Tuy nhiên, không phải công ty nào cũng đầy đủ các điều kiện như vậy, Công ty cổ phần quản lý và xây dựng đường bộ 26 là một Công ty có quy mô vừa, các đơn vị trực thuộc chỉ có thể là các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
THỊ LAN
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ TRÁCH NHIỆM CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC Ở CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG
ĐƯỜNG BỘ 26
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
THỊ LAN
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ TRÁCH NHIỆM CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC Ở CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG
ĐƯỜNG BỘ 26
Chuyên ngành: Kế Toán
Mã số: 60.34.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ HÀ TẤN
Đà Nẵng - năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Ngô Hà Tấn
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Vũ Thị Lan
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
7 Bố cục đề tài 3
8 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁNCHI PHÍ PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 10 1.1 CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 10
1.1.1 Khái niệm và bản chất chi phí 10
1.1.2 Phân loại chi phí trong doanh nghiệp sản xuất 11
1.2 PHÂN CẤP QUẢN LÝ VÀ SỰ HÌNH THÀNH CÁC TRUNG TÂM CHI PHÍ TRONG DN SẢN XUẤT 19
1.2.1 Phân cấp quản lý trong DN sản xuất 19
1.2.2 Sự hình thành các trung tâm chi phí 20
1.3 LẬP DỰ TOÁN CHO CÁC TRUNG TÂM CHI PHÍ TRONG DN SẢN XUẤT 21
1.3.1 Lập dự toán sản xuất [2] 21
1.3.2 Dự toán chi phí sản xuất 22
1.3.3 Dự toán linh hoạt 25
1.4 TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ, TÍNH GIÁ THÀNH VÀ LẬP BÁO CÁO CHI PHÍ THEO CÁC TRUNG TÂM CHI PHÍ 26
Trang 51.4.1 Tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành ở các trung tâm chi phí
26
1.4.2 Lập báo cáo chi phí ở các trung tâm chi phí 36
1.5 ĐÁNH GIÁ TRÁCH NHIỆM CÁC TRUNG TÂM CHI PHÍ 38
1.5.1 Đối với trung tâm chi phí định mức [2] 38
1.5.2 Đối với trung tâm chi phí tùy ý 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 43
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ TRÁCH NHIỆM Ở CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ 44
2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ 26 44
2.1.1 Đặc điểm hoạt động của Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng đường bộ 26 44
2.1.2 Tổ chức quản lý ở Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng đường bộ 26 45
2.1.3 Phân cấp quản lý ở Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng đường bộ 26 48
2.1.4 Tổ chức công tác kế toán tại Công ty 50
2.2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ TRÁCH NHIỆM CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC Ở CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ 26 55
2.2.1 Công tác lập dự toán chi phí ở Công ty 55
2.2.2 Công tác kế toán chi phí ở Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng đường bộ 26 58
Trang 62.3 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC KẾ TOÁNCHI PHÍ PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ TRÁCH NHIỆM CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC Ở CÔNG TY CỔ PHẦN
QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ 26 72
2.3.1 Ưu điểm 72
2.3.2 Nhược điểm 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 74
CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ TRÁCH NHIỆM CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC Ở CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ 26 75
3.1 HOÀN THIỆN DỰ TOÁN CHI PHÍ VÀ KẾ TOÁN CHÍ PHÍ, TÍNH GIÁ THÀNH Ở CÁC ĐỘI SẢN XUẤT ĐÁ CỦA CÔNG TY 75
3.1.1 Hoàn thiện dự toán chi phí ở các Đội sản xuất đá của Công ty 75
3.1.2 Hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm ở các đội sản xuất đá ở Công ty 82
3.2 HOÀN THIỆN BÁO CÁO PHÂN TÍCH CHI PHÍ PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ TRÁCH NHIỆM CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC Ở CÔNG TY 87
3.2.1 Đối với các Đội sản xuất đá 88
3.2.2 Đối với Hạt quản lý đường bộ 95
3.3 SỬ DỤNG KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ THƯỞNG, PHẠT HỢP LÝ ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC CÔNG TY 115
3.3.1 Đối với các Đội sản xuất đá 115
3.3.2 Đối với Hạt quản lý 116
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 118
KẾT LUẬN 119 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 81.7 Phiếu tính giá thành sản phẩm theo hệ thống tính giá
2.1 Sổ chi phí sản xuất - Chi phí NVLTT của Đội sản xuất
Trang 9xuất đá 52 năm 2014
2.5 Bảng tính giá thành Đội sản xuất đá 52 năm 2014 (thực
tế tại Công ty)
65
2.6 Sổ chi phí sản xuất - Chi phí NVLTT công trình quản lý,
bảo trì đường bộ của Hạt quản lý M’drak quý I năm
2014
66
2.7 Sổ chi phí sản xuất - Chi phí NCTT công trình quản lý,
bảo trì đường bộ của Hạt quản lý M’drak quý I năm
2014
67
2.8 Sổ chi phí sản xuất - Chi phí máy thi công công trình
quản lý, bảo trì đường bộ của Hạt quản lý M’drak quý I
năm 2014
67
2.9 Sổ chi phí sản xuất - Chi phí SXC công trình quản lý,
bảo trì đường bộ của Hạt quản lý M’drak quý I năm
2014
68
2.10 Phiếu tính giá thành sản phẩm công trình quản lý, bảo trì
đường bộ của Hạt quản lý M’drak quý I năm 2014 (thực
tế tại Công ty)
68
2.11 Sổ chi phí sản xuất - Chi phí NVLTT công trình sửa
chữa cầu số 10 của Hạt quản lý M’drak năm 2014
69
2.12 Sổ chi phí sản xuất - Chi phí NCTT công trình sửa chữa
cầu số 10 của Hạt quản lý M’drak năm 2014
70
2.13 Sổ chi phí sản xuất - Chi phí máy thi công công trình
sửa chữa cầu số 10 của Hạt quản lý M’drak năm 2014
70
2.14 Sổ chi phí sản xuất - Chi phí SXC công trình sửa chữa
cầu số 10 của Hạt quản lý M’drak năm 2014
71
2.15 Phiếu tính giá thành công trình sửa chữa cầu số 10 (thực
tế tại công ty)
71
Trang 103.1 Bảng tính số lƣợng sản phẩm chuẩn dự kiến của Đội sản
3.3 Bảng phân loại chi phí của Đội sản xuất đá 52 theo khả
năng kiểm soát
3.14 Bảng tổng hợp đánh giá trách nhiệm đối với Đội sản
xuất đá 52 trong quản lý chi phí NVLTT năm 2014
92
Trang 113.15 Bảng phân tích biến động chi phí SXC của Đội sản xuất
đá 52 năm 2014
93
3.16 Bảng tổng hợp đánh giá trách nhiệm đối với Đội sản
xuất đá 52 trong quản lý chi phí SXC năm 2014
94
3.17 Bảng tổng hợp chi phí dự toán và thực tế của công trình
sửa chữa cầu số 10
96
3.18 Bảng phân loại chi phí công trình sửa chữa cầu số 10
theo khả năng kiểm soát
99
3.19 Bảng phân tích chi phí NVLTT công trình sửa chữa cầu
số 10
101
3.20 Bảng tổng hợp đánh giá trách nhiệm hạt quản lý m’drak
trong quản lý chi phí NVLTT của công trình sửa chữa
3.22 Bảng tổng hợp đánh giá trách nhiệm hạt quản lý m’drak
trong quản lý chi phí máy thi công của công trình sửa
3.24 Bảng tổng hợp đánh giá trách nhiệm hạt quản lý m’drak
trong quản lý chi phí SXC của công trình sửa chữa cầu
số 10
106
3.25 Bảng chi phí dự toán và thực tế của công trình quản lý,
bảo trì đường bộ - Hạt quản lý M’drak quý I năm 2014
107
3.26 Bảng phân loại chi phí quản lý, bảo trì đường bộ theo
khả năng kiểm soát của Hạt quản lý
108
3.27 Bảng phân tích chi phí NVLTT công trình quản lý, duy 110
Trang 12tu đường bộ của Hạt quản lý M’rak quý I năm 2014
3.28 Bảng tổng hợp đánh giá trách nhiệm hạt quản lý m’drak
trong quản lý chi phí NVLTT của công trình quản lý,
bảo trì đường bộ quý I năm 2014
110
3.29 Bảng phân tích chi phí máy thi công công trình quản lý,
duy tu đường bộ của Hạt quản lý M’rak quý I năm 2014
113
3.30 Bảng tổng hợp đánh giá trách nhiệm hạt quản lý m’drak
trong quản lý chi phí máy thi công của công trình quản
lý, bảo trì đường bộ quý I năm 2014
113
3.31 Bảng tổng hợp đánh giá trách nhiệm hạt quản lý m’drak
trong quản lý chi SXC của công trình quản lý, bảo trì
3.33 Bảng đánh giá trách nhiệm đối với Hạt quản lý M’drak
trong công trình sửa chữa cầu số 10
117
3.34 Bảng đánh giá trách nhiệm đối với Hạt quản lý M’drak
trong công trình quản lý, bảo trì đường bộ của Hạt quản
lý M’rak quý I năm 2014
117
Trang 13DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
2.3 Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức chứng từ
Trang 141
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng đường bộ 26 là một công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cầu đường với quy mô vừa Hiện nay kế toán chi phí ở công ty phục vụ đánh giá trách nhiệm các đơn vị trực thuộc chưa được quan tâm một cách đầy đủ Kế toán ở Công ty chủ yếu thực hiện theo cách làm truyền thống là kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, hệ thống báo cáo chi phí còn sơ sài, chỉ khi nào có yêu cầu, kế toán mới thu thập, xử lý số liệu theo yêu cầu của nhà quản trị Do vậy thông tin cho quản trị chi phí, đánh giá trách nhiệm các đơn vị trực thuộc không kịp thời và thiếu chính xác Chính những hạn chế này dẫn đến khả năng tự chủ và tự chịu trách nhiệm ở các đơn vị cấp dưới rất thấp, còn ỷ lại
Trong thực tế, các công trình nghiên cứu về kế toán trách nhiệm thường chỉ áp dụng cho những công ty lớn, có nhiều đơn vị trực thuộc với đầy đủ các trung tâm chi phí, doanh thu, lợi nhuận Tuy nhiên, không phải công ty nào cũng đầy đủ các điều kiện như vậy, Công ty cổ phần quản lý và xây dựng đường bộ 26 là một Công ty có quy mô vừa, các đơn vị trực thuộc chỉ có thể
là các trung tâm chi phí.Để đánh giá đúng được trách nhiệm với tư cách là trung tâm chi phí, trước hết cần phải thực hiện kế toán chi phí ở các đơn vị được chính xác Làm tốt công việc này sẽ giúp Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng đường bộ 26 có được một hệ thống thông tin về chi phí tin cậy, giúp cho việc đánh giá và kiểm soát các đơn vị trực thuộc ở Công ty một cách chính xác và kịp thời
Tác giả nhận thấy việc tổ chức kế toán chi phí phục vụ đánh giá trách nhiệm các đơn vị trực thuộc ở Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng đường
bộ 26 có ý nghĩa quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển của Công ty Nhưng hiện tại, công tác này chưa được Công ty quan tâm đúng mức, còn
Trang 152
nhiều mặt hạn chế như nêu trên Do vậy, tác giả chọn và thực hiện đề tài
“Hoàn thiện kế toán chi phí phục vụ đánh giá trách nhiệm các đơn vị trực thuộc ở Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng đường bộ 26” cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về kế toán chi phí phục vụ đánh giá trách nhiệm các đơn vị trực thuộc trong doanh nghiệp sản xuất
- Đánh giá thực trạng công tác kế toán chi phí phục vụ đánh giá trách nhiệm các đơn vị trực thuộc ở Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng đường
bộ 26, từ đó chỉ ra những ưu, nhược điểm về công tác này ở Công ty
- Nghiên cứu các giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí đảm bảo cho việc đánh giá trách nhiệm các đơn vị trực thuộc ở Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng đường bộ 26 được đúng đắn, phục vụ tốt cho quản trị nội bộ ở Công ty
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài phải trả lời được những câu hỏi:
- Những vấn đề cơ bản về kế toán chi phí phục vụ đánh giá trách nhiệm các đơn vị trực thuộc trong doanh nghiệp sản xuất là gì?
- Thực trạng kế toán chi phí phục vụ đánh giá trách nhiệm các đơn vị trực thuộc ở Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng đường bộ 26 như thế nào?
- Làm thế nào để hoàn thiện kế toán chí phí phục vụ đánh giá trách nhiệm các đơn vị trực thuộc ở Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng đường
bộ 26
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu kế toán chi phí
và việc vận dụng kế toán chi phí trong đánh giá trách nhiệm các đơn vị trực thuộc ở Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng đường bộ 26
Trang 163
Phạm vi nghiên cứu: Là công tác kế toán chi phí phục vụ đánh giá trách nhiệm các đơn vị trực thuộc tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh của Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng đường bộ 26.Số liệu sử dụng cho nghiên cứu năm 2014 và 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu để rút ra những nhận xét về đối tượng nghiên cứu Phương pháp thu thập dữ liệu về cơ bản là thu thập các nguồn tài liệu sẵn có, chủ yếu là nguồn tài liệu của Công
ty và các giáo trình kế toán quản trị, các tạp chí chuyên ngành, các công trình khoa học đã công bố có nội dung liên quan,
Trên cơ sở nguồn tài liệu, thông tin thu thập được, tác giả tiến hành nghiên cứu, phân tích để rút ra những mặt tồn tại trong tổ chức kế toán chi phí phục vụ đánh giá trách nhiệm các đơn vị trực thuộc của Công ty, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học, đề tài đi sâu nghiên cứu làm rõ lý luận vềkế toán chi phí phục vụ đánh giá trách nhiệm các đơn vị trực thuộc trong một doanh nghiệp sản xuất
Về mặt thực tiễn, đề tài giúp Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng đường bộ 26 hoàn thiện kế toán chi phí, tính giá thành được đầy đủ, chính xác, nhằm phục vụ đánh giá được trách nhiệm của các đơn vị trực thuộc, góp phần quản lý chặt chẽ, tiết kiệm chi phí và cuối cùng là tăng lợi nhuận cho
Công ty
7 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí phục vụ đánh giá trách nhiệm trong doanh nghiệp sản xuất
Trang 178 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Những năm gần đây, các nhà quản lý DN ngày càng quan tâm nhiều hơn đến kế toán quản trị để nâng cao chất lượng quản lý, tăng cường khả năng thích ứng và cạnh tranh trong nền kinh tế, tối ưu hóa hiệu quả hoạt động của
DN Trong đó, cơ sở thông tin để ra các quyết định đúng đắn, kịp thời về cả mặt chiến lược và chiến thuật trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN là rất quan trọng
Với sự cạnh tranh giữa các DN ngày càng gay gắt, thì một trong những giải pháp mà DN nào cũng phải tính đến là việc quản lý tiết kiệm chi phí.Chính điều này đã khẳng định vai trò, vị trí của kế toán chi phí trong các
DN ngày càng cao.Nhận thấy tầm quan trọng của việc tổ chức kế toán phục
vụ đánh giá trách nhiệm, các nhà kế toán đã đưa ra lý thuyết về mô hình kế toán trách nhiệm (đặc biệt là kế toán trách nhiệm về chi phí) Áp dụng thành công mô hình kế toán trách nhiệm, DN sẽ có một hệ thống cung cấp các thông tin tin cậy và sự kiểm soát chặt chẽ đối với các đơn vị trực thuộc, nhất là kiểm soát về chi phí ở các đơn vị
Việc tổ chức cũng như hoàn thiện kế toán chi phí nhằm đánh giá trách nhiệm quản lý chi phí trong DN là một nội dung quan trọng đã được nghiên cứu trong các đề tài kế toán quản trị chi phí và kế toán trách nhiệm nói chung Tuy nhiên, ở mỗi DN lại có những đặc điểm về cơ cấu tổ chức và phân cấp quản lý khác nhau, các đề tài có phương pháp nghiên cứu, đánh giá, phân tích khác nhau và có thể có những cách nhìn nhận khác nhau, dẫn đến kết quả của các đề tài nghiên cứu đạt được ở mức độ khác nhau Tuy nhiên, mục đích cuối
Trang 185
cùng của các đề tài là nhằm vào việc đánh giá cho được thành quả của các trung tâm trách nhiệm nói chung và trung tâm chi phí nói riêng trong một DN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Hoàn thiện kế toán chi phí phục vụ
đánh giá trách nhiệm các đơn vị trực thuộc ở Công ty Cổ phần quản lý
và xây dựng đường bộ 26”, tác giả đã tham khảo một số sách về kế toán chi
phí, kế toán quản trị chi phí, kế toán chi phí phục vụ đánh giá trách nhiệm và các đề tài nghiên cứu có liên quan như sau:
+ Tập thể Bộ môn kế toán quản trị - Phân tích tài chính - Trường Đại
học Kinh tế Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình kế toán chi phí Giáo trình đã
khái quát lý thuyết về kế toán chi phí và giá thành sản phẩm Trình bày rõ về phân loại chi phí và giá thành sản phẩm; tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dựa trên cơ sở hoạt động và đặc biệt là tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dựa trên cơ sở định mức, từ
đó làm căn cứ để lập các dự toán về chi phí NVLTT, chi phí NCTT và chi phí SXC
+ GS.TS Trương Bá Thanh và cộng sự (2008), kế toán quản trị, NXB
Giáo Dục Giáo trình đã nghiên cứu lý luận về chi phí, dự toán tổng thể DN, kiểm soát chi phí Đặc biệt giáo trình đã đi sâu nghiên cứu khái niệm và phân loại chi phí phục vụ cho việc ra quyết định; kiểm soát chi phí thông quađánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến thành quả của từng bộ phận nhằm xác định
rõ trách nhiệm của từng bộ phận trong doanh nghiệp; xây dựng dự toán về chi phí NVLTT, NCTT, chi phí SXC; lập dự toán linh hoạt; xây dựng các báo cáo kiểm soát chi phí
+ Bài báo của PGS.TS Ngô Hà Tấn, TS Đường Nguyễn Hưng (2013),
“Quan hệ giữa phân cấp quản lý và kế toán trách nhiệm”, Tạp chí Kế toán và
kiểm toán (số 118) Bài báo đã đi sâu phân tích mối quan hệ giữa phân cấp quản lý và kế toán trách nhiệm nói chung và trung tâm chi phí nói riêng.Tác
Trang 196
giả đã phân tích mối quan hệ giữa phân cấp quản lý và kế toán trách nhiệm:Việc đầu tiên trong quá trình thực hiện kế toán trách nhiệm là phải hình thành các trung tâm trách nhiệm Để trở thành trung tâm trách nhiệm thì đơn vị, bộ phận đó phải được phân cấp quản lý ở mức độ nhất định Một doanh nghiệp có sự phân cấp quản lý càng đầy đủ và rõ ràng thì việc tổ chức
kế toán trách nhiệm càng thuận lợi và càng cần thiết phải tổ chức kế toán trách nhiệm Phân cấp quản lý sẽ xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của đơn vị, bộ phận đối với các hoạt động của DN và đây chính là cơ sở cho việc hình thành trung tâm trách nhiệm Còn đối với một trung tâm trách nhiệm cụ thể, phân cấp quản lý là cơ sở xác định các chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm được đúng đắn Phạm vi đánh giá trách nhiệm của một trung tâm phải trên cơ sở nội dung phân cấp được xác định một cách rõ ràng cho trung tâm đó Kế toán trách nhiệm được xem như là một công cụ của phân cấp quản lý để thực hiện kiểm soát hoạt động của các đơn vị
+ TS Phạm Đức Dũng (2012), Kế toán giá thành sản xuất, NXB Thống
Kê Giáo trình cung cấp cái nhìn tổng thể về kế toán giá thành sản phẩm Mỗi loại hình DN với quy trình công nghệ khác nhau phải có phương pháp tính giá thành phù hợp Tại các DN có quy trình công nghệ giản đơn có các phương pháp tính giá thành như trực tiếp, hệ số, tỷ lệ Tại các DN có quy trình công nghệ phức tạp có phương pháp tính giá thành phân bước, đơn đặt hàng, định mức Tính giá thành theo quy trình công nghệ kiểu song song, theo quy trình công nghệ kiểu liên tục… Từ đó, giáo trình đã nghiên cứu nêu ra các bước tính giá thành Từ việc xác định đối tượng tập hợp chi phí, đối tượng tính giá thành đến việc tập hợp, phân bổ chi phí, đánh giá sản phẩm dở dang và tính giá thành theo các phương pháp đã lựa chọn Đây là cơ sở lý luận quan trọng
để các doanh nghiệp lựa chọn phương pháp tính giá thành phù hợp cũng như
Trang 20bộ phận vào thành quả chung của toàn đơn vị
+ Luận văn thạc sĩ“ Hoàn thiện công tác kế toán trách nhiệm tại Tổng Công ty Xây dựng công trình giao thông 5(Cienco 5)” của tác giả Nguyễn
Tấn Đạt năm 2012 nghiên cứu về doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm và đặc điểm tổ chức báo cáo kế toán trách nhiệm trong các công ty xây dựng Tác giả
đã phản ánh đƣợc thực trạng kế toán trách nhiệm tại Công ty nhƣ đặc điểm và nội dung tổ chức kế toán trách nhiệm, thể hiện qua việc lập các báo cáo nội
bộ Qua tìm hiểu và phân tích công tác kế toán trách nhiệm, tìm ra những ƣu điểm và hạn chế của thông tin nhận từ hệ thống kế toán trách nhiệm, tác giả
đã chỉ ra cơ cấu tổ chức còn tập trung cao độ tại trung tâm đầu tƣ, trung tâm lợi nhuận chƣa phát huy đƣợc khả năng hiệu quả công việc Đặc biệt là các chỉ tiêu phân loại chi phí xây lắp chƣa đầy đủ, thích hợp cho việc tập hợp, phân tích theo các tiêu thức phục vụ đấu thầu và giao khoán; Các báo cáo dự toán sử dụng cho việc đánh giá kết quả chƣa chú trọng vào hiệu quả công tác xây lắp Với thực trạng kế toán trách nhiệm tại Công ty, tác giả đã đƣa ra các giải pháp xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm trong đó có trung tâm chi phí tại Công ty phù hợp với mô hình tổ chức, mục tiêu, chiến lƣợc phát triển của Công ty Xây dựng hệ thống báo cáo dự toán ứng với các trung tâm trách
Trang 218
nhiệm trong Công ty trong đó có trung tâm chi phí Đưa ra quy trình lập báo cáo của các trung tâm tại Công ty Hoàn chỉnh hệ thống thông tin phục vụ xây dựng các báo cáo bộ phận đánh giá trách nhiệm của các trung tâm thống nhất trong toàn Công ty
+ Luận văn thạc sĩ của Đặng Anh Tuấn (2009), đề tài “Một số giải pháp hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại Tổng công ty xây dựng Thăng Long”
Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về kế toán trách nhiệm, làm
cơ sở đánh giá thực trạng công tác kế toán quản trị chí phí phục vụ đánh giá trách nhiệm cũng như nghiên cứu đưa ra những giải pháp hoàn thiện kếtoán trách nhiệm tại công ty Trong đó, đề tài đã đề xuất những giải pháp chính như xây dựng các trung tâm trách nhiệm; hoàn thiện các công cụ cung cấp thông tin cho các dự toán và giao khoán; hoàn thiện các báo cáo đánh giá thành quả quản lý, đánh giá công tác giao thầu và giao khoán
+ Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Dung (2012), đề tài “Tổ chức kế toán trách nhiệm tại công ty Cổ phẩn Greenfeed Việt Nam” Đề tài đã
khái quát những nét cơ bản về kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp, mối quan hệ giữa kế toán trách nhiệm với phân cấp quản lý tài chính Trên cơ sở
đó, đề tài đã xây dựng các trung tâm trách nhiệm nói chung và trung tâm chi phí nói riêng, xác định các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể cho từng trung tâm; tổ chức và xây dựng các báo cáo thành quả,đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá thành quả của các bộ phận Mục đích là hướng các bộ phận vào việc hoàn thành mục tiêu chung của Công ty và giúp các nhà quản trị có cơ sở để đưa ra chính sách khen thưởng kịp thời, động viên, khích lệ các bộ phận
Dựa trên cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí và kế toán trách nhiệm, tham khảo những công trình nghiên cứu có liên quan, luận văn “Hoàn thiện kế toán chi phí phục vụ đánh giá trách nhiệm các đơn vị trực thuộc ở Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng đường bộ 26” đã khái quát những vấn
Trang 229
đề lý luận cơ bản về kế toán chi phí phục vụ đánh giá trách nhiệm, từ bản chất, mối quan hệ giữa phân cấp quản lý và kế toán trách nhiệm về chi phí đến việc tổ chức các trung tâm chi phí và đánh giá thành quả các trung tâm này Trên cơ sở đó, đề tài đã đánh giá thực trạng công tác kế toán nói chung
và công tác kế toán chi phí phục vụ quản trị nội bộ tại Công ty nói riêng Đồng thời đưa ra các giải pháp tổ chức công tác kế toán chi phí phục vụ đánh giá trách nhiệm các đơn vị trực thuộc ở Công ty, như tổ chức các trung tâm trách nhiệm (trung tâm chi phí), hoàn thiện công tác xây dựng dự toán, tổ chức hệ thống báo cáo chi phí và các chỉ tiêu đánh giá thành quả của các trung tâm chi phí
Qua quá trình nghiên cứu các tài liệu trên giúp tác giả vận dụng để xây dựng cơ sở lý luận về kế toán chi phí phục vụ đánh giá trách nhiệm các đơn vị trực thuộc trong doanh nghiệp sản xuất Đồng thời cũng gợi ra những hướng nghiên cứu để tìm ra các giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí ở Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng đường bộ 26 với hướng hoàn thiện là kế toán chi phí phải bảo đảm việc tính giá thành sản phẩm một cách chính xác theo từng đơn vị trực thuộc để có cơ sở đầy đủ cho việc thực hiện các chính sách thưởng, phạt được đúng đắn đối với các đơn vị trực thuộc ở Công ty
Trang 2310
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁNCHI PHÍ PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1.1 Khái niệm và bản chất chi phí
a Khái niệm
Trong mọi hoạt động của DN đều phát sinh các hao phí như nguyên vật liệu, tài sản cố định, sức lao động Biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí phát sinh nói trên gọi là chi phí như chi phí nguyên vật liệu, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí nhân công
Chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm)[4]
Chi phí phát sinh một cách khách quan, nó luôn thay đổi trong quá trình tái sản xuất và gắn liền với sự đa dạng của từng loại hình sản xuất kinh doanh
b Bản chất của chi phí
- Phân biệt chi phí và chi tiêu
Chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại vật tư, tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp bất kể nó được dùng vào mục đích gì Tổng số chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm chi tiêu cho quá trình cung cấp (chi mua sắm vật
tư, hàng hoá…) chi tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh (cho cho sản xuất, chế tạo sản phẩm, công tác quản lý…) và chi tiêu cho quá trình tiêu thụ (chi vận chuyển, bốc dỡ, quảng cáo…)
Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau.Chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không có chi phí.Tổng số chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ
Trang 2411
giá trị tài sản hao phí hoặc tiêu dùng hết cho quá trình sản xuất kinh doanh tính vào kỳ đó
- Phân biệt chi phí với giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm chính là chi phí tính cho một khối lượng sản phẩm, công việc, dịch vụ do doanh nghiệp đã sản xuất ra và hoàn thành
Xét về bản chất, chi phí và giá thành là hai mặt khác nhau của quá trình sản xuất, kinh doanh Chi phí phản ánh hao phí còn giá thành phản ánh kết quả đạt được từ hao phí đó
1.1.2 Phân loại chi phí trong doanh nghiệp sản xuất [2]
a Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Theo cách phân loại này, chi phí bao gồm chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất
Chi phí sản xuất bao gồm các khoản mục: Chi phí NVLTT, chi phí
NCTT, chi phí máy thi công (trong doanh nghiệp xây lắp) và chi phí SXC
Chi phí NVLTT:
Khoản mục chi phí này bao gồm các loại nguyên liệu và vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm Trong đó, nguyên vật liệu chính dùng để cấu tạo nên thực thể chính của sản phẩm và các loại vật liệu phụ khác
có tác dụng kết hợp với nguyên vật liệu để hoàn chỉnh sản phẩm về mặt chất lượng và hình dáng
Chi phí NCTT:
Khoản mục chi phí này bao gồm tiền lương và những khoản trích theo lương phải trả cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm Cần phải chú ý rằng, chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương của bộ phận công nhân phục vụ hoạt động chung của bộ phận sản xuất hoặc nhân viên quản lý các bộ phận sản xuất thì không bao gồm trong khoản mục chi phí này mà được tính là một phần của khoản mục chi phí sản xuất chung
Trang 2512
Chi phí máy thi công:
Khoản mục chi phí này bao gồm tiền lương và các khoản trích theo lương phải trả cho công nhân trực tiếp điều khiển xe, máy thi công; phục vụ cho xe, máy thi công; chi phí nhiên liệu, vật liệu phục vụ xe, máy thi công; công cụ, dụng cụ lao động liên quan tới hoạt động của xe, máy thi công; chi phí khấu hao xe, máy thi công sử dụng vào hoạt động xây lắp công trình; chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác phục vụ cho việc sử dụng
xe, máy thi công
Chi phí SXC:
Chi phí SXC là các chi phí phục vụ và quản lý quá trình sản xuất phát sinh trong phạm vi các phân xưởng Khoản mục chi phí này bao gồm: chi phí vật liệu phục vụ quá trình sản xuất hoặc quản lý sản xuất, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí khấu hao, sửa chữa và bảo trì máy móc thiết bị, nhà xưởng, chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ sản xuất và quản lý ở phân xưởng, v.v…
Chi phí ngoài sản xuất bao gồm các khoản mục: Chi phí bán hàng và
chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí bán hàng:
Khoản mục chi phí này bao gồm các chi phí phát sinh phục vụ cho khâu tiêu thụ sản phẩm Có thể kể đến các chi phí như chi phí vận chuyển, bốc dỡ thành phẩm giao cho khách hàng, chi phí bao bì, khấu hao các phương tiện vận chuyển, tiền lương nhân viên bán hàng, hoa hồng bán hàng, chi phí tiếp thị quảng cáo, v.v…
Trang 2613
và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý DN, khấu hao TSCĐ phục vụ cho quản lý DN, các chi phí dịch vụ mua ngoài khác, v.v…
b Phân loại chi phí theo cách ứng xử với chi phí
Theo cách phân loại này, chi phí được chia thành:
Chi phí khả biến (hay còn gọi là biến phí): Là chi phí mà tổng số của nó
sẽ biến động khi mức hoạt động thay đổi trong phạm vi phù hợp
Trong các DN sản xuất, các khoản mục chi phí NVLTT và chi phí NCTT thể hiện rõ nhất đặc trưng của chi phí khả biến Ngoài ra, chi phí khả biến có thể còn bao gồm các chi phí khác thuộc khoản mục chi phí SXC (ví
dụ, các chi phí vật liệu phụ, chi phí động lực, ) hoặc thuộc khoản mục chi phí bán hàng (như chi phí vật liệu, phí hoa hồng, phí vân chuyển, )
Chi phí khả biến còn được chia thành hai loại: chi phí khả biến thực thụ (true variable costs) và chi phí khả biến cấp bậc (step-variable costs)
Chi phí khả biến thực thụ là các chi phí khả biến có sự biến đổi tỉ lệ với mức độ hoạt động.Đa số các chi phí khả biến thường thuộc loại này và cách ứng xử cũng như đồ thị biểu diễn của chúng là liên tục
Chi phí khả biến cấp bậc là các chi phí khả biến không có sự biến đổi liên tục theo sự thay đổi của mức độ hoạt động Các chi phí này chỉ biến đổi khi các hoạt động đã có sự biến đổi đạt đến một mức độ nào đó Ta lấy chi phí tiền lương của bộ phận công nhân phụ (phục vụ hoạt động của công nhân chính) ở các phân xưởng sản xuất để minh họa cho loại chi phí biến đổi cấp bậc này Các công nhân phụ thường thực hiện các công việc như đưa vật liệu
từ kho đến nơi sản xuất hoặc đưa thành phẩm từ nơi sản xuất đi nhập kho,
và được biên chế theo một tỉ lệ nhất định với số lượng công nhân chính mà họ phục vụ Khi khối lượng sản phẩm của các công nhân chính mà họ phục vụ gia tăng, cường độ lao động của họ cũng tăng theo nhưng mức lương mà họ được hưởng không thể tính gia tăng một cách liên tục theo cường độ lao động
Trang 2714
gia tăng của họ Tiền lương của họ chỉ tăng lên ở một mức mới khi cường độ lao động của họ đạt đến một mức nhất định nào đó, và tương tự, sẽ giữ nguyên cho đến khi cường độ lao động của họ gia tăng đạt đến một mức mới
Chi phí bất biến (hay còn gọi là định phí hoặc chi phí cố định): Là
những chi phí mà tổng số của nó không thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi trong phạm vi hoạt động
Trong các DN sản xuất, các loại chi phí bất biến thường gặp là chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí tiền lương nhân viên quản lý, chi phí quảng cáo, v.v Chi phí bất biến còn được gọi là chi phí cố định hay định phí
Có thể đưa ra nhận xét rằng loại chi phí chiếm tỉ trọng lớn trong chi phí bất biến ở các DN sản xuất là các chi phí liên quan đến cơ sở vật chất tạo ra năng lực hoạt động cơ bản của DN Do đó, với xu hướng tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của các DN thì tỉ trọng chi phí bất biến ngày càng tăng cao trong tổng số chi phí của DN
Xét ở khía cạnh quản lý chi phí, chi phí bất biến được chia thành 2 loại: chi phí bất biến bắt buộc và chi phí bất biến không bắt buộc
Chi phí bất biến bắt buộc là các chi phí phát sinh nhằm tạo ra các năng lực hoạt động cơ bản của DN, thể hiện rõ nhất là chi phí khấu hao TSCĐ hay tiền lương nhân viên quản lý ở các phòng ban chức năng Các chi phí bất biến bắt buộc gắn liền với các mục tiêu dài hạn của DN, chúng biểu hiện tính chất
cố định khá vững chắc và ít chịu sự tác động của các quyết định trong quản lý ngắn hạn.Có thể đưa ra nhận xét rằng, mọi cố gắng trong việc cắt giảm các chi phí bất biến bắt buộc đến không là không thể được, cho dù là chỉ trong một thời gian ngắn khi các quá trình sản xuất bị gián đoạn
Khác với các chi phí bất biến bắt buộc, các chi phí bất biến không bắt buộc thường được kiểm soát theo các kế hoạch ngắn hạn và chúng phụ thuộc nhiều vào chính sách quản lý hàng năm của các nhà quản trị Do vậy, loại chi
Trang 2815
phí này còn được gọi là chi phí bất biến tuỳ ý hay chi phí bất biến quản trị Thuộc loại chi phí này gồm chi phí quảng cáo, chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí đào tạo nhân viên, v.v
Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả yếu tố biến phí
và định phí Thông thường ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thường thể hiện các đặc điểm của định phí, còn ở mức độ hoạt động trên căn bản, nó thể hiện các đặc điểm của biến phí Hiểu theo một cách khác, phần bất biến trong chi phí hỗn hợp thường là bộ phận chi phí cơ bản để duy trì các hoạt động ở mức độ tối thiểu, còn phần khả biến là bộ phận chi phí phát sinh
tỉ lệ với mức độ hoạt động tăng thêm Trong các DN sản xuất, chi phí hỗn hợp cũng chiếm một tỉ lệ khá cao trong các loại chi phí, chẳng hạn như chi phí điện thoại, chi phí bảo trì máy móc thiết bị,
Nếu ta gọi:
a: là tỉ lệ biến đổi theo các mức độ hoạt động của bộ phận chi phí biến đổi trong chi phí hỗn hợp
b: bộ phận chi phí bất biến trong chi phí hỗn hợp
thì phương trình biểu diễn sự biến thiên của chi phí hỗn hợp là một phương trình bậc nhất có dạng: y = ax + b
Nhằm phục vụ việc lập kế hoạch, phân tích và quản lý chi phí, cần phải phân tích các chi phí hỗn hợp thành yếu tố khả biến và yếu tố bất biến Việc phân tích này được thực hiện bằng một trong ba phương pháp: phương pháp cực đại - cực tiểu, phương pháp đồ thị phân tán và phương pháp bình phương
bé nhất
c Các cách phân loại chi phí sử dụng trong kiểm tra và ra quyết định
Để phục vụ cho việc kiểm tra và ra quyết định trong quản lý, chi phí của DN còn được xem xét ở nhiều khía cạnh khác Nổi bật nhất là việc xem xét trách nhiệm của các cấp quản lý đối với các chi phí phát sinh, thêm nữa,
Trang 2916
các nhà quản lý còn phải nhìn nhận đúng đắn sự thích đáng của các loại chi phí khác nhau phục vụ cho việc phân tích để ra quyết định lựa chọn phương
án tối ưu trong các tình huống
Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được
Một khoản chi phí được xem là chi phí có thể kiểm soát được (controllable costs) hoặc là chi phí không kiểm soát được (non-controllable costs) ở một cấp quản lý nào đó là tuỳ thuộc vào khả năng cấp quản lý này có thể ra các quyết định để chi phối, tác động đến khoản chi phí đó hay không Như vậy, nói đến khía cạnh quản lý chi phí bao giờ cũng gắn liền với một cấp quản lý nhất định: khoản chi phí mà ở một cấp quản lý nào đó có quyền ra quyết định để chi phối nó thì được gọi là chi phí kiểm soát được (ở cấp quản
lý đó), nếu ngược lại thì là chi phí không kiểm soát được
Chẳng hạn, người quản lý bán hàng có trách nhiệm trong việc tuyển dụng cũng như quyết định cách thức trả lương cho nhân viên bán hàng, do vậy, chi phí tiền lương trả cho bộ phận nhân viên này là chi phí kiểm soát được đối với bộ phận bán hàng đó Tương tự như vậy là các khoản chi phí tiếp khách, chi phí hoa hồng bán hàng, Tuy nhiên, chi phí khấu hao các phương tiện kho hàng, một khoản chi phí cũng phát sinh ở bộ phận bán hàng, thì có thể là chi phí không kiểm soát được đối với người quản lý bán hàng đó nếu quyền quyết định xây dựng các kho hàng cũng như quyết định cách thức tính khấu hao của nó thuộc về cấp trên (bộ phận quản lý DN)
Chi phí không kiểm soát được ở một bộ phận nào đó thường thuộc hai dạng: các khoản chi phí phát sinh ở ngoài phạm vi quản lý của bộ phận (chẳng hạn các chi phí phát sinh ở các bộ phận sản xuất hoặc thu mua là chi phí không kiểm soát được đối với người quản lý bộ phận bán hàng), hoặc là các khoản chi phí phát sinh thuộc phạm vi hoạt động của bộ phận nhưng thuộc quyền chi phối và kiểm soát từ cấp quản lý cao hơn (như chi phí khấu
Trang 3017
hao các phương tiện kho hàng đối với người quản lý bộ phận bán hàng trong
ví dụ trên) Cũng cần chú ý thêm rằng việc xem xét khả năng kiểm soát các loại chi phí đối với một cấp quản lý có tính tương đối và có thể có sự thay đổi khi có sự thay đổi về mức độ phân cấp trong quản lý
Xem xét chi phí ở khía cạnh kiểm soát có ý nghĩa lớn trong phân tích chi phí và ra các quyết định xử lý, góp phần thực hiện tốt kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp
Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
Trong các DN sản xuất, các khoản chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện các đơn đặt hàng và do vậy có thể tính trực tiếp cho từng loại sản phẩm hay từng đơn đặt hàng thì được gọi là chi phí trực tiếp (direct costs) Ngược lại, các khoản chi phí phát sinh cho mục đích phục vụ và quản lý chung, liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ nhiều loại sản phẩm, nhiều đơn đặt hàng, cần tiến hành phân bổ cho các đối tượng sử dụng chi phí theo các tiêu thức phân bổ được gọi là chi phí gián tiếp (indirect costs) Thông thường, khoản mục chi phí NVLTT và chi phí NCTT là các khoản mục chi phí trực tiếp, còn các khoản mục chi phí SXC, chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN là chi phí gián tiếp
Cách phân loại chi phí này giúp ích cho việc xây dựng các phương pháp hạch toán và phân bổ thích hợp cho từng loại chi phí
Chi phí lặn (sunk costs)
Khái niệm chi phí lặn chỉ nảy sinh khi ta xem xét các chi phí gắn liền với các phương án hành động liên quan đến tình huống cần ra quyết định lựa chọn Chi phí lặn được hiểu là khoản chi phí đã bỏ ra trong quá khứ và sẽ hiển hiện ở tất cả mọi phương án với giá trị như nhau Hiểu một cách khác, chi phí lặn được xem như là khoản chi phí không thể tránh được cho dù người quản
lý quyết định lựa chọn thực hiện theo phương án nào Chính vì vậy, chi phí
Trang 31Chi phí chênh lệch (differential costs)
Chi phí chênh lệch (còn được gọi là chi phí khác biệt) cũng chỉ xuất hiện khi so sánh chi phí gắn liền với các phương án để quyết định lựa chọn phương án tối ưu Chi phí chênh lệch được hiểu là phần giá trị khác nhau của chi phí trong một phương án so với một phương án khác Có hai dạng chi phí chênh lệch: giá trị của những chi phí chỉ phát sinh ở phương án này mà không
có ở phương án khác, hoặc là phần chênh lệch về giá trị của cùng một loại chi phí ở các phương án khác nhau Người quản lý đưa ra các quyết định lựa chọn phương án trên cơ sở phân tích bộ phận chi phí chênh lệch này nên chi phí chênh lệch là dạng thông tin thích hợp cho việc ra quyết định
Chi phí cơ hội (Opportunity costs)
Chi phí cơ hội là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi khi lựa chọn thực hiện phương án này thay cho phương án khác Chẳng hạn, với quyết định tự
sử dụng cửa hàng để tổ chức hoạt động kinh doanh thay vì cho thuê thì thu nhập có được từ việc cho thuê cửa hàng trở thành chi phí cơ hội của phương
án tự tổ chức kinh doanh
Chi phí cơ hội là một yếu tố đòi hỏi luôn phải được tính đến trong mọi quyết định của quản lý Để đảm bảo chất lượng của các quyết định, việc hình dung và dự đoán hết tất cả các phương án hành động có thể có liên quan đến tình huống cần ra quyết định là quan trọng hàng đầu Có như vậy, phương án hành động được lựa chọn mới thực sự là tốt nhất khi so sánh với các khoản lợi ích mất đi của tất cả các phương án bị loại bỏ
Trang 3219
Tóm lại: Cho nhiều mục đích khác nhau, chi phí được xem xét theo nhiều khía cạnh khác nhau Trước hết là một sự hiểu biết chung cần có về nội dung của chi phí kết hợp với việc xem xét chức năng của nó DN đã sử dụng những loại chi phí gì và sử dụng vào các mục đích gì là những dạng thông tin nhất thiết phải có trong các báo cáo tài chính.Tuy nhiên, phục vụ tốt cho hoạt động quản lý đòi hỏi những hiểu biết kỹ lưỡng hơn về chi phí Chi phí xem xét ở giác độ kiểm soát được hay không kiểm soát được là điều kiện tiền đề cho việc thực hiện kế toán trách nhiệm Chi phí khi được nhận thức và phân biệt thành dạng chi phí không thích hợp và chi phí thích hợp cho việc ra quyết định có tác dụng lớn phục vụ cho tiến trình phân tích thông tin, ra quyết định của người quản lý Được sử dụng một cách tích cực và phổ biến nhất trong kế toán quản trị đó là cách phân loại chi phí theo cách ứng xử của nó với quy mô hoạt động Bên cạnh đó, việc phân loại chi phí thành chi phí kiểm soát được
và chi phí không kiểm soát được cũng rất hay được sử dụng Hai cách phân loại này là công cụ phù hợp với thực trạng của Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng đường bộ 26 để đánh giá trách nhiệm các đơn vị trực thuộc
1.2 PHÂN CẤP QUẢN LÝ VÀ SỰ HÌNH THÀNH CÁC TRUNG TÂM CHI PHÍ TRONG DN SẢN XUẤT
1.2.1 Phân cấp quản lý trong DN sản xuất
Khái niệm phân cấp quản lý: Phân cấp quản lý là việc người quản lý giao quyền ra quyết định cho cấp quản lý thấp hơn trong quá trình hoạt động của DN Và cấp dưới chỉ ra quyết định trong phạm vị quyền hạn được giao Như vậy, phân cấp quản lý là sự phân tán quyền cho cấp dưới, dẫn đến sự phân định rõ ràng về quyềnvà trách nhiệm trong quản lý cho cấp dưới dựa trên cơ sở cấu trúc phân quyền mà nhà quản trị đã lựa chọn
Mục đích của phân cấp quản lý:
- Là cơ sở cho việc hình thành các trung tâm trách nhiệm trong đó có trung tâm chi phí
Trang 3320
- Quyền hạn và trách nhiệm từng cấp được xác định một cách rõ ràng, nên có cơ sở khi đánh giá kết quả hoạt động của từng đơn vị, bộ phận
- Khuyến khích sự nỗ lực, chủ động, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của các đơn vị, bộ phận
- Công việc chung trong Công ty được thực hiện có hiệu quả, tránh trường hợp có việc dẫm đạp, chồng chéo lẫn nhau, có việc chẳng bộ phận nào làm
1.2.2 Sự hình thành các trung tâm chi phí
Khái niệm trung tâm chi phí: Trung tâm chi phí là một bộ phận mà các nhà quản trị nó chỉ có quyền ra quyết định đối với chi phí phát phát sinh trong
bộ phận đó [2]
Nội dung phân cấp quản lý thể hiện ở các trung tâm chi phí là:
- Nhà quản trị tại các trung tâm chi phí xác định được chính xác mức phát sinh của chi phí trong kỳ
- Nhà quản trị tại các trung tâm chi phí có thẩm quyền quyết định về sự phát sinh của nó
- Nhà quản trị ở trung tâm chi phí này không thể quyết định được chi phí ở trung tâm khác hoặc ở cấp cao hơn
Các loại trung tâm chi phí: Tùy theo tính chất của chí phí và kết quả làm ra mà người ta chia trung tâm chi phí thành trung tâm chí định mức và trung tâm chi phí tùy ý [8]
- Trung tâm chi phí định mức (Standard Cost Center): Là trung tâm có chi phí đầu vào được xác định tưng ứng với đầu ra là các sản phẩm, dịch vụ Thông thường chi phí định mức được làm căn cứ để xây dựng dự toán chi phí, trên cơ sở đó sẽ đánh giá được kết quả thực hiện so với dự toán, xác định mức hiệu quả trong hoạt động của trung tâm
Trang 3421
- Trung tâm chi phí tùy ý (Discrectionnary Expense Center): Là trung tâm chi phí không xác định được mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra hay là không thể tính được đầu ra một cách rõ ràng
1.3 LẬP DỰ TOÁN CHO CÁC TRUNG TÂM CHI PHÍ TRONG DN SẢN XUẤT
1.3.1 Lập dự toán sản xuất [2]
a Dự toán sản xuất cho toàn doanh nghiệp
Sau khi dự toán tiêu thụ đã được lập, các yêu cầu sản xuất cho kỳ dự toán có thể được xác định để phục vụ cho việc lập dự toán sản xuất Số lượng sản phẩm sản xuất ra phải đủ để thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ và cho nhu cầu tồn kho cuối kỳ
Số lượng sản
xuất trong kỳ =
Số lượng tiêu thụ trong kỳ +
Số lượng tồn kho cuối kỳ -
Số lượng tồn kho đầu kỳ
Bảng 1.1 Dự toán sản xuất Sản phẩm A – Năm N
b Dự toán sản xuất phân bổ cho từng trung tâm chi phí
Dự toán sản xuất phân bổ cho từng trung tâm chi phí trước hết phải quan tâm đến cấu trúc tổ chức của DN để qua đó xem xét tiềm năng của từng trung tâm Các nhân tố quan trọng cần xem xét khi thực hiện công việc này là khả năng dự trữ tồn kho, lực lượng lao động của các trung tâm chi phí, sự phù hợp với mức trang bị TSCĐ Đối với một số loại hình sản xuất có ảnh hưởng của yếu tố thiên nhiên, khi lập dự toán tại các trung tâm chi phí còn phải chú
ý đến tính thời vụ của sản phẩm
Trang 3522
1.3.2 Dự toán chi phí sản xuất
a Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Dự toán sản xuất sau khi đã được lập xong, dự toán chi phí NVLTT sẽ được lập Dự toán NVLTT gồm: lượng nguyên vật liệu định mức tiêu hao và đơn giá xuất nguyên vật liệu
Dự toán chi phí
Dự toán lượng nguyên vật liệu tiêu
hao
X Đơn giáxuất
nguyên vật liệu Trong đó:
Dự toán lượng nguyên
vật liệu tiêu hao =
Định mứciêu hao nguyên vật liệu X
Số lượng sản phẩm sản xuất theo dự toán
Bảng 1.2 Dự toán chi phí NVL trực tiếp
b Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí NCTT cũng được lập dựa trên dự toán sản xuất Dự toán chi phínhân công trực tiếp bao gồm: định mức lao động để sản xuất sản phẩm và đơn giátiền công theo giờ lao động hoặc theo sản phẩm
m i
j ij n j
i M G Q
i i
i L Q CPNCTT
Với: Mij là mức hao phí lao động trực tiếp loại j để sản xuất một sản phẩm i
Gj là đơn giá lương thời gian của lao động loại j
Li là đơn giá lương sản phẩm
Trang 36c Dự toán chi phí máy thi công
Dự toán chi phí máy thi công cũng được lập dựa trên dự toán sản xuất
Dự toán chi phí máy thi công gồm: Số ca máy sử dụng và đơn giá ca máy thi công
Dự toán chi phí
máy thi công =
Dự toán số ca máy thi công sử dụng X
Đơn giá ca máy thi công Trong đó:
Dự toán số ca máy thi
Dự toán khối lượng công việc cần thực hiện Khối lượng công việc thực hiện được trong
một ca máy Đơn giá ca máy:
Trong trường hợp DN phải thuê máy thi công
Đơn giá ca máy = Đơn giá thuê máy ghi trên hóa đơn
+ Trong trường hợp sử dụng máy thi công của DN
Đơn giá
ca máy =
Chi phí nhiên liệu/1 ca máy +
Chi phí nhân công/1 ca máy +
Chi phí khấu hao, sửa chữa /1 ca máy
Trang 371 Khối lượng công việc cần thực hiện
2 Khối lượng công việc thực hiện trong 1 ca
máy
3 Số ca máy sử dụng (3)=(1)/(2)
4 Đơn giá ca máy thi công
5 Tổng chi phí máy thi công (5)=(3)x(4)
d Dự toán chi phí sản xuất chung
Dự toán chi phí SXC được lập theo định phí và biến phí SXC
Dự toán định
phí SXC =
Định phí SXC thực tế kỳ trước x
Tỷ lệ % tăng (giảm) định phí SXC theo dự kiến
Dự toán biến phí
Dự toán biến phí đơn vị SXC X
Sản lượng sản xuất theo dự toán Trong đó, dự toán biến phí đơn vị SXC được tính bằng tổng các biến phí SXC tính trên một đơn vị sản phẩm theo dự toán như chi phí điện, nước, sửa chữa máy móc, nguyên vật liệu dùng chung cho sản xuất, công cụ, dụng cụ
Dự toán biến phí SXC cũng có thể được lập theo tỷ lệ biến phí SXC trên biến phí trực tiếp, khi đó biến phí SXC dự toán sẽ xác định:
Dự toán biến phí
SXC
= Dự toán biến phí trực tiếp X
Tỷ lệ biến phí SXC trên biến phí trực tiếp
Trang 381 Sản lượng sản xuất theo dự toán
2 Dự toán biến phí đơn vị sản xuất chung
3 Biến phí sản xuất chung (3) = (1) x (2)
4 Định phí sản xuất chung
5 Tổng chi phí SXC (5) = (3) + (4)
1.3.3 Dự toán linh hoạt
a Sự cần thiết của dự toán linh hoạt
Khi DN lập dự toán dựa trên một mức hoạt động cụ thể thì dự toán này được gọi là dự toán tĩnh Dự toán tĩnh không phù hợp với việc phân tích và kiểm soát chi phí, nhất là chi phí SXC, bởi vì mức hoạt động thực tế thường
có sự khác biệt so với mức hoạt động dự toán Chính vì vậy, cần xây dựng một loại dự toán có thể đáp ứng được yêu cầu phân tích trong trường hợp có
sự biến động về mức hoạt động, đó chính là dự toán linh hoạt
b Trình tự lập dự toán linh hoạt [2]
Dự toán linh hoạt được xây dựng dựa trên mô hình ứng xử của chi phí Trình tự lập dự toán linh hoạt có thể khái quát qua các bước như sau:
Bước 1: Xác định phạm vi phù hợp cho đối tượng được lập dự toán Bước 2: Xác định ứng xử của chi phí, tức phân loại chi phí thành biến
phí, định phí Đối với chi phí hỗn hợp, cần phải phân tích thành biến phí và định phí
Bước 3: Xác định biến phí đơn vị dự toán Trong đó:
toán
Trang 3926
Bước 4: Xây dựng dự toán linh hoạt, cụ thể:
- Đối với biến phí:
Tổng biến phí đã
điều chỉnh =
Mức hoạt động thực tế X
Dự toán linh hoạt Mức
sản lượng thấp
Mức sản lượng bình thường
Mức sản lượng bi quan
Bước 1: Xác định đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành
Đối tượng tính giá thành là kết quả của quá trình sản xuất hoặc quá
trình cung cấp dịch vụ cần được tính giá thành để phục vụ các yêu cầu của quản lý Xác định đối tượng tính giá thành thường gắn với yêu cầu của nhà
Trang 4027
quản trị về kiểm soát chi phí, định giá bán và xác định kết quả kinh doanh về một đối tượng, một hoạt động nào đó Trong doanh nghiệp sản xuất, đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm, bán thành phẩm, công việc hoàn thành qua quá trình sản xuất Trong doanh nghiệp dịch vụ, đối tượng tính giá thành có thể là một chương trình, một hoạt động kinh doanh nào đó
Đối tượng tập hợp chi phí là phạm vi được xác định trước để tập hợp
chi phí Xác định đối tượng tập hợp chi phí thực chất là xác định giới hạn các
bộ phận chịu chi phí hoặc các đối tượng chịu chi phí làm cơ sở cho việc tổ chức tập hợp chi phí phục vụ tính giá thành Thực chất nó là :
- Nơi phát sinh chi phí: phân xưởng, đội, sản xuất, bộ phận chức năng
- Nơi gánh chịu chi phí: sản phẩm, công việc, lao vụ do doanh nghiệp sản xuất, đơn đặt hàng, công trình, hạng mục công trình
Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành có mối quan hệ với nhau trong hệ thống tính giá thành ở đơn vị Nếu đối tượng tập hợp chi phí cần xác định là bước khởi đầu cho quá trình tập hợp chi phí thì đối tượng tính giá thành gắn liền với việc thực hiện các kỹ thuật tính giá thành Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là tiền đề, điều kiện để tính giá thành theo các đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp Vì trong thực tế, một đối tượng kế toán tập hợp chi phí bao gồm nhiều đối tượng tính giá thành sản phẩm và ngược lại một đối tượng tính giá thành có thể bao gồm nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất hay trong một số trường hợp, đối tượng tập hợp chi phí trùng với đối tượng tính giá thành Mặt khác, mối quan hệ giữa hai đối tượng sẽ qui định việc lựa chọn phương pháp và kỹ thuật tính giá thành
Bước 2: Tổ chức tập hợp, kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất
theo đúng đối tượng kế toán tập hợp chi phí bằng phương pháp thích hợp
Chi phí sản xuất phát sinh ở các địa điểm khác nhau thì có nội dung