Nghiên cứu tác dụng của phân đoạn dịch chiết từ cây Cứt lợn lên trọng lượng và một số chỉ số hóa sinh máu của chuột béo phì thực nghiệm.. Nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết của dịch chiế
Trang 1======
PHẠM THỊ THU HUYỀN
NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH SINH DƯỢC CỦA DỊCH CHIẾT TỪ CÂY CỨT LỢN
Ageratum conyzoides L ĐƯỢC THU TẠI
HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 06 42 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học : TS TRẦN THỊ PHƯƠNG LIÊN
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Qua thời gian học tập tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, tôi đã học hỏi được rất nhiều kiến thức chuyên môn và kĩ năng thực hành
Để có được những kiến thức và kết quả như ngày hôm nay, trước tiên tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Ban lãnh đạo khoa Sinh –
KTNN, đặc biệt là TS Trần Thị Phương Liên là người đã tận tình chỉ bảo
cho tôi những kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực tế, mở mang và nâng cao kiến thức để tôi hoàn thành luận văn này một cách tốt nhất
Cùng với sự giúp đỡ tận tình của các anh chị em trong nhóm đề tài đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi có môi trường học tập và làm việc tốt
Cuối cùng tôi xin được gửi lời biết ơn chân thành tới gia đình và bạn
bè, những người đã động viên giúp đỡ cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn vừa qua
Trong quá trình học tập và viết luận văn, do thời gian thực hiện luận văn hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được
sự đóng góp của các thầy cô giáo, bạn bè để giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này
Hà Nội, ngày….tháng….năm 2017
Tác giả
Phạm Thị Thu Huyền
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự
hỗ trợ từ Giáo viên hướng dẫn là TS Trần Thị Phương Liên Các nội dung
nghiên cứu và kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây
Hà Nội, ngày….tháng….năm 2017
Tác giả
Phạm Thị Thu Huyền
Trang 41 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Vài nét chung về cây Cứt lợn 5
1.1.1 Thực vật học, phân bố và sinh thái 5
1.1.2 Một số tác dụng Sinh – Dược học và công dụng của cây hoa Cứt lợn 5
1.2 Giới thiệu về một số hợp chất tự nhiên ở thực vật 8
1.2.1 Các hợp chất phenolic từ thực vật 8
1.2.2 Flavonoid 8
1.2.3 Tannin thực vật 11
1.2.4 Hợp chất coumarin 12
1.2.5 Ankanoid 13
1.3 Bệnh béo phì 13
1.3.1 Khái niệm và phân loại béo phì 13
1.3.2 Thực trạng béo phì trên thế giới và trong nước 14
1.3.3 Nguyên nhân gây ra béo phì 15
1.3.4 Các tác hại và nguy cơ cụ thể của béo phì 15
1.3.5 Một số chỉ số hoá sinh liên quan đến rối loạn trao đổi lipid máu 16
1.3.6 Giải pháp phòng và điều trị 17
1.4 Kháng sinh 18
1.4.1 Kháng sinh và phân loại kháng sinh 18
Trang 52.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.1.1 Mẫu thực vật 21
2.1.2 Mẫu động vật 21
2.1.3 Dụng cụ và hóa chất thí nghiệm 22
2.2 Phương pháp nghiên cứu 22
2.2.1 Phương pháp hóa lý 22
2.2.2 Phương pháp sắc kí lớp mỏng (TLC) 23
2.2.3 Nghiên cứu tác dụng của phân đoạn dịch chiết từ cây Cứt lợn lên trọng lượng và một số chỉ số hóa sinh máu của chuột béo phì thực nghiệm 23
2.2.3.1 Thử độc tính cấp, xác định LD50 23
2.2.3.2 Xây dựng mô hình chuột béo phì thực nghiệm 24
2.2.4 Nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết của dịch chiết từ cây Cứt lợn lên chuột nhắt gây béo phì 24
2.2.5 Phương pháp hóa sinh - y dược 24
2.2.5.1 Phương pháp định lượng glucose huyết 25
2.2.5.2 Định lượng một số chỉ số lipid trong huyết thanh 26
2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu 27
2.2.7 Phương pháp đánh giá hoạt tính gây độc tế bào invitro 28
2.2.7.1 Nguyên lí 28
2.2.7.2 Chuẩn bị thí nghiệm 28
2.2.8 Phương pháp nghiên cứu hình thái giải phẫu 29
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Tách chiết, định tính, định lượng hợp chất tự nhiên từ Cây Cứt lợn (Ageratum conyzoides L.) 31
3.1.1 Kết quả tách chiết phân đoạn cao etanol 31
Trang 63.3 Kết quả thử hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định 33
3.4 Kết quả mô hình chuột béo phì thực nghiệm 35
Từ bảng số liệu bảng 3.5 và hình 3.4 cho thấy các chỉ số hóa sinh đã có sự khác biệt rất lớn giữa lô nuôi thường và lô nuôi béo Cụ thể: 39
3.5 Tác dụng của dịch chiết cao EtOH từ lá cây Cứt lợn lên chuột béo phì thực nghiệm 40
3.5.1 Sự thay đổi trọng lượng 40
3.5.2 Sự thay đổi các chỉ số hóa sinh 41
3.6 Kết quả thử hoạt tính độc tế bào invitro 43
3.7 Kết quả nghiên cứu hình thái giải phẫu 43
3.7.1 Lô chuột được nuôi bằng thức ăn bình thường, qua nghiên cứu vi thể cho thấy: 43
3.7.2 Lô chuột được nuôi bằng thức ăn giàu lipit qua nghiên cứu vi thể cho thấy 44
3.7.3 Chuột được nuôi bằng thức ăn giàu lipit rồi điều trị bằng dịch chiết cây Cứt lợn qua nghiên cứu vi thể cho thấy 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
Kết luận 48
Kiến nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 7Bảng 3.1 Các hệ dung môi dùng trong thí nghiệm sắc kí bản mỏng 31Bảng 3.2 Kết quả thử độc tính cấp theo đường uống 33Bảng 3.3 Kết quả thử hoạt tính kháng sinh của cao phân đoạn EtOH từ cây cứt lợn (đơn vị MIC (µg/ml) 34Bảng 3.4 Trọng lượng trung bình (tính theo gram) của hai nhóm chuột nuôi bằng hai chế độ dinh dưỡng khác nhau 36Bảng 3.5 So sánh một số chỉ số lipid máu giữa chuột nuôi thường và nuôi béo phì thực nghiệm 38Bảng 3.6 So sánh trọng lượng (g) của các lô chuột béo phì trước và sau khi điều trị 40Bảng 3.7 So sánh chỉ số lipid máu trước và sau điều trị bằng dịch chiết cao EtOH của các lô chuột béo sau 2 tuần 41Bảng 3.8 Kết quả thử hoạt tính độc tế bào 43
Trang 8Hình 1.2 Cấu tạo một số flavonoid 11
Hình 2.1 Cây Cứt lợn thu tại huyện Sóc Sơn 21
Hình 2.2 Chuột nhắt trắng (Mus Musculus) chủng Swiss 21
Hình 2.3: Phương pháp lấy máu đo glucose huyết 25
Hình 3.1 Bản sắc ký chạy ở một số hệ dung môi khác nhau (cột số 1) 32
Hình 3.2 Chuột béo và chuột thường sau 8 tuần nuôi 36
Hình 3.3 Biểu đồ biểu diễn sự tặng trọng của các nhóm chuột với 2 chế độ dinh dưỡng khác nhau trong 8 tuần 37
Hình 3.4 Biểu đồ so sánh một số chỉ số lipid máu giữa chuột nuôi thường và nuôi béo phì thực nghiệm 38
Hình.3.5 Biểu đồ so sánh một số chỉ số lipid máu giữa chuột trước điều trị và sau điều trị cao EtOH 41
Hinh 3.6 Ảnh vi thể gan chuột bình thường 43
Hình 3.7 Ảnh vi thể thận chuột bình thường 44
Hình 3.8 Ảnh vi thể tụy chuột bình thường 44
Hình 3.9 Ảnh vi thể gan chuột béo phì 45
Hình 3.10 Ảnh vi thể thận chuột béo phì 45
Hình 3.11 Ảnh vi thể tụy chuột béo phì 46
Hình 3.12 Ảnh vi thể gan chuột béo phì rồi điều trị bằng dịch chiêt cây Cứt lợn 46
Hình 3.13 Ảnh vi thể thận chuột béo phì rồi điều trị bằng dịch chiêt cây Cứt lợn 47
Hình 3.14 Ảnh vi thể tụy chuột béo phì rồi điều trị bằng dịch chiêt cây Cứt lợn 47
Trang 9EtOAc : Ethyl acetate
GOD: glucose oxidase
CHO: enzyme cholesterol oxydase
ATCC: Bảo tàng giống chuẩn Hoa kỳ
CCL -17TM : mô biểu bì miệng KB
MTT: (3-(4,5-dimethylthiazol-2 - yl )- 2, 5 - diphenyltetrazolium)
IC50: nồng độ chất thử ức chế 50% sự phát triển của tế bào
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Việt Nam nằm ở trung tâm Đông Nam Á với 3/4 diện tích là đồi núi, thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa có hai mùa rõ rệt thay đổi theo địa hình Lượng mưa hằng năm vào khoảng 1200-2800 mm cùng với độ ẩm tương đối cao Với những đặc thù về khí hậu thiên nhiên như vậy, Việt Nam
có một hệ thực vật phong phú và đa dạng với trên 12.000 loài, trong đó có trên 3.200 loài thực vật được sử dụng làm thuốc trong Y học dân gian; mở ra tiềm năng nghiên cứu về các hợp chất tự nhiên từ các loài thực vật của Việt Nam [6]
Nhiều loại thuốc chữa trị một số bệnh nan y như: ung thư, tiểu đường…
sử dụng các hoạt chất được phân lập từ tự nhiên như nhóm các hợp chất vinca
alkaloid vinblastine, vincristine được phân lập từ cây Dừa cạn (Catharanthus
roseus, họ trúc đào-apocynaceae), paclitaxel (Taxol) là một diterpenoid được
phân lập từ loài Thông đỏ Taxus brevifolia (Taxaceae) hay một số hợp chất khác podophyllotoxin, camptothecin, berbamine, beta-lapachone, acid betulinic, colchicine, curcumin, daphnoretin, ellipticine, và dẫn xuất bán tổng hợp của chúng vinflunine, docetaxel (Taxotere) [28], [31] Cùng với sự phát triển của công nghệ tổng hợp hóa dược tạo ra các biệt dược, các nhà khoa học vẫn đang cố gắng tìm hiểu, khám phá tác dụng chống ung thư và các hoạt tính sinh học khác của các hợp chất có nguồn gốc từ nhiều loài thực vật khác nhau
Họ Cúc (Asteraceae Dumort.1822) thuộc bộ Cúc (Asterales) là một
trong hai họ lớn nhất, với 1000 chi, 23000 loài, phân bố khắp nơi trên thế giới, nhưng tập chung chủ yếu ở ôn đới Việt Nam có 125 chi, 347 loài và 4 taxon dưới loài, phân bố chủ yếu ở ven rừng, bãi đất hoang nhiều ánh sáng [14] Nhiều loài trong số đó được sử dụng vào các bài thuốc y học cổ truyền
Trang 11như: Thanh hao hoa vàng (Artemisia annua L 1753) được sử dụng để tách
chiết tinh dầu artemisin dùng chữa sốt rét hay đun nước tắm chữa bệnh ngoài
da [14] Cây Ngải cứu (Artemisia vulgaris L 1753) có tác dụng điều kinh và
thông huyết cho phụ nữ, kích thích thần kinh và làm thuốc chữa thần kinh tọa
[14] Cây Xương sông (Blumea lanceolaria (Roxb.) Druce, 1917) có tác dụng
kích thích tiêu hóa, lợi tiểu, chữa đổ mồ hôi trộm Cây Cứt lợn chữa viêm xoang, cây giã nát lấy nước uống chữa rong huyết sau khi đẻ, viêm nhiễm, mụn nhọt ngứa nở [13], [14], [38], [39], [40]
Ngoài những công dụng kể trên, hiện nay, trên một số bài báo có đề cập tới bài thuốc cổ truyền chống và chữa tiểu đường, béo phì từ cây Cứt lợn [38], [40] Tuy nhiên, bài thuốc trên chưa có cơ sở khoa học kiểm chứng Vì vậy,
chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu“Nghiên cứu đặc tính sinh dược của dịch
chiết từ cây Cứt lợn (Ageratum conyzoides L ) được thu tại huyện Sóc Sơn
- thành phố Hà Nội” làm cơ sở đánh giá tính chính xác của các bài thuốc kể
trên
2 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát một số đặc tính hóa sinh dược của dịch chiết từ cây Cứt lợn
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Khảo sát sơ bộ thành phần các hợp chất có trong cây Cứt lợn
(Ageratum conyzoides L.)
3.2 Nghiên cứu khả năng hỗ trợ điều trị bệnh béo phì của dịch chiết từ
cây Cứt lợn (Ageratum conyzoides L.)
3.3 Nghiên cứu hoạt tính gây độc tế bào của dịch chiết từ cây Cứt lợn (Ageratum conyzoides L.)
3.4 Nghiên cứu khả năng kháng vi sinh vật của dịch chiết cây Cứt lợn (Ageratum conyzoides L.)
Trang 123.5 Đánh giá tác dụng của dịch chiết từ cây Cứt lợn (Ageratum
conyzoides L.) trên sự biến đổi mô bệnh học gan, thận, tụy của chuột ĐTĐ
trước và sau điều trị
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Mẫu thực vật
Cây Cứt lợn (Ageratum conyzoides L.) có tên khoa học là Ageratum
conyzoides L., thuộc họ Cúc (Asteraceae Dumort.1822), bộ Cúc (Asterales)
Được thu tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
4.2 Mẫu động vật
Chuột nhắt trắng (Mus musculus) chủng Swiss 4 tuần tuổi ( 18- 20g) do
Viện Dịch tễ Trung ương cung cấp
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp hóa lý: Sử dụng cồn để tách dịch chiết chứa các hoạt chất
thiên nhiên từ cây Cứt lợn
6.2 Phương pháp hóa sinh: Định tính, định lượng, nghiên cứu đặc tính sinh
hóa của dịch chiết
6.3 Xây dựng mô hình chuột BP thực nghiệm: Chuột nhắt trắng chủng
Swiss (18- 20g) sau 3-4 ngày thích nghi với điều kiện phòng thí nghiệm, được chia thành 2 nhóm: nhóm đối chứng và nhóm nuôi béo
Trang 136.5 Phương pháp hóa sinh- y dược: Định lượng đường huyết và một số chỉ
số hóa sinh liên quan đến rối loạn trao đổi lipid máu ở chuột trước và sau điều trị bằng một số phân đoạn dịch chiết từ cây Cứt lợn
6.6 Phương pháp đánh giá hoạt tính sinh học
Thử hoạt tính ức chế khuẩn tế bào phương pháp so màu MTT
Thử hoạt tính ức chế khuẩn bằng phương pháp khuếch tán đĩa thạch
6.7 Phương pháp nghiên cứu hình thái giải phẫu: Nghiên cứu vi thể của một
số nội quan ở chuột bình thường, béo phì và đái tháo đường trước và sau điều trị
6.8 Xử lý số liệu: Các số liệu thu được được biểu diễn dưới dạng giá trị trung
bình cộng trừ với sai số Các số liệu được xử lý trên phần mềm MS Excel với các phép thử t-test cho các mẫu độc lập và phân tích Anova một, hai nhân tố với mức ý nghĩa p < 0,05
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Vài nét chung về cây Cứt lợn
1.1.1 Thực vật học, phân bố và sinh thái
Cây Cứt lợn hay còn được gọi là cây Cỏ hôi, Bông thúi, Bù xích; Bù xít,
Cỏ cứt heo có tên khoa học là Ageratum conyzoides L., thuộc họ Cúc (Asteraceae Dumort.1822), bộ Cúc (Asterales) Cứt lợn là cây thảo mọc hằng
năm, cao chừng 25 – 50 cm Lá mọc đối, hình trứng, mép có răng cưa tròn Toàn thân và lá đều có lông Hoa nhỏ, màu tím hay xanh trắng, xếp thành đầu; các đầu này lại tập hợp thành ngù Quả bé có ba sống dọc, màu đen Theo trung tâm Dữ liệu thực vật Việt Nam, cỏ Cứt lợn phân bố ở các nước nhiệt đới châu Mỹ (Mêhicô), phát tán tự nhiên vào nhiều nước như Ấn
Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Inđônêxia… Ở Việt Nam, cây mọc phổ biến ở nhiều nơi từ Lào Cai, Ninh Bình đến các tỉnh đồng bằng khắp
cả nước Cây mọc ven đồi, ven rừng, ven đường, các bãi hoang, bờ ruộng ẩm ướt Ra hoa kết quả tháng 4 - 7 và hầu như quanh năm
1.1.2 Một số tác dụng Sinh – Dược học và công dụng của cây hoa Cứt lợn
Ageratum conyzoides L được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền
của các nền văn hóa khác nhau trên toàn thế giới, mặc dù các ứng dụng khác nhau theo vùng Ở Trung Phi, nó được sử dụng để điều trị viêm phổi, nhưng việc sử dụng phổ biến nhất là để chữa trị vết thương và vết bỏng (Durodola 1977) Cộng đồng truyền thống ở Ấn Độ sử dụng loài này như một bacteriocide, antidysenteric, và antilithic (Borthakur và Baruah 1987), và ở châu Á, Nam Mỹ và châu Phi, dịch chiết từ cây Cứt lợn được sử dụng như một bacteriocide (Almagboul 1985; Ekundayo et al 1988) Ở Cameroon và Congo, sử dụng truyền thống là để điều trị sốt, bệnh thấp khớp, nhức đầu, đau bụng (Menut et al 1993; Bioka et al 1993.) Việc sử dụng các loài này trong y học cổ truyền là rộng lớn ở Brazil Dịch chiết của lá hoặc toàn bộ cơ thể cây
Trang 15Cứt lợn đã được sử dụng để điều trị đau bụng, cảm lạnh và sốt, tiêu chảy, bệnh thấp khớp, co thắt, hoặc như là một loại thuốc bổ (Penna 1921; Jaccoud 1961; Correa 1984; Cruz 1985; Marques et al 1988; Negrelle et al 1988;
Oliveira et A al 1993) Ageratum conyzoides có tác động nhanh chóng và
hiệu quả trong những vết thương bỏng là khuyến cáo của Brazil Thuốc Central là một antirheumatic (Brasil 1989) [41]
Một số điều tra dược phẩm đã được tiến hành để xác định hiệu quả Duradola (1977) đã xác nhận hoạt động ức chế của chiết ether và
chloroform chống lại sự phát triển in vitro của Staphylococus
aureus Almagboul et al (1985), sử dụng methanol từ toàn bộ nhà máy, xác
nhận hành động ức chế sự phát triển của Staphylococus aureus, Bacillus
subtilis, Eschericichia coli và Pseudomonas aeruginosa Bioka et al (1993)
báo cáo hành động giảm đau hiệu quả ở chuột sử dụng dịch chiết của
lá Ageratum conyzoides L.(100-400 mg/kg) Xét nghiệm được thực hiện trong Kenia, với dịch chiết xuất từ cây Ageratum conyzoides L chứng minh hoạt
động cơ bắp thư giãn, xác nhận sử dụng phổ biến của nó như là một antispasmotic (Achola et al., 1994) [41]
Tại Brazil, xét nghiệm được tiến hành bởi Đại học Bang Campinas và Đại học Liên bang Paraiba) cho thấy kết quả đầy hứa hẹn Marques Neto et
al (1988) trong các thử nghiệm phòng khám với bệnh nhân khớp, tiêm dịch
chiết của cây Ageratum conyzoides L và báo cáo tác dụng giảm đau trong
66% bệnh nhân và cải thiện tính di động khớp ở 24%, không có tác dụng
phụ Mattos (1988), sử dụng dịch chiết Ageratum conyzoides L kiểm soát lâm
sàng hiệu quả của khớp, báo cáo giảm đau và viêm hoặc cải thiện tính di động khớp, sau một tuần điều trị [41]
Theo Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam, lá và ngọn cây Cứt lợn non
vò kỹ, rửa sạch tới khi hết bọt, luộc bỏ nước, vắt kiệt nước, xào hoặc nấu canh
Trang 16với mắm tôm, cá Phần cây trên mặt đất có tinh dầu chứa phenol, được sử dụng làm thuốc Thường được chỉ định làm thuốc chống viêm, chống phù nề, chống dị ứng trong các trường hợp: 1 Sổ mũi, viêm xoang mũi, dị ứng cấp và mạn; 2 Chảy máu ngoài do chấn thương, bị thương sưng đau; 3 Mụn nhọt, ngứa lở, eczema Liều dùng 15 – 30 g cây sắc nước uống, hoặc dùng cây tươi giã lấy nước nhỏ Cũng dùng cây tươi giã đắp vết thương chảy máu, mụn nhọt, eczema, hoặc nấu nước tắm chữa ghẻ, chốc đầu của trẻ em Người ta cũng dùng cỏ Cứt lợn chữa rong huyết sau khi sinh đẻ, dùng phối hợp với bồ kết nấu nước gội đầu cho thơm và sạch gầu, trơn tóc Nhiều bệnh viện đã sử dụng các chế phẩm của cỏ Cứt lợn để trị các chứng viêm xoang mũi mạn tính
và dị ứng, có kết quả tốt, không gây tác dụng phụ gì đối với cơ thể người bệnh Ở Ấn Độ, người ta dùng nước ép rễ cây để chữa bệnh sỏi thận Lá làm thuốc săn da, dùng chữa các vết đứt, vết thương và dùng đắp chữa sốt rét [39]
Theo Nghiên cứu của Đoàn thị Nhu và cộng sự 1986, cây Cứt lợn làm giảm phù thực nghiệm chân chuột biểu thị bằng tỉ lệ phần trăm giảm thể tích chân chuột thử thuốc so với chuột đối chứng bằng kaolin Với liều 6.0 g/kg (tính theo dược liệu khô) tác dụng ức chế phù bắt đầu thể hiện rõ, và tác dụng tăng khi tăng liều Nó có tác dụng mạnh đối với giai đoạn viêm nhiễm cấp tính và mãn tính và có tác dụng chống choáng phản vệ rõ rệt, động thời có tác dụng gây teo tuyến ức chuột cống non, cây cứt lợn có những đặc điểm tác dụng tương tự với nhóm thuốc chống viêm steroit Cây cứt lợn có thể dùng làm thuốc chống viêm để góp phần điều trị viêm xoang mũi dị ứng, viêm xoang mũi cấp và mãn tính, các bệnh viêm nhiễm và dị ứng khác Có thể dùng riêng rẽ hoặc dùng trong công thức phối hợp, dùng uống phối hợp với dùng điều trị tại chỗ [13]
Trang 171.2 Giới thiệu về một số hợp chất tự nhiên ở thực vật
1.2.1 Các hợp chất phenolic từ thực vật
Hợp chất phenolic là nhóm các chất khác nhau rất phổ biến trong thực vật Đặc điểm chung của chúng là trong phân tử có vòng thơm (benzene) mang một, hai hay ba nhóm hydroxyl (-OH) gắn trực tiếp vào vòng benzene Dựa vào thành phần và cấu trúc người ta chia hợp chất phenolic thành 3 nhóm nhỏ: Nhóm hợp chất phenolic đơn giản, nhóm hợp chất phenolic phức tạp,
nhóm hợp chất phenolic đa vòng [21]
Hợp chất phenolic được hình thành từ những sản phẩm của quá trình đường phân và con đường pentose qua acid cynamic hay theo con đường acetate malonate qua Acetyl- CoA Nhóm hợp chất này có một số chức năng trong đời sống thực vật như sau [6], [12] [22], [33], [36]:
- Tham gia vào quá trình hô hấp như là một chất vận chuyển hydro
- Các polyphenol có thể hình thành liên kết hydro với các protein và enzyme làm thay đổi hoạt động của các enzyme này tương tự như hiệu ứng điều hòa dị lập thể
- Tác dụng mạnh lên quá trình sinh trưởng, đóng vai trò là chất hoạt hoá IAA- oxydase và tham gia vào quá trình sinh tổng hợp enzyme này Hợp chất phenol tác dụng như chất điều hoà các chất điều khiển sinh trưởng ở thực vật
- Ngoài ra hợp chất phenol còn có tính chất kháng khuẩn Chúng có tác dụng rất lớn trong quá trình liền sẹo các vết thương cơ học của thực vật, đẩy quá trình tái sinh, chống bức xạ, tác nhân gây đột biến và chất chống oxi hóa
1.2.2 Flavonoid
Trong số các polymenol tự nhiên, favonoid là nhóm chất quan trọng vì chúng phổ biến ở hầu hết các loài thực vật có nhiều hoạt tính sinh – dược học
Trang 18có giá trị [7] Flavonoid là những sắc tố, phần lớn có màu vàng (flavus – nghĩa là màu vàng) Tuy nhiên một số sắc tố khác như xanh, đỏ, tím, hoặc không màu cũng xếp vào nhóm flavonoid vì chúng có chung đặc điểm cấu tạo
Về cấu tạo hóa học, khung cacbon của flavonoid là C6 – C3 – C6, gồm 15 nguyên tử cacbon, hai vòng benzene A và B nối với nhau qua dị vòng C, trong đó A kết hợp với C tạo khung chroman
Hình 1.1 Flavan (2-phenyl chroman)
Tùy theo mức độ oxy hóa vòng pyran, sự có mặt hay không có mặt của nối đôi giữa C2 với C3 và nhóm cacbonyl ở C4 mà có thể phân biệt flavonoid thành các nhóm phụ sau: Flavon và flavonol, flavanol (đihidro flavon), chalcol, aurol, leucoantoxianidin, catechin, isoflavonoid, rotenoid và neoflavonoid
Flavonoid tồn tại ở hai dạng: Dạng tự do gọi là aglycon và dạng liên kết với đường là glycoside Các glycoside khi bị thủy phân bằng acid hoặc enzyme sẽ giải phóng ra đường và aglycon tương ứng
+ Tác dụng chống oxy hóa (antioxidant) của flavonoid: Flavonoid có
khả năng kìm hãm các quá trình oxy hóa dây truyền gây ra bởi các gốc tự do hoạt động Tuy nhiên hoạt tính này mạnh hay yếu còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng flavonoid cụ thể
Gốc tự do sinh ra trong quá trình sinh lý bình thường của cơ thể hay do
9
10 8
4'
3' 2'
B
Trang 19tác động bên ngoài là nguyên nhân gây phá hủy ADN, protein, lipid làm phát sinh nhiều bệnh tật nguy hiểm và sự lão hóa cho cơ thể Flavonoid có bản chất polyphenol nên dễ dàng biến đổi dưới tác động của các enzyme có trong tế bào động, thực vật Đặc biệt flavonoid có nhóm hydroxyl ở vị trí ortho dễ dàng bị oxy hóa bởi xúc tác của enzyme polyphenoloxydase và peroxydase tạo semiquynol hoặc quynol [30], [32] Đây là các gốc tự do bền vững chúng
có thể nhận điện tử và trở thành dạng hidroquynol Bởi vậy các chất này có khả năng phản ứng với các gốc tự do hoạt động và loại chúng ra khỏi cơ thể Ngoài ra flavonoid còn có tác dụng bảo vệ các hệ thống sinh học nhờ khả năng tạo phức với các kim loại chuyển tiếp như Fe+2
, Cu+2 … hoạt hóa enzyme chống oxy hóa và ức chế sự oxy hóa [25]
+ Tác dụng kháng khuẩn
Nhiều công trình nghiên cứu trong nước và thế giới đã chứng tỏ tác dụng chống viêm nhiễm (anti-inflamatory) chống vi khuẩn (anti-bacterial) và virut (antiviral) [2], [5]
+ Tác dụng làm bền thành mạch máu: Các dẫn xuất đường của
flavonoid có hoạt tính của vitamin P như rutin, hesperidin có tác dụng làm tăng sức bền và tính đàn hồi của thành mao mạch, giảm sức thẩm thấu của hồng cầu qua thành mao mạch Hoạt tính này được ứng dụng trong chữa trị các rối loạn chức năng tĩnh mạch, giãn hay suy yếu tĩnh mạch, trĩ , rối loạn tuần hoàn tĩnh mạch [12]
+ Tác dụng giảm béo phì và lipid máu: Theo kết quả nghiên cứu của các
nhà khoa học Nhật cho thấy khi chuột béo phì được điều trị bằng dịch chiết
giàu flavonoid từ lá Bằng lăng (Lagerstroemia specciosa L.) thì có trọng
lượng giảm đáng kể (~ 10%) [34] Thí nghiệm tương tự với flavonoid từ lá
Kim ngân (Lonicera japonica Thunb.) đối với chuột cống trắng uống
cholesterol cũng cho thấy có tác dụng làm giảm các chỉ số cholesterol;
Trang 20triglycerid, LDL-c đồng thời tăng HDL-c [16] Naringin (C17H32O4 ) và hesperidin (C28H34O15) là những flavonoid có hàm lƣợng cao trên họ cam chanh (Rutaceae) đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu chiết xuất và thử tác dụng trên mô hình chuột béo phì cho kết quả tốt trong việc làm hạ các chỉ số lipid máu [17],[18]
Tác dụng hạ glucose huyết
Hình 1.2 Cấu tạo một số flavonoid
Một số flavonoid đƣợc tách chiết từ nguyên liệu thực vật đã đƣợc chứng minh là có tách dụng điều hòa glucose huyết nhƣ: Quercetin có trong Đỗ
trọng (Eucommia ulmoides Oliver.) [29] , Hesperidin và Naringin có trong
các cây thuộc họ Rutaceae [19], Genistein và Daidzein có trong Đậu nành
(Glycine max L.) [8], Myricetin có trong cây Vông vang (Abelmoschus
O
O
OH OH
H
OH OH
CH 3
O
O
O OH
O
O
O O H OH OH
O O
H
O H
OH
OH
OH
Trang 21Tannin là hợp chất phenolic có khối lượng phân tử cao, có chứa các nhóm chức hydroxyl, carboxyl có khả năng tạo phức với protein và các phân tử khác trong điều kiện môi trường đặc biệt Tannin được cấu tạo dựa trên acid gallic và acid tanic [7]
Tannin được phân loại thành hai nhóm chính là tannin thủy phân và tannin ngưng tụ
Tannin là chất cầm rửa do có tác dụng giảm sự bài tiết trong ống tiêu hóa, kết tủa protein tạo thành một màng che niêm mạc Tannin chữa ngộ độc kim loại nặng và alkaloid do có khả năng tạo kết tủa với chúng
Tannin có tác dụng chống ung thư do có khả năng kết hợp với các chất gây ung thư Ở nồng độ cao, tannin ức chế hoạt động của các enzyme nhưng lại kích hoạt enzyme ở nồng độ thấp
Tác dụng sinh học của tannin là chất bảo vệ cây trồng trước sự tấn công của vi sinh vật gây bệnh và côn trùng ăn lá [23], [26]
Trong y học, tannin được sử dụng làm thuốc cầm máu, chữa đi ngoài, ngộ độc kim loại nặng, chữa trĩ, viêm miệng, viêm xoang, điều trị cao huyết
áp và đột quỵ [1]
1.2.4 Hợp chất coumarin
Coumarin là dẫn chất của anpha- purone có cấu trúc C6 – C3 dị vòng chứa oxy Coumarin kết tinh không màu hoặc màu vàng nhạt, vị đắng, cay, có mùi thơm [15] Tính chất hóa học đặc trưng là dễ dàng kết hợp với đường glucose tạo thành glycosid dễ tan trong nước
Hiện nay chúng ta biết đến 1500 hợp chất coumarin khác nhau khi nghiên cứu 800 loài thực vật Ta cũng dễ dàng tìm thấy coumarin trong tất cả các bộ phận khác nhau của cây như: áo hạt, hoa, quả, rễ, lá, thân Coumarin cũng có vai trò là một nhóm chất phòng thủ hóa học hữu hiệu chống lại vi khuẩn và tác nhân có hại của môi trường Tuy nhiên, cho tới nay con đường
Trang 22tổng hợp coumarin vẫn chưa hoàn toàn sáng tỏ [18]
Coumarin sử dụng trong đời sống hàng ngày như làm nước hoa, hương liêu, làm chất đông máu và chất diệt loài gặm nhấm Trong y học dẫn xuất của coumarin có tác dụng chống co thắt, giãn nở động mạch vành, làm bền và bảo
vệ thành mạch, ngăn cản đột quỵ [18] Một số coumarin khác có tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm, kháng khối u, trừ giun sán và giảm đau
1.3.1 Khái niệm và phân loại béo phì
Tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa béo phì (Obersity) là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một số vùng hay toàn bộ cơ thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe Tổ chức này dùng chỉ số khối cơ thể BMI (Body Mass Index) để đánh giá tình trạng dư thừa hay thiếu hụt mỡ của mỗi người Chỉ số khối cơ thể được tính theo công thức sau:
Trong đó: W: Khối lượng (kg ) H: Chiều cao (m )
Trang 23Bảng 1.1 Phân loại BMI của người trưởng thành châu Âu và châu Á
Mức độ thể
trọng
Người trưởng thành châu Âu
Người trưởng thành châu Á
1.3.2 Thực trạng béo phì trên thế giới và trong nước
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) hiện nay số người béo phì đã lên tới 1,7 tỉ người [3], không chỉ gặp nhiều ở các quốc gia phát triển mà còn gặp cả
ở các quốc gia đang phát triển Mỹ là nước có số dân mắc bệnh cao nhất thế giới, khoảng 60 triệu người (chiếm 30% dân số), tăng gấp 3 lần so với điều tra năm 1991 Ở châu Âu, Anh là quốc gia đứng đầu bảng với 23% dân số Tại châu Á tỉ lệ thừa cân béo phì ở một số nước như sau: Thái Lan 3,5%, Philipin 4,27%, Malaysia 3,01%, Nhật 3%, Trung Quốc 2%, Hồng Kông 3%
Tại Việt Nam, theo tiêu chuẩn cho người châu Á, số người thừa cân béo phì cũng tăng theo thời gian Năm 1991, theo điều tra của Lê Huy Liệu và cộng sự thì tỉ lệ thừa cân mắc bệnh béo phì nói chung tại Hà Nội là 1,1% Đến năm 2000 con số này đã là 2,62% tăng gần 2,5 lần trong vòng 10 năm (điều tra của Lê Văn Hải)
Năm 2007, Viện dinh dưỡng Quốc gia điều tra trên đối tượng người trưởng thành 25 - 64 tuổi cho thấy tỉ lệ thừa cân béo phì là 16,8% và còn có
xu hướng tăng lên Theo Viện trưởng TS Nguyễn Công Khẩn thì tỉ lệ này ở thành thị lớn hơn nông thôn, ở nữ giới cao hơn nam giới Trẻ em Việt Nam
Trang 24cũng có 16,3% mắc thừa cân béo phì Hà Nội có 4,9% trẻ 4 - 6 tuổi mắc bệnh, thành phố Hồ Chí Minh 6% trẻ dưới 5 tuổi và 22,7% học sinh tiểu học cũng rơi vào tình trạng này [4] Trước tình hình đó, Bộ y tế đã kí quyết định thành lập “Trung tâm phục hồi dinh dưỡng và kiểm soát béo phì” trực thuộc Viện dinh dưỡng, chính thức tuyên chiến với bệnh béo phì
1.3.3 Nguyên nhân gây ra béo phì
Mặc dù có những ảnh hưởng di truyền và nội tiết tố về trọng lượng cơ thể, cuối cùng là bệnh béo phì xảy ra khi nhiều calo không được đốt cháy thông qua tập thể dục và các hoạt động hàng ngày bình thường Các mô cơ thể với những calo thừa chất béo Béo phì thường kết quả từ sự kết hợp giữa nguyên nhân và yếu tố góp phần, bao gồm: không hoạt động, chế độ và thói quen ăn uống không lành mạnh, mang thai, thiếu ngủ hoặc do dùng một số thuốc tăng cân mà không qua chế độ ăn uống hoặc có thể do mắc một số bệnh như hội chứng Prader - Willi, hội chứng Cushing, hội chứng buồng trứng đa nang, và các bệnh và điều kiện khác Một số vấn đề y tế, chẳng hạn như viêm khớp, có thể dẫn đến các hoạt động giảm, mà có thể dẫn đến tăng cân
1.3.4 Các tác hại và nguy cơ cụ thể của béo phì
Béo phì thường không tốt đối với sức khoẻ, người càng béo nguy cơ mắc bệnh càng nhiều Trước hết, người béo phì dễ mắc các bệnh tăng huyết áp, bệnh tim mạch do mạch vành, đái tháo đường, ruột, sỏi mật [10]
Béo phì có các tác hại và nguy cơ cụ thể là: mất thoải mái trong cuộc sống, giảm hiệu suất lao động, kém lanh lợi và đặc biệt có 2 nguy cơ rõ rệt ở người béo phì đó là:
Tỷ lệ bệnh tật cao: Béo phì là một trong các yếu tố nguy cơ chính của
các bệnh mãn tính không lây như: Bệnh mạch vành, đái tháo đường không phụ thuộc insulin, sỏi mật Ở phụ nữ mãn kinh, các nguy cơ ung thư túi mật, ung thư vú và tử cung tăng lên ở những người béo phì, còn ở nam giới béo
Trang 25phì, bệnh ung thư thận và tuyến tiền liệt hay gặp hơn
Tỷ lệ tử vong cũng cao hơn: nhất là trong các bệnh kể trên Thừa cân và
béo phì còn làm giảm vẻ đẹp của mọi người
1.3.5 Một số chỉ số hoá sinh liên quan đến rối loạn trao đổi lipid máu
Huyết thanh người bình thường có 5-7 g/l lipid toàn phần bao gồm acid béo tự do triglycerid, cholesterol toàn phần với hai dạng cholesterol tự do và cholesterol este, các photpholipid Vì không tan trong nước nên các lipid được vận chuyển trong máu dưới dạng kết hợp với các protein đặc hiệu Các acid béo tự do được vận chuyển chủ yếu bởi albumin, các lipid khác được lưu hành trong máu dưới dạng phức hợp lipoprotein như các hạt chymomicron, và các lipoprotein có tỉ trọng khác nhau liên kết với cholesterol như VLDL-c, HDL-c, IDL-c, LDL-c Các lipoprotein này có kích thước, tỉ trọng, chức năng khác nhau trong quá trình chuyển hoá lipid [22] [25]
Để đánh giá lượng mỡ trong máu, người ta làm xét nghiệm với các chỉ số:
- Cholesterol toàn phần (2,9- 5,2 mmol/l)
Trang 26thể do tiền phát do di truyền hoặc thứ phát sau các bệnh khác như béo phì, đái tháo đường, nghiện rượu, suy giáp trạng Fredrickson căn cứ vào kĩ thuật điện
di và siêu li tâm với các thành phần huyết thanh đã phân loại chứng tăng lipid máu thành 5 type dựa trên những thay đổi thành phần lipoprotein Cách phân loại này đã được WHO chính thức sử dụng vào năm 1970 [37] Nhiều nghiên cứu đã chứng minh người bệnh bép phì có nguy cơ cao mắc các bệnh rối loạn lipid máu dẫn đến xơ vữa động mạch (liên quan chủ yếu đến các lipoprotein) hoặc hiện tượng “nhiễm độc mỡ tế bào” [3], [37]
1.3.6 Giải pháp phòng và điều trị
Nguyên nhân chính dẫn đến thừa cân béo phì là do khẩu phần và thói quen dinh dưỡng không hợp lý, hoạt động thể lực kém dẫn đến năng lượng hấp thụ vào cơ thể vượt quá mức cần thiết và tích lũy dưới dạng mỡ Ngoài ra còn nguyên nhân khác như do một số bệnh lí nội tiết: hội chứng Cushing (do hormone cortisosteroid trong cơ thể tăng quá cao), bệnh suy tuyến giáp trạng, bệnh trứng đa nang hoặc có chứa gen béo phì di truyền
Để phòng bệnh béo phì hiệu quả, mỗi cá nhân cần nâng cao nhận thức về dinh dưỡng và hoạt động thể lực Trên phạm vi xã hội, việc phòng bệnh cần tập trung vào nhóm có nguy cơ cao mắc bệnh này
Điều trị thừa cân béo phì dựa trên nguyên tắc kết hợp giữa chế độ ăn uống, luyện tập và dùng thuốc Trong đó thuốc và phẫu thuật chỉ dùng trong trường hợp bắt buộc Thuốc điều trị béo phì phổ biến hiện nay là Metformin thuộc nhóm tác dụng lên hệ tiêu hóa với tác dụng chủ yếu là ức chế phân giải glycogen thành glucose ở gan, làm tăng tính nhạy cảm của insulin ngoại vi, tác dụng hạ glucose Vì thế, Metformin được dùng cho cả bệnh nhân béo phì
và tiểu đường Tuy nhiên, thuốc cũng có một số tác dụng phụ với đường tiêu hóa, chống chỉ định với người suy tim nặng, bệnh gan, bệnh thận và những người có tiền sử nhiễm toan lactic
Trang 271.4 Kháng sinh
1.4.1 Kháng sinh và phân loại kháng sinh
Năm 1928, nhà khoa học Alexander Flemming người Scotland lần đầu tiên thấy trong môi trường nuôi cấy tụ cầu vàng nếu có lẫn nấm penicilium thì khuẩn lạc gần nấm này sẽ không phát triển được, sau đó chất peniciline đã được chiết xuất từ nấm để dùng trong điều trị Vào năm 1941, peniciline trở thành kháng sinh đầu tiên được tìm ra và được sản xuất để dùng trong lâm
sàng Khi đó, kháng sinh được coi là những chất do vi sinh vật tiết ra (vi
khuẩn, vi nấm), có khả năng kìm hãm sự phát triển của vi sinh vật khác, từ
gốc Hy Lạp là antibiotic, nghĩa là chống lại sự sống
Về sau, với sự phát triển của khoa học, người ta đã có thể tổng hợp, bán tổng hợp các kháng sinh tự nhiên và nhân tạo, do đó định nghĩa kháng sinh đã
thay đổi: kháng sinh là những chất do vi sinh vật tiết ra hoặc những chất hóa
học bán tổng hợp, tổng hợp với nồng độ rất thấp có khả năng đặc hiệu kìm hãm sự phát triển hoặc diệt được vi khuẩn Nó có tác dụng lên vi khuẩn ở cấp
độ phân tử, thường là một vị trí quan trọng của vi khuẩn hay một phản ứng
trong quá trình phát triển của vi khuẩn [42]
Phân loại các nhóm kháng sinh:
Ngày nay con người biết được khoảng 8000 chất kháng sinh, trong đó
có khoảng 100 loại dùng trong Y khoa và Thú y Thuốc kháng sinh có loại dùng theo đường toàn thân (uống, tiêm) hoặc tại chỗ (bôi ngoài da; nhỏ mắt, tai, mũi; đặt âm đạo )
Tính đến năm 2010 có khoảng 17 nhóm thuốc kháng sinh với gần 500 tên thuốc (trong đó có 4 nhóm chuyên biệt là: chống nấm, chống lao, chống phong, trị ung thư; còn lại 13 nhóm là thuốc trị các bệnh nhiễm khuẩn thông thường) Mỗi nhóm lại có các phân nhóm hoặc các thế hệ khác nhau
Có nhiều cách để phân loại kháng sinh: dựa vào khả năng tác dụng:
Trang 28kháng sinh diệt khuẩn, kháng sinh hãm khuẩn; dựa vào phổ tác dụng: kháng sinh phổ rộng, kháng sinh phổ hẹp; dựa vào nguồn gốc: tổng hợp hay bán tổng hợp [42]
1.4.2 Thực trạng sử dụng kháng sinh hiện nay trên Thế giới và Việt Nam
Thuốc kháng sinh chỉ có tác dụng với một số bệnh nhiễm khuẩn, lạm dụng quá mức là nguyên nhân dẫn đến tình trạng kháng kháng sinh
“Không hành động hôm nay, ngày mai không còn thuốc chữa” đây là
khẩu hiệu mà WHO đã lấy để kêu gọi các nước cùng chung tay phòng chống kháng thuốc trong đó có Việt Nam
Tổ chức Y tế Thế giới nhận định, chúng ta đang sống trong kỷ nguyên phụ thuộc kháng sinh và yêu cầu toàn cầu có trách nhiệm bảo vệ nguồn thuốc kháng sinh quý giá cho thế hệ sau.Trong tương lai, các quốc gia có thể phải đối mặt với khả năng không có thuốc để điều trị hiệu quả các bệnh truyền nhiễm nếu không có các biện pháp can thiệp phù hợp Nếu không có những giải pháp mạnh mẽ dự kiến đến năm 2050 sẽ có 10 triệu người tử vong do kháng thuốc mỗi năm [42]
Số liệu nghiên cứu giám sát ANSORP từ tháng 11/2000 đến tháng 6/2001 của 14 trung tâm từ 11 nước Đông Nam Á cho thấy tỷ lệ kháng kháng
sinh của vi khuẩn phế cầu (S pneumonia) gia tăng nhanh chóng Trong số 685 chủng vi khuẩn S pneumoniae phân lập được từ người bệnh, có 483 (52,4%)
chủng không còn nhạy cảm tiền đình với penicillin, 23% ở mức trung gian và 29,4% đã kháng với penicillin (MIC >= 2mg/l) Kết quả phân lập cho thấy rằng tỷ lệ kháng penicillin ở Việt Nam cao nhất (71,4%), tiếp theo là Hàn Quốc (54,8%), Hồng Kong (43,2%) Tỷ lệ kháng erythromycin cũng rất cao
Ở Việt Nam là 92,1%, ở Đài Loan là 86%, ở Hàn Quốc là 80,6% [42] [43].Theo số liệu báo cáo của 15 bệnh viện trực thuộc Bộ, bệnh viện đa khoa tỉnh ở Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh,… về sử dụng kháng
Trang 29sinh và kháng kháng sinh giai đoạn 2008 – 2009 cho thấy: năm 2009, 30 – 70% vi khuẩn gram âm đã kháng với kháng sinh nhóm cephalosporin thế hệ 3
và thế hệ 4, gần 40 – 60% kháng với nhóm aminoglycosid và fluoroquinolon…[42]
Trang 30CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Mẫu thực vật
Cây Cứt lợn (Ageratum conyzoides L.) có tên khoa học là Ageratum
conyzoides L., thuộc họ Cúc (Asteraceae Dumort.1822), bộ Cúc (Asterales)
Được thu tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Hình 2.1 Cây Cứt lợn thu tại huyện Sóc Sơn
Trang 312.1.3 Dụng cụ và hóa chất thí nghiệm
- Tủ sấy Memert, Đức
- Bình chiết 30 lít
- Phễu chiết, phễu lọc, giấy lọc
- Máy cô quay chân không RE 400 Yamato, Japan
- Cân kĩ thuật GM612, Đức
- Máy quang phổ UV – VIS 1000
- máy xét nghiệm tự động các chỉ số sinh hóa OLYMPUS AU 640, Nhật
- Máy li tâm eppendorf, li tâm lạnh
- Máy đo đường huyết tự động OneTouch Ultra và que thử, Mỹ
- Micropipet và các dụng cụ đo đếm khác
Hóa chất:
- STZ (streptozotocin) Sigma, ST.Louse
- Silica gel 60 (0.04 - 0.063mm), Merck
- Các loại dung môi hữu cơ với độ tinh khiết cao như ethanol, chloroform,
ethylacetate, aceton của Trung Quốc và Sigma (Mỹ)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp hóa lý
Sử dụng các hệ dung môi hữu cơ có độ phân cực khác nhau để tách một số
phân đoạn dịch chiết chứa các hoạt chất thiên nhiên từ cây hoa Cứt lợn
Mẫu được xử lý và chiết xuất theo quy trình sau:
+ Mẫu cây Cứt lợn tươi, phơi khô được thu mẫu ở khu vực huyện Sóc Sơn- thành phố Hà Nội, (toàn cây, khoảng 3-4 kg) được cắt nhỏ sau đó được ngâm chiết với cồn Quá trình chiết thực hiện 3 lần, mỗi lần kéo dài 15 ngày + Dịch chiết của 3 lần chiết được gom lại và tiến hành cất loại dung môi dưới bóng điện 220V – 200W, chúng tôi thu được cao ethanol