có thể trồng ở vùng nắng nóng, lượng mưa hàng năm rất thấp như Nam Trung Bộ (Ninh Thuận, Bình Thuận) [6]
Năm 2013, diện tích hoa chất lượng cao chiếm trên 13% trong đó diện tích hoa hồng chất lượng cao tăng từ 23 ha lên 150 ha [44]
Tại xã Mê Linh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội từ những năm 1992 nghề trồng hoa hồng đã phát triển Năm 2005 diện tích trồng hoa có 300 ha, trong đó hoa hồng chiếm 90% diện tích Đặc biệt từ năm 2011 - 2013, Trung tâm Khuyến nông Hà Nội đã triển khai mô hình hoa hồng chất lượng cao quy
mô 40,3 ha tại vùng bãi Văn Quán, xã Văn Khê, Mê Linh, Hà Nội Đến năm
Trang 212014 huyện Mê Linh có 1.294 ha đất sản xuất hoa; trong đó diện tích canh tác chủ yếu là hoa hồng (chiếm 93,4%)
Trước đây, nông dân các xã Mê Linh, Tiền Phong, Đại Thịnh, Văn Khê, Tráng Việt thường trồng hoa hồng Đà Lạt Hồng Đà Lạt không chỉ được đánh giá cao bởi người tiêu dùng Việt Nam mà còn bởi cả các bạn hàng thế giới với ưu điểm hoa to, cành thẳng, bền, thơm, sinh trưởng và phát triển tốt, khả năng kháng bệnh cao… Trong diện tích trồng hoa của vùng Trung du và miền núi phía Bắc, diện tích trồng hoa hồng đã chiếm tới trên 55,27% với sản lượng 26,53 triệu bông/năm Nhưng gần đây giống hồng Đà Lạt bị thoái hóa, hoa nhỏ, chóng tàn, màu sắc không được đẹp nên nông dân Mê Linh đã mạnh dạn trồng những giống hoa hồng nhập ngoại như Pháp, Italia Những giống hoa hồng nhập ngoại được trồng trên đất Mê Linh đã đem lại giá trị kinh tế cao hơn so với hoa hồng Đà Lạt, vì hoa hồng ngoại rất thích hợp với điều kiện đất đai và khí hậu ở đây nên hồng ngoại vừa to, vừa đẹp và lâu tàn hơn [43]
Năng suất hoa hồng thu được bình quân 4200 - 4800 bông/sào/lứa thu hoạch Xã Mê Linh thu nhập bình quân từ trồng hoa hồng đạt 5 triệu/sào (tăng gấp 5 -7 lần so với cây trồng khác như lúa và hành tây) Hoa hồng Mê Linh đã khẳng định được vị trí của mình trong thị trường hoa của cả nước [43]
Tháng 5/2017 ở Việt Nam có vương quốc hoa hồng quý đầu tiên tại Flamingo Đại Lải Resort Kế hoạch được đầu tư 500 tỷ đồng bao gồm nhiều công trình đặc sắc: đảo hoa hồng, rừng hoa hồng, 500 biệt thự hoa hồng, bảo tàng hồng cổ Việt Nam, nghiên cứu chiết xuất tinh dầu hoa hồng cung cấp cho làm đẹp và chăm sóc sức khỏe… Đây là một tín hiệu đáng mừng khẳng định hoa hồng đang là đối tượng cây trồng có tiềm năng kinh tế cao tại Việt Nam hiện nay [48]
Trang 221.4 Nghiên cứu trongvà ngoài nước về chọn tạo giống hoa hồng
1.4.1 Nghiên cứu về chọn tạo giống hoa hồng trên thế giới
Datta (1989) [27], đã xử lý tia γ với liều lượng 3 - 4 Krad chồi của 9
giống hoa hồng sau đó ghép lên gốc ghép Rsaindoca var Odorata Giống Orange sesnation mẫn cảm nhất với tia γa, còn giống kiss là giống ít mẫn cảm
nhất Kết quả đã tạo ra được các đột biến thấp cây và đột biến soma về màu hoa ở hầu hết các giống Kết quả cho thấy xử lý với 3 Krad là hiệu quả nhất Các đột biến thể khảm về màu sắc và hình dạng hoa xảy ra ở 21 giống Từ 1 vạch nhỏ trên cánh hoa đến biến màu cả cánh hoa
Bugaenko (1989) [23] đã nghiên cứu 12 giống bố mẹ và 659 con lai từ 15 cặp lai giữa chúng Các con lai thể hiện ưu thế lai cao về hàm lượng tinh dầu so
với bố mẹ Các cặp lai cho hàm lượng tinh dầu cao là Belaya x Raduga; Koopera x Raduga và Festivalnaya
Trong những năm gần đây, nhân giống invitro được áp dụng nhiều trong nhân giống hoa hồng Những đặc điểm nổi bật của nhân giống invitro
là hệ số nhân giống lớn trong một thời gian ngắn, dễ dàng sản xuất cây sạch bệnh, khỏe mạnh và có khả năng tái sinh mầm chỉ xung quanh 1 năm [13], [20] Pháp Meynet (1994) [31] đã sử dụng phương pháp sinh sản đơn tính
có chiếu xạ hạt phấn và cứu phôi invitro để tạo cây con khỏe mạnh, có khả năng kháng sâu bệnh và mang những ưu điểm từ cây mẹ Cây con thu được đã
ra hoa và cho phấn, trong đó một số hạt phấn được kiểm tra có sức sống
Năm 2001, Aldulber của Cộng hòa liên bang Nga, đã thu được các giống lai từ hồng chè Trung Quốc Newjorker và giống Stullengold thích ứng tốt cho các vùng nam Cộng hòa liên bang Nga [21]
Nhật, năm 2003 đã công bố những thể đột biến trên hoa hồng được tạo ra nhờ chiếu xạ chùm tia ion Hai chùm tia ion carbon và helli được chiếu lên chồi nách của cây hoa hồng để tạo đột biến và thu được kết quả tốt Cụ thể
Trang 23cây phát triển rất nhiều chồi Các đột biến không chỉ xuất hiện ở liều chiếu cao mà còn ở cả liều chiếu thấp, đồng thời những biến đổi sinh lý gây ra bởi chiếu xạ cũng được theo dõi chặt chẽ Cả hai chùm tia này đều gây ra đột biến
về số lượng cánh hoa, kích thước, hình dạng, màu sắc hoa trong mỗi giống[40] Những nghiên cứu về chọn tạo giống hoa hồng bằng phương pháp gây đột biến gen đã tạo ra những đột biến có lợi như màu sắc hoa đẹp, độc đáo, năng suất hoa cao, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt , là những tính trạng mà các nhà chọn tạo giống mong muốn [15]
Malcolm M Manners (2005) [30] nghiên cứu về độ ẩm, ánh sáng, đất, giá thể ảnh hưởng đến ghép hoa hồng cho thấy: độ ẩm thích hợp là 100% Ánh sáng quá mạnh chỉ duy trì mắt ghép sống mà không hình thành mầm Ánh sáng yếu diệp lục không hình thành quá trình phát triển mầm cũng bị ảnh hưởng Như vậy, cần điều chỉnh ánh sáng hợp lý dưới tán cây hoặc trong nhà kính, nhà lưới là phù hợp Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp cùng dẫn đến mắt rơi vào trạng thái ngủ và làm khô, xém bề mặt cắt
Smulders (2006) khi thu thập và đánh giá tập đoàn hoa hồng ở châu Âu
đã tiến hành lai giữa loài hoa hồng dại với các giống hoa hồng tứ bội đang trồng Kết quả cho thấy những tổ hợp lai có bố mẹ tứ bội cho số hạt lai/quả cao hơn khi chọn loài hoang dại lưỡng bội làm bố mẹ Thế hệ F1 của con lai chọn bố mẹ là loài hoang dại đã không hình thành hoa trong suốt năm đầu tiên nhưng cây lai có khả năng sinh trưởng phát triển tốt [36]
1.4.2 Những nghiên cứu về chọn tạo giống hoa hồng trong nước
Trên thế giới lĩnh vực nghiên cứu về chọn tạo giống hoa hồng và các biện pháp kỹ thuật đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ lâu với những kết quả nghiên cứu về hoa hồng như chọn tạo giống mới bằng phương pháp lai, đột biến, chuyển gen, nuôi cấy mô tế bào không ngừng phát triển
và đáp ứng kịp thời cho sản xuất Ngược lại ở Việt Nam cây hoa hồng đã
Trang 24được trồng trọt từ rất lâu đời và được coi là một trong mười loài hoa quan trọng góp phần phát triển kinh tế Nhưng cho đến nay, những công trình nghiên cứu về cây hoa hồng còn rất khiêm tốn, những kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu
Trong nghề trồng hoa hồng, giống hoa có khả năng thích nghi cao, cho năng suất hoa cao, chất lượng hoa tốt rất được coi trọng để sản xuất hoa thương mại Để nhanh chóng tạo được các giống hoa mới được thị trường ưa chuộng thì công tác thu thập nguồn gen địa phương và nhập nội phải được xem là bước khởi đầu quan trọng nhất, từ đó đánh giá và phát triển những đặc tính ưu việt của nguồn gen để tuyển chọn ra những giống mới có triển vọng phục vụ trực tiếp cho sản xuất hoặc sử dụng làm vật liệu cho chọn tạo giống mới bằng lai, gây đột biến từ đó tạo ra những giống hoa hồng mới có nhiều
ưu điểm thích hợp với các vùng sinh thái ở Việt Nam [18]
Những kết quả nghiên cứu về thu thập và bảo tồn nguồn gen ở miền Bắc Việt Nam, tác giả Nguyễn Xuân Linh và cộng sự (1998) [9] báo cáo:
- Vùng Đông Bắc: nguồn gen cây hoa hồng được tìm thấy ở rừng cấm quốc gia Cát Bà
- Vùng Tây Bắc: nguồn gen hoa hồng được tìm thấy ở vùng Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình
- Vùng đồng bằng Bắc Bộ: đã phát hiện thấy nguồn gen cây hoa hồng ở các tỉnh như Hải Phòng, Thái Bình, Nam Hà, Ninh Bình
- Vùng Bắc Trung Bộ: Vùng sinh thái nông nghiệp Bắc Trung Bộ gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, ở khu vực sinh thái Bắc Trung Bộ còn giữ được dải rừng phía tây vùng biên giới Việt - Lào nguồn hoang dại cây hoa hồng
Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống hoa hồng đã được thực hiện ở một số cơ sở nghiên cứu như: Viện nghiên cứu rau quả, viện di truyền nông
Trang 25nghiệp Tuy nhiên, công tác chọn giống chủ yếu đi theo hướng nhập nội nguồn gen về chọn tạo Hướng chọn giống này có nhiều ưu điểm là dựa trên nguồn vật liệu có sẵn chọn ra những giống có khả năng thích nghi tốt với điều kiện sinh thái Việt Nam [8]
Viện nghiên cứu rau quả nhập nội 11 giống hoa hồng từ Trung Quốc về
so sánh với một số giống hồng trong nước đang được trồng phổ biến và đã thu
được kết quả có 3 giống VR1, VR2 và VR9 có khả năng sinh trưởng tốt và
chống chịu được sâu bệnh tương đối cao [11]
Viện di truyền nông nghiệp đã nhập nội và thu thập một tập đoàn giống hoa hồng mới và một số con lai F1 đưa vào khảo nghiệm đánh giá và chọn lọc, bước đầu cho kết quả tốt [11]
Năm 2006 - 2008 Viện di truyền nông nghiệp đã nghiên cứu, chọn tạo giống hoa mới (hoa hồng, loa kèn) bằng kỹ thuật chiếu xạ đột biến invitro Kết quả xác định được liều chiếu xạ 0,5 krad chiếu ở giai đoạn callus,hoa hồng cho tỷ lệ đột biến mầu sắc lớn nhất [7]
Kết quả nghiên cứu của Dương Công Kiên đã lai thành công một cây hoa hồng tím trưởng thành cao 1,2m và nở 10 bông cùng một lúc, hoa lâu tàn,
có độ bền đồng ruộng được 7 ngày Mỗi bông hồng tím có đường kính 7 - 8
cm, gồm 10 - 12 cánh hoa xếp đều lên nhau Theo tác giả, hoa hồng tím được
lai từ hai giống: hồng nhung sâm (josephine Baker) và hoa hồng khói (Blue moon) Tuy nhiên ban đầu do trồng từ hạt và khí hậu không thuận lợi nên hoa
hồng tím được tạo ra phát triển yếu và năng suất không cao Tác giả đã kiên trì ghép giống hồng mới vào gốc hồng dại để hoa phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng tại thành phố Hồ Chí Minh và nở nhiều bông hơn (trích từ [7])
Tóm lại, công tác nghiên cứu, thu thập đánh giá và chọn tạo giống hoa
ở Việt Nam còn quá khiêm tốn, những giống mới có tiềm năng năng suất cao, phẩm chất tốt thực sự thích hợp với điều kiện trong nước chưa đáp ứng được
Trang 26yêu cầu sản xuất đã ảnh hưởng rất lớn đến việc mở rộng sản xuất và thúc đẩy sản xuất phát triển Trong khi đó trên thế giới công tác nghiên cứu về giống hoa hồng đã được quan tâm mạnh mẽ và đã rất thành công trong chọn tạo giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt đưa vào sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển mạnh Năng suất, chất lượng hoa không ngừng tăng lên đấp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu Thu nhập từ nguồn sản xuất hoa hồng đã đóng góp đáng kể vào nền kinh tế của mỗi nước
Trước những thành quả mà thế giới đã đạt được từ việc nghiên cứu đã tạo đà cho sản xuất phát triển Việt Nam cần coi trọng hơn nữa công tác nghiên cứu để tạo ra nhiều giống mới phù hợp có năng suất cao chất lượng cao làm phong phú thêm bộ giống hoa hồng cho các vùng sinh thái khác nhau
Trang 27CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNGVÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tư ng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm 8 giống hoa hồng là: Đỏ pháp, Phấn hồng, Nhung đen, Kem, Vàng thẫm, Cam, Cánh sen và Đỏ son Tất cả các giống nêu trên đều là loài lai có nguồn gốc từ loài Hồng thơm hay còn gọi là
Hồng trà - Rosa x odorata (Andr.) Sweet, 1818
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Tháng 8/2016 - 7/2017
- Địa điểm nghiên cứu: Vùng trồng hoa Mê Linh - Hà Nội
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng phát triển của một số giống hoa hồng được trồng ở vùng trồng hoa Mê Linh - Hà Nội
- Nghiên cứu chất lượng hoa hồng và tình hình sâu bệnh hại của một số giống hoa hồng
2.4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm thực vật học, sinh trưởng, năng suất, chất lượng của tập đoàn giống hoa hồng
- Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối hoàn toàn ngẫu nhiên, với 3 lần nhắc lại, diện tích mỗi ô thí nghiệm là 2 m2 trên đất trồng hoa Mê Linh, mật độ 6 cây/m2 Các biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh trên các giống thí nghiệm là như nhau, dung lượng mẫu trong mỗi giống
là 15 cây Các chỉ tiêu theo dõi áp dụng theo: Quy phạm khảo nghiệm DUS giống hoa hồng, số10 TCN 686: 2006/QĐ BNN [1]
- Nghiên cứu tình hình sâu bệnh hại hoa hồng: Điều tra một số loại sâu, bệnh chính hại hoa hồng theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng (QCVN 01:38/2010-BNNPTNT) [2]
Trang 282.5 Các chỉ tiêu theo dõi
2.5.1 Các chỉ tiêu về đặc điểm hình thái
- Dạng cây: Bụi hẹp - 1; Bụi - 3; Bụi rộng - 5; Bụi phẳng - 7; Bò - 9;
- Mật độ răng cưa/ chiều dài mép lá;
- Chiều dài lá kép (cm); số lá chét/ lá kép; kích thước lá chét (cm); diện tích lá chét (cm2
)
- Đường kính hoa;
- Số cánh hoa; Số lượng và chiều dài của nhị, nhụy hoa;
2.5.2 Các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển
- Chiều cao cây (cm): Đo từ mặt đất đến đỉnh cao nhất của hoa hoặc đỉnh sinh trưởng của cây;
- Đường kính thân (cm): Đo cách mặt đất 5cm;
- Đường kính cành cấp 1 (cm): Đo cách thân chính 3cm;
- Chiều dài cành cấp 1 (cm): Đo từ gốc cành đến đỉnh cao nhất của cành;
- Chiều dài cành hoa;
- Chiều dài cuống hoa; đường kính cuống hoa;
- Số cành cấp 1;
- Số lá trên cành cấp
2.5.3 Các chỉ tiêu về năng suất và chất lượng hoa
- Năng suất (số bông/cây);
- Độ bền của hoa trên đồng ruộng (ngày): Tính từ khi hoa bắt đầu nở đến khi hoa tàn;
Trang 29- Độ bền hoa cắt (ngày): Tính từ khi cắt hoa cắm trên lọ để trong phòng; Quan sát và đo đếm mỗi mẫu giống 10 hoa bằng mắt thườngvà thước Palme
2.5.4 Các chỉ tiêu về mức độ sâu bệnh hại
++ : Xuất hiện trung bình (> 25 –50%)
+++ : Xuất hiện nhiều (>50%)
2.6 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Các số liệu được phân tích theo phương pháp thống kê sinh học, sử dụng các phần mềm xử lý thống kê nông nghiệp:
- Xác định tính trạng số lượng: trung bình mẫu X; Phương sai S2; Độ lệch chuẩn S; Hệ số biến động CV%; Kiểm định sai khác có ý nghĩa LSD0,05