1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch sản xuất tại nhà máy An Hải - công ty cổ phần thủy sản Bình Định

124 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 916,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Xây dựng kế hoạch là khâu đầu tiên trong chu trình quản trị doanh nghiệp với việc phác thảo nhiệm vụ và phương án thực hiện góp phần quan trọng vào việc xác đị

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

LÊ THỊ NHƯ SƯƠNG

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XÂY DỰNG

KẾ HOẠCH SẢN XUẤT TẠI NHÀ MÁY AN HẢI - CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN BÌNH ĐỊNH

Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh

Mã số: 60.34.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thanh Liêm

Đà Nẵng - Năm 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

LÊ THỊ NHƯ SƯƠNG

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục đề tài 3

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH SẢN XUẤT TẠI DOANH NGHIỆP 6

1.1 HỆ THỐNG KẾ HOẠCH SẢN XUẤT CỦA DOANH NGHIỆP 6

1.1.1 Phân loại kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp 6

1.1.2 Kế hoạch sản xuất năm 11

1.2 VỊ TRÍ CỦA KẾ HOẠCH SẢN XUẤT TRONG KẾ HOẠCH SẢN XUẤT – KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 19

1.2.1 Khái niệm kế hoạch sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp 19

1.2.2 Các bộ phận của kế hoạch sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp 19

1.2.3 Vị trí của kế hoạch sản xuất 26

1.3 QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG KẾ HOẠCH SẢN XUẤT 30

1.3.1 Quy trình xây dựng kế hoạch sản xuất hàng năm 30

1.3.2 Một số phương pháp xây dựng kế hoạch sản xuất 33

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH SẢN XUẤT TẠI NHÀ MÁY AN HẢI 41

2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NHÀ MÁY AN HẢI CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN BÌNH ĐỊNH 41

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 41

2.1.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh 43

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Nhà máy An Hải 44

2.1.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của Nhà máy trong những năm gần đây 58

Trang 4

2.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CÔNG TÁC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH

SẢN XUẤT CỦA NHÀ MÁY AN HẢI 61

2.2.1 Hệ thống sản phẩm của nhá máy An Hải 61

2.2.2 Đặc điểm về thị trường 62

2.2.3 Quy trình công nghệ sản xuất và trang thiết bị máy móc 62

2.2.4 Nguyên liệu chính dùng trong sản xuất và nguồn cung ứng 64

2.2.5 Định mức tiêu hao nguyên vật liệu 65

2.2.6 Đặc điểm nguồn nhân lực của Nhà máy 66

2.3 HỆ THỐNG KẾ HOẠCH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA NHÀ MÁY 67

2.3.1 Kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn của Nhà máy 67

2.3.2 Kế hoạch sản xuất kinh doanh ngắn hạn của Nhà máy 68

2.4 QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG KẾ HOẠCH SẢN XUẤT TẠI NHÀ MÁY AN HẢI 68

2.4.1 Quy trình xây dựng kế hoạch sản xuất 68

2.4.2 Các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất và phương pháp tính 73

2.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH SẢN XUẤT TẠI NHÀ MÁY AN HẢI 75

2.5.1 Những ưu điểm trong công tác xây dựng kế hoạch sản xuất 77

2.5.2 Những hạn chế trong công tác xây dựng kế hoạch sản xuất 79

CHƯƠNG 3 : ĐỊNH HƯỚNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH SẢN XUẤT TẠI NHÀ MÁY AN HẢI 83

3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ MÁY AN HẢI -CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN BÌNH ĐỊNH 83

3.2 CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH SẢN XUẤT TẠI NHÀ MÁY AN HẢI 84

3.2.1 Lập kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu hàng năm của Nhà máy 84

3.2.2 Xây dựng chính sách nghiên cứu và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm tạo điều kiện chủ động trong công tác xây dựng kế hoạch sản xuất 86

Trang 5

3.2.3 Nâng cao chất lượng công tác dự báo nhu cầu thị trường 90

3.2.4 Hoàn thiện hệ thống định mức xây dựng kế hoạch sản xuất 94

3.2.5 Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng kế hoạch sản xuất 98 3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 101

3.3.1 Một số kiến nghị với Nhà nước 101

3.3.2 Kiến nghị với Công ty cổ phần thủy sản Bình Định 106

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao) PHỤ LỤC 111

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Bảng 2.1 Bảng Kết quả hoạt động Sản Xuất Kinh Doanh của Nhà

máy An Hải giai đoạn 2009 -2011 111

Bảng 2.2 Bảng số liệu về tổng doanh thu, chi phí và lợi nhuận trong

3 năm 2009, 2010, 2011 112 Bảng 2.3 Bảng số liệu danh mục máy móc thiết bị 113 Bảng 2.4 Định mức tiêu hao nguyên liệu cho 1 kg cá thành phẩm 115 Bảng 2.5 Đặc điểm lao động của Nhà máy trong giai đoạn 2009-2011 116 Bảng 2.6 Giá bình quân sản phẩn thủy sản 117

Trang 7

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Số hiệu

1.1 Sơ đồ kế hoạch sản xuất hang năm của doanh nghiệp 17 1.2 Sơ đồ cấu trúc hình cây 40 2.1 Quy trình công nghệ chế biến 44 2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý 47 2.3 Mô hình quản lý của Nhà máy chế biến An Hải 54 2.4 Sơ đồ tổ chức của Nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu An Hải 56 2.5 Sơ đồ khối quy trình sản xuất 57 2.6 Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất các mặt hàng thủy sản 63 2.7 Sơ đồ quy trình xây dựng kế hoạch sản xuất của Nhà máy

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng kế hoạch là khâu đầu tiên trong chu trình quản trị doanh nghiệp với việc phác thảo nhiệm vụ và phương án thực hiện góp phần quan trọng vào việc xác định đúng các mục tiêu, hướng đi, xác lập, đánh giá, lựa chọn các phương án phối hợp các nguồn lực bên trong và bên ngoài để thực hiện thành công các mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Kế hoạch là căn cứ cho công tác tổ chức, quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhiệm vụ của công tác xây dựng kế hoạch là hoạch định các tác nghiệp kinh tế trong doanh nghiệp và hướng tới cực tiểu hoá chi phí, tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu của doanh nhiệp Vì vậy nó chú trọng vào các hoạt động hiệu quả và đảm bảo tính phù hợp Kế hoạch thay thế sự manh mún, không được phối hợp bằng sự nỗ lực chung, thay thế những luồng hoạt động bất thường bởi một luồng đều đặn có tính ổn định cao và thay thế những phán xét vội vàng bằng những quyết định có cân nhắc kỹ lưỡng Ở phạm vi doanh nghiệp, vai trò của kế hoạch đối với các hoạt động tác nghiệp kinh tế càng rõ nét Quá trình sản xuất sản phẩm và dịch vụ thường được chia thành nhiều công đoạn, nhiều chi tiết có liên quan chặt chẽ, mang tính dây chuyền với nhau, quá trình đó cần phải được phân chia thành các tác nghiệp kinh tế, kỹ thuật chi tiết theo thời gian và không gian Công tác xây dựng kế hoạch trong doanh nghiệp tạo cơ sở cho việc nhìn nhận khoa học các nội dung hoạt động có liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình tiến tới mục tiêu sản xuất sản phẩm

và dịch vụ cuối cùng Trên nền tảng đó các nhà quản trị thực hiện việc phân công, điều độ, tổ chức các hoạt động cụ thể, chi tiết theo đúng trình tự, đảm bảo cho quá trình sản xuất ổn định ít bị rối loạn và ít bị tốn kém

Nhà máy An Hải – Công ty cổ phần Thủy Sản Bình Định là đơn vị chuyên sản xuất chế biến hàng thủy sản Sản phẩm chính của nhà máy là Cá Ngừ Đại Dương, Cá Đen, Cá Dũa, Cá Cờ Gòn, Cá Thu Hủ…

Trang 9

Với nhận thức về tầm quan trọng của công tác xây dựng kế hoạch sản xuất trong việc xác định cơ hội và thách thức của doanh nghiệp trong tiến trình nước ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới và mong muốn áp dụng những kiến thức đã được học tập, nghiên cứu có thể vận dụng vào thực tiễn ở doanh nghiệp mình góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá hiện đại

hoá của đất nước do đó em chọn đề tài “Hoàn thiện công tác xây dựng kế

hoạch sản xuất tại Nhà máy An Hải – Công ty cổ phần Thủy Sản Bình Định để viết luận văn

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hoá lý luận về công tác xây dựng kế hoạch sản xuất, tiến hành phân tích thực trạng công tác xây dựng kế hoạch sản xuất tại một doanh nghiệp để từ đó đề xuất về giải pháp hoàn thiện

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu công tác xây dựng kế hoạch sản xuất hàng năm của doanh nghiệp: Nhà máy An Hải – Công ty cổ phần thủy sản Bình Định

Kế hoạch sản xuất là một lĩnh vực rộng liên quan đến nhiều lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, để đáp ứng yêu cầu của chuyên ngành quản trị kinh doanh và phù hợp với thực tế tại doanh nghiệp, xác định lựa chọn phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác xây dựng kế hoạch sản xuất Nhà máy An Hải – Công ty cổ phần Thủy Sản Bình Định

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích và tổng hợp:

- Tổng hợp lý luận chung về kế hoạch sản xuất trong doanh nghiệp

- Phân tích thực trạng công tác xây dựng kế hoạch sản xuất tại Nhà máy

An Hải – Công ty cổ phần thủy sản Bình Định

Trên cơ sở lý luận chung, tổng hợp lại những ưu nhược điểm để đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch sản xuất của Nhà máy

Trang 10

- Những đóng góp chính của đề tài

Việc nghiên cứu thực trạng công tác xây dựng kế hoạch sản xuất tại Nhà máy An Hải – Công ty Cổ phần thủy sản Bình Định từ trước đến nay

chưa có ai thực hiện Vì vậy, đề tài “Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch

sản xuất tại Nhà máy An Hải – Công ty cổ phần thủy sản Bình Định” có

những đóng góp sau:

- Hệ thống hoá lý luận chung về xây dựng kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp trong đó có đi sâu vào những đặc thù xây dựng kế hoạch sản xuất của một doanh nghiệp chế biến thủy sản

- Phân tích thực trạng công tác xây dựng kế hoạch sản xuất tại Nhà máy

An Hải – Công ty cổ phần thủy sản Bình Định, chỉ ra những ưu điểm cũng như những hạn chế trong công tác xây dựng kế hoạch của nhà máy

- Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch sản xuất của Nhà máy An Hải

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Khi thực hiện nghiên cứu đề tài này, tác giả đã tham khảo một số tài liệu về Quản trị sản xuất và quản trị doanh nghiệp, kết hợp tham khảo luận văn Thạc sỹ với các đề tài có liên quan đã được bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng

và Trường Đại Học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

Trang 11

Tại Việt Nam, bất kỳ công ty nào cũng cần hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch sản xuất để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Điển hình, trong một số luận văn về đề tài hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch sản xuất tại nhà máy, nội dung luận văn muốn đánh giá thực trạng hiện tại của nhà máy, và từ đó đưa ra những giải pháp và đánh giá giải pháp bằng cách tìm

ra những ưu điểm và nhược điểm của nó, từ đó tìm ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác xây dựng kế hoach sản xuất Bên cạnh cơ sở lý luận chung, mỗi đề tài còn có những điểm riêng khác biệt tùy vào bối cảnh, đặc thù

và mô hình hoạt động của nhà máy mà các tác giả đã đưa vào cơ sở lý luận nhằm tìm ra giải pháp phù hợp với tình hình hoạt động của đơn vị

- Đề tài "Hoàn Thiện công tác xây dựng kế hoạch sản xuất tại Nhà máy

An Hải - Công ty cổ phần thủy sản Bình Định" của học viên Lê thị Như Sương thuộc Đại học Đà Nẵng đã sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp chuyên gia, phương pháp phân tích và tổng hợp trên cơ sở đó đưa ra những nội dung cần hoàn thiện phù hợp với khả năng thực hiện được Vì đặc thù công ty thuộc ngành chế biến thủy sản nên phạm

vi nghiên cứu của đề tài là nghiên về các hoạt động sản xuất, mục đích của đề tài là nâng cao được năng lực sản xuất, giảm chi phí, hạ giá thành nâng cao hoạt động sản xuất với khoa học công nghệ hiện đại và phát triển của đất nước hiện nay

Qua tài liệu và thời gian làm việc tại công ty Công ty cổ phần thủy sản Bình Định với mô hình hoạt động phức tạp thuộc ngành sản xuất chế biến thủy sản biết bao nhiêu thách thức của các thị trường về đảm bảo chất lượng

vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu: phương pháp quan sát, phương pháp chuyên gia, để từ đó phân tích tổng hợp các vấn đề lý luận, thực trạng và áp dụng phương pháp định vị và chiến lược cụ thể về việc hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch sản xuất

Trang 12

Đây là đề tài ứng dụng, tác giả hy vọng đóng góp những nội dung về giải pháp đề áp dụng vào sự phát triển công ty đạt hiệu quả hơn để thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại lợi nhuận tốt cho doanh nghiệp

Xây dựng kế hoạch sản xuất là phát triển các kế hoạch sản xuất nhằm biến đổi khả năng sản xuất phù hợp với yêu cầu một cách hiệu quả Sự cần thiết phải lập kế hoạch là do yêu cầu khách quan phải có một tầm nhìn đủ xa trong tương lai thấy trước các biến đổi của nhu cầu và chủ động chuẩn bị khả năng sản xuất, đáp ứng nhu cầu Hơn nữa, các nhu cầu dự đoán thường không chính xác, cần phải xây dựng chiến lược trong quản trị sản xuất cũng phải chủ động xác định mức sản xuất tương lai để giảm bớt rủi ro

Tuy nhiên, các vấn đề về công tác xây dựng kế hoạch sản xuất còn khá mới mẻ về lý luận cũng như thực tiễn áp dụng trong các doanh nghiệp Việt Nam Vì vậy, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế trong quá trình nghiên cứu và đề xuất nên tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của quý thầy cô, các nhà nghiên cứu và các bạn để tác giả hoàn thiện luận văn hơn

Trang 13

CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH SẢN XUẤT TẠI DOANH NGHIỆP 1.1 HỆ THỐNG KẾ HOẠCH SẢN XUẤT CỦA DOANH NGHIỆP

1.1.1 Phân loại kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp

Nếu lấy các mốc thời gian theo lịch để xây dựng kế hoạch sản xuất thì doanh nghiệp xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất theo 3 hình thức cơ bản là: Kế hoạch sản xuất dài hạn, kế hoạch sản xuất trung hạn, kế hoạch sản xuất ngắn hạn

Kế hoạch sản xuất dài hạn

- Khái niệm: Kế hoạch sản xuất dài hạn của doanh nghiệp là những kế hoạch sản xuất được doanh nghiệp xây dựng cho khoảng thời gian từ 3 đến 5 năm hoặc xa hơn nữa Do yêu cầu thực tế khách quan doanh nghiệp phải xây dựng kế hoạch sản xuất dài hạn để thực hiện một số nhiệm vụ cần giải quyết trong thời gian dài như kế hoạch đầu tư đổi mới công nghệ nâng cao trình độ

kỹ thuật và hiệu quả sản xuất.v.v

- Nội dung chủ yếu của kế hoạch sản xuất dài hạn: Kế hoạch sản xuất dài hạn của doanh nghiệp là nhằm thực hiện những mục tiêu, định hướng chiến lược phát triển doanh nghiệp Nội dung của kế hoạch sản xuất dài hạn phải xác định được những chỉ tiêu chính: Sản phẩm, cơ cấu sản phẩm và giá trị sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp; Các tiến bộ về đổi mới kỹ thuật, công nghệ, năng suất lao động; Vốn đầu tư cho mở rộng, phát triển sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch

- Vai trò của kế hoạch sản xuất dài hạn: Kế hoạch sản xuất dài hạn là cơ

sở để các nhà lãnh đạo doanh nghiệp hoạch định chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là một trong những nội dung quan trọng trong việc triển khai thực hiện chiến lược phát triển của doanh nghiệp Vì vậy mục

Trang 14

tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch sản xuất dài hạn bao trùm lên tất cả các hoạt động chính của doanh nghiệp Việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch sản xuất dài hạn tập trung vào các lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến tương lai của doanh nghiệp chính vì vậy mà vai trò của kế hoạch sản xuất dài hạn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vị thế, sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp

Kế hoạch sản xuất trung hạn

- Khái niệm: Kế hoạch sản xuất trung hạn của doanh nghiệp là những kế hoạch sản xuất có thời hạn từ 1 đến 3 năm Kế hoạch sản xuất trung hạn của doanh nghiệp được xây dựng trên cơ sở định hướng của kế hoạch sản xuất dài hạn nhằm cụ thể hoá những mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch sản xuất dài hạn

- Nội dung chủ yếu của kế hoạch sản xuất trung hạn: Nội dung chủ yếu của kế hoạch sản xuất trung hạn là triển khai thực hiện các mục tiêu của kế hoạch sản xuất dài hạn Doanh nghiệp tự quyết định thứ tự ưu tiên triển khai thực hiện các nhiệm vụ để hoàn thành mục tiêu của kế hoạch sản xuất dài hạn

đề ra tuỳ theo tình hình môi trường kinh doanh và phù hợp với điều kiện thực

tế tại doanh nghiệp

- Vai trò của kế hoạch sản xuất trung hạn: Kế hoạch sản xuất trung hạn là một bước đi nhằm cụ thể hoá những mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch sản xuất dài hạn và là cơ sở để xác định những nhiệm vụ, chỉ tiêu chi tiết, cụ thể của kế hoạch sản xuất ngắn hạn Việc triển khai thực hiện kế hoạch sản xuất trung hạn có ý nghĩa quyết định đến thành công của kế hoạch sản xuất dài hạn Trên cơ sở kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất trung hạn, doanh nghiệp

sẽ có những giải pháp điều chỉnh phù hợp với thị trường và điều kiện năng lực thực tế sản xuất để thực hiện thành công kế hoạch sản xuất dài hạn

Trang 15

Kế hoạch sản xuất ngắn hạn

- Khái niệm: Kế hoạch sản xuất ngắn hạn là những kế hoạch sản xuất được xây dựng cho thời gian ngắn hạn 1 năm và dưới 1 năm như kế hoạch năm, quý, tháng, tuần, ngày, ca, giờ Kế hoạch sản xuất ngắn hạn còn được gọi là kế hoạch sản xuất hàng năm Kế hoạch sản xuất hàng năm của doanh nghiệp thường gắn với kế hoạch tiêu thụ và được gọi là kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Kế hoạch sản xuất hàng năm do các nhà quản trị cao cấp của doanh nghiệp hoạch định còn kế hoạch sản xuất ngắn hạn dưới 1 năm thường do những nhà quản trị tác nghiệp ở các phân xưởng, tổ hoặc đội sản xuất của doanh nghiệp xây dựng

- Nội dung chủ yếu của kế hoạch sản xuất ngắn hạn: So với kế hoạch sản xuất dài hạn, trung hạn, nội dung của kế hoạch sản xuất hàng năm mang tính chất toàn diện và cụ thể hơn về các mặt sản xuất trong toàn doanh nghiệp Nội dung chủ yếu của kế hoạch sản xuất ngắn hạn tập trung chủ yếu vào 3 lĩnh vực chính là: năng suất lao động; quy mô nhân lực; lượng hàng tồn kho Năng suất lao động được thể hiện qua các chỉ tiêu: số lượng từng loại sản phẩm được sản xuất trong toàn doanh nghiệp; giá trị sản lượng hàng hoá và tổng giá trị sản lượng; mức độ sử dụng khai thác máy móc trang thiết bị, nhà xưởng Quy mô nhân lực được thể hiện qua chỉ tiêu quy mô, số lượng lao động huy động cho kế hoạch sản xuất trong kỳ Lượng hàng tồn kho được thể hiện qua mức tồn kho cuối kỳ kế hoạch của từng loại thành phẩm, từng loại bán thành phẩm và từng loại vật tư, nguyên nhiên vật liệu

- Vai trò của kế hoạch sản xuất ngắn hạn Trong ngắn hạn năng lực sản xuất của doanh nghiệp là cái có sẵn, cố định có thể hoạch định một cách chính xác và phụ thuộc vào tính chất phương thức sản xuất tích trữ hàng, thuộc yếu

tố tiềm năng Trong ngắn hạn do chi phí khấu hao trang thiết bị nhà xưởng cao, vì vậy vai trò của kế hoạch sản xuất ngắn hạn là vô cùng quan trọng đối

Trang 16

với doanh nghiệp Mặt khác, kế hoạch sản xuất ngắn hạn là công cụ quản lý giúp doanh nghiệp thực hiện tốt công tác quản trị quá trình sản xuất góp phần tiết kiệm các nguồn lực cần thiết trong sản xuất, giảm giá thành, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và tạo nên vị thế và sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

Kế hoạch sản xuất dài hạn, kế hoạch sản xuất trung hạn và kế hoạch sản xuất ngắn hạn có mối liên hệ hữu cơ mật thiết với nhau, kế hoạch ngắn hạn là

kế hoạch bộ phận và phải có đóng góp cho việc thực hiện kế hoạch dài hạn

Vì vậy, trong việc triển khai thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ của ba loại kế hoạch sản xuất dài hạn, trung hạn và ngắn hạn cần phải tập trung vào việc giải quyết các mối quan hệ giữa các loại kế hoạch theo thời gian để làm cho chúng phải được liên kết chặt chẽ với nhau, không được phủ nhận nhau Kế hoạch sản xuất dài hạn giữ vai trò trung tâm chỉ đạo trong hệ thống kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp và là cơ sở để xây dựng những nhiệm vụ và nội dung của kế hoạch sản xuất trung hạn, ngắn hạn Mặt khác, thông qua việc xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất hàng năm có thể phát hiện được những chỗ chưa cân đối, không hợp lý của kế hoạch sản xuất dài hạn để kịp thời có những điều chỉnh, giải pháp thích hợp với điều kiện thực tế khách quan Như vậy, xét về tổng thể kế hoạch sản xuất hàng năm không phải là một bộ phận mang tính chất tỷ lệ đơn thuần, máy móc của kế hoạch sản xuất trung hạn và dài hạn

Trong điều kiện môi trường kinh doanh hiện nay những tiến bộ nhanh chóng về kinh tế, xã hội dẫn đến sự biến đổi không ngừng của nhu cầu, thị trường luôn biến động, sự phát triển của khoa học công nghệ làm cho chu kỳ thay đổi công nghệ, vòng đời của sản phẩm ngày càng ngắn v.v và đặc biệt

là trong nền kinh tế tri thức việc tiếp cận và phổ biến các thành tựu khoa học

kỹ thuật trên toàn cầu luôn được cập nhật hàng ngày, giờ thậm chí từng phút

Trang 17

Vì vậy, việc phân chia thời hạn của các kế hoạch sản xuất theo lịch thời gian chỉ mang tính tương đối Một số ngành có tốc độ phát triển nhanh như điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin, thời trang v.v thì thời hạn 1 năm cũng là quá dài Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp chủ động trong công tác xây dựng kế hoạch sản xuất của mình trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp, tốc độ phát triển của ngành, chế độ chính sách của Nhà nước, mức độ cạnh tranh trên thị trường, nhu cầu khách hàng v.v Vì vậy, độ dài thời gian kế hoạch đối với doanh nghiệp chỉ mang tính tương đối

Kế hoạch sản xuất không theo thời gian

- Kế hoạch sản xuất không theo thời gian của doanh nghiệp thường được gọi với tên gọi là dự án, chương trình hoặc hợp đồng Đó là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau được tổ chức theo một trật tự lôgíc nhằm thực hiện những mục tiêu cụ thể trong khoảng thời gian xác định và được thực hiện bằng những giới hạn nguồn lực như nhân lực và tài lực Thời gian thực hiện các kế hoạch này rất khác nhau phụ thuộc vào khối lượng công việc, mức độ phức tạp, ý chí của doanh nghiệp, .thời gian thực hiện có thể vài ngày hoặc có thể kéo dài hàng năm, thậm chí vài năm

- Lập kế hoạch cho dự án, chương trình hay hợp đồng sản xuất là cụ thể hoá những mục tiêu đã được hoạch định thành các nhiệm vụ cụ thể và xây dựng các chương trình thực hiện các nhiệm vụ Vì vậy, kế hoạch chủ yếu tập trung hướng vào việc phân bổ thời gian và các nguồn lực để thực hiện Nhiệm

vụ của lập kế hoạch là phải xác định rõ những nội dung sau:

+ Mục tiêu cụ thể của dự án, chương trình hay hợp đồng

+ Cần thực hiện những nhiệm vụ, hoạt động cụ thể gì để thực hiện các mục tiêu

+ Các nhiệm vụ, hoạt động cần được thực hiện theo thời gian và trình tự như thế nào, khi nào cần tiến hành và khi nào cần kết thúc

Trang 18

+ Tiến độ thực hiện: Thời gian sớm nhất có thể hoàn thành kế hoạch; Những nhiệm vụ, hoạt động nào có vai trò quan trọng quyết định tới tiến độ thực hiện kế hoạch; Những nhiệm vụ, hoạt động nào có thể lùi lại mà không ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện kế hoạch và thời gian trì hoãn có thể là bao nhiêu lâu

+ Kế hoạch chỉ đạo và cân đối năng lực sản xuất: Xác định lịch trình thực hiện các nhiệm vụ của kế hoạch và để thực hiện các nhiệm vụ thì tại từng thời điểm, giai đoạn cần những loại nguồn lực gì (trang thiết bị, nhân lực, tài chính, diện tích thi công, ) với số lượng, khối lượng là bao nhiêu và nguồn cung cấp

+ Chi phí: Chi phí cần thiết để thực hiện kế hoạch, chi phí dự phòng trượt giá, tỷ giá hối đoái, biến động của thị trường, ; Chi phí tăng thêm khi cần đẩy nhanh tiến độ rút ngắn thời gian thực hiện kế hoạch và lợi ích của việc rút ngắn thời gian thực hiện; Chi phí, thiệt hại khi kế hoạch bị kéo dài thời gian thực hiện

1.1.2 Kế hoạch sản xuất năm

Khái niệm

- Kế hoạch sản xuất hàng năm của doanh nghiệp còn được gọi là kế hoạch sản xuất tổng hợp, thời gian kế hoạch của nó thường là một năm, vì vậy rất nhiều doanh nghiệp còn gọi là kế hoạch sản xuất năm

- Các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch sản xuất năm: Khối lượng sản xuất cho từng loại sản phẩm; Các sản phẩm khác nhau được sản xuất tại mỗi đơn

vị sản xuất ( nhà máy, phân xưởng, dây chuyền, tổ sản xuất v.v ); Lượng dự trữ cần thiết đối với thành phẩm và bán thành phẩm; Sử dụng các yếu tố sản xuất; Cung ứng nguyên vật liệu và bán thành phẩm; Các kế hoạch thuê ngoài (gia công )

Trang 19

- Cơ sở để xây dựng kế hoạch sản xuất năm: Dự báo mức tiêu thụ sản phẩm, đơn đặt hàng của khách hàng, nhu cầu dự phòng của khách hàng và các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch; Khả năng cung ứng nguyên vật liệu; Mức tồn kho thành phẩm, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang; Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và năng lực sản suất tại các khâu, đơn vị sản xuất của doanh nghiệp; Số lượng lao động có thể huy động trong kỳ kế hoạch; Chi phí sản xuất và các ràng buộc khác

Các bộ phận của kế hoạch sản xuất hàng năm

Kế hoạch sản xuất hàng năm của doanh nghiệp bao gồm các kế hoạch chức năng tương quan lẫn nhau: Kế hoạch năng lực sản xuất; Kế hoạch nhu cầu nguyên nhiên vật liệu; Kế hoạch tác nghiệp

Kế hoạch năng lực sản xuất

- Khái niệm: Trong ngắn hạn năng lực sản xuất của doanh nghiệp là cố định, vì vậy kế hoạch năng lực sản xuất trong kế hoạch sản xuất năm là kế hoạch khai thác sử dụng trang thiết bị sẵn có của doanh nghiệp Kế hoạch năng lực sản xuất phản ánh năng lực sản xuất mà doanh nghiệp mong muốn đạt được trong điều kiện xác định về trang thiết bị, nhà xưởng hiện có, chủng loại sản phẩm, phương pháp sản xuất, điều kiện duy tu bảo dưỡng và các yêu cầu về chất lượng sản phẩm Kế hoạch năng lực sản suất là cầu nối giữa kế hoạch sản xuất và kế hoạch nhu cầu nguyên nhiên vật liệu và là sự đảm bảo của kế hoạch sản xuất Đối với hầu hết các doanh nghiệp năng lực sản xuất được xác định trực tiếp bằng số lượng sản phẩm tối đa trong một khoảng thời gian nhất định ngày, giờ, phút v.v Tuy nhiên việc xác định năng lực sản xuất khó khăn hơn đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ

- Các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch năng lực sản xuất: Mục tiêu của kế hoạch năng lực sản xuất là tận dụng cao nhất năng lực sản xuất của tài sản cố

Trang 20

định của doanh nghiệp sao cho chi phí khinh doanh không tải là nhỏ nhất có thể Vì vậy, các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch năng lực sản xuất là: Mức độ

sử dụng và mức hiệu quả của hệ thống sản xuất Mức độ sử dụng là tỷ lệ phần trăm của công suất thiết kế đang được huy động để sản xuất ra sản phẩm Còn mức hiệu quả là tỷ lệ phần trăm của công suất thực tế hiện đang được huy động

Mức độ sử dụng = ( Công suất thực tế/ Công suất thiết kế ) x 100% Mức hiệu quả = ( Công suất thực tế/ Công suất hiệu quả ) x 100% Trong thực tế các doanh nghiệp sử dụng các trang thiết bị ở mức thấp hơn công suất lý thuyết vì họ cho rằng hiệu quả hoạt động sẽ tốt hơn khi các nguồn lực của doanh nghiệp không bị căng ra tới mức tới hạn và được gọi là công suất thực tế Trong thực tế tại các doanh nghiệp công suất thiết kế khó huy động được 100%, do vậy năng lực sản xuất thường được đánh giá qua mức hiệu quả sử dụng

- Cơ sở để xây dựng kế hoạch năng lực: Kế hoạch năng lực sản xuất phản ánh mức độ khả thi của kế hoạch sản xuất Để xây dựng kế hoạch năng lực sản xuất doanh nghiệp phải căn cứ vào các yếu tố chính của quá trình sản xuất: Công suất thiết kế của trang thiết bị mà doanh nghiệp có thể huy động vào quá trình sản xuất; chất lượng nguồn nhân lực; khả năng cung ứng nguyên nhiên vật liệu; đặc điểm sản phẩm, dịch vụ; quy trình công nghệ sản xuất chế tạo sản phẩm và phương pháp tổ chức sản xuất, bố trí kết cấu nhà xưởng, hạ tầng tại doanh nghiệp

- Mối quan hệ giữa kế hoạch sản xuất và kế hoạch năng lực sản xuất : Kế hoạch năng lực sản xuất là sự bảo đảm cho việc thực hiện kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp Kế hoạch sản xuất đảm bảo cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp và sự phối hợp giữa các bộ phận sản xuất được diễn ra một cách chặt chẽ, nhịp nhàng, khai thác tối ưu và tiết kiệm những nguồn lực sẵn có

Trang 21

của doanh nghiệp Trong thực tế thường xảy ra 3 trường hợp Trường hợp thứ nhất là kế hoạch sản xuất vượt quá mức hạn chế của năng lực sản xuất, trong trường hợp này để đảm bảo thực hiện kế hoạch sản xuất doanh nghiệp phải trả thêm các chi phí thay đổi năng suất, chi phí tăng ca, chi phí quản lý gia công ngoài v.v các chi phí này cao hơn chi phí thông thường để sản xuất ra sản phẩm và dịch vụ, vì vậy làm tăng giá thành sản phẩm làm ảnh hưởng trực tiếp tới công tác tiêu thụ sản phẩm và ảnh hưởng tới kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp Trường hợp thứ hai là kế hoạch sản xuất phù hợp với kế hoạch năng lực sản xuất đây là trường hợp lý tưởng đối với doanh nghiệp Trường hợp thứ ba là kế hoạch sản xuất thấp hơn kế hoạch năng lực sản xuất, trong trường hợp này doanh nghiệp không tận dụng được hết công suất máy móc, trang thiết bị do vậy chí phí không tải lớn làm giá thành sản phẩm sản xuất ra cao làm giảm mức tiêu thụ sản phẩm ảnh hưởng tới kế hoạch sản xuất

Kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu

- Khái niệm: Một doanh nghiệp sản xuất rất nhiều các loại sản phẩm khác nhau và có xu hướng ngày càng đa dạng hoá những sản phẩm của mình, mỗi sản phẩm lại bao gồm nhiều chi tiết khác nhau Vì vậy, để tiến hành sản xuất doanh nghiệp cần sử dụng nhiều chủng loại nguyên nhiên vật liệu với số lượng, quy cách và thời gian cung cấp thường xuyên thay đổi Kế hoạch nhu cầu nguyên nhiên vật liệu có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động sản xuất và là công cụ giúp doanh nghiệp quản lý tốt nguồn vật tư, nguyên nhiên vật liệu góp phần quan trọng đảm bảo sản xuất diễn ra đúng tiến độ, liên tục, đáp ứng, thoả mãn nhu cầu của khách hàng, thị trường và là giải pháp quan trọng giảm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm vì nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu giá thành sản phẩm (thường chiếm tỷ trọng

60 – 80%)

Trang 22

- Các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch nguyên nhiên vật liệu: Các chỉ tiêu chính của kế hoạch nhu cầu nhiên nguyên vật liệu của doanh nghiệp là lượng nguyên nhiên vật liệu cần dùng; lượng nguyên vật liệu cần dự trữ; lượng nguyên nhiên vật liệu cần mua sắm Lượng nguyên nhiên vật liệu cần dùng là lượng nguyên nhiên vật liệu được sử dụng một cách hợp lý và tiết kiệm trong

kỳ kế hoạch, lượng nguyên liệu cần dùng phải đảm bảo hoàn thành kế hoạch sản xuất sản phẩm cả về mặt hiện vật và giá trị, Lượng nguyên vật liệu dự trữ (còn gọi là định mức dự trữ nguyên vật liệu) là lượng nguyên liệu tồn kho cần thiết được quy định trong kỳ kế hoạch để đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục và bình thường Lượng nguyên liệu cần mua trong kỳ

kế hoạch được căn cứ vào lượng nguyên nhiên liệu cần dùng; lượng nguyên nhiên vật liệu dự trữ đầu kỳ và lượng nguyên nhiên vật liệu dự trữ cuối kỳ kế hoạch sản xuất

- Cơ sở để xây dựng kế hoạch nguyên vật liệu: Để xây dựng kế hoạch nhu cầu nguyên liệu doanh nghiệp phải căn cứ vào các chỉ tiêu của các kế hoạch trong hệ thống kế hoạch sản xuất là kế hoạch sản xuất, kế hoạch năng lực sản xuất Những thông tin cần thiết cho công tác xây dựng kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu có trong các tài liệu: Lịch trình sản xuất; bảng danh mục nguyên vật liệu; hồ sơ dự trữ nguyên vật liệu

- Mối quan hệ giữa kế hoạch sản xuất và kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu: Đối với những sản phẩm vật chất thì nguyên vật liệu là yếu tố chính cấu thành trong sản phẩm, vì vậy kế hoạch nguyên vật liệu là cơ sở để kế hoạch sản xuất được triển khai thực hiện Việc cung ứng nguyên vật liệu đúng thời hạn, chất lượng đảm bảo ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình sản xuất, chất lượng sản phẩm, việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu, tiết kiệm chi phí tồn kho làm giảm giá thành sản phẩm sẽ làm tăng lượng hàng hoá tiêu thụ, tăng số lượng sản phẩm sản xuất Mặt khác, kế hoạch sản xuất tạo điều

Trang 23

kiện thuận lợi cho doanh nghiệp triển khai thực hiện kế hoạch nhu cầu nguyên vật: Chủ động trong việc tìm kiếm, lựa chọn nguồn cung cấp ổn định, đảm bảo chất lượng, thời hạn giao hàng, giá cả hợp lý

Kế hoạch sản xuất tác nghiệp

- Khái niệm: Sau khi xây dựng kế hoạch sản xuất năm, để cụ thể hoá và đảm bảo việc thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu doanh nghiệp tiến hành xây dựng kế hoạch sản xuất tác nghiệp Kế hoạch sản xuất tác nghiệp có mối quan

hệ mật thiết với kế hoạch sản xuất năm của doanh nghiệp, kế hoạch sản xuất tác nghiệp là kế hoạch tiến độ thực hiện của kế hoạch sản xuất năm bằng cách phân chia nhỏ nhiệm vụ của kế hoạch sản xuất năm cho các đơn vị, khâu sản xuất của doanh nghiệp (phân xưởng, ngành, tổ, đội sản xuất, công nhân), quy định nhiệm vụ của họ trong từng tháng, tuần, ngày thậm chí là từng ca, giờ nội dung của nó là quy định sản xuất cái gì, sản xuất ở đâu, sản xuất bao nhiêu, khi nào thì sản xuất và khi nào phải hoàn thành Vì vậy công tác xây dựng kế hoạch tác nghiệp sản xuất là một công việc hết sức phức tạp Thông qua kế hoạch sản xuất tác nghiệp, chức năng kế hoạch hoá hoạt động của doanh nghiệp đã trở thành chức năng quản lý, chỉ đạo sản xuất, những dự kiến

kế hoạch trở thành những mệnh lệnh sản xuất, bắt buộc mọi bộ phận, mọi cán

bộ công nhân viên trong doanh nghiệp phải chấp hành Kế hoạch sản xuất hàng năm của doanh nghiệp được biểu thị trong sơ đồ 1.1

Trang 24

Các bộ phận của kế hoạch sản xuất hàng năm

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ kế hoạch sản xuất hàng năm của doanh nghiệp

Các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch tác nghiệp: Các chỉ tiêu của kế hoạch tác nghiệp về cơ bản giống nhƣ các chỉ tiêu của kế hoạch sản xuất chính nhƣng cụ thể chi tiết hơn đối với từng bộ phận, cá nhân tham gia vào quá trình sản xuất tại doanh nghiệp, đó là số lƣợng các chủng loại sản phẩm, số

Kế hoạch sản xuất

Kế hoạch năng lực sản xuất

Kế hoạch tác nghiệp sản xuất

Kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu

KẾ HOẠCH

HỢP ĐỒNG ĐẶT HÀNG

QUẢN L Ý NHU CẦU

Trang 25

lượng mỗi chủng loại sản phẩm, tiến độ gia công chế tạo và thời gian hoàn thành sản xuất của mỗi đơn vị, cá nhân trong doanh nghiệp

- Cơ sở để xây dựng kế hoạch sản xuất tác nghiệp: Mục đích của việc xây dựng kế hoạch tác nghiệp là phải xác định được nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị sản xuất chính, các đơn vị sản xuất phụ trợ và các đơn vị phục vụ sản xuất trong doanh nghiệp Để xác định được chính xác các nhiệm vụ doanh nghiệp phải căn cứ vào các căn cứ chính sau: Các chỉ tiêu về sản phẩm của kế hoạch sản xuất chính, kế hoạch sản xuất hàng năm; quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm; các định mức kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp; thời gian gia công hoặc thời hạn cung ứng ra thị trường; năng lực sản xuất ở từng khâu, từng bộ phận sản xuất; mức dự trữ hiện có và kế hoạch; thời gian vận chuyển

và một số các căn cứ khác có tính đặc thù đối với doanh nghiệp

- Mối quan hệ giữa kế hoạch sản xuất và kế hoạch tác nghiệp sản xuất:

Kế hoạch sản xuất và kế hoạch tác nghiệp sản xuất có mối quan hệ mật thiết hữu cơ và phụ thuộc lẫn nhau Kế hoạch tác nghiệp sản xuất có nhiệm vụ cụ thể hoá những mục tiêu nhiệm vụ của kế hoạch sản xuất Các nhiệm vụ, chỉ tiêu của kế hoạch tác nghiệp sản xuất được xây dựng trên cơ sở nhiệm vụ, chỉ tiêu của kế hoạch sản xuất cho từng quý, tháng, tuần, ngày, ca Kế hoạch tác nghiệp sản xuất là những chương trình hành động cụ thể của các bộ phận trong doanh nghiệp và là cơ sở vững chắc cho việc thực hiện thành công kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp Kế hoạch tác nghiệp sản xuất đảm bảo cho hoạt động sản xuất của các bộ phận trong toàn doanh nghiệp được phối hợp chặt chẽ, diễn ra liên tục, đều đặn, nhịp nhàng góp phần quan trọng vào việc hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu của kế hoạch sản xuất Ngoài

ra, kế hoạch sản xuất tác nghiệp còn có vai trò quan trọng giúp doanh nghiệp khai thác các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như: lao động, nguyên vật liệu, công suất trang thiết bị một cách có hiệu quả nhất góp phần làm tăng

Trang 26

chất lượng, giảm giá thành sản phẩm do đó làm tăng lượng sản phẩm tiêu thụ tác động trực tiếp tới kế hoạch sản xuất Trong quá trình thực hiện kế hoạch tác nghiệp sản xuất giúp doanh nghiệp phát hiện ra những điểm tích cực, hạn chế và những hiện tượng mất cân đối của hệ thống sản xuất, trên cơ sở đó doanh nghiệp có những giải pháp trong việc điều chỉnh, cải tiến, nâng cao chất lượng kế hoạch sản xuất và ứng phó được với sự biến động của thị

trường

1.2 VỊ TRÍ CỦA KẾ HOẠCH SẢN XUẤT TRONG KẾ HOẠCH SẢN XUẤT – KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.2.1 Khái niệm kế hoạch sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp

Nhiệm vụ của doanh nghiệp là sản xuất ra các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng và thoả mãn những nhu cầu thị trường Công cụ quản lý hữu hiệu doanh nghiệp sử dụng để hoàn thành nhiệm vụ của mình đó chính là kế hoạch sản xuất kinh doanh (trước đây được gọi là kế hoạch sản xuất – kỹ thuật – tài chính) Kế hoạch sản xuất - kinh doanh là hệ thống kế hoạch hàng năm của doanh nghiệp, là hệ thống các chỉ tiêu, nhiệm vụ, chương trình cụ thể triển khai toàn bộ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với các nguồn lực và biện pháp bảo đảm thực hiện

1.2.2 Các bộ phận của kế hoạch sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp

Hệ thống kế hoạch sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm các

bộ phận kế hoạch sau hợp thành:

- Kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

- Kế hoạch khoa học và công nghệ

- Kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn

- Kế hoạch lao động tiền lương

- Kế hoạch cung ứng vật tư

Trang 27

- Kế hoạch giá thành sản phẩm

- Kế hoạch tài chính

Kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

- Khái niệm: Trong thực tế tại doanh nghiệp khi xây dựng kế hoạch, kế hoạch sản xuất hàng năm có quan hệ mật thiết và gắn với kế hoạch tiêu thụ sản phẩm và được gọi là kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phản ánh khả năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đáp ứng, thoả mãn các nhu cầu của khách hàng, thị trường của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp phải bán những sản phẩm mà thị trường cần chứ không phải là những sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, chức năng tiêu thụ sản phẩm là trung tâm của mọi hoạt động của doanh nghiệp và đặc biệt chức năng sản xuất phải gắn liền với chức năng tiêu thụ Vì vậy, các doanh nghiệp luôn gắn liền kế hoạch sản xuất

đi liền với kế hoạch tiêu thụ sản phẩm

- Nội dung: Kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm bao gồm hai bộ phận chính là kế hoạch sản xuất và kế hoạch tiêu thụ sản phẩm Nội dung của kế hoạch sản xuất được phản ánh qua các chỉ tiêu: Số lượng của từng chủng loại sản phẩm, dịch vụ được sản xuất ở từng bộ phận và trong toàn doanh nghiệp; lượng tồn kho cuối kỳ của thành phẩm, bán thành phẩm và vật tư nguyên vật liệu; mức độ sử dụng các yếu tố sản xuất tại doanh nghiệp như trang thiết bị, lao động, cơ sở hạ tầng v.v ; nhu cầu vật tư nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm cho sản xuất; kế hoạch thuê gia công Nội dung của kế hoạch tiêu thụ sản phẩm được phản ánh qua các chỉ tiêu: Số lượng mỗi loại sản phẩm tiêu thụ được; số lượng dịch vụ cung cấp cho các đơn vị bên ngoài doanh nghiệp; giá trị hàng hoá và doanh thu thực hiện và các giải pháp, chi phí cho các hoạt động tiêu thụ sản phẩm

Trang 28

- Vai trò: Trong hệ thống kế hoạch sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp thì kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm giữ vị trí quan trọng nhất,

nó là bộ phận chủ đạo và là trung tâm của kế hoạch hàng năm, là mục tiêu của mọi hoạt động trong doanh nghiệp và là cơ sở, căn cứ để tính toán các chỉ tiêu của mọi bộ phận kế hoạch khác trong doanh nghiệp

Kế hoạch khoa học và công nghệ

- Khái niệm: Kế hoạch khoa học công nghệ phản ánh khả năng nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ, phát huy cải tiến kỹ thuật vào thực tế sản xuất của đội ngũ cán bộ công nhân kỹ thuật của doanh nghiệp nhằm nâng cao năng suất lao động; rút ngắn chu kỳ sản xuất; nâng cao chất lượng sản phẩm; tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu; cải tiến, phát triển sản phẩm mới; khả năng đảm bảo sản xuất liên tục của doanh nghiệp v.v

- Nội dung chủ yếu của kế hoạch khoa học và công nghệ được thể hiện trong các lĩnh vực công tác: Tổ chức nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật vào quá trình sản xuất; nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới; tổ chức xây dựng, giám sát, thực hiện các định mức kinh tế kỹ thuật, tiêu chuẩn đo lường, chất lượng, quy trình, quy phạm kỹ thuật đảm bảo chất lượng sản phẩm trong toàn doanh nghiệp; tổ chức công tác duy tu, bảo dưỡng trang thiết bị và quản lý hồ sơ tài liệu kỹ thuật

- Vai trò của kế hoạch khoa học công nghệ: Hoạt động của khoa học công nghệ có mặt ở hầu hết các khâu của quá trình sản xuất, vì vậy kế hoạch khoa học công nghệ là sự đảm bảo cho việc thực hiện kế hoạch năng lực sản xuất của doanh nghiệp và cũng chính là khả năng thực hiện thành công và có hiệu quả các mục tiêu của kế hoạch sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra, với việc triển khai ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, phương pháp cải tiến, phát triển sản phẩm mới v.v kế hoạch khoa học công

Trang 29

nghệ có vai trò rất lớn đối với chất lượng sản phẩm, sự phát triển, vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong tương lai

Kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn

- Khái niệm: Trong quá trình hoạt động tài sản cố định của doanh nghiệp như máy móc trang thiết bị, nhà xưởng, vật kiến trúc v.v bị hao mòn ảnh hưởng tới việc thực hiện kế hoạch sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp

Kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn là bộ phận kế hoạch bảo đảm công tác phát triển và mở rộng sản xuất – kinh doanh trên cơ sở xác định hợp lý và hợp pháp vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn tài sản cố định như nhà xưởng, máy móc thiết bị của doanh nghiệp

- Nội dung chủ yếu của kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn: Kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn chủ yếu tập trung vào tập trung vào

mở rộng sản xuất theo chiều sâu Vì vậy nội dung chủ yếu của kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn được phản ánh qua các chỉ tiêu: Số lượng máy móc trang thiết bị sửa chữa theo định kỳ và mức tăng thêm năng lực sản xuất mới đưa vào sử dụng; khối lượng diện tích nhà xưởng, kho tàng, công trình kiến trúc v.v được sửa chữa được đưa vào sử dụng; chi phí, nhu cầu vật tư nguyên vật liệu và lao động; thời gian tiến và tiến độ thực hiện

- Vai trò của kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn: Kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn đảm bảo cho các bộ phận cũng như toàn doanh nghiệp luôn ở trong trạng thái hoạt động tốt và đáp ứng nhu cầu phát triển mở rộng sản xuất của doanh nghiệp phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế tại doanh nghiệp Xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn góp phần đảm bảo chất lượng sản phẩm, tăng sản lượng, nâng cao hệ số sử dụng tài sản, thiết bị, giảm chi phí kinh doanh không tải, giảm giá thành và tiết kiệm đầu tư

Trang 30

Kế hoạch lao động - tiền lương

- Khái niệm: Lao động là yếu tố quan trọng hàng đầu và không thể thiếu được trong hoạt động của mỗi doanh nghiệp và nhiệm vụ của các nhà quản trị

là làm sao sử dụng lực lượng lao động một cách hợp lý có hiệu quả nhất đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp và người lao động Kế hoạch lao động tiền lương là bộ phận kế hoạch đảm bảo số lượng và chất lượng lao động để thực hiện các mặt hoạt động của doanh nghiệp, trên cơ sở vận dụng sáng tạo nguyên tắc phân phối theo lao động và tạo động lực cho người lao động thông qua quỹ tiền lương và tiền thưởng

- Nội dung chủ yếu của kế hoạch lao động – tiền lương được phản ánh qua các chỉ tiêu: Năng suất lao động; Số lượng, cơ cấu và chất lượng lao động; định mức lao động; tổng quỹ tiền lương, tiền thưởng; phát triển, đào tạo

và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công nhân viên chức; công tác an toàn lao động

và vệ sinh công nghiệp

- Vai trò của kế hoạch lao động – tiền lương: Kế hoạch lao động tiền lương đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm

vụ không những của kế hoạch sản xuất – kinh doanh năm mà còn kế hoạch trung và dài hạn của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp có khả năng chủ động đối phó với những biến động của thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh Kế hoạch lao động – tiền lương giúp cho doanh nghiệp bố trí, sắp xếp và sử dụng nguồn nhân lực một cách hợp lý, cũng như xác định được số tiền công để trả cho người lao động và có những biện pháp khuyến khích người lao động tăng năng suất mang lại hiệu quả cao cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Kế hoạch cung ứng vật tư

- Khái niệm: Trong quá trình sản xuất, vật tư nguyên vật liệu là yếu tố cấu thành chính trong sản phẩm không thể thiếu được đối với hoạt động sản

Trang 31

xuất của doanh nghiệp Kế hoạch cung ứng vật tư là bộ phận kế hoạch đảm bảo việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc cung ứng những chủng loại vật tư nguyên vật liệu đúng chủng loại, quy cách, thời hạn Kế hoạch cung ứng vật tư thể hiện khả năng quản lý, thu mua,

sử dụng hợp lý và tiết kiệm vật tư, nguyên vật liệu để đảm bảo việc thực hiện thành công và có hiệu quả kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Nội dung chủ yếu của kế hoạch cung ứng vật tư được thể hiện qua các chỉ tiêu chính là: Số lượng và thời hạn cung cấp nguyên nhiên vật liệu cần dùng; số lượng và thời hạn cung cấp nguyên nhiên vật liệu cần dự trữ; số lượng nguyên nhiên vật liệu cần mua sắm trong kỳ kế hoạch

- Vai trò của kế hoạch cung ứng vật tư Kế hoạch cung ứng vật tư là bộ phận kế hoạch đảm bảo cho việc thực hiện kế hoạch sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp Kế hoạch cung ứng vật tư đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục, giảm thời gian gián đoạn, thời gian chờ, nâng cao mức độ sử dụng máy móc, trang thiết bị, tài sản cố định của doanh nghiệp đáp ứng, thoả mãn nhu cầu của khách hàng, đồng thời làm giảm chi phí tồn kho, lưu kho, giảm giá thành sản phẩm

Kế hoạch giá thành sản phẩm

- Khái niệm: Để tiến hành sản xuất ra sản phẩm doanh nghiệp phải chi trả cho rất nhiều loại chi phí như chi phí về nguyên vật liệu, lương công nhân, vốn, chi phí quản lý, chi phí cho thiết bị, tài sản cố định, chi phí bán hàng v.v tất cả những chi phí này hình thành lên giá thành sản phẩm Kế hoạch giá thành sản phẩm là bộ phận kế hoạch đảm bảo việc xác định hợp lý và tiết kiệm các loại chi phí sản xuất và tiêu thụ cho một đơn vị và toàn bộ các loại sản phẩm trên cơ sở khai thác và sử dụng triệt để các nguồn lực tiềm tàng của doanh nghiệp về lao động, thiết bị, vật tư, tiền vốn nhằm hạ giá thành, tăng tích luỹ Kế hoạch giá thành sản phẩm phản ánh khả năng tiết kiệm các loại

Trang 32

chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh và nói lên chất lượng hoạt động của doanh nghiệp

- Nội dung chủ yếu của kế hoạch giá thành được thể hiện qua các chỉ tiêu: Giá thành đơn vị sản phẩm chính; giá thành toàn bộ sản lượng hàng hoá;

dự toán chi phí sản xuất; mức và tỷ lệ giảm gía thành sản lượng hàng hoá so sánh được

- Vai trò của kế hoạch giá thành: Kế hoạch giá thành giúp cho doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả các yếu tố của quá trình sản xuất như vật tư, nguyên vật liệu, lao động, trang thiết bị v.v qua đó tiết kiệm được chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, hiệu quả sản xuất kinh doanh và chất lượng quản lý của doanh nghiệp được nâng lên

Kế hoạch tài chính

- Khái niệm: Hoạt động tài chính là những hoạt động xác định và tạo ra các nguồn vốn tiền tệ cần thiết để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành liên tục với hiệu quả cao Kế hoạch tài chính

là bộ phận kế hoạch tổng hợp toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp dưới hình thức tiền tệ Kế hoạch tài chính phản ánh tổng số chi phí cho các phương án sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế sẽ đạt được của các phương án đó; các phương án tổ chức và khai thác nguồn vốn; các phương án phân phối thu nhập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp

- Nội dung chủ yếu của kế hoạch tài chính được phản ánh qua các chỉ tiêu chủ yếu: Khấu hao tài sản cố định; định mức vốn lưu động; mức và tỷ lệ lãi về tiêu thụ sản phẩm; tích luỹ và phân phối lợi nhuận; trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp; tín dụng ngắn hạn và bảng tổng hợp thu chi tài chính

- Vai trò của kế hoạch tài chính: Kế hoạch tài chính là kế hoạch bộ phận quan trọng của hệ thống kế hoạch trong doanh nghiệp, kế hoạch tài chính xác

Trang 33

định chi phí và đảm bảo nguồn tài chính cho việc thực hiện các kế hoạch của doanh nghiệp Mặt khác, kế hoạch tài chính xác định các nhu cầu sử dụng nguồn lực tài chính, nguồn và cơ cấu vốn giúp lãnh đạo doanh nghiệp đưa ra các quyết định về việc thu hút nguồn tài chính từ bên ngoài, xây dựng cơ chế phân bổ nguồn tài chính một cách hợp lý cho các nhu cầu trong doanh nghiệp đồng thời xác định các mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các đơn

vị bên ngoài: Ngân sách Nhà nước, các cơ quan quản lý, khách hàng, nhà cung cấp, ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác

Các bộ phận thuộc kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau, trong đó bộ phận kế hoạch quan trọng nhất là kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm là căn cứ, cơ sở để tính toán các chỉ tiêu của các kế hoạch khác Vì vậy, về mặt thời gian, kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phải được xây dựng sớm nhất Công tác chỉ đạo xây dựng kế hoạch của doanh nghiệp phải tập trung hướng vào việc đảm bảo thực hiện tốt các mối quan hệ giữa các kế hoạch bộ phận

1.2.3 Vị trí của kế hoạch sản xuất

Mối quan hệ giữa kế hoạch sản xuất và kế hoạch tiêu thụ sản phẩm

Sản xuất là hoạt động trực tiếp tạo ra sản phẩm của doanh nghiệp, song hoạt động tiêu thụ sản phẩm là điều kiện tiền đề không thể thiếu để doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất Trong hệ thống kế hoạch của doanh nghiệp, kế hoạch sản xuất và kế hoạch tiêu thụ sản phẩm có quan hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau chính vì vậy chúng được xếp chung với nhau gọi là kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Xét về mặt thời gian thì kế hoạch tiêu thụ sản phẩm được xây dựng sớm hơn

Trong ngắn hạn, với khoảng thời gian một năm và dưới một năm thì một

kế hoạch tiêu thụ sản phẩm đúng đắn của doanh nghiệp luôn là cơ sở để xây dựng một kế hoạch sản xuất khả thi và ngược lại, nếu kế hoạch tiêu thụ sản

Trang 34

phẩm không phù hợp với tiến trình phát triển của thị trường sẽ tác động trực tiếp tới tính khả thi của kế hoạch sản xuất, sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ được sẽ làm tăng chi phí, ứ đọng dẫn đến thua lỗ thậm chí phá sản doanh nghiệp Trong thực tế, nhịp độ cũng như các diễn biến của hoạt động sản xuất phụ thuộc vào nhịp độ và các diễn biến của hoạt động tiêu thụ sản phẩm trên thị trường Vì vậy, trong nền kinh tế thị trường kế hoạch tiêu thụ sản phẩm là

cơ sở để doanh nghiệp quyết định sản xuất sản phẩm gì, cho ai và ở thời gian nào Khi xây dựng kế hoạch sản xuất và kế hoạch tiêu thụ sản phẩm các chỉ tiêu kế hoạch có quan hệ hữu cơ với nhau, chỉ tiêu của kế hoạch này là cơ sở

để xây dựng để xây dựng chỉ tiêu của kế hoạch kia và ngược lại Ví dụ như để xác định các chỉ tiêu tiêu thụ cần căn cứ vào năng lực sản xuất đối với doanh nghiệp sản xuất; năng lực sản xuất và năng lực phục vụ khách hàng đối với những doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ hoặc để tiêu thụ những sản phẩm mới có chất lượng cao cần căn cứ vào khả năng chế tạo, tiến độ sản xuất, giá thành sản phẩm v.v

Trong thực tế khi xây dựng kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm xảy

ra ba trường hợp Trường hợp thứ nhất là kế hoạch sản xuất phù hợp với khả năng tiêu thụ, trường hợp này là đơn giản nhất doanh nghiệp không cần phải xem xét gì hơn Trường hợp thứ hai là khả năng tiêu thụ lớn hơn năng lực sản xuất, trong trường hợp này doanh nghiệp có hai sự lựa chọn là giảm bớt chỉ tiêu tiêu thụ hoặc có kế hoạch gia công, mua ngoài, đầu tư mở rộng sản xuất trong điều kiện tài chính có thể Trường hợp thứ ba là khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thấp hơn năng lực sản xuất, trong trường hợp này doanh nghiệp cần có các biện pháp điều chỉnh kế hoạch sản xuất và tăng cường tiêu thụ sản phẩm để khai thác sử dụng năng lực sản xuất giảm chi phí kinh doanh không tải

Trang 35

Khả năng tiêu thụ quy định mức sản xuất của doanh nghiệp Mặt khác, khả năng sản xuất sản phẩm càng đa dạng, phong phú với chất lượng cao càng tác động tích cực đến khả năng tiêu thụ bấy nhiêu Việc tăng lượng sản xuất của mỗi mặt hàng và tăng nhiều nhóm loại mặt hàng sản xuất lại tác động ngược trở lại làm tăng khả năng tiêu thụ Sở dĩ như vậy là do tăng lượng sản xuất tất yếu dẫn đến giảm chi phí kinh doanh không tải, giảm giá thành sản xuất đối với từng loại sản phẩm, tạo ra lợi thế cạnh tranh về giá cả, mặt khác với việc nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và do đó dẫn đến tăng lượng tiêu thụ sản phẩm trong kỳ kế hoạch

Vì vậy, khi xây dựng kế hoạch sản xuất và đưa ra các quyết định sản xuất phải căn cứ vào các chỉ tiêu và tình hình tiêu thụ sản phẩm để có những biện pháp tránh tổn thất cho doanh nghiệp và để đạt được kết quả tốt cần có có sự trợ giúp của các chương trình máy tính để tìm ra được phương án tối ưu nhất thoả mãn các mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, tăng khả năng cạnh tranh, tận dụng năng lực sản xuất, giảm chi phí kinh doanh và giá thành sản xuất

Mối quan hệ giữa kế hoạch sản xuất và các kế hoạch khác

- Mối quan hệ giữa kế hoạch sản xuất và kế hoạch khoa học và công nghệ: Mục tiêu của hoạt động khoa học công nghệ trong doanh nghiệp là nhằm phục vụ quá trình sản xuất, vì vậy nó có vai trò, ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện thành công các chỉ tiêu của kế hoạch sản xuất Khi kế hoạch khoa học và công nghệ được thực hiện tốt sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp có thể đưa ra thị trường nhiều sản phẩm mới, chi phí hoạt động không tải của doanh nghiệp giảm làm

hạ giá thành sản phẩm, điều này trực tiếp ảnh hưởng tới lượng sản phẩm tiêu thụ và ảnh hưởng tới kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp Mặt khác, khi kế hoạch sản xuất được triển khai thì kế hoạch khoa học công nghệ mới có điều kiện áp dụng và chính trong quá trình sản xuất doanh nghiệp đã đào tạo được

Trang 36

một đội ngũ cán bộ công nhân kỹ thuật có trình độ, kinh nghiệm đáp ứng được yêu cầu thực tiễn sản xuất

- Mối quan hệ giữa kế hoạch sản xuất và kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn: Kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn nhằm đảm bảo cho các bộ phận trong toàn doanh nghiệp hoạt động tốt góp phần đảm bảo chất lượng sản phẩm, tăng sản lượng, nâng cao hệ số sử dụng thiết bị, tiết kiệm đầu tư Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới việc thực hiện chỉ tiêu tổng sản lượng là chỉ tiêu quan trọng nhất của kế hoạch sản xuất hàng năm và trong ngắn hạn Ngược lại, với việc thực hiện thành công các chỉ tiêu của kế hoạch sản xuất thì mới có kinh phí tài trợ cho kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn

- Mối quan hệ giữa kế hoạch sản xuất và kế hoạch lao động tiền lương:

Kế hoạch lao động tiền lương có vai trò đặc biệt đối với kế hoạch sản xuất vì

nó đảm bảo việc cung cấp số lượng và chất lượng lao động cho việc thực hiện

kế hoạch sản xuất Nếu kế hoạch lao động tiền lương được thực hiện tốt sẽ mang lại hiệu quả cao không chỉ trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất ngắn hạn mà còn trong cả trung và dài hạn Trong trường hợp kế hoạch lao động tiền lương không được thực hiện tốt sẽ không khuyến khích được người lao động, việc thực hiện kế hoạch sản xuất khó có thể thành công Việc thực hiện thành công kế hoạch sản xuất thì mới có điều kiện nâng cao đời sống tinh thần, vật chất cho người lao động

- Mối quan hệ giữa kế hoạch sản xuất và kế hoạch cung ứng vật tư: Kế hoạch cung ứng vật tư đảm bảo cho việc thực hiện kế hoạch sản xuất thông qua công tác cung ứng vật tư đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục, giảm thời gian chờ, giảm chi phí tồn kho hạ giá thành sản phẩm làm tăng lượng tiêu thụ sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp tới kế hoạch sản xuất Mặt khác,

kế hoạch sản xuất tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện kế hoạch cung

Trang 37

ứng vật tư Với số lượng sản xuất lớn, doanh nghiệp chủ động và có lợi thế trong đàm phán về giá cả, thời hạn cung ứng với các nhà cung cấp

- Mối quan hệ giữa kế hoạch sản xuất và kế hoạch giá thành sản phẩm: Chỉ tiêu giá thành sản phẩm phản ánh khả năng cạnh tranh, chất lượng quản

lý của doanh nghiệp Khi kế hoạch giá thành của doanh nghiệp được thực hiện tốt, điều này chứng tỏ khả năng quản lý của doanh nghiệp tốt, chất lượng sản phẩm đảm bảo, giá thành sản phẩm giảm làm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường tác động tích cực đến kế hoạch hoạch sản xuất của doanh nghiệp Ngược lại, nếu kế hoạch sản xuất được thực hiện tốt thì cũng tạo điều kiện thuận lợi cho kế hoạch giá thành vì doanh nghiệp sẽ giảm được giá thành bằng cách tận dụng những lợi thế của quy mô sản xuất và đường cong kinh nghiệm

- Mối quan hệ giữa kế hoạch sản xuất và kế hoạch tài chính: Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì tài chính là nguồn lực không thể thiếu được đối với doanh nghiệp Kế hoạch tài chính đảm bảo nguồn tài chính cho việc thực hiện kế hoạch sản xuất và ngược lại việc thực hiện kế hoạch sản xuất là

để tạo ra những nguồn thu chi trả cho hoạt động tài chính và là cơ sở để doanh nghiệp xây dựng kế hoạch nhằm thu hút các nguồn tài trợ và đưa ra các quyết định sản xuất

1.3 QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG KẾ HOẠCH SẢN XUẤT

1.3.1 Quy trình xây dựng kế hoạch sản xuất hàng năm

Quy trình xây dựng kế hoạch sản xuất hàng năm của doanh nghiệp được tiến hành qua bốn bước sau:

Bước 1: Chuẩn bị xây dựng kế hoạch, đánh giá và phân tích nhu cầu sản

xuất của doanh nghiệp Công tác chuẩn bị xây dựng kế hoạch sản xuất có tầm

Trang 38

quan trọng và quyết định chất lượng cuả kế hoạch sản xuất Nội dung chính của bước 1 gồm:

- Chuẩn bị các cơ sở dữ liệu và công cụ phục vụ cho công tác xây dựng

kế hoạch sản xuất năm

- Dự báo nhu cầu sản xuất sản phẩm được thực hiện thông qua việc đánh giá, phân tích: Dự báo nhu cầu thị trường; kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp; hợp đồng đặt hàng của khách hàng; kế hoạch phát triển sản phẩm của doanh nghiệp; những chỉ tiêu của kế hoạch sản xuất trung hạn mà doanh nghiệp cần đạt được trong kỳ kế hoạch

- Phân tích giá cả, khả năng cung ứng nguồn nguyên liệu cho sản xuất

Các chỉ tiêu chính cần xác định trong bước 1 là: Số lượng, chủng loại,

thời gian có nhu cầu của thị trường, khách hàng đối với từng chủng loại sản phẩm

Bước 2: Xây dựng kế hoạch sơ bộ đối với các chỉ tiêu chính của kế

hoạch sản xuất năm Xây dựng kế hoạch sơ bộ đối với các chỉ tiêu chính của

kế hoạch sản xuất năm gồm các công việc sau:

- Phân tích kết quả sản xuất của những năm trước

- Phân tích số lượng sản phẩm tồn kho, sản phẩm dở dang, năng lực sản xuất của từng bộ phận và toàn doanh nghiệp, số lượng nhân công có thể huy động, chi phí sản xuất, chi phí tồn kho sản phẩm, nguyên vật liệu, chi phí phạt

do chậm giao hàng, khả năng gia công, thuê ngoài v.v

Các chỉ tiêu chính của kế hoạch sản xuất năm cần xác định trong bước 2:

Trên cơ sở kết quả phân tích tổng hợp của bước 1, các chỉ tiêu chính của kế hoạch sản xuất được xác định trong bước 2 là tổng số lượng từng chủng loại sản phẩm được sản xuất ở từng bộ phận sản xuất và trong toàn doanh nghiệp;

số lượng lao động cần huy động; mức tồn kho cuối kỳ của từng loại thành phẩm, bán thành phẩm, vật tư

Trang 39

Bước 3: Hoạch định tổng hợp Hoạch định tổng hợp là công tác triển

khai phát triển kế hoạch sản xuất nhằm biến đổi năng lực sản xuất của doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu của khách hàng, thị trường với hiệu quả kinh tế cao Nội dung chính của bước 3 gồm:

- Hoạch định kế hoạch năng lực sản xuất: Năng lực sản xuất của doanh nghiệp là khả năng của hệ thống sản xuất cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ cho thị trường trong một khoảng thời gian nhất định Trong phạm vi kế hoạch sản xuất hàng năm thì năng lực sản xuất là yếu tố không thể thay đổi được, thông thường năng lực sản xuất của hệ thống sản xuất do khả năng sản xuất của khâu yếu nhất hay còn gọi là nút cổ chai quyết định Vì vậy, các công việc chủ yếu của hoạch định kế hoạch năng lực sản xuất là: Xác định bảng nguồn lực sản phẩm; tiến hành dự tính phụ tải đối với thiết bị sản xuất chủ chốt hay còn gọi là nút cổ chai; tiến hành cân đối phụ tải thông qua việc xây dựng đường cong phụ tải của máy móc trang thiết bị

- Thiết lập các phương án sản xuất - kế hoạch sản xuất tác nghiệp: Căn

cứ vào đường cong phụ tải doanh nghiệp tiến hành hiệu chỉnh kế hoạch sản xuất Kết quả là sẽ thiết lập được nhiều phương án sản xuất để đảm bảo tiến

độ của kế hoạch sản xuất Với sự trợ giúp của các chương trình máy tính các phương án sản xuất – kế hoạch sản xuất tác nghiệp được phân tích, so sánh để phục vụ cho việc lựa chọn phương án sản xuất có hiệu quả, khả thi nhất

- So sánh và lựa chọn phương án sản xuất khả thi: Trên cơ sở kết quả so sánh các phương án sản xuất doanh nghiệp sẽ chọn được phương án sản xuất khả thi nhất Phương án sản xuất được lựa chọn và phê chuẩn phải là phương

án phù hợp với năng lực sản xuất và khai thác, tận dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp

Trang 40

Các chỉ tiêu chính của kế hoạch sản xuất năm cấn được xác định trong

bước 3: Mức độ khai thác sử dụng máy móc, trang thiết bị, lao động, diện tích sản xuất, kho tàng, cơ sở hạ tầng ; Kế hoạch hợp đồng gia công thuê ngoài

Bước 4: Hoạch định kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu cho sản xuất Sau

khi đã lựa chọn được kế hoạch sản xuất năm doanh nghiệp tiến hành công tác hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu Nhu cầu nguyên vật liệu cho sản xuất năm được xây dựng theo phương pháp kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu (MRP: Material requirement planning) Nhu cầu mà MRP xử lý là những nhu cầu phụ thuộc được xác định thông qua những nhu cầu độc lập của kế hoạch sản xuất năm Các bước tiến hành công tác hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu cho kế hoạch sản xuất năm gồm:

- Kiểm soát và hoạch định việc đặt hàng: xác định số lượng và thời gian đặt hàng đối với từng chi tiết, bộ phận

- Hoạch định và kiểm soát thứ tự ưu tiên: so sánh thời hạn dự kiến có hàng và thời hạn cần có hàng để có thể điều chỉnh cần thiết

- Tạo cơ sở cho hoạch định nhu cầu năng lực sản xuất và phát triển các

kế hoạch kinh doanh lớn hơn

Các chỉ tiêu chính của kế hoạch sản xuất năm cần được xác định trong

bước 4: Số lượng, chủng loại vật tư, nguyên vật liệu, bán thành phẩm, bộ phận chi tiết doanh nghiệp cần cho sản xuất và thời gian cung ứng

1.3.2 Một số phương pháp xây dựng kế hoạch sản xuất

Phương pháp dự báo nhu cầu

Phương pháp chuyên gia: Là phương pháp dự báo định tính sử dụng

kinh nghiệm, trí tuệ, hệ thống những giá trị của những chuyên gia liên quan đến hoạt động thực tiễn sản xuất kinh doanh để dự báo nhu cầu Theo phương pháp này, công tác dự báo nhu cầu được thực hiện thông qua lấy ý kiến của

Ngày đăng: 27/11/2017, 22:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] TS. Nguyễn Ngọc Huyền (2004), Giáo trình Quản trị kinh doanh, NXB Lao động – Xã hội, tr.174-195, 372-478 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị kinh doanh
Tác giả: TS. Nguyễn Ngọc Huyền
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2004
[2] PGS.TS. Phạm Hữu Huy (1998), Kinh tế và tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp, NXB Giáo dục , 25-78, 94-163 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế và tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp
Tác giả: PGS.TS. Phạm Hữu Huy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
[3] TS. Nguyễn Thanh Liêm (2006), Quản trị sản xuất, NXB Tài chính, tr. 7- 59, 137-171, 225-240 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị sản xuất
Tác giả: TS. Nguyễn Thanh Liêm
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2006
[4] Nguyễn Văn Nghiến (1999), Quản lý sản xuất, NXB Thống kê, tr.24 - 96 [5] GS.TS. Nguyễn Hùng Phong, Chương trình đào tạo thạc sỹ - Môn học:Quản trị sản xuất & Tác nghiệp, Tr 5-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý sản xuất", NXB Thống kê, tr.24 - 96 [5] GS.TS. Nguyễn Hùng Phong, "Chương trình đào tạo thạc sỹ - Môn học: "Quản trị sản xuất & Tác nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Nghiến
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1999
[6] GS.TS. Lê Văn Tâm (2000), Giáo trình Quản trị chiến lược, NXB Thống kê, tr. 26 -78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị chiến lược
Tác giả: GS.TS. Lê Văn Tâm
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2000
[7] TS. Trương Đoàn Thể (2002), Giáo trình Quản trị sản xuất và tác nghiệp, NXB Thống kê, tr. 32- 60, 172 – 200, 259 - 292 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị sản xuất và tác nghiệp
Tác giả: TS. Trương Đoàn Thể
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2002
[8] TS. Đặng Minh Trang (2003), Quản trị sản xuất và tác nghiệp, NXB Thống kê, tr.46 – 92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị sản xuất và tác nghiệp
Tác giả: TS. Đặng Minh Trang
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
[9] Đỗ Duy Việt (2006), Quản trị sản xuất và tác nghiệp trong đổi mới và hội nhập, NXB Thống kê, tr. 27 - 109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị sản xuất và tác nghiệp trong đổi mới và hội nhập
Tác giả: Đỗ Duy Việt
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w