Hiện nay chất lượng công tác thẩm định dự án ở các NHTM đã được cải thiện đáng kể, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều dự án không phát huy được hiệu quả khi vào hoạt động ảnh hưởng đ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
HOÀNG THỊ KIM
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG
CHI NHÁNH BẮC ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
HOÀNG THỊ KIM
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG
CHI NHÁNH BẮC ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng
Mã số : 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lâm Chí Dũng
Đà Nẵng – Năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Kim
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1 THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ 6
1.1.1 Dự án đầu tư 6
1.1.2 Thẩm định tài chính trong cho vay dự án đầu tư của NHTM 8
1.1.3 Những nội dung cần thẩm định trong thẩm định tài chính dự án đầu tư của NHTM 10
1.2 HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ 24 1.2.1 Nội dung công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại NHTM 24
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá kết quả công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư của NHTM 28
1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng tới công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư 30 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH BẮC ĐÀ NẴNG 37
2.1 GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG – CHI NHÁNH BẮC ĐÀ NẴNG 37
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 37
Trang 52.1.2 Mô hình tổ chức bộ máy 38 2.1.3 Kết quả hoạt động 39 2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU
TƯ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG – CHI NHÁNH BẮC ĐÀ NẴNG 43 2.2.1 Quy trình và nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Công thương - Chi nhánh Bắc Đà Nẵng 43 2.2.2 Thực trạng triển khai công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Bắc Đà Nẵng 53 2.2.3 Kết quả công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Bắc Đà Nẵng 58 2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ
ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH BẮC ĐÀ NẴNG 64 2.3.1 Những mặt làm được 64 2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 66
TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG
THƯƠNG CHI NHÁNH BẮC ĐÀ NẴNG 73
3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH
DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NHTMCP CÔNG THƯƠNG – CHI NHÁNH BẮC
ĐÀ NẴNG 73 3.1.1 Định hướng hoạt động cho vay của Ngân hàng TMCP Công thương
CN Bắc Đà Nẵng trong thời gian tới 73 3.1.2 Định hướng hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư 73
Trang 63.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ
ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH BẮC NẴNG 74 3.2.1 Nâng cao chất lượng công tác thu thập và xử lý thông tin 74 3.2.2 Hoàn thiện công tác tổ chức việc thẩm định tài chính dự án tại chi nhánh 76 3.2.3 Kết hợp sử dụng nhiều phương pháp thẩm định và nhiều chỉ tiêu thẩm định 79 3.2.4 Nâng cao năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ nhân viên thẩm định 80 3.2.5 Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ vào công tác thẩm định 83 3.2.6 Tổ chức đánh giá hiệu quả thẩm định tài chính dự án sau khi tài trợ 84 3.2.7 Tăng cường mối quan hệ với khách hàng và cơ quan chức năng 85 3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 85 3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các bộ ngành có liên quan 85 3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng TMCP Công thương 87
KẾT LUẬN 90 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 82.5 Bảng thông số về vốn lưu động Phụ lục 2.6 Bảng thông số về sản lượng, doanh thu Phụ lục 2.7 Bảng tính trung gian về sản lượng, doanh thu Phụ lục 2.8 Bảng thông số về chi phí hoạt động Phụ lục 2.9 Bảng tính trung gian về chi phí nguyên vật liệu Phụ lục 2.10 Bảng tính trung gian các chi phí quản lý, bán hàng Phụ lục 2.11 Bảng tính trung gian về khấu hao Phụ lục 2.12 Bảng tính trung gian về lãi vay vốn trung dài hạn Phụ lục 2.13 Bảng tính trung gian về lãi vay vốn ngắn hạn Phụ lục 2.14 Bảng tính trung gian về nhu cầu vốn lưu động Phụ lục 2.15 Bảng xác định kết quả kinh doanh và dòng tiền Phụ lục 2.16 Bảng tính trung gian về xác định điểm hòa vốn Phụ lục 2.17 Bảng tính trung gian về cân đối khả năng trả nợ Phụ lục 2.18 Bảng minh họa độ nhạy khi một biến thay đổi Phụ lục 2.19 Bảng minh họa độ nhạy khi hai biến thay đổi Phụ lục 2.20 Tăng trưởng số lượng và dư nợ cho vay dự án 58 2.21 Tỷ lệ dự án hoạt động có hiệu quả, kém hiệu quả 61 2.22 Tỷ lệ nợ cần chú ý, nợ xấu của các dự án đã cho vay 62
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại hình doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ vì mục tiêu lợi nhuận Mọi hoạt động của ngân hàng đều hướng tới hiệu quả kinh tế, nâng cao vị thế, tìm cách phân tán và giảm thiểu rủi ro Trong những năm gần đây, hệ thống tài chính trên thế giới
và trong nước có nhiều biến động mạnh, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO, các NHTM ở Việt Nam một mặt phải đối mặt với những thách thức do yếu tố cạnh tranh toàn cầu, mặt khác phải đẩy nhanh, đẩy mạnh quá trình thu hút và
sử dụng vốn, đặc biệt thông qua việc đầu tư và các dự án có hiệu quả để phục
vụ cho công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước theo đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, một dự án đầu tư có thực sự mang lại hiệu quả và đảm bảo an toàn vốn cho ngân hàng hay không lại phụ thuộc vào khả năng thẩm định và đánh giá của NHTM Nếu như Chính phủ và các cơ quan quản lý vĩ mô quan tâm nhiều tới hiệu quả kinh tế xã hội của dự
án thì các NHTM lại quan tâm nhiều tới khả năng sinh lãi của dự án Chính vì vậy, thẩm định tài chính dự án là một nội dung rất quan trọng trong thẩm định
dự án của NHTM
Hiện nay chất lượng công tác thẩm định dự án ở các NHTM đã được cải thiện đáng kể, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều dự án không phát huy được hiệu quả khi vào hoạt động ảnh hưởng đến thu nhập của ngân hàng
và sự phát triển kinh tế của đất nước Là một trong những ngân hàng lớn trong
hệ thống NHTM của Việt Nam, ngân hàng TMCP Công thương nói chung và ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Bắc Đà Nẵng nói riêng cũng không nằm ngoài tình trạng này Để góp phần hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Bắc Đà
Trang 10Nẵng, tôi đã lựa chọn đề tài: “ Hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Bắc Đà Nẵng” cho luận văn tốt nghiệp cao học của mình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Khái quát cơ sở lý luận về công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư của ngân hàng thương mại
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án đầu
tư tại ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Bắc Đà Nẵng
- Đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện chất lượng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Bắc Đà Nẵng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Bắc Đà Nẵng
- Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Công tác thẩm định DAĐT bao gồm nhiều mặt với nội
dung khác nhau như thẩm định về mặt pháp lý của dự án, thẩm định kinh tế
kỹ thuật của dự án, thẩm định tài chính dự án Nhưng đề tài chỉ giới hạn trong nội dung công tác thẩm định tài chính DAĐT tại Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Bắc Đà Nẵng còn những nội dung thẩm định khác đề tài không đề cập đến
+ Về không gian: Đề tài chỉ nghiên cứu nội dung trên tại Ngân hàng
TMCP Công thương chi nhánh Bắc Đà Nẵng
+ Về thời gian: Đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu thực trạng thẩm
định tài chính DADT tại chi nhánh trong trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến 2013
Trang 114 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng làm
phương pháp luận cho việc nghiên cứu đề tài
Đối với từng nội dung nghiên cứu cụ thể, tác giả sử dụng các phương pháp như: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, suy luận logic, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn Bên cạnh đó đề tài cũng vận dụng kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan để làm cơ sở khoa học cho đề tài
Chương 2: Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại
Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Bắc Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án đầu
tư tại Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Bắc Đà Nẵng
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Với đề tài “ Hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Bắc Đà Nẵng”, đây là một đề tài mới và chưa được nghiên cứu tại chi nhánh Để có được những thông tin hỗ trợ cho việc nghiên cứu luận văn, tác giả đã tiến hành tìm hiểu các công trình nghiên cứu của các tác giả có liên quan đến đề tài đã được công nhận, cụ thể như sau:
Đề tài “ Hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án cho vay của Ngân hàng VPBank chi nhánh Đà Nẵng” của tác giả Hồ Thân Ái Vân, luận văn thạc sĩ được bảo vệ năm 2012 tại Đại học Đà Nẵng Đề tài đã hệ thống
Trang 12hóa cơ sở lý luận cơ bản về dự án, thẩm định tài chính dự án cho vay của Ngân hàng thương mại, phân tích và đánh giá công tác thẩm định tài chính dự
án cho vay của Ngân hàng VPBank chi nhánh Đà Nẵng trong thời gian qua,
từ đó rút ra được những kết quả đạt được, hạn chế trong công tác thẩm định tài chính dự án cho vay và những nguyên nhân chủ yếu Đề tài cũng đề xuất được một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án cho vay của Ngân hàng VPBank chi nhánh Đà Nẵng Tuy nhiên nội dung phân tích của đề tài còn đơn giản, chưa nêu được nội dung của công tác thẩm định tài chính DAĐT của NHTM thì bao gồm những nội dung nào, chưa đưa
ra được các chỉ tiêu để đánh giá kết quả công tác thẩm định tài chính DAĐT, các giải pháp đưa ra còn hạn chế ở tính ứng dụng lâu dài
Đề tài “ Hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Công
ty tài chính cổ phẩn Dầu khí Việt Nam chi nhánh Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Văn Lành, Luận văn thạc sĩ được bảo vệ năm 2012 tại Đại học Đà Nẵng Đề tài đã góp phần hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp các lý luận về thẩm định tài chính dự án trong hoạt động của tổ chức tín dụng, đồng thời nghiên cứu, phân tích thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án trong hoạt động của PVFC Đà Nẵng thời gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp
và kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án trong hoạt động của PVFC và PVFC Đà Nẵng Tuy nhiên đề tài này vẫn chưa nêu bật được công tác thẩm định tài chính DAĐT được thực hiện như thế nào, các giải pháp đưa ra còn chưa mang tính tổng thể
Đề tài “Hoàn thiện công tác thẩm định tài chính trong hoạt động cho vay tại ngân hàng Ngoại thương Quảng Nam” của tác giả Trần Thị Như Lai, luận văn Thạc sĩ được bảo vệ năm 2008 tại Đại học Đà Nẵng Đề tài này đã đưa ra các đưa ra các cở sở lý thuyết về thẩm định tài chính của doanh nghiệp, nêu thực trạng công tác thẩm định tài chính tại Ngân hàng Ngoại thương
Trang 13Quảng Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác thẩm định tài chính trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Ngoại thương Quảng Nam Tuy nhiên các phương pháp phân tích mà tác giả đưa ra còn đơn giản, chưa có phương pháp cụ thể đối với từng nội dung thẩm định
Đề tài “Hoàn thiện công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bình Định” của tác giả Đỗ Quang Trung, luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng năm 2013
Đề tài này đã đưa được các cơ sở lý luận về thẩm định cho vay DAĐT của NHTM, phân tích thực trạng công tác thẩm định dự án cho vay tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bình Định, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định dự án cho vay tại ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam chi nhánh Bình Định Tuy nhiên khi đánh giá những hạn chế và nguyên nhân tồn tại của công tác thẩm định cho vay DAĐT tại BIDV Bình Định, tác giả chưa nêu bật được những nguyên nhân nào thuộc về bên trong ngân hàng, những nguyên nhân nào bên ngoài ngân hàng
Đề tài “Hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Bắc Đà Nẵng” sẽ kế thừa những mặt đạt được của những tài liệu nghiên cứu trước đó như:
- Cơ sở lý luận về công tác thẩm định tài chính DAĐT của ngân hàng thương mại
- Một số phương pháp thẩm định tài chính mà các đề tài trước đã sử dụng như: phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu
Bên cạnh những mặt kế thừa thì luận văn sẽ phát triển thêm nội dung của công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư của ngân hàng thương mại, từ
đó đánh giá thực trạng công tác thẩm định tài chính DAĐT tại ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Bắc Đà Nẵng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định tài chính DAĐT tại Vietinbank Bắc Đà Nẵng
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU
TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
R: Tài nguyên thiên nhiên
Rõ ràng để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh hay rộng hơn là phát triển kinh tế xã hội thì nhất thiết phải có hoạt động đầu tư
Đầu tư theo nghĩa rộng, nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại
để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lơn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt các kết quả
đó Đối với các doanh nghiệp hiểu đơn giản, đầu tư là việc bỏ vốn kinh doanh
để mong thu được lợi nhuận trong tương lai
Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến nâng cao chất lượng
Trang 15sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định
Xét về mặt hình thức thì DAĐT là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống kế hoạch các hoạt động và chi phí tương ứng để đạt được những mục tiêu nhất định trong tương lai
b Phân loại
Trên thực tế dự án rất đa dạng về cấp độ, loại hình, quy mô và thời hạn
Do vậy dự án có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau:
- Theo tính chất của đối tượng đầu tư:
+ Các dự án về sản xuất và kinh doanh dịch vụ có khả năng hoàn vốn + Các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng, văn hóa, xã hội + Các dự án đầu tư tổng hợp phát triển kinh tế vùng
- Theo mức độ chi tiết của dự án:
+ Dự án tiền khả thi: Đối với những dự án có quy mô lớn, vốn đầu tư lớn, giải pháp đầu tư phức tạp, thời gian đầu tư dài, không thể một lúc mà đạt được tính khả thi mà cần trải qua một bước nghiên cứu sơ bộ, đánh giá bước đầu gọi là dự án tiền khả thi
+ Dự án khả thi: Còn được gọi là luận chứng kinh tế kỹ thuật, báo cáo khả thi, giải trình kinh tế - kỹ thuật Là dự án đã được nghiên cứu một cách chi tiết trên tất cả các mặt, bao gồm cả thị trường, chi phí tài chính, mức độ rủi ro… để làm cơ sở cho quyết định có đầu tư hay không
- Theo mối quan hệ giữa các dự án:
+ Dự án đầu tư độc lập: Là dự án khi triển khai có thể tự tồn tại và phát triển, không phụ thuộc vào bất cứ dự án nào khác để hỗ trợ cho nó
+ Dự án đầu tư phụ thuộc: Sự tồn tại và hoạt động cảu dự án này phụ thuộc vào sự tồn tại và hoạt động của dự án khác
+ Dự án đầu tư loại trừ nhau: Chọn dự án này thì phải loại bỏ dự án khác và ngược lại
Trang 16- Theo thời hạn: Dự án ngắn hạn, dự án trung hạn, dự án dài hạn
- Theo phương diện quản lý của Nhà nước:
+ Dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước
+ Dự án đầu tư từ nguồn vốn khác
- Theo quy mô và tầm quan trọng: Dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C
1.1.2 Thẩm định tài chính trong cho vay dự án đầu tư của NHTM
a Khái niệm thẩm định dự án đầu tư của NHTM
Thẩm định DAĐT được nhiều cơ quan tổ chức thực hiện với những mục đích khác nhau như chủ đầu tư, cơ quan chức năng, nhà tài trợ Đối với các NHTM thì thẩm định dự án đầu tư là quá trình kiểm tra, đánh giá lại dự án đầu tư một cách kỹ lưỡng, khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản của dự
án đầu tư để từ đó có quyết định cho vay hợp lý
Trong công tác thẩm định DAĐT của NHTM phải đảm bảo đầy đủ các mặt: sự cần thiết của dự án; thị trường của dự án; thẩm định kỹ thuật, công nghệ của dự án; thẩm định phương diện tổ chức quản lý dự án; thẩm định tài chính của dự án
Ngân hàng thương mại với tư cách là nhà tài trợ vốn cho dự án thì điều
mà ngân hàng quan tâm nhất là an toàn, hiệu quả về vốn vay Do vậy, trong cá nội dung của công tác thẩm định dự án đầu tư như thẩm định tính chất pháp
lý, thẩm định kinh tế, kỹ thuật của dự án, thẩm định tài chính thì công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư là nội dung quan trọng nhất
b Khái niệm thẩm định tài chính trong cho vay dự án đầu tư của NHTM
Thẩm định tài chính trong cho vay dự án đầu tư của NHTM là việc rà soát, đánh giá một cách khoa học và toàn diện mọi khía cạnh tài chính của dự
án để từ đó xác định tính hiệu quả và rủi ro của dự án mang lại cho chủ đầu tư
Trang 17và ngân hàng cho vay
Thẩm định tài chính dự án là nội dung quan trọng nhất trong thẩm định
dự án của NHTM Vì đối với NHTM khi cho vay thì việc thu hồi đủ gốc và lãi vay là quan trọng nhất, nên hiệu quả tài chính là yếu tố mà NHTM quan tâm hàng đầu khi quyết định tài trợ cho dự án
c Mục đích của thẩm định tài chính trong cho vay dự án đầu tư của NHTM
Công tác thẩm định tài chính DAĐT có vai trò rất quan trọng đối với
cả chủ đầu tư và NHTM
Đối với chủ đầu tư việc thẩm định tìa chính DAĐT góp phần giúp chủ đầu tư lựa chọn được nhưng phương án đầu tư tốt nhất, đạt được các lợi ích kinh tế mà dự án đầu tư mang lại
Đối với các NHTM mục đích của thẩm định tài chính dự án nhằm:
- Giúp cho ngân hàng đánh giá được mức độ tin cậy của các thông tin trong dự án mà khách hàng đã lập và gửi cho ngân hàng khi đề xuất vay vốn Các khách hàng khi lập dự án do nhiều nguyên nhân khác nhau như mong muốn được vay vốn, trình độ năng lực còn hạn chế nên có thể thông tin của
dự án không chính xác do đó ngân hàng phải tiến hành thẩm định lại DAĐT
là rất quan trọng
- Đánh giá được hiệu quả tài chính, rủi ro của dự án thông qua các phương pháp phân tích, các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả như NPV, IRR, BPB, PI…
- Giúp cho các ngân hàng tránh tình trạng mắc sai lầm khi đưa quyết định cho vay hay không cho vay
Tóm lại, mục đích của công tác thẩm định tài chính DAĐT là nhằm đánh giá một cách khách quan, trung thực, khoa học hiệu quả tài chính của dự
án đầu tư để ngân hàng thương mại làm căn cứ ra quyết định cho vay hay
Trang 18không cho vay, từ chối các dự án không hiệu quả và đồng thời không bỏ sót những dự án tốt
d Yêu cầu của thẩm định tài chính trong cho vay dự án đầu tư của NHTM
Thẩm định tài chính dự án đầu tư phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Đảm bảo được tính khách quan, toàn diện, chuẩn xác trong quá trình thực hiện, từ đó lựa chọn được dự án có hiệu quả, có tính khả thi cao, có khả năng trả nợ vay cho ngân hàng để cho vay vốn
Tính khách quan: Khi thẩm định dự án phải nhìn nhận dự án trên phương diện hiệu quả của bản thân dự án tạo ra Việc xem xét dự án trên góc
độ của ngân hàng hay của chủ đầu tư đều làm giảm tính khách quan của dự
án
Tính toàn diện: Thẩm định tài chính dự án bao gồm rất nhiều nội dung khác nhau, các nội dung này có quan hệ chặt chẽ với nhau nên yêu cầu của thẩm định tài chính là phải đảm bảo tính toàn diện
Tính chuẩn xác: Những kết luận của thẩm định tài chính rất quan trọng đòi hỏi phải chính xác, khoa học
- Đảm bảo hiệu quả hoạt động, tính bền vững và độ an toàn cao của các
Trang 19a Thẩm định tổng mức đầu tư của dự án
Tổng mức đầu tư cho dự án là giá trị của toàn bộ số tiền và tài sản cần thiết để thiết lập và đưa dự án vào hoạt động
Tổng vốn đầu tư của dự án bao gồm:
- Vốn đầu tư ban đầu:
+ Chi phí trước đầu tư: Đây là những khoản chi phí cần thiết để đảm bảo cho dự án được hình thành, triển khai và đi vào hoạt động Thường có những khoản chi phí như: chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí nghiên cứu
dự án chi phí công tác chuẩn bị đầu tư, chi phí tiền lương ban quản lý, chi phí tuyển chọn nhân viên, chi phí quản lý chung, chi phí sản xuất thử
+ Chi phí đầu tư vào tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình: bao gồm vốn mua sắm máy móc thiết bị, vốn cho xây lắp, vốn đầu tư vào TSCĐ vô hình…
+ Vốn lưu động ròng: Đây là vốn cho những tài sản lưu động tối thiểu cần thiết đảm bảo cho dự án có thể hoạt động bình thường trong những điều kiện kinh tế kỹ thuật dự tính
- Vốn dự phòng: Do dự án hoạt động trong nhiều năm và lượng vốn xác định chỉ là dự tính nên cần có một lượng vốn nhất định để bù đắp trong những trường hợp phát sinh thêm những chi phí mới, bù đắp trượt giá
Để thẩm định tổng mức đầu tư cho dự án cần phải dựa vào các căn cứ chung sau:
+ Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có) và báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt
+ Hồ sơ thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công
+ Khối lượng công tác xây lắp theo thiết kế phù hợp với danh mục định mức, đơn giá xây dựng cơ bản
+ Danh mục và số lượng thiết bị, công nghê
Trang 20+ Giá tính theo đơn vị diện tích hay một đơn vị công suất của các hạng mục công trình thông dụng
Việc thẩm định tổng mức đầu tư của dự án có ý nghĩa rất quan trọng
Có xác định được tổng mức đầu tư hợp lý thì việc đánh giá hiệu quả kinh tế, tài chính của dự án mới có ý nghĩa Nếu tổng mức đầu tư quá cao so với nhu cầu thì sẽ làm giảm hiệu quả và gây lãng phí nguồn vốn, còn nếu tổng mức đầu tư quá thấp thì khi thực hiện dự án sẽ khó khăn có thể gây ra chậm tiến
độ, dự án không triển khai được và phải thực hiện các thủ tục để xin điều chỉnh tổng mức đầu tư
Thẩm định tổng mức đầu tư của dự án là việc xem xét, đánh giá tổng mức đầu tư đã được tính toán đầy đủ, hợp lý, chính xác hay chưa, có cần tính đến những yếu tố làm thay đổi chi phí do lạm phát, thay đổi tỷ giá hối đoái
ty cổ phần), vốn được nhà nước cấp
Việc thẩm định nguồn vốn tự có để tài trợ cho dự án là nội dung rất quan trọng Nhân viên thẩm định phải kiểm tra tính xác thực của các nguồn vốn này trên cơ sở phân tích tình hình tài chính trong quá khứ, các giấy tờ liên quan đến vốn tự có của chủ sở hữu Tránh trường hợp vốn tự có của doanh nghiệp không có để đầu tư vào dự án nhưng lại nâng tổng vốn đầu tư của dự
án lên cao so với nhu cầu thực tế nhằm tăng vốn vay
Trang 21- Vốn vay: Nguồn vốn đi vay để tài trợ dự án có thể từ vay NHTM, phát hành trái phiếu, vay vốn từ các tổ chức và cá nhân khác
Đối với những dự án mà chủ đầu tư vay nguồn khác nhau thì khi thẩm định nguồn vốn vay, nhân viên thẩm định phải xem xét các cam kết cho vay của những tổ chức tín dụng, tổ chức và cá nhân để đảm bảo dự án đủ nguồn vốn để thực hiện
Khi thẩm định cần phải xác định lại nhu cầu vốn theo từng tiến độ thực hiện dự án, tỷ lệ các nguồn vốn tham gia Thông thường vốn tự có chủ sở hữu
bỏ ra trước hoặc có thể theo một tỷ lệ nhất định giữa vốn tự có và vốn vay
c Thẩm định doanh thu, chi phí của dự án
- Thẩm định doanh thu của dự án:
Doanh thu hoạt động của dự án bao gồm doanh thu do bán sản phẩm chính, sản phẩm phụ, phế liệu, phế phẩm và từ dịch vụ cung cấp bên ngoài Doanh thu của dự án được tính cho từng năm hoạt động và căn cứ trên kế hoạch sản xuất và tiêu thụ hàng năm của dự án
Khi thẩm định doanh thu phải xem xét các cơ sở tính toán doanh thu có hợp lý hay không như: tiến độ của dự án, khả năng tiêu thụ sản phẩm, dự kiến công suất hoạt động hàng năm có hợp lý hay không, giá bán có hợp lý và đủ sức cạnh tranh trên thị trường hay không, dự kiến những biến động của thị trường, lạm phát…
Trang 22dưỡng, sửa chữa máy móc thiết bị, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi vay và các khoản chi phí khác
Khi thẩm định nên kiểm tra các chi phí biến đổi theo các tiêu chuẩn định mức hợp lý hoặc so sánh với các dự án cùng loại Một số khoản chi phí
có thể tính theo doanh thu: chi phí quản lý, chi phí bán hàng…Riêng chi phí khấu hao được xác định tùy thuộc phương pháp khấu hao mà chủ đầu tư lựa chọn trong phạm vi khống chế theo quy định của Bộ Tài chính
- Thẩm định báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh:
Trên cơ sở doanh thu, chi phí đã được thẩm định kết hợp với chính sách thuế theo quy định hiện hành để xác định kết quả sản xuất kinh doanh hàng năm của dự án
d Thẩm định dòng tiền của dự án
Dòng tiền của dự án được định nghĩa là phần chênh lệch trong dòng tiền của doanh nghiệp trong từng giai đoạn mà dự án được thực hiện so với lúc không thực hiện dự án
Dòng tiền
của dự án =
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của dự án +
Thay đổi vốn lưu động ròng
+ Chi tiêu vốn của dự án
Trong đó:
Dòng tiền từ hoạt động
kinh doanh của dự án =
Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao
Khấu hao: Khoản tiền đầu tư vào tài sản cố định của dự án thường
được phân bổ trong các năm hoạt động của dự án, gọi là chi phí khấu hao và
Trang 23sau đó tài sản có thể được thanh lý Khoảng thời gain khấu hao thường bằng tuổi thọ kinh tế tài sản, vì sau khi sản phẩm được sản xuất bởi tài sản cố định
đó đã hết khả năng tiêu thụ, sẽ không còn doanh thu để bù đắp chi phí kjhaaus hao Nói cách khác, tài sản cố định thường được khấu hao hết khi nó đã đi hết vòng đời hữu dụng của mình Do khấu hao được đưa vào chi phí của doanh nghiệp nên làm giảm lợi nhuận Tuy nhiên, khấu hao không phải là khoản chi tiền, nên mức khấu hao không làm giảm dòng tiền mà ngược lại, còn làm tằng
vì số thuế phải nộp giảm xuống
Trong hoặc cuối đời hoạt động, tài sản cố định có thể được thanh lý Khi đó dự án có thể có thêm một khoản thu nhập (hoặc lỗ) ròng bằng giá bán trừ chi phí thanh lý cũng làm tăng (giảm) thuế phải nộp tương ứng với mức thuế suất của doanh nghiệp
Thay đổi vốn lưu động ròng: Thông thường một dự án mới sẽ đòi hỏi
phải có thêm hàng dự trữ và doanh thu từ dự án cũng tạo nên những khoản phải thu mới Vì vả hàng dự trữ và khoản phải thu đều là kết quả của việc đầu
tư nên cần phải đưa lượng vốn lưu động ròng vào vốn đầu tư, tương tự như tài sản cố định Tuy nhiên, khi sản xuất mở rộng thì những khoản phải trả cũng tăng lên, làm giảm nhu cầu tài trợ cho dự án Phần chênh lệch giữa lượng tăng thêm về tài sản lưu động và nợ ngắn hạn thường là dương, và do vậy đòi hỏi phải có thêm tiền đầu tư vào phần này ngoài tiền đầu tư vào tài sản cố định Phần chênh lệch này gọi là vốn lưu động ròng tăng thêm
Khi dự án kết thúc, lượng tài sản lưu động dự trữ này cũng được thanh
lý để thu tiền về Do tính chất của tài sản lưu động là tương đối dễ bán, nên để thuận tiện trong quá trình phân tích, giá trị thu hổi thường được giả thiết bằng đúng số tiền đã chi ra
Chi tiêu vốn: Là khoản đầu tư để thay thế, bổ sung tài sản cố định,
được tính vào dòng tiền chi ra của dự án Lúc này dòng thu cũng tăng thêm
Trang 24phần giá trị khấu hao tài sản đầu tư bổ sung tương ứng
Khi thẩm định dòng tiền của dự án cần phải lưu ý đến một số dòng tiền đặc biệt sau:
Chi phí chìm: Chi phí chìm là chi phí đã xuất hiện từ trước mà không
thể bù đắp cho dù dự án có được chấp thuận hay không Chi phí chìm không phải là chi phí tăng thêm nên không được đưa vào phân tích
Chi phí cơ hội: Chi phí cơ hội thể hiện một cơ hội bị mất nếu sử dụng
những tài sản sẵn có vào dự án đang xem xét Vì vậy chi phí cơ hội cần phải đưa vào để phân tích
Tác dụng phụ: Dòng tiền chênh lệch của một dự án bao gồm tất cả các
thay đổi dòng tiền của doanh nghiệp được gây ra bởi việc thực hiện dự án Trong nhiều trường hợp, việc chấp nhận dự án có thể gây ra những tác động phụ, kể cả tốt và xấu đối với dòng tiền của doanh nghiệp Tác động phụ nổi bật đó là sự xói mòn Xói mòn là hiện tượng dòng tiền được tạo ra bởi dự án mới bắt nguồn từ những dự án hiện tại của doanh nghiệp
Tác động của thuế: Khi đánh giá dự án, điều quan trọng là dòng tiền
phải phát sinh từ dự án và được dành cho chủ đầu tư Do vậy dự án phải được đánh giá trên cơ sở dòng tiền sau thuế Thuế có tác động rất lớn đến dòng tiền,
và trong nhiều trường hợp, thuế có thể thúc đẩy và phá vỡ một dự án Thông thường một chế độ thuế có thể tác động đến dự án theo ba mặt:
- Giảm thuế đối với vốn đầu tư vào TSCĐ thông qua chi phí khấu hao
- Tăng (giảm) thuế đối với một khoản lợi nhuận (lỗ) được tạo ra bởi dự
Trang 25e Thẩm định tỷ suất chiết khấu của dự án
Tỷ suất chiết khấu là tỷ suất sinh lời tối thiểu mà nhà đầu tư yêu cầu đối với dự án, đây là cơ sở để chiết khấu các dòng tiền của dự án về giá trị hiện tại từ đó xác định giá trị hiện tại ròng của dự án
Bản chất của tỷ suất chiết khấu của dự án chính là chi phí sử dụng vốn của dự án đó Rõ ràng nếu thực hiện dự án, nhà đầu tư sẽ bỏ qua lợi tức kỳ vọng của các dự án khác hay các tài sản khác có cùng mức rủi ro Chính vì bỏ qua các hình thức đầu tư khác để tập trung theo đuổi một dự án, nhà đầu tư sẽ đòi hỏi một mức lãi suất chiết khấu- tỷ lệ sinh lời cần thiết đối với dự án đó
Đối với vốn vay: là lãi suất vay vốn sau thuế
Trong trường hợp dự án được đầu tư từ nhiều nguồn vốn khác nhau thì lãi suất chiết khấu chung sẽ được tính bình quân từ lãi suất chiết khấu của các nguồn tài trợ chó dự án
f Thẩm định các chỉ tiêu tài chính của dự án
Các chỉ tiêu tài chính của dự án có thể được phân thành hai nhóm: Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của dự án như: giá trị hiện tại ròng (NPV), tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR), chỉ số doanh lợi (PI)
Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng trả nợ của dự án như: Thời gian hoàn vốn (PP), điểm hòa vốn (BP), hệ số khả năng trả nợ…
- Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của dự án:
+ Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng (NPV- Net present value): là chênh lệch giữa tổng giá trị hiện tại của các dòng tiền thu được trong từng năm thực hiện
dự án với vốn đầu tư bỏ ra được hiện tại hóa ở mốc 0 NPV mang giá trị dương nghĩa là việc thực hiện dự án sẽ tạo ra giá trị tăng thêm cho chủ đầu tư, hay nói cách khác, dự án không những bù đặp đủ vốn đầu tư bỏ ra mà còn tạo
ra lợi nhuận Ngược lại, nếu NPV âm có nghĩa là dự án không đủ bù đắp vốn đầu tư, đem lại thua lỗ của chủ đầu tư NPV cho biết quy mô của khoản thu
Trang 26nhập ròng mà dự án có thể mang lại sau khi đã hoàn đủ vốn đầu tư ban đầu tính theo hiện giá
Ưu điểm của chỉ tiêu NPV phản ánh đầy đủ các khía cạnh của chi phí
và kết quả của dự án, cho thấy mức lợi ích tuyệt đối mà dự án có thể mang lại cho chủ đầu tư, cho phép đánh giá được quy mô lợi ích của dự án, có tính đến yếu tố thời gian của dòng tiền Dự án chỉ được chấp nhận khi NPV > 0; NPV càng lớn càng tốt nếu chỉ xét đơn thuần về khả năng sinh lời, nhất là khi thẩm định các dự án loại trừ nhau
Nhược điểm của NPV là những dự án có quy mô khác nhau thì NPV khác nhau, chưa tính đến thời gian hoạt động của dự án Lãi suất chiết khấu được giả định là không thay đổi trong suốt vòng đời của dự án, không phản ánh được mức sinh lãi của đồng vốn đầu tư và độ tin cậy của NPV phụ thuộc vào khả năng lựa chọn tỷ suất chiết khấu
+ Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR – Internal rate return): là trường hợp đặc biệt của tỷ suất chiết khấu ở đó NPV bằng 0 IRR phản ánh tỷ suất hoàn vốn của dự án, dựa trên giả định các dòng tiền thu được trong các năm được tái đầu tư với lãi suất bằng với tỷ suất chiết khấu Thông thường IRR cho kết quả thống nhất với chỉ tiêu NPV, song cũng có những trường hợp xảy ra mâu thuẫn Điều này là do sự khác biệt về quy mô đầu tư và sự khác nhau trong phân bổ dòng tiền theo thời gian Trong những trường hợp này thì chỉ tiêu NPV thường được lựa chọn
Ưu điểm của IRR là một mặt biểu hiện mức lãi suất mà dự án mang lại cho vốn đầu tư, mặt khác có ưu thế sử dụng trong thực tế là ở chỗ nó là mức lãi suất chiết khấu tối đat mà dự án có thể chấp nhận được để đảm bảo thu hồi vốn đầu tư (vì với lãi suất chiết khấu lớn hơn thì NPV < 0) Việc sử dụng IRR cũng rất thuận tiện trong tính toán, không gặp phải khó khăn đối với việc lựa chọn lãi suất chiết khấu như khi tính NPV, IRR cũng phản ánh được tỷ lệ sinh
Trang 27lời của bản thân dự án và tạo ra cơ sở thuận lợi cho việc đánh giá dự án Đặc biệt trong trường hợp dự án được đầu tư bằng vốn vay, giả sử với lãi suất vay
là i% thì nếu IRR < i thì dự án không đủ tiền để trả nợ, IRR = i thì dự án vừa
đủ để trả nợ và nếu IRR > i thì nhà đầu tư không những có thể trả được nợ mà
có lợi nhuận
+ Chỉ số doanh lợi (PI): là chỉ số phản ánh khả năng sinh lời của dự án
PI cho biết một đồng vốn đầu tư bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu đồng thu nhập
- Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi nợ của dự án:
+ Thời gian hoàn vốn (PP- Pay back period): là thời gian cần thiết để thu hồi toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu từ các dòng tiền tích lũy kiếm được từ
dự án PP phản ánh thời gián thu hồi vốn đầu tư vào dự án, nó cho biết sau bao lâu thì dự án thu hồi đủ vốn đầu tư, do vậy PP cho biết khả năng tạo ra thu nhập của dự án từ khi thực hiện cho đến khi thu hồi đủ vốn PP giúp cho người thẩm định có một cái nhìn tương đối chính xác về mức độ rủi ro của dự
án Một dự án có PP càng nhỏ càng tốt bởi vốn đầu tư mau chóng thu hồi sẽ được tái đầu tư, hạn chế được mức độ rủi ro do thua lỗ nhất là trong điều kiện cạnh tranh mạnh mẽ Thời gian hoàn vốn là phương pháp có độ tin cậy cao vì
PP thường là những năm đầu khai thác dự án, mức độ bất trắc ít hơn những năm sau, các số liệu dự báo đối với những năm đầu cũng có độ tin cậy cao hơn những năm sau
Hạn chế của PP là không xét đến những khoản thu nhập sau thời kỳ hoàn vôn Đôi khi có những dự án có PP lớn nhưng những thu nhập về sau lại cao hơn thì vẫn là một dự án tốt Đồng thời PP chưa chú ý đến yếu tố thời giá của đồng tiền
+ Điểm hòa vốn trả nợ: Chỉ tiêu này cho phép xác định trong từng năm vay và cam kết trả nợ, mức doanh thu tối thiểu cần phải đạt được đủ để trả nợ
Trang 28+ Hệ số khả năng trả nợ: phản ánh khả năng trả nợ vay (gốc vay, lãi vay và phí) của dự án Hệ số này được xác định như sau:
Hệ số khả năng trả nợ =
Hệ số này 1 thì dự án có khả năng hoàn trả vốn vay
g Phân tích rủi ro của dự án
Rủi ro của dự án được hiểu một cách chung nhất là khả năng năng mà một sự kiện không có lợi nào đó xuất hiện Các nhà đầu tư quan niệm rằng rủi
ro của một khoản đầu tư xảy ra khi lợi tức thực tế thấp hơn so với lợi tức dự kiến của dự án
Trong thẩm định dự án, ngân hàng không thể xét xét hết tất cả khả năng mà dự án có thể gặp phải, mà kết quả của dự án sẽ phụ thuộc rất lớn vào những yếu tố bất định trong tương lai Vì vậy việc thẩm định rủi ro của dự án giúp cho ngân hàng có thể đánh giá được mức độ chắc chắn của kết quả dự tính, từ đó lưu ý chủ đầu tư một số rủi ro mà dự án có thể gặp phải
Để đánh giá rủi ro của dự án thì các phương pháp được sử dụng là:
- Phương pháp phân tích độ nhạy:
Phân tích về mặt lý thuyết cũng như trên thực tế cho thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng và tác động lên dòng tiền của dự án Các yếu tố tác động đến dòng tiền được thiết lập trên cơ sở sự phân bố xác suất và tính kỳ vọng toán chứ không phải biết chúng một cách chắc chắn Và như vậy khi một biến quan trọng như số lượng bán hàng thay đổi sẽ dẫn tới dòng tiền thay đổi rất lớn và khi đó giá trị hiện tại ròng (NPV) và tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR) sẽ thay đổi Thực hiện phương pháp phân tích độ nhạy là chỉ ra chính xác các chỉ tiêu tài chính thay đổi như thế nào khi các biến đầu vào thay đổi Có thể sử dụng phân tích độ nhạy một chiều hay đa chiều
+ Phân tích độ nhạy một chiều: cho giá trị của một biến số thay đổi
Trang 29+ Phân tích độ nhạy hai hay đa chiều: cho giá trị của hai hay nhiều biến
số thay đổi cùng một lúc
Phân tích độ nhạy dự án giúp cho chủ đầu tư biết được dự án nhạy cảm với những biến số nào Hay nói cách khác, biến số nào gây nên sự thay đổi nhiều nhất của chỉ tiêu hiệu quả cần xem xét, để từ đó có biện pháp quản lý chúng trong quá trình thực hiện dự án Mặt khác phân tích độ nhạy còn cho phép lựa chọn những dự án có độ an toàn cao Những dự án có độ an toàn cao
là những dự án vẫn đạt được hiệu quả khi những biến số tác động đến nó thay đổi theo chiều hướng không có lợi
- Phương pháp điều chỉnh tỷ lệ chiết khấu:
Như chúng ta đã biết các phương pháp thẩm định hiệu quả tài chính dự
án về cơ bản là các phương pháp hiện giá, do vậy kết quả của việc thẩm định phụ thuộc rất nhiều vào mức tỷ lệ chiết khấu đã lựa chọn làm cơ sở cho việc tính toán Bản chất của việc lựa chọn đọ là ở chỗ lấy tỷ lệ chiết khấu là chi phí cần thiết cho việc sử dụng vốn, có nghĩa là người thẩm định trên cơ sở phân tích đã tự xác định một mức hiệu quả cho trước, khi tỷ lệ chiết khấu càng nhỏ thì hiệu quả đạt được càng lớn và ngược lại Rõ ràng việc xác định như vậy còn mang tính chất chủ quan, do vậy để đề phòng coi như ta phải giải định hiêu quả có thể đạt thấp hơn ở mức độ nào đố bằng cách sử dụng một tỷ lệ chiết khấu cao hơn, có nghĩa là điều chỉnh tỷ lệ chiết khấu tăng lên Đó là bản chất của phương pháp này
Nội dung cơ bản của phượng pháp này là điều chỉnh tỷ lệ chiết khấu cơ
sở được xem là không có rủi ro (hoặc đã chấp nhận ở mức rủi ro tối thiểu, ví
dụ như bằng lãi suất trái phiếu chỉnh phủ ) bằng cách cộng thêm vào tỷ lệ chiết khấu cơ sở này một mức bù rủi ro cần thiết Lượng cộng thêm vào này lớn hay nhỏ tùy thuộc vào mức độ mạo hiểm của dự án Điều này có nghĩa là mức độ mạo hiểm của dự án càng cao thì tỷ lệ chiết khấu càng cao Phân
Trang 30chênh lệch giữa tỷ lệ chiết khấu đã được điều chỉnh (tỷ lệ chiết khấu đầy đủ) với chi phí sử dụng vốn được gọi là phần dự phòng bù đắp rủi ro Như vậy, các dự án khác nhau thường có độ rủi ro khác nhau nên có các tỷ lệ chiết khấu đầy đủ khác nhau
Theo nguyên tắc cộng mức bù rủi ro nói trên, tỷ lệ chiết khấu đầy đủ có thể được xác định theo công thức sau:
70 mẫu đạt hàm lượng vàng có thể khai thác được Như vậy xác suất của rủi
ro trong trường hợp này là 30%
- Phương pháp phân tích độ lệch chuẩn:
Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án là một tính toán cho tương lai,
mà tương lai thì không chắc chắn Thời gian càng dài thì tính hiện thực càng kém Do vậy, sự mạo hiểm của dự án được thể hiện ở sự biến động của các chỉ tiêu hiệu quả Theo phương pháp phân tích độ lệch chuẩn, tỷ lệ chiết khấu được giữ nguyên và người ta chỉ xác định độ biến động của chỉ tiêu hiệu quả
mà dự án mang lại trong tương lai
Độ biến động được thể hiện qua độ lệch chuẩn và phản ánh sự mạo hieuerm của dự án Độ lệch chuẩn càng nhỏ thì mức độ an toàn của dự án càng cao và ngược lại
Trang 31Độ lệch chuẩn được xác định theo công thức như sau:
Trong đó:
: là độ lệch chuẩn
I: các tình huống ( i = 1, 2, ,n)
Ri : Trị số chỉ tiêu tài chính đang tính ở tình huống i
Pi: xác suất xẩy ra tình huống i
: kỳ vọng toán của chỉ tiêu tài chính đang tính, được xác định như sau:
Trong nhiều trường hợp, khi thẩm định các dự án thuộc loại loại bỏ lẫn nhau, nhưng lại có độ lệch chuẩn bằng nhau, thì người ta phải dựa vào hệ số biến thiên để đánh giá Hệ số biến thiên được xác định theo công thức:
Dự án nào có H nhỏ hơn thì mức độ rủi ro ít hơn
- Phương pháp phân tích tình huống:
Phân tích tình huống dựa trên nhận thức cơ bản rằng các biến số có quan hệ qua lại với nhau Như vậy, một vài biến số có thể thay đổi theo một kiểu nhất định tại cùng một thời điểm
Phân tích tình huống là dạng phân tích tất định, trong đó một tập hợp của nhiều biến rủi ro được chọn do được đánh giá là mang lại rủi ro nhiều
Trang 32nhất và được sắp đặt theo các tình huống: lạc quan, trung bình, bi quan Mục đích là nhằm xem xét kết quả của dự án trong các tình huống đó như thế nào
để từ đó góp phần quan trọng trong việc đưa ra các kết luận về dự án Dự án tốt là dự án có NPV >0 ngay cả trong tình huống xấu nhất Dự án không hiệu quả khi NPV<0 ngay cả trong tình huống tốt nhất
Như vậy, muốn có kết quả cho mỗi tình huống ta phải tiến hành tính toán lại kết quả dự án dựa trhe các dữ liệu của từng kịch bản Có bao nhiêu kịch bản thì bấy nhiêu lần phải làm lại từ đầu
- Phương pháp phân tích mô phỏng:
Phân tích mô phỏng là phương pháp phân tích sự tác động của nhiều yếu tố lên các chỉ tiêu phân tích thông qua rất nhiều tình huống Từ đó xác định được xác suất dự án có hiệu quả
Ý tưởng cơ bản của phương pháp mô phỏng là xây dựng một cấu hình thực nghiệm, cấu hình này sẽ hoạt động mô phỏng các tình huống cần phân tích theo những khía cạnh quan trọng nào đó bằng những phương cách ít tốn kém chi phí và nhanh chóng
Mục tiêu của mô phỏng là tạo ra một môi trường mà trong đó các tình huống có khả năng xẩy ra có thể đạt được thông qua thực nghiệm Các mô hình mô phỏng thường được sử dụng để phân tích một quyết định trong điều kiện có rủi ro, đó là mô hình mà khả năng biến động một hay nhiều yếu tố của
mô hình là không biết được một cách chắc chắn
1.2 HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.2.1 Nội dung công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại NHTM
a Thu thập dữ liệu
Thu thập dữ liệu là bước đầu tiên trong quá trình thẩm định tài chính dự
án Khi tiếp nhận hồ sơ từ khách hàng, nhân viên thẩm định phải kiểm tra
Trang 33xem hồ sơ đã đầy đủ theo quy định của ngân hàng hay chưa, nếu còn thiếu thì yêu cầu khách hàng bổ sung thêm
Để thẩm định toàn bộ dự án đầu tư thì phải thu thập tất cả những thông tin liên quan đến dự án và chủ đầu tư thực hiện dự án như hồ sơ pháp lý, hồ
sơ năng lực, hồ sơ tài chính Tuy nhiên, để phục vu công tác thẩm định tài chính của dự án đầu tư thì dữ liệu cần phải thu thập đó là những dữ liệu liên quan đến tổng mức đầu tư, yếu tố đầu vào, đầu ra, nguồn vốn của dự án
Dữ liệu về tổng mức đầu tư của dự án chính là bản dự toán mà cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền phê duyệt dự án đã phê duyệt
Yếu tố đầu vào của dự án chính là mặt bằng nhà xưởng, máy móc thiết
bị, nhân công, nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho quá trình xây dựng và vận hành của dự án Những yếu tố đầu vào này phải xác định một cách chính xác, phù hợp vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến tổng mức đầu tư, dòng tiền chi ra của
dự án Nhân viên thẩm định phải tìm hiểu thông tin về các nhà cung cấp những yếu tố đầu vào cho dự án từ đó mới đánh giá được chất lượng, giá cả của các yếu tố này
Yếu tố đầu ra chính là sản phẩm của dự án bao gồm sản phẩm chính, sản phẩm phụ, phế phẩm Yếu tố đầu ra đóng vai trò quan trọng vì nó quyết định trực tiếp đến hiệu quả của dự án, ảnh hưởng đến dòng tiền vào của dự án Nhân viên thẩm định phải thu thập những dữ liệu liên quan đến nhu cầu cùa thị trường, thị phần của doanh nghiệp, các đối thủ cạnh tranh, thế mạnh mà sản phẩm của dự án tạo ra để từ đó có thể đánh giá được khả năng tiêu thụ sản phẩm của dự án
Để có được thông tin về nguồn vốn đầu tư cho dự án thì nhân viên thẩm định phải thu thập những dữ liệu như tình hình tài chính của chủ đầu tư, các văn bản cam kết cho vay, đầu tư của các các nhân, tổ chức, quyết định của cơ
Trang 34quan có thẩm quyền về việc giao nguồn vốn từ ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp
Hệ thống dữ liệu mà nhân viên thẩm định thu thập được kết hợp từ thông tin mà khách hàng vay vốn cung cấp với hệ thống lưu trữ thông tin của nội bộ ngân hàng và từ bên ngoài như như cơ quan thuế, các tổ chức tín dụng khác, thị trường
b Xử lý dữ liệu và tiến hành thẩm định
Sau khi thu thập dữ liệu, nhân viên thẩm định sẽ tiến hành xử lý số liệu, kiểm tra tính chính xác, hợp lý của những dữ liệu đã thu thập được Từ số liệu
đã được xử lý, nhân viên thẩm định sẽ tiến hành thẩm định tài chính của dự
án bao gồm các nội dung như: thẩm định tổng mức đầu tư, nguồn vốn của dự
án, hiệu quả tài chính của dự án, rủi ro của dự án
Để thực hiện tính toán những nội dung trên, nhân viên thẩm định sẽ tiến hành lập các bảng dữ liệu Thông thường các bảng này được đưa vào trong phần mềm excel, gồm các bảng sau:
Bảng dữ liệu gốc: Đây là bảng thông số dữ liệu nguồn cho mọi tính toán Bảng này phải được lập từ lúc bắt đầu công tác tiến hành thẩm định Những thay đổi ở bảng này sẽ ảnh hưởng đến kết quả phân tích Tùy thuộc vào mức độ phức tạp của từng dự án mà bảng dữ liệu gốc có thể có là bảng chi tiết tổng mức vốn đầu tư; bảng chi tiết về chi phí nguyên vật liệu; bảng chi phí nhân công, bán hàng, quản lý cho dự án; bảng sản lượng và doanh thu của
dự án
Bảng tính trung gian: Để phục vụ cho việc tính toán hiệu quả tài chính,
độ rủi ro của dự án thì cần phải lập các bảng tính trung gian Các bảng tính này là sự cụ thể hóa dòng tiền vào và dòng tiền chi ra của dự án Một số bảng tính trung gian cần lập như bảng kế hoạch trả nợ, bảng tính khấu hao các tài sản cố định
Trang 35Bảng kết quả tính toán: Từ những dữ liệu ở bảng dữ liệu gốc và bảng tính trung gian nhân viên thẩm định dựa vào công thức tính toán để đưa ra bảng kết quả tính toán Bao gồm bảng kết quả kinh doanh, bảng tính toán hạn mức vốn lưu động cho dự án, bảng tính hiệu quả của dự án, bảng tính độ rủi
Trên cơ sở tờ trình đề xuất của nhân viên thẩm định, các cấp có thẩm quyền phê duyệt trong ngân hàng sẽ xem xét lại để đưa ra kết luận cuối cùng
Có đồng ý với những đề xuất trong tờ trình thẩm định hay không, có thể đồng
ý toàn bộ nội dung hoặc đồng ý một phần hoặc không đồng ý toàn bộ
Sau khi các cấp có thẩm quyền của ngân hàng đồng ý phê duyệt cho vay đối với dự án, các bộ phận có liên quan sẽ thực hiện tiếp tục các công việc khác như ra thông báo tín dụng cho khách hàng, ký kết hợp đồng tín dụng, giải ngân, thu nợ
d Kiểm tra, giám sát
Việc kiểm tra, giám sát được thực hiện cả trong quá trình thẩm định và sau khi cho vay Công việc này nhằm đảm bảo hoạt động thẩm định tuân thủ đúng quy trình mà NHTM đã đề ra Việc kiểm tra, giám sát công tác thẩm định phải được thực hiện trên cả hai mặt là nội dung thẩm định và cách thức thực hiện thẩm định:
Trang 36Kiểm tra nội dung thẩm định: Công tác này nhằm xem xét nhân viên thẩm định có thực hiện đầy đủ, chính xác các nội dung cần thiết để thẩm định tài chính dự án theo đúng quy định hay không
Kiểm tra về cách thức thực hiện thẩm định: Công tác này nhằm xem xét việc thẩm định đã được thực hiện đúng quy trình hướng dẫn chung của ngân hàng, phân công thẩm định đã đúng với chức năng của từng người, từng bộ phận hay không
Công tác giám sát nhằm đánh giá thường xuyên tình hình hoạt động của
dự án để từ đó đưa ra những giải pháp hạn chế rủi ro cho ngân hàng, đồng thời trong quá trình kiểm tra, kiểm soát sẽ đánh giá được kết quả của báo cáo thẩm định đưa ra so với thực tế khi triển khai dự án có sai lệch nhau hay không, đưa ra những nguyên nhân và biện pháp khắc phục để góp phần nâng cao chất lượng của công tác thẩm định tài chính dự án
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá kết quả công tác thẩm định tài chính dự
án đầu tư của NHTM
a Số lượng và quy mô của các dự án đã được thẩm định
Hai chỉ tiêu này phản ánh quy mô khối lượng công việc thẩm định đã thực hiện (bao gồm cả dự án được cho vay và từ chối cho vay) Số lượng, quy
mô của các dự án đã được thẩm định thể hiện được năng lực thẩm định của ngân hàng thương mại
Bên cạnh đó số lượng và quy mô của các dự án đã được thẩm định còn thể hiện được khả năng thu hút khách hàng của ngân hàng thương mại Các NHTM có số lượng và quy mô của các dự án đã được thẩm định lớn chứng tỏ ngân hàng đó có uy tín trong việc cung cấp các khoản tín dụng cho DAĐT Việc được khách hàng tin tưởng có sự đóng góp rất lớn trong công tác thẩm định tài chính dự án
Trang 37b Độ chính xác, toàn diện trong nội dung và kết luận của báo cáo thẩm định
Tiêu chí này đánh giá trực tiếp chất lượng của công tác thẩm định tài chính dự án Tiêu chí này chỉ được xác định khi các dự án đã được quyết định tài trợ thông qua việc so sánh nội dung và kết luận của báo cáo thẩm định với thực tế khi dự án đã đi vào hoạt động ổn định
Về mặt định lượng tiêu chí này được tính toán thông qua sự so sánh các chỉ tiêu tài chính của dự án như tổng vốn đầu tư, doanh thu, chi phí giữa báo cáo thẩm định và thực tế
c Tỷ lệ các dự án hoạt động có hiệu quả, kém hiệu quả
Tiêu chí này phản ánh, số lượng, tỷ lệ các dự án hoạt động có hiệu quả, (hoặc kém hiệu quả) trong các dự án đã được thẩm định đạt yêu cầu và đồng ý tài trợ Thông qua chỉ tiêu này, ngân hàng sẽ xem xét đánh giá lại các quyết định tài trợ của mình cũng như tìm ra các nguyên nhân để từ đó hoàn thiện hơn trong công tác thẩm định dự án
d Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay các dự án đầu tư
Nợ xấu là khoản nợ dưới tiêu chuẩn (từ nhóm 3 trở đi) Đối với các NHTM thì nợ xấu là các khoản nợ mà ngân hàng không thể thu hồi đúng thời hạn và có khả năng mất vốn do khách hàng vay gặp khó khăn hoặc cố tình lừa đảo ngân hàng
Nợ xấu trong ngân hàng do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có nguyên nhân xuất phát từ công tác thẩm định không chính xác Do đó chỉ tiêu này cũng thể hiện sự hoàn thiện của công tác thẩm định dự án
e Chi phí và thời gian thẩm định
Thời gian thẩm định là tiêu chí đánh giá tiến độ hoàn thành công việc thẩm định dự án Thời gian thẩm định phụ thuộc vào quy mô, chất lượng của
dự án, trình độ và kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên thẩm định
Trang 38Chi phí thẩm định dự án bao gồm các khoản chi phí như chi phí thu thập thông tin, xử lý thông tin Các khoản chi phí này cũng cần thiết phải phân bổ một cách hợp lý, chi phí thẩm định cao hay thấp tùy thuộc vào quy
mô, tính phức tạp và mức độ rủi ro của dự án, năng lực và kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên thẩm định
1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng tới công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư
a Nhân tố bên trong ngân hàng
Nhân tố bên trong là những nhân tố nội tại bên trong chi phối, ảnh hưởng đến công tác thẩm định tài chính dự án của ngân hàng Bao gồm các nhân tố sau:
- Nhân tố con người
Con người luôn đóng vai trò quan trọng trong tất cả các hoạt động Đối với việc thẩm định tài chính dự án cũng vậy, nhân tố con người là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công tác thẩm định Người trực tiếp thực hiện công việc thẩm định tài chính đó chính là nhân viên thẩm định
Thẩm định dự án nói chung và thẩm định tài chính của dự án nói riêng không phải là nghiệp vụ đơn giản, nó đòi hỏi người thẩm định phải am hiểu rất nhiều lĩnh vực để có thể nắm bắt được dự án như máy móc thiết bị, bất động sản, giá cả thị trường, thuế, quy hoạch Bên cạnh đó thì kỹ năng, kinh nghiệm của người thẩm định là yếu tố hết sức quan trọng Những kiến thức được tích lũy thông qua hoạt động thực tiễn là vô cùng quý giá cho công việc thẩm định
Ngoài những yếu tố trên thì nhân viên thẩm định còn phải có đạo đức nghề nghiệp, lòng yêu nghề và tính kỷ luật cao Nếu nhân viên thẩm định không có đạo đức tốt, luôn nghĩ đến lợi ích của bản thân thì sẽ đưa ra những
Trang 39kết luận thiếu tính khách quan, minh bạch, ảnh hưởng xấu đến lợi ích của ngân hàng, của khách hàng Lòng yêu nghề và tính kỷ luật cao sẽ giúp nhân viên thẩm định giải quyết công việc một cách có trách nhiệm, hiệu quả, phục tốt khách hàng, mang lại hình ảnh tốt cho ngân hàng
-Thông tin phục vụ thẩm định
Thông tin là một nhân tố rất quan trọng trong quá trình thẩm định Bởi thực chất của việc thẩm định dự án chính là quá trình thu thập và xử lý thông tin để từ đó phục vụ cho việc ra quyết định tín dụng Do vậy để việc thẩm định được chính xác, toàn diện thì đòi hỏi thông tin thu thập được phải đảm bảo tính chính xác, tin cậy, đầy đủ
Để phục vụ hoạt động thẩm định tài chính dự án thì các NHTM có thể thu thập thông tin từ rất nhiều nguồn khác nhau:
+ Thông tin từ khách hàng vay vốn cung cấp: Đây là nguồn thông tin
cơ sở cho việc thẩm định.Tuy nhiên, có một vấn đề liên quan đến nguồn thông tin này là tình trạng thông tin bất đối xứng Các doanh nghiệp vì mong muốn được ngân hàng đồng ý cho vay nên nhiều trường hợp đã cố tình che dấu những thông tin bất lợi cho mình, chỉnh sửa số liệu sao cho dự án khả quan nhất Chính điều đó đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng thẩm định tài chính dự án của NHTM
+ Thông tin từ trung tâm thông tin tín dụng của ngân hàng Nhà nước (CIC): những thông tin này giúp NHTM có thể đánh giá được uy tín trong việc trả nợ, các khoản nợ vay hiện tại của khách hàng
+ Thông tin lưu trữ tại ngân hàng và những thông tin thu thập từ nguồn bên ngoài: Đây là những thông tin liên quan đến tổng vốn đầu tư, giá cả của những yếu tố đầu vào và đầu ra mà ngân hàng thu thập để phục vụ cho việc thẩm định
Trang 40- Quy trình và phương pháp thẩm định
Hoạt động thẩm định luôn phải tuân thủ theo quy trình mà các ngân hàng đã ban hành Một quy trình rõ ràng, logic, khoa học sẽ giúp công việc thẩm định được tiến hành thuận lợi, nhanh chóng, phát huy được năng lực của mỗi nhân viên
Trong quá trình thẩm định việc lựa chọn phương pháp thẩm định, các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả tài chính cũng rất quan trọng Phương pháp và các chỉ tiêu thẩm định phải đánh giá được tính khả thi về mặt tài chính của dự
án, đánh giá được khả năng trả nợ ngân hàng của dự án
- Trang thiết bị phục vụ quá trình thẩm định
Ngày nay sự phát triển của khoa học công nghệ đã hỗ trợ đắc lực cho ngân hàng trong hoạt động thẩm định khách hàng nói chung và thẩm định tài chính dự án nói riêng Hệ thống máy vi tính hiện đại cùng các phần mềm chuyên dùng giúp cho việc lưu trữ thông tin khách hàng rất thuận lợi, công tác thẩm định được tiến hành một cách nhanh chóng, chính xác, toàn diện hơn
Chỉ với một cái máy tính và phần mềm chuyên dùng, một nhân viên thẩm định có thể xử lý một khối lượng thông tin khổng lồ trong thời gian ngắn, việc tính toán các chỉ tiêu tài chính như NPV, IRR, PP, phân tích rủi ro được thực hiện một cách nhanh chóng chỉ với thao tác nhập dữ liệu vào phần mềm trong máy vi tính Tuy nhiên, do việc xử lý dữ liệu bằng hệ thống phần mềm và máy vi tính nên đòi hỏi việc nhập dữ liệu phải rất chuẩn xác và đảm bảo hệ thống phần mềm không gặp sự cố nếu không sẽ cho ra những kết quả thiếu chính xác
- Chính sách tín dụng của ngân hàng
Hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào chính sách tín dụng của ngân hàng đó trong từng thời kỳ cụ thể Chính sách tín dụng bao gồm các nội dung về quy mô tín dụng, điều kiện, tiêu chuẩn đối với khách hàng, vấn