Học Viện Ngân Hàng
Trang 12 Các quan niệm về hệ thống tài chính
II Các bộ phận thuộc HTTC VN theo quan điểm hiện đại
1.Thị trường tài chính
2.Các trung gian tài chính chủ yếu ở VN
3.Cơ sở hạ tầng pháp lí – kĩ thuật
4.Các tổ chức điều hành, giám sát hệ thống tài chính
III Vai trò của Nhà nước đối với HTTC Việt Nam
1 Vai trò của NN đối với các tổ chức tài chính
2 Vai trò của nhà nước đối với việc xây dựng cơ sở hạ tầng tài chính
IV.Vai trò của HTTC với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
1 HTTC tạo ra các nguồn lực phục vụ tăng trưởng kinh tế
2 HTTC ( chủ yếu là TGTC ) có vai trò phân bổ nguồn lực một cách hiệụ quả
V Những điểm còn Hạn chế, yếu kém và Quan điểm của nhóm về các giải pháp cần làm để phát triển và nâng cao vai trò của HTTC VN
1 Những điểm còn hạn chế, yếu kém
2 Quan điểm của nhóm về các giải pháp cần làm để phát triển và nâng cao vai trò của HTTC VN
Trang 2Mở đầu
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay,với xu thế hội
nhập,vai trò của tài chính và hệ thống tài chính là vô cùng quan trọng.Bất kì một tổ chức nào cũng không thế hoạt động sản xuất kinh doanh khi không đủ nguồn lực về vốn,nhu cầu về vốn luôn là vấn đề quan trọng và được ưu tiên hàng đầu khi bước vào một kì kinh doanh mới.Tuy nhiên trong nền kinh tế luôn xuất hiện những chủ thể có vốn nhàn rỗi và những chủ thể có nhu cầu sử dụng vốn cho hoạt động kinh doanh và tiêu dùng nhưng lại không đủ hoặc không có vốn.Nhưng giữa hai loại chủ thể này rất khó gặp nhau để có thể trao đổi nhu cầu về vốn của mình do những cản trở về thời gian,sự quen biết,thông
tin,trình độ và uy tín…Để giải quyết mâu thuẫn đó các định chế tài chính trung gian ra đời,đã tạo nên sự thuận lợi và phân tán rủi ro cho các bên
Xã hội ngày càng phát triển,nhu cầu sử dụng về nguồn vốn ngày càng đa dạng và phức tạp hơn.Trình độ khoa học công nghệ ngày càng cao,trình độ chuyên môn cũng tănglên không ngừng đã giúp cho việc trao đổi tài chính ngày càng trở nên dễ dàng và nhanh hơn với nhiều hình thức tiếp cận nguồn vốn khác nhau.Người ta có thể thỏa mãn nhu cầu
về vốn thông qua thị trường tài chính trực tiếp hoặc qua các trung gian tài chính.Tuy nhiên việc thông qua thị trường tài chính trực tiếp mang lại nhiều nguy cơ tiềm ẩn với rủi
ro cao hơn.Để đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng bền vững đòi hỏi dòng vốn phải đượcluôn chuyển một cách trôi chảy,nhạy bén nhưng phải đặt trong một khuôn khổ, trật tự nhất định.Điều đó đã tạo động lực hình thành và ra đời một hệ thống tài chính nhằm đảm bảo dòng vốn luân chuyển an toàn, hiệu quả hơn
Hiểu được tầm quan trọng của hệ thống tài chính đối với nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập không ngừng mà Việt Nam đang hướng tới.Cho nên việc tìm hiểu hệ thống tài chính và vai trò của hệ thống tài chính đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay là điều hết sức cần thiết Nhằm làm rõ vấn đề này, Nhóm đã đi sâu tập trung tìm hiểu và phân tích“ Các bộ phận của của HTTC Việt Nam và vai trò của HTTC Việt Nam đối với tăng trưởng kinh tế”.
Nội dung nghiên cứu của nhóm gồm 4 phần:
I Các quan điểm về HTTC
II Các bộ phận thuộc HTTC VN theo quan điểm hiện đại
III Vai trò của Nhà nước đối với HTTC Việt Nam
III Vai trò của hệ thống tài chính đối với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
IV Những điểm còn Hạn chế, yếu kém và Quan điểm của nhóm về các giải pháp cần
làm để phát triển và nâng cao vai trò của HTTC VN
Trang 3I.Các quan điểm về HTTC
1.Hệ thống tài chính là gì?
Để hiểu được hệ thống tài chính là gì trước tiên ta cần hiểu được tài chính là gì?
Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hìnhthức giá trị Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ củacác chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhấtđịnh
⟹ Hệ thống tài chính là tổng thể của các bộ phận khác nhau trong một cơ cấu tài chính, mà ở đó các quan hệ tài chính hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau nhưng có nhưng có mối liên hệ với nhau tác động lẫn nhau theo những quy luật nhất định
2.Các quan niệm về hệ thống tài chính:
Quan điểm thứ nhất: Căn cứ vào mục tiêu kiểm soát lãi suất, hệ thống tài chính được chia
thành hai mô hình là: hệ thống tài chính được kiểm soát và hệ thống tài chính tự do
- Hệ thống tài chính được kiểm soát:
+ Đặc trưng: lãi suất ngân hàng được ấn định, kiểm soát chặt chẽ và gần như cố định; tỉ lệ dự trữ bắt buộc cao; tồn tại tình trạng phân bổ và chỉ định tín dụng; không tồn tại yếu tố cạnh tranh trong ngân hàng độc quyền bởi nhà nước; điều kiện để loại hình hệ thống này tồn tại và phát triển là sự can thiệp và kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước thông qua hệ thống ngân hàng thuộc sở hữu của nhà nước.+ Mục đích: ổn định kinh tế hướng dòng vốn vào các mục ưu tiên phát triển
+Phạm vi áp dụng: các nước đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi.+Ưu điểm: ổn định kinh tế vĩ mô, thâm hụt ngân sách thấp
+Nhược điểm: lãi suất thực âm, gây sự khác biệt về lãi suất tín dụng, gây tình trạng thiếu vốn đầu tư phát triển nền kinh tế…
Quan điểm này phản ánh hệ thống tài chính nhưng nhấn mạnh đến vai trò của nhà nước trong việc kiểm soát các dòng tài chính
Ở Việt Nam hoạt động theo nguyên tắc này gồm có:
1 Ngân hàng nhà nước Việt Nam: hoạt động nhằm ổn định giá trị đồng tiền,
góp phần đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống tín dụng, thúc đẩy kinh tế phát triển theo hướng Xã hội chủ nghĩa
2 Quỹ bảo hiểm xã hội
3 Ngân hàng chính sách xã hội
4 Quỹ tín dụng trung ương,…
- Hệ thống tài chính tự do:
Trang 4+ Đặc trưng: lãi suất ngân hàng chịu sự tác động hoàn toàn bởi thị trường; tỉ lệ dự trữ bắt buộc, không tồn tại chỉ định và phân bố tín dụng; chịu sức ép cạnh tranh của thị trường tài chính trong việc huy động các nguồn vốn nhàn dỗi của nền kinhtế.
+ Mục đích: thúc đẩy cạnh tranh để tạo động lực phát triển kinh tế
+ Phạm vi áp dụng: các nước có nền kinh tế phát triển
+ Ưu điểm: tăng lãi suất thực, tăng vốn đầu tư nước ngoài, tăng hiệu quả đầu tư+Hạn chế: gây mất ổn định kinh tế vĩ mô, khủng hoảng ngân hàng, rủi ro cao.+ Các tổ chức hoạt động theo hình thức này gồm có: các ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm không thuộc nhà nước, các công ty chứng khoán không thuộc nhà nước, công ty cho thuê tài chính, quỹ tín dụng khu vực,
Quan điểm thứ hai: Hệ thống tài chính là tổng thể các hoạt động tài chính trong các lĩnh
vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân nhưng có quan hệ với nhau trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng cấc nhu cầu khác nhau của các chủ thể kinh
tế - xã hội
- Sơ đồ hệ thống tài chính:
Ngân sách nhà nước
Tín dụng
Bảo hiểm
Tài chính hộ gia đình
Các tổ chức xã hội
Tài chính
tài chính
Trang 5- Đặc trưng: Việc xây dựng hệ thống tài chính theo quan điểm này xuất phát từ các chủ thể trong nền kinh tế Mỗi chủ thể được xác định là chủ thể phân phối tài chính, được coi là
“mắt xích tài chính” hay còn gọi là một “khâu” trong hệ thống tài chính
- Mục đích: thúc đẩy quá trình luân chuyển vốn với nhau
- Phạm vi áp dụng: các quốc gia có nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi
- Ưu điểm: trong những trường hợp nhất định các dòng vốn luân chuyển một cách nhạy bén và linh hoạt trong phạm vi toàn cầu
- Hạn chế: sự can thiệp của nhà nước chỉ dừng lại ở một số lĩnh vực và một số trường hợp nhất định
Quan điểm thứ ba: hệ thống tài chính được xem xét theo cách thức luân chuyển và cung
ứng vốn cho nền kinh tế
- Hệ thống tài chính là một tổng thể bao gồm các thị trường tài chính, các định chế tài chính trung gian, cơ sở hạ tầng pháp lí – kĩ thuật và các tổ chức giám sát và điều hành hệthống tài chính để tổ chức phân bổ nguồn lực tài chính nhằm đạt được những mục tiêu của các chủ thể trong nền kinh tế
- Hệ thống tài chính bao gồm:
Thị trường tài chính : Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển
nhượng quyền sử dụng các khoản vốn ngắn hạn hoặc dài hạn thông qua các công cụ tài chính nhất định
Các công cụ của thị trường tài chính: công cụ trên thị trường tiền tệ, thị trường vốn Chứng khoán bao gốm: chứng khoán nợ và chứng khoán vốn
Các định chế tài chính trung gian: Các chủ thể trong nền kinh tế bao gồm các tổ chức
tài chính và phi tài chính Tổ chức phi tài chính là các tổ chức sản xuất sản phẩm (xe, máy tính,mỹ phẩm, ) hoặc cung cấp các dịch vụ phi tài chính (vận tải, du lịch, các dịch
vụ công cộng khác, ) Các tổ chức tài chính hay chúng ta thường gọi là các tổ chức tài chính trung gian, là các tổ chức có cung cấp một (hoặc nhiều) trong số các dịch vụ sau:
Huy động các nguồn tài chính từ những người có vốn để cho những người cần vốn vay
Làm môi giới mua bán tài sản tài chính theo sự uỷ quyền của khách hàng
Mua bán tài sản tài chính để kiếm lời cho chính công ty mình
Tham gia vào hoạt động đầu tư tài sản tài chính cho nhà đầu tư và sau đó bán chúng trênthị trường để kiếm lợi cho nhà đầu
Cung ứng các dịch vụ cho nhà đầu tư
Quản lý danh mục đầu tư cho nhà đầu tư
Cơ sở hạ tầng pháp lí kĩ thuật
Tổ chức giám sát và điều hành hệ thống tài chính
Trang 6→Quan điểm này phản ánh một cách tổng hợp về hệ thống tài chính trong đó nhấn mạnhcác cách thức thúc đẩy sự luân chuyển vốn từ người có vốn sang người cần vốn một cáchnhanh nhạy, hiệu quả và an toàn nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững Qua
đó ta thấy quan điểm tài chính này phù hợp với nền kinh tế hội nhập Ngày trước HTTC
VN tổ chức theo quan điểm thứ 2, nhưng hiện nay đang theo quan điểm thứ 3
II Các bộ phận thuộc HTTC VN theo quan điểm hiện đại
Hệ thống tài chính Việt Nam hiện nay gồm 4 thành tố chính
1 Thị trường tài chính
Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán quyền sử dụng nguồn tài chính Có rất nhiều cách chia thị trường tài chính khác nhau:
Dựa vào thời hạn của tín dụng, thị trường tài chính được chia làm hai loại là thị
trường tiền tệ (nơi giao dịch các công cụ tài chính có thời hạn dưới 1 năm) và thịtrường vốn (nơi giao dịch các công cụ tài chính có thời hạn trên 1 năm) Ở ViệtNam, hầu hết vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đều do các ngân hàng thươngmại cung cấp
Dựa trên loại tín dụng, hiện Việt Nam cũng đã có thị trường tín phiếu, thị trường
trái phiếu, thị trường cổ phiếu; thị trường vay nợ ngân hàng Trong đó, thị trườngvay nợ ngân hàng là chủ yếu
Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp: Việt Nam cũng đã có thị trường sơ cấp là
nơi phát hành chứng khoán lần đầu tiên Trên thị trường thứ cấp, hiện có 26 loại
cổ phiếu, một chứng chỉ của quỹ đầu tư VF1, các loại trái phiếu chính phủ và tráiphiếu của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được giao dịch
Thị trường tập trung và thị trường phi tập trung: Ở Việt Nam, số lượng các doanh
nghiệp giao dịch trên thị trường tập trung là rất ít, trong khi các giao dịch trên thịtrường phi tập trung là chủ yếu
Thị trường chính thức và phi chính thức: Thị trường chính thức là các NH, các
công ty TC, các công ty CK Thị trường phi chính thức là các hợp tác xã tín dụng,các tổ chức tín dụng vi mô ở nông thôn, hụi Các loại hình tín dụng phi chính thứcnày đóng một vai trò đáng kể trong phát triển kinh tế xã hội Việt Nam
Các công cụ tài chính
Hiện tại trên thị trường tài chính Việt Nam có các loại công cụ tài chính chủ yếu sau:
Tín phiếu kho bạc: Loại này do Kho bạc nhà nước phát hành và được đấu giá chủyếu thông qua thị trường mở của Ngân hàng nhà nước Đây là một công cụ huyđộng nguồn vốn cho chi tiêu ngân sách rất quan trọng của chính phủ
Chứng chỉ tiền gửi: đặc trưng của Việt Nam, chứng chỉ tiền gửi là một loại giấy tờ
có giá do các ngân hàng phát hành có thời hạn trên 1 năm với những đặc điểmtương tự như trái phiếu Loại hình giấy tờ có giá do các ngân hàng thương mạiphát hành có thời hạn dưới một năm được gọi là kỳ phiếu
Vay liên ngân hàng: Đây là loại hình giao dịch rất phổ biến giữa các ngân hàngthương mại với nhau Các loại hình cho vay phổ biến gồm, cho vay qua đêm, chovay có kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng
Trang 7 Thương phiếu: Hiện đã có pháp lệnh về thương phiếu, nhưng hầu như chưa códoanh nghiệp nào phát hành thương phiếu.
Hối phiếu có ngân hàng chấp thuận: Hiện loại hình này thực hiện trong các giaodịch ngoại thương
Hợp đồng mua lại chứng khoán: Hiện nay chưa có giao dịch chính thức
Cổ phiếu: Hiện ở Việt Nam đã có rất nhiều công ty cổ phần nên loại hình này tương đối phổ biến
Trái phiếu chính phủ: Tổng giá trị trái phiếu chính phủ giao dịch trên thị trườngchứng khoán là 24.000 tỷ đồng Ngoài ra trái phiếu chính phủ còn được phát hànhthông qua hệ thống các kho bạc nhà nước địa phương
Trái phiếu đô thị: Do các chính quyền địa phương (tỉnh, thành phố) phát hành.Hiện tại mới có thành phố Hồ Chí Minh phát hành loại trái phiếu này
Trái phiếu DN: Loại này tương đối ít, chủ yếu do các ngân hàng thương mại vàcác tổ chức tài chính phát hành Hiện nay có hai loại trái phiếu đang được giaodịch tương đối phổ biến trên thị trường là trái phiếu của Ngân hàng Đầu tư và Pháttriển Việt Nam và Trái phiếu của Tổng công ty dầu khí Việt Nam
Các loại công cụ tài chính phái sinh
o Hợp đồng kỳ hạn (Forward contract): Hiện trên thị trường Việt Nam có loạihình giao dịch này và chủ yếu là các hợp đồng mua bán ngoại tệ.Hoán đổi(Swap): Hiện ở Việt Nam đã có loại hình này, nhưng lượng giao dịch rấthạn chế Các giao dịch chủ yếu được thực hiện trên thị trường ngoại hối.Các loại hình hoán đổi khác như lãi suất … hầu như chưa xuất hiện
o Quyền chọn: Hiện một số ngân hàng Việt Nam đã có loại hình giao dịchnày, nhưng khối lượng giao dịch là rất hạn chế Chưa có tổ chức tài chínhnào thực sự bán quyền chọn mà chỉ thực hiện dưới hình thức là các trunggian
2 Các trung gian tài chính chủ yếu ở VN
b Tầm ảnh hưởng
Ngân hàng thương mại: Hiện ở Việt Nam có 5 ngân hàng thương mại quốc doanh chiếmhơn 70% thị phần tín dụng và huy động vốn; 37 ngân hàng cổ phần đô thị và nông thôn,
Trang 8chiếm 11% thị phần tín dụng và huy động vốn; 27 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 4ngân hàng liên doanh chiếm 12% thị phần huy động vốn và tín dụng.
- Thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển như cho vay đầu tư phát triển, hỗtrợ sau đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư
- Thực hiện chính sách tín dụng XK như cho vay XK, bảo lãnh tín dụng XK, bảolãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng XK
- Nhận ủy thác quản lý nguồn vốn ODA được Chính phủ cho vay lại; nhận ủy thác,cấp phát cho vay đầu tư và thu hồi nợ của khách hàng từ các tổ chức trong vàngoài nước thông qua hợp đồng nhận ủy thác giữa Ngân hàng Phát triển với các tổchức ủy thác
- Cung ứng các dịch vụ thanh toán cho khách hàng và tham gia hệ thống thanh toántrong nước và quốc tế phục vụ các hoạt động của Ngân hàng Phát triển theo quyđịnh của pháp luật
Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam
• Bảo hiểm là một công cụ tín dụng;
• Góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước thông qua hoạt động
tái bảo hiểm
c Tầm ảnh hưởng
Bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tập trung - quỹ bảo hiểm - nhằm xử lý các rủi ro, các biến cố Bảo hiểm bảo
Trang 9đảm cho quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội được diễn ra bình thường Bảohiểm được xem như là một cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng
từ một cá thể sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm
Tính đến 31/12/2015, 61 doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) hoạt động tại Việt Nam, trong
đó gồm 29 DNBH phi nhân thọ, 1 chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài tại ViệtNam, 17 DNBH nhân thọ, 12 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm (DNMGBH) và 2 doanhnghiệp tái bảo hiểm (DNTBH)
Các công ty tài chính: Hiện có 5 công ty tài chính trực thuộc các tổng công ty lớn Các
công ty tài chính này chủ yếu là dàn xếp tài chính cho tổng công ty mà nó trực thuộc
Quỹ lương hưu: hiện Việt Nam chưa có quỹ lương hưu, nhưng có một quỹ rất lớn đó là
BHXH Việt Nam Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năngthực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và quản lý Quỹ bảo hiểm xãhội theo quy định của pháp luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam chịu sự quản lý nhà nước của
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về BHXH, của Bộ Y tế về bảo hiểm y tế, của BộTài chính về chế độ chính sách đối với các quỹ BHXH, bảo hiểm y tế
Quỹ hỗ trợ phát triển và các quỹ đầu tư phát triển của các tỉnh, thành phố: Quỹ hỗ
trợ phát triển là tổ chức cấp tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước cho các dự án Quỹnày trực thuộc Bộ tài chính Các quỹ đầu tư phát triển địa phương trực thuộc các ủy bannhân dân tỉnh, thành phố Các qũy đầu tư này có nhiệm vụ cho vay các dự án theo địnhhướng phát triển của từng địa phương Quỹ hỗ trợ phát triển và các quỹ đầu tư phát triểncủa các địa phương hoạt động không chịu sự chi phối của luật các tổ chức tín dụng vàkhông chịu sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước
Các công ty cho thuê tài chính: Hiện có 9 công ty cho thuê tài chính, trong đó có 3 liên
doanh 6 công ty còn lại trực thuộc 4 ngân hàng thương mại quốc doanh Trong đó, Ngânhàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thônViệt Nam có 2 công ty Nhìn chung hoạt động thuê mua tài chính còn nhiều hạn chế
Các quỹ tín dụng: có hai loại hình quỹ tín dụng là quỹ tín dụng trung ương và quỹ tín
dụng khu vực Tổng số các hợp tác xã tín dụng là 898 và chiếm 1,5% thị phần huy độngvốn và cho vay
3 Cơ sở hạ tầng pháp lí – kĩ thuật
- Hệ thống luật pháp và quản lý của nhà nước: Tính đến thời điểm hiện tại, với bối
cảnh và điều kiện thực tiễn ở Việt Nam thì hệ thống luật pháp được đánh giá là tương đốiđầy đủ để hệ thống tài chính hoạt động Hiện đã có Luật Ngân sách nhà nước, Luật Ngânhàng nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng, Luật bảo hiểm, luật chứng khoán Tuy nhiênvấn đề quản lý nhà nước chưa thực sự đồng bộ và thống nhất Một số tổ chức có quy môhoạt động tín dụng rất lớn nhưng không chịu sự chi phối của Luật các tổ chức tín dụng vàchịu sự giám sát của Ngân hàng nhà nước như Quỹ Hỗ trợ phát triển và các quỹ đầu tưphát triển địa phương Tổng tài sản của Quỹ hỗ trợ phát triển có thể lớn hơn tổng tài sảncủa ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn
- Nguồn lực và thông lệ giám sát: Theo đánh giá thì nguồn lực và các thông lệ giám sát
Trang 10chưa đáp ứng nhu cầu cho hệ thống tài chính hoạt động lành mạnh, phát triển bền vững
và hội nhập quốc tế
- Cung cấp thông tin: Hiện nay các ngân hàng nói riêng, các tổ chức tài chính nói chung
đang từng bước áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế Các quy định về kiểm toán vẫnchưa thực sự đầy đủ và được tuân thủ một cách nghiêm ngặt Hiện vẫn chưa có hệ thốnglưu trữ thông tin tín dụng và tổ chức xếp loại tín dụng đủ độ tín cậy Hiện trung tâmthông tin tín dụng (CIC) của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang đảm nhận nhiệm vụnày Tuy nhiên để trở thành một tổ chức có độ tin cậy cao thì CIC còn rất nhiều việc phảilàm
- Hệ thống thanh toán: Các tổ chức tài chính, nhất là các ngân hàng thương mại đã xây
dựng hệ thống thanh toán tập trung Từ năm 2002, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đãtriển khai hệ thống thanh toán liên ngân hàng Đây là một bước tiến trong việc áp dụngcông nghệ thanh toán của hệ thống tài chính Việt Nam Khi tất cả các ngân hàng xâydựng xong hệ thống này thì công nghệ thanh toán của hệ thống tài chính Việt Nam làđảm bảo
4 Các tổ chức điều hành, giám sát hệ thống tài chính
4.1 Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia Việt Nam
Là cơ quan do Thủ tướng Chính phủ thành lập, có tư cách pháp nhân, có trụ sở và condấu riêng; được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và ngân hàng thương mại; được bốtrí biên chế hành chính chuyên trách; kinh phí hoạt động của Ủy ban do ngân sách nhànước bảo đảm và được bố trí trong kinh phí hoạt động thường xuyên của Văn phòngChính phủ
Các chức năng cụ thể của Ủy ban là:
• Điều phối hoạt động giám sát chuyên ngành; giám sát chung thị trường tài chính vàviệc chấp hành các thông lệ, chuẩn mực quốc tế về hoạt động giám sát của các cơ quanthanh tra - giám sát chuyên ngành trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm
• Giám sát điều kiện được cấp phép hoạt động của các tổ chức tín dụng, tổ chức tíndụng phi ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm
• Phân tích, dự báo, cảnh báo mức độ an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng và nguy
cơ rủi ro đối với thị trường tài chính quốc gia; thiết lập cơ sở dữ liệu, tổng hợp, xử lý vàcung cấp các thông tin về thị trường tài chính quốc gia báo cáo Thủ tướng Chính phủ
• Kiến nghị với các cơ quan thanh tra - giám sát chuyên ngành và cấp có thẩm quyền xử
lý vi phạm đối với các tổ chức, cá nhân không chấp hành hoặc không thực hiện đầy đủcác điều kiện trong hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán
• Được yêu cầu Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm cung cấp định kỳ và đột xuất cácthông tin liên quan về tài chính - ngân hàng; được trưng tập các cán bộ của các Bộ,ngành khi cần thiết để thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát được giao
4.2 Ngân hàng Nhà Nước
Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngânhàng; là ngân hàng duy nhất phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngânhàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ