Qua thực tế tìm hiểu, quy trình đánh giá và vận dụng mức trọng yếu tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC giúp kiểm toán viên có thể xác định được phạm vi, lịch trình kiểm toán tuy nh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐỖ THỊ THANH VÂN
ĐÁNH GIÁ VÀ VẬN DỤNG MỨC TRỌNG YẾU PHỤC VỤ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ
TOÁN AAC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng – Năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐỖ THỊ THANH VÂN
ĐÁNH GIÁ VÀ VẬN DỤNG MỨC TRỌNG YẾU PHỤC VỤ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Bố cục đề tài 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ VẬN DỤNG MỨC TRỌNG YẾU PHỤC VỤ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 10
1.1 KHÁI NIỆM VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA MỨC TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 10
1.1.1 Khái niệm trọng yếu trong kế toán và kiểm toán 10
1.1.2 Tầm quan trọng của mức trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính 12
1.2 ĐÁNH GIÁ MỨC TRỌNG YẾU 13
1.2.1 Xác định mức trọng yếu tổng thể của báo cáo tài chính 13
1.2.2 Xác định mức trọng yếu thực hiện 21
1.2.3 Xác định mức trọng yếu cho nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh trên báo cáo tài chính 22
1.2.4 Ngưỡng sai sót có thể bỏ qua 26
1.2.5 Điều chỉnh mức trọng yếu 27
1.2.6 Xác định mức trọng yếu đối với kiểm toán tập đoàn 29
1.3 VẬN DỤNG MỨC TRỌNG YẾU ĐỂ ĐÁNH GIÁ SAI PHẠM PHÁT HIỆN ĐƯỢC 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
Trang 5CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ VÀ VẬN DỤNG MỨC TRỌNG YẾU PHỤC VỤ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI
CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC 40
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC 40
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC 40
2.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý và hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính 41
2.2 KHÁI QUÁT VỀ QUI TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC 44
2.2.1 Cơ sở xây dựng quy trình kiểm toán báo cáo tài chính của AAC
44
2.2.2 Phương pháp tiếp cận kiểm toán chung và các nguyên tắc cơ bản khác 44
2.2.3 Mục tiêu của quy trình kiểm toán báo cáo tài chính 44
2.2.4 Các nội dung cơ bản trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính của AAC 45
2.3 CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ VÀ VẬN DỤNG MỨC TRỌNG YẾU PHỤC VỤ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC 50
2.3.1 Xác lập mức trọng yếu tổng thể của báo cáo tài chính 50
2.3.2 Xác định mức trọng yếu thực hiện 59
2.3.3 Ngưỡng sai sót có thể bỏ qua 61
2.3.4 Điều chỉnh mức trọng yếu thực hiện trong quá trình kiểm toán 63 2.3.5 Vận dụng mức trọng yếu để đánh giá mức độ sai phạm phát hiện được 66
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 79
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐÁNH GIÁ VÀ VẬN DỤNG MỨC TRỌNG YẾU PHỤC VỤ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC 81
3.1 NHẬN XÉT VỀ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ VÀ VẬN DỤNG MỨC TRỌNG YẾU PHỤC VỤ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG
TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC 81 3.1.1 Những kết quả đạt được trong công tác đánh giá và vận dụng mức trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính 81 3.1.2 Những hạn chế, tồn tại trong công tác đánh giá và vận dụng mức trọng yếu 82 3.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại 84 3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐÁNH GIÁ VÀ VẬN DỤNG MỨC TRỌNG YẾU PHỤC VỤ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG
TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC 87 3.2.1 Xác định tỷ lệ phần trăm (%) áp dụng để đánh giá mức trọng yếu trong mối liên hệ với rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát 87 3.2.2 Hướng dẫn cụ thể xác định mức trọng yếu đối với trường hợp kiểm toán báo cáo tài chính tập đoàn 88 3.2.3 Tổng hợp sai sót theo từng khoản mục và toàn bộ báo cáo tài chính 99 3.2.4 Quy định về tiêu chí để xác định sự ảnh hưởng của việc không thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán cho việc hình thành ý kiến kiểm toán 113 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 115 KẾT LUẬN 116
Trang 7DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
BIÊN BẢN HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao) NHẬN XÉT PHẢN BIỆN LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)
NHẬN XÉT LUẬN VĂN THẠC SĨ (Bản sao)
BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AAC Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC BCĐKT Bảng cân đối kế toán
HĐKD Hoạt động kinh doanh
CMKiT Chuẩn mực kiểm toán
MACM Mức trọng yếu tổng hợp tối đa
ISA Chuẩn mực kiểm toán Quốc tế
LNTT Lợi nhuận trước thuế
SXKD Sản xuất kinh doanh
Trang 9phần
35
3.1 Ma trận rủi ro phát hiện mong muốn 87
3.4 Tổng tỷ trọng các đơn vị thành viên 92
3.6 Tổng hợp doanh thu tại Công ty Cổ phần TDDL 94
sánh
113
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
1.1 Sơ đồ quy trình xác định mức trọng yếu 13
2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý tại AAC 42 2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy kiểm toán báo cáo tài chính 43 2.3 Sơ đồ quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại AAC 49
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động kiểm toán đã có lịch sử phát triển lâu đời và gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của loài người Để phục vụ cho nhu cầu đa dạng của xã hội, những lĩnh vực và loại hình kiểm toán khác nhau đã hình thành trong đó kiểm toán độc lập đặc biệt là hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) là hoạt động rất phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay, các Công ty kiểm toán một mặt phải ngày càng nâng cao chất lượng kiểm toán, mặt khác phải đảm bảo giới hạn về thời gian và chi phí kiểm toán Để làm được những điều này, các kiểm toán viên phải lập kế hoạch kiểm toán và thực hiện kiểm toán nhằm đảm bảo chất lượng cuộc kiểm toán nhưng vẫn đem lại hiệu quả cao Trong một cuộc kiểm toán, có thể nói rằng việc đánh giá và vận dụng mức trọng yếu đóng vai trò khá quan trọng Trong đó việc xem xét tính trọng yếu là một khâu then chốt cần phải thực hiện, làm cơ sở xây dựng một kế hoạch kiểm toán thích hợp, xác định nội dung, phạm vi, thời gian, định hướng các công việc cần thực hiện cũng như đánh giá ảnh hưởng của các sai phạm chưa được điều chỉnh đối với BCTC khi hình thành ý kiến kiểm toán Việc xác định mức trọng yếu là một công việc phức tạp và quan trọng của kiểm toán viên, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến tính hữu hiệu và hiệu quả của cuộc kiểm toán
Tại công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Kiểm toán và Kế toán AAC, việc đánh giá và vận dụng mức trọng yếu được thực hiện theo quy trình kiểm toán do hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) ban hành Quy trình kiểm toán này được phần lớn các công ty kiểm toán Việt Nam áp dụng
Do đó, việc nghiên cứu đánh giá và vận dụng mức trọng yếu phục vụ kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC (AAC) với
Trang 13các tình huống kiểm toán đa dạng có thể gợi ý cho các công ty kiểm toán khác
ở Việt Nam hoàn thiện quá trình đánh giá và vận dụng mức trọng yếu phục vụ kiểm toán báo cáo tài chính
Qua thực tế tìm hiểu, quy trình đánh giá và vận dụng mức trọng yếu tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC giúp kiểm toán viên có thể xác định được phạm vi, lịch trình kiểm toán tuy nhiên quy trình này vẫn còn một số điểm hạn chế như:
- AAC thực hiện xác định mức trọng yếu của tập đoàn giống như xác định mức trọng yếu của một công ty riêng lẻ, các đơn vị thành viên xác định mức trọng yếu riêng lẻ mà không xem trong mối quan hệ với tập đoàn Hơn nữa, khi thực hiện kiểm toán tập đoàn, kiểm toán viên (KTV) tiến hành triển khai kiểm toán hết tại tất cả các đơn vị thành viên mà chưa xem xét đến việc phân loại đơn vị thành viên quan trọng và đơn vị thành viên không quan trọng
để từ đó có thể tập trung vào kiểm toán đơn vị thành viên quan trọng còn những đơn vị thành viên không quan trọng chỉ cần thực hiện thủ tục phân tích nhằm nâng cao hiệu quả kiểm toán, giảm chi phí và thời gian kiểm toán
- Việc lựa chọn tỷ lệ phần trăm (%) để xác định mức trọng yếu tổng thể báo cáo tài chính, mức trọng yếu thực hiện và ngưỡng sai sót có thể bỏ qua phụ thuộc vào xét đoán của kiểm toán viên, phần lớn kiểm toán viên đều dựa trên đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ để đưa ra tỷ lệ phần trăm áp dụng
mà chưa xem xét đến mối quan hệ giữa rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát
- Quy trình kiểm toán tại AAC hầu như đều dựa trên Chương trình kiểm toán mẫu do Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) ban hành nên mức trọng yếu thực hiện của báo cáo tài chính cũng được sử dụng làm mức trọng yếu cho khoản mục Việc sử dụng mức trọng yếu thực hiện của báo cáo tài chính làm mức trọng yếu cho khoản mục là chưa phù hợp vì khoản mục chỉ là bộ phận của báo cáo tài chính do đó mức trọng yếu cho khoản mục phải
Trang 14nhỏ hơn mức trọng yếu thực hiện của báo cáo tài chính Hơn nữa, điều này dẫn đến việc đánh giá ảnh hưởng của sai phạm khi đưa ra ý kiến kiểm toán không được rõ ràng trong trường hợp phân biệt giữa sai phạm trọng yếu nhưng không lan tỏa và sai phạm trọng yếu và lan tỏa Nếu sai phạm lớn hơn mức trọng yếu thực hiện thì sai phạm này là sai phạm trọng yếu và lan tỏa và phải đưa ra ý kiến kiểm toán trái ngược Do sự không rõ ràng này nên kiểm toán viên thường đưa ý kiến kiểm toán ngoại trừ hơn là ý kiến kiểm toán trái ngược chỉ trừ một vài trường hợp định tính ví dụ sai phạm làm cho kết quả kinh doanh chuyển từ lãi sang lỗ hoặc ngược lại…Ngoài ra, đối với trường hợp kiểm toán viên đưa ra ý kiến kiểm toán ngoại trừ hoặc từ chối đưa ra ý kiến kiểm toán do giới hạn phạm vi kiểm toán, AAC chưa đưa ra tiêu chí để xác định trường hợp nào đưa ra ý kiến kiểm toán ngoại trừ, trường hợp nào đưa ra ý kiến từ chối đưa ra ý kiến kiểm toán.
Với những hạn chế nêu trên, tôi đã chọn đề tài "Đánh giá và vận dụng mức trọng yếu phục vụ kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC" làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ
chuyên ngành kế toán của mình nhằm mục đích hoàn thiện hơn quy trình đánh giá và vận dụng mức trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại AAC
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Phân tích thực trạng đánh giá và vận dụng trọng yếu phục kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC Đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế, tồn tại và nguyên nhân trong công tác đánh giá và vận dụng mức trọng yếu
Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện đánh giá và vận dụng trọng yếu phục vụ kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Trang 15Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đánh giá và vận dụng mức trọng yếu phục vụ kiểm toán báo cáo tài chính
Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đánh giá và vận dụng mức trọng yếu phục vụ kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng các phương pháp trong quá trình nghiên cứu như: phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp… để phân tích, đánh giá thực tiễn về việc đánh giá và vận dụng mức trọng yếu phục vụ kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC từ đó đưa ra các
đề xuất nhằm hoàn thiện đánh giá và vận dụng mức trọng yếu phục vụ kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Về đánh giá và vận dụng mức trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính đến nay tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu
Luận văn thạc sĩ "Nâng cao khả năng vận dụng tính trọng yếu trong kiểm
toán báo cáo tài chính của hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam" của tác
giả Từ Thái Sơn năm 2007 Tác giả đã hệ thông hóa lý luận cơ bản về trọng
Trang 16yếu và vận dụng trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính Tác giả đã tiến hành khảo sát tại 15 công ty kiểm toán về việc vận dụng tính trọng yếu, chính sách, phương pháp xác lập và vận dụng mức trọng yếu trong quy trình kiểm toán Đối tượng khảo sát được tập trung vào 3 nhóm chính như sau: nhóm 1 là các công ty kiểm toán quốc tế có vốn đầu tư nước ngoài gồm các công ty Pwc, E&Y, KPMG, Deloitte Touche Tohmatsu (Vaco Deloitte); nhóm 2 là các công
ty kiểm toán tiền thân là các doanh nghiệp nhà nước có quy mô trên trung bình gồm các công ty AASC, A&C, AFC, AISC; nhóm 3 là các công ty kiểm toán
có quy mô nhỏ bao gồm các công ty DTL, American Auditing, DNP, Thuy Chung, Viet Value, BHP, AFCC Qua khảo sát, việc vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán chưa đồng đều tại 3 nhóm các công ty kiểm toán: Đối với nhóm 1 là các công ty kiểm toán quốc tế có chính sách và thủ tục vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán rất nghiêm ngặt và rất chuyên nghiệp, hầu hết các công ty này đều vận dụng phương pháp tiếp cận trong từng khách hàng cụ thể
và có chính sách đào tạo một cách chuyên nghiệp, tại các công ty này có sự kiểm tra trong hệ thống toàn cầu và thường xuyên cập nhật công nghệ kiểm toán, quản lý quốc tế nên chất lượng dịch vụ kiểm toán và quy trình về vận dụng tính trọng yếu là rất tốt; Đối với nhóm 2 là các công ty kiểm toán Việt Nam tiền thân là doanh nghiệp nhà nước, có quy mô trung bình, là thành viên của các hãng quốc tế, nhận được sự trợ giúp của các tập đoàn hàng đầu thế giới nên về quy trình vận dụng tính trọng yếu đã được đề cập đến trong quá trình thực hiện kiểm toán, song các công ty kiểm toán này chưa nhận thức được sâu sắc vai trò vận dụng trong quá trình thực hiện kiểm toán nên nhìn chung chưa theo kịp quy trình nghiệp vụ tại các công ty kiểm toán quốc tế; Đối với các công ty có quy mô nhỏ, việc vận dụng tính trọng yếu còn ít được quan tâm thậm chí nhiều công ty chưa có chính sách và quy trình vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán Các công ty kiểm toán Việt Nam chưa nhận thức đầy đủ vai trò vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán và việc vận dụng tính trọng yếu
Trang 17còn mang nặng tính hình thức Sau khi đánh giá thực trạng vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán tại các công ty kiểm toán Việt Nam, tác giả đề ra các giải pháp bao gồm các giải pháp mang tính nguyên tắc như: hoàn thiện khung pháp
lý liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập, luôn cập nhận chuẩn mực kiểm toán cho phù hợp thay đổi của nền kinh tế, chuyển giao một số hoạt động cho hội nghề nghiệp…; giải pháp về phía công ty như: cập nhật chương trình đào tạo huấn luyện cho nhân viên, nâng cao năng lực chuyên môn cho kiểm toán viên… [6]
Luận văn thạc sĩ "Giải pháp nâng cao khả năng vận dụng tính trọng yếu
trong kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ tại khu vực phía nam Việt Nam" của tác giả Võ Thị Hiền Nhi năm 2012
Tác giả đã nêu khái quát những vấn đề cơ bản về tính trọng yếu trong kiểm toán, hệ thống hóa các nghiên cứu trước đây về tính trọng yếu, giới thiệu kinh nghiệm vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán tại Hoa Kỳ Đồng thời tác giả thực hiện khảo sát nghiên cứu các thông tin đánh giá về việc vận dụng tính trọng yếu ra tại các công ty kiểm toán vừa và nhỏ tại khu vực phía nam Việt Nam Tác giả thực hiện khảo sát tại 17 công ty kiểm toán Các công ty kiểm toán được phân chia thành 2 nhóm: Nhóm 1 là nhóm công ty kiểm toán có số lượng nhân viên từ 50 đến 100 người gồm 5 công ty kiểm toán có quy mô vừa, Nhóm 2 là nhóm công ty kiểm toán có số lượng nhân viên dưới 50 người gồm
12 công kiểm toán có quy mô nhỏ Thông qua kết quả khảo sát, tác giả đánh giá rằng việc vận dụng tính trọng yếu tại các công ty kiểm toán có quy mô vừa, tốt hơn so với các công ty nhỏ Các công ty có sử dụng chương trình kiểm toán mẫu tốt hơn so với các công ty không sử dụng Các công ty có số lượng kiểm toán viên lớn hơn trung bình mẫu tốt hơn các công ty có số lượng kiểm toán viên nhỏ hơn trung bình mẫu Theo tác giả, nguyên nhân của vấn đề này là do: chuẩn mực chỉ dừng ở mức chung chung, chưa đưa ra hướng dẫn cụ thể; nguồn nhân lực hạn chế, quy trình kiểm toán tại các công ty kiểm toán nhỏ đa phần
Trang 18chưa hoàn thiện…Từ phân tích thực trạng, nguyên nhân của những tồn tại, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao việc vận dụng tinh trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại các công ty kiểm toán vừa và nhỏ như: các công ty kiểm toán cần có quy định bằng văn bản hướng dẫn về việc áp dụng tính trọng yếu trong kiểm toán và tăng cường kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán; cập nhật chương trình đào tạo, huấn luyện nội bộ nhằm hướng dẫn cho kiểm toán viên thực hiện vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán, tăng cường công tác kiểm soát chất lượng…[4]
Luận án tiến sĩ kinh tế "Nghiên cứu đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm
toán nhằm nâng cao chất lượng hoạt động trong các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ tại khu vực phía nam Việt Nam" của tác giả Đoàn Thanh Nga năm
2011 Trong phần lý luận cơ bản tác giả đã trình bày khá chi tiết cơ sở lý luận
về đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán Tác giả đã tiến hành khảo sát 36 công ty kiểm toán và 30 khách hàng của 15 công ty kiểm toán để tìm hiểu thực trạng đánh giá trọng yếu bao gồm việc xây dựng và áp dụng các tiêu chí ước lượng ban đầu về mức trọng yếu, việc quy định và thực tế thực hiện phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục trên báo cáo tài chính, hướng dẫn về các sai phạm có thể bỏ qua; rủi ro kiểm toán bao gồm thiết lập mức rủi ro kiểm toán mong muốn, quy định và thực tế áp dụng các phương pháp đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm toán trên toàn bộ báo cáo tài chính cũng như trên phương diện
số dư tài khoản và loại nghiệp vụ, qui trình và thực tế thực hiện xác định mức rủi ro phát hiện; và thực trạng chất lượng kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam trong mối liên hệ với đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán Qua khảo sát, bên cạnh những kết quả đạt được trong công tác đánh giá trọng
yếu và rủi ro kiểm toán còn tồn tại một số vấn đề sau: Thứ nhất, việc phân bổ
ước lượng ban đầu về mức trọng yếu cho các khoản mục trên báo cáo tài chính
là một vấn đề phức tạp, mang tính chủ quan của kiểm toán viên Giữa các công
ty kiểm toán áp dụng không thống nhất cả trong hướng dẫn và trong thực hiện
Trang 19Cụ thể, có công ty không thực hiện phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục trên báo cáo tài chính, điều này dẫn đến khi tổng hợp các sai phạm không được điều chỉnh trong từng khoản mục sẽ gây khó khăn cho kiểm toán viên trong việc quyết định tổng hợp mức sai phạm đó có được xem là trọng yếu hay không, trong khi đó có công ty thực hiện phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục dựa trên những tỷ lệ cố định mà chưa dựa vào bản chất của khoản mục, rủi
ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát được đánh giá cho từng khoản mục đó; Thứ hai,
hầu hết các công ty kiểm toán Việt Nam vẫn sử dụng cách truyền thống để đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán theo cách tiếp cận truyền thống dựa trên
các đánh giá và kết luận về các khoản mục cụ thể trên báo cáo tài chính; Thứ
ba, khi đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát trên số dư tài khoản và loại
hình nghiệp vụ, ngoài việc đưa ra kết luận chung về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát cho mỗi khoản mục thì kiểm toán viên cần đánh giá chi tiết cho từng
cơ sở dẫn liệu của các khoản mục đó nhằm thiết kế các thử nghiệm kiểm toán phù hợp hướng tới tập trung vào các cơ sở dẫn liệu có khả năng bị sai phạm nhiều hơn Tuy nhiên, trên thực tế khi đánh giá về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát trên số tài khoản và loại nghiệp vụ, các công ty kiểm toán Việt Nam chưa quan tâm đến việc đánh giá chi tiết tới từng cơ sở dẫn liệu….Từ phân tích những vấn đề tồn tại, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam như: hoàn thiện phân bổ ước lượng ban đầu về mức trọng yếu cho các khoản mục trên báo cáo tài chính, tăng cường sử dụng phương pháp tiếp cận mô hình đánh giá rủi ro kiểm toán theo rủi ro kinh doanh của khách hàng, hoàn thiện đánh giá rủi ro kiểm toán trên số dư tài khoản và loại nghiệp vụ chi tiết cho từng cơ sở dẫn liệu…[3]
Các đề tài nêu trên đều chủ yếu nghiên cứu việc đánh giá và vận dụng mức trọng yếu thông qua việc thực hiện bảng câu hỏi khảo sát các công ty kiểm toán Việc sử dụng các bảng câu hỏi thường phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của
Trang 20người trả lời, có mức độ nghiên cứu chung và không đi sâu vào các tình huống
cụ thể Hơn nữa, việc nghiên cứu đánh giá và vận dụng mức trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC với các tình huống kiểm toán đa dạng có thể gợi ý cho các công ty kiểm toán khác
ở Việt Nam để hoàn thiện quá trình đánh giá và vận dụng mức trọng yếu phục
vụ kiểm toán báo cáo tài chính Do đó, người viết đi vào tìm hiểu về việc đánh giá và đánh giá và vận dụng mức trọng yếu phục vụ kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC
Trang 21CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ VẬN DỤNG
MỨC TRỌNG YẾU PHỤC VỤ KIỂM TOÁN
1.1 KHÁI NIỆM VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA MỨC TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1.1 Khái niệm trọng yếu trong kế toán và kiểm toán
Khái niệm trọng yếu trong kế toán
Trong kế toán, theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 01 - Chuẩn mực chung, đoạn 09 định nghĩa "Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính" Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính" [5]
Khái niệm trọng yếu trong kiểm toán
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA) số 320 - Mức trọng yếu trong lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán, mức trọng yếu được hiểu như sau:
- Những sai sót, bao gồm cả việc bỏ sót, được coi là trọng yếu nếu những sai sót này, khi xét riêng lẻ hoặc tổng hợp lại có thể ảnh hưởng tới quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính
- Những xét đoán về mức trọng yếu được thực hiện trong từng trường hợp cụ thể và bị ảnh hưởng bởi quy mô hay bản chất của sai sót, hoặc kết hợp
cả hai
Trang 22- Những xét đoán về các vấn đề trọng yếu đối với người sử dụng báo cáo tài chính dựa trên nhu cầu chung đối với thông tin tài chính của một nhóm người sử dụng báo cáo tài chính Những ảnh hưởng tiềm tàng của các sai sót đến một số ít người sử dụng báo cáo tài chính mà nhu cầu của họ có nhiều khác biệt so với phần lớn những người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính sẽ không được xét đến [8]
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) số 320 - Mức trọng yếu trong lập
kế hoạch và thực hiện kiểm toán quy định về trọng yếu cũng giống với chuẩn mực kiểm toán quốc tế 320 Theo đó, mức trọng yếu trong lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán định nghĩa như sau:
- Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một số liệu kế toán) trong báo cáo tài chính Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin
đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính
- Mức trọng yếu là một mức giá trị do kiểm toán viên xác định tùy thuộc vào tầm quan trọng và tính chất của thông tin hay sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Mức trọng yếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung của thông tin cần phải có Tính trọng yếu của thông tin được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính [2]
Cần phân biệt hai thuật ngữ "trọng yếu" và "mức trọng yếu" để hiểu rõ hơn trọng yếu và việc vận dụng vào quá trình kiểm toán
Như vậy, mức trọng yếu trong các quy định chung về lập và trình bày báo cáo tài chính cần được hiểu như sau:
- Những sai sót, bao gồm cả việc bỏ sót, được coi là trọng yếu nếu những sai sót này, khi xét riêng lẻ hoặc tổng hợp lại, được xem xét ở mức độ hợp lý
có thể gây ảnh hưởng tới quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính;
Trang 23- Những xét đoán về mức trọng yếu được thực hiện trong trường hợp cụ thể và bị ảnh hưởng bởi quy mô hay bản chất của các sai sót hoặc được tổng hợp của cả hai yếu tố trên;
- Những xét đoán về các vấn đề trọng yếu đối với người sử dụng báo cáo tài chính phải dựa trên việc xem xét các nhu cầu chung về thông tin tài chính của nhóm người sử dụng như các nhà đầu tư, ngân hàng, chủ nợ… Những ảnh hưởng có thể có của các sai sót đến một số ít người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính mà nhu cầu của họ có nhiều khác biệt so với phần lớn những người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính sẽ không được xét đến
1.1.2 Tầm quan trọng của mức trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính
Mục tiêu kiểm toán báo cáo tài chính là đưa ra ý kiến về tính trung thực
và hợp lý của báo cáo tài chính xét trên các khía cạnh trọng yếu Điều đó có nghĩa là kiểm toán viên phải có trách nhiệm phát hiện ra những sai phạm trọng yếu Hơn nữa, thực trạng hoạt động của doanh nghiệp rất đa dạng và trên thực tế kiểm toán viên không thể thực hiện kiểm tra và xác minh toàn bộ thông tin chứng từ kế toán của doanh nghiệp và việc thực hiện này rất là tốn kém nhiều chi phí Do đó, kiểm toán viên có thể bỏ qua những vấn đề không trọng yếu mà chỉ tập trung vào những vấn đề trọng yếu
Chính vì thế, trọng yếu có ý nghĩa rất quan trọng đối với công việc kiểm toán Việc đánh giá và vận dụng mức trọng yếu cho phép kiểm toán viên có định hướng và lập kế hoạch tốt hơn bằng cách tập trung vào các tài khoản và chu trình quan trọng, giúp kiểm toán viên thực hiện cuộc kiểm toán một cách
có hiệu quả, các thủ tục kiểm toán được thiết kế và thực hiện phù hợp với chi phí và thời gian dành cho cuộc kiểm toán Đồng thời, việc vận dụng trọng yếu giúp cho kiểm toán viên có đủ cơ sở để trình bày ý kiến kiểm toán phù hợp
Trang 241.2 ĐÁNH GIÁ MỨC TRỌNG YẾU
Kiểm toán viên phải xác định mức trọng yếu khi lập kế hoạch kiểm toán,
và có thể điều chỉnh mức trọng yếu trong quá trình thực hiện cuộc kiểm toán Quy trình xác định mức trọng yếu được thể hiện qua sở đồ ở hình 1.1:
Hình 1.1 Sơ đồ quy trình xác định mức trọng yếu
1.2.1 Xác định mức trọng yếu tổng thể của báo cáo tài chính
Mức trọng yếu tổng thể của báo cáo tài chính là mức giá trị mà kiểm toán viên xác định ở cấp độ toàn bộ báo cáo tài chính, có thể ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính Mức trọng yếu này là cơ sở để kiểm toán viên kết luận rằng báo cáo tài chính có trình bày trung thực và hợp
lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không
Việc xác định mức trọng yếu tổng thể của báo cáo tài chính giúp cho kiểm toán viên lập kế hoạch thu thập bằng chứng kiểm toán thích hợp Cụ thể, nếu ước lượng mức trọng yếu càng thấp, nghĩa là yêu cầu độ chính xác của các số liệu trên báo cáo tài chính càng cao thì số lượng bằng chứng phải thu thập càng nhiều và ngược lại Có 3 bước để xác định mức trọng yếu tổng thể: (1) Xác định tiêu chí làm cơ sở xác định mức trọng yếu
Xác định ngưỡng sai sót có thể bỏ qua
Xác định mức trọng yếu cho các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và
thông tin thuyết minh trên báo cáo tài chínhXác định mức trọng yếu thực hiệnXác định mức trọng yếu tổng thể của báo cáo tài chính
Trang 25(2) Xác định dữ liệu tài chính phù hợp với tiêu chí đã chọn
(3) Xác định tỷ lệ phần trăm (%) áp dụng cho tiêu chí đã chọn
Xác định tiêu chí làm cơ sở xác định mức trọng yếu
Việc lựa chọn tiêu chí xác định mức trọng yếu phụ thuộc vào các khoản mục trên báo cáo tài chính mà người sử dụng báo cáo tài chính quan tâm Ví dụ:
- Để đánh giá kết quả tài chính, người sử dụng có xu hướng tập trung vào lợi nhuận, doanh thu hoặc tài sản thuần
- Đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, người sử dụng BCTC chủ yếu quan tâm đến lợi nhuận sau thuế;
- Đối với những công ty kinh doanh lỗ hoặc đạt gần điểm hòa vốn, tổng doanh thu hoặc tổng tài sản là tiêu chí phù hợp;
- Đối với những công ty đang có vấn đề về khả năng thanh toán nợ, người sử dụng BCTC tập trung vào vốn chủ sở hữu như sự đảm bảo cho các khoản nợ của họ, hoặc tổng tài sản/tài sản ngắn hạn
Ngoài ra việc xác định tiêu chí làm cơ sở xác định mức trọng yếu còn ảnh hưởng bởi các yếu tố như:
- Đặc điểm của doanh nghiệp và ngành nghề Ví dụ:
§ Khi kiểm toán các đơn vị nhỏ: Khi lợi nhuận trước thuế từ hoạt động kinh doanh liên tục của một đơn vị hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận thường xuyên ở mức thấp, có thể do chủ doanh nghiệp đồng thời là người quản lý doanh nghiệp đã thu lại phần lớn lợi nhuận trước thuế dưới dạng tiền lương và các khoản thu nhập khác thì tiêu chí lựa chọn để xác định mức trọng yếu là lợi nhuận trước tiền lương, các khoản thu nhập khác và thuế có thể sẽ phù hợp hơn
§ Khi kiểm toán các đơn vị trong lĩnh vực công, tổng chi phí hoặc chi phí thuần (chi phí trừ thu nhập) có thể là tiêu chí phù hợp Hoặc khi kiểm toán đơn vị hoạt động trong lĩnh vực công có quản lý tài sản công, tài sản có thể là
Trang 26tiêu chí phù hợp để xác định mức trọng yếu Hoặc đối với những đơn vị mà doanh thu được xác định trên cơ sở tỷ lệ % xác định trên tổng chi phí thực tế thì tổng chi phí phát sinh sẽ là cơ sở phù hợp để xác định mức trọng yếu
- Cấu trúc vốn chủ sở hữu và cách thức đơn vị huy động vốn Ví dụ: doanh nghiệp hoạt động chủ yếu bằng nguồn vốn vay thì người sử dụng báo cáo tài chính quan tâm tài sản hơn là lợi nhuận
- Khả năng thay đổi tương đối của tiêu chí đã được xác định: Thông thường KTV sẽ lựa chọn những tiêu chí mang tính tương đối ổn định qua các năm Khi xác định mức trọng yếu, KTV cần phải cân nhắc đến các số liệu về kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của các kỳ trước, các số liệu về kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính lũy kế đến kỳ này,
và kế hoạch hay dự đoán cho kỳ hiện tại, được điều chỉnh khi có biến động lớn theo từng trường hợp của đơn vị được kiểm toán Ví dụ, một giao dịch hợp nhất kinh doanh lớn; các khoản thu nhập/chi phí bất thường; các khoản tiền thưởng cho Ban Giám đốc (BGĐ) dựa trên lợi nhuận trước thưởng…
- Những thay đổi liên quan trong ngành nghề hay môi trường kinh doanh
mà đơn vị đang hoạt động Ví dụ:
§ Ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC được xác định cho một đơn vị cụ thể ở một mức tỷ lệ phần trăm nhất định trên lợi nhuận trước thuế từ hoạt động kinh doanh liên tục Khi có các biến động bất thường làm tăng hoặc giảm đáng kể lợi nhuận trước thuế, KTV
có thể xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC bằng cách sử dụng một mức lợi nhuận trước thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh liên tục đã loại trừ ảnh hưởng của các biến động bất thường, dựa vào kết quả hoạt động kinh doanh của các kỳ trước Chẳng hạn lợi nhuận trước thuế năm 2016 là 1.000 triệu VND, trong đó bao gồm lãi từ thanh lý tài sản cố định là 300 triệu đồng Cần loại bỏ phần từ thanh lý tài sản này trước khi sử dụng lợi nhuận trước thuế làm tiêu chí xác định mức trọng yếu
Trang 27§ Hoặc lợi nhuận năm nay có sự thay đổi đáng kể so với kỳ trước, mà không có dấu hiệu bất thường thì KTV có thể cân nhắc sử dụng mức bình quân hóa lợi nhuận giữa các năm để xác định giá trị phù hợp cho tiêu chí Bảng dưới đây là ví dụ minh họa về tiêu chí xác định mức trọng yếu thường gặp đối với mỗi loại hình doanh nghiệp khác nhau và nhu cầu của người sử dụng báo cáo tài chính
Bảng 1.1 Bảng minh họa về xác định tiêu chí
Loại hình doanh nghiệp Quan tâm người
sử dụng
Tiêu chí xác định
Công ty niêm yết, đại chúng Đánh giá tình
hình hoạt động của công ty
Lợi nhuận trước thuế
Doanh nghiệp mới thành lập nhưng
chưa có thu nhập
Đánh giá khả năng tồn tại
Doanh thu, tài sản hoặc tài sản thuần
Doanh nghiệp được tài trợ bởi 1 nhà
đầu tư mà lợi nhuận thường xuyên ở
mức thấp do chủ doanh nghiệp đồng
thời là người quản lý đã thu phần lớn
lợi nhuận trước thuế dưới dạng tiền
lương, tiền thưởng; Doanh nghiệp có
vấn đề về khả năng thanh toán nợ
Khả năng thanh toán nợ
Lợi nhuận trước tiền lương hoặc tổng tài sản
Doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu
bằng các khoản nợ
Đánh giá khả năng trả nợ của công ty
Tổng tài sản
Tổ chức phi lợi nhuận Đánh giá việc sử
dụng các khoản chi tiêu có phù hợp với mục tiêu của tổ chức
Tổng tiền tài trợ, tổng chi phí hoặc tổng tài sản
(Nguồn:
http://www.pearsoncanada.ca/media/highered-showcase/multi-product-showcase/arens-ch07.pdf)[9]
Trang 28Xác định dữ liệu tài chính phù hợp với tiêu chí đã chọn
Thông thường, khi kiểm toán viên lập kế hoạch kiểm toán, số liệu của năm hiện tại thường chưa có bởi vì việc lập kế hoạch kiểm toán được thực hiện trước thời điểm kết thúc năm tài chính Kiểm toán viên thường sử dụng các số liệu kinh doanh và tình hình tài chính các năm/kỳ trước, các số liệu về kết quả kinh doanh và tình hình tài chính bắt đầu từ đầu năm/kỳ này lũy kế cho đến cuối năm/kỳ hiện tại, kế hoạch hay dự đoán cho kỳ hiện tại, được điều chỉnh khi có biến động lớn theo từng trường hợp của đơn vị được kiểm toán (ví dụ, một giao dịch hợp nhất kinh doanh lớn) và những thay đổi liên quan trong ngành nghề hay môi trường kinh doanh mà đơn vị đang hoạt động
Ví dụ, ban đầu mức trọng yếu tổng thể báo cáo tài chính được xác định dựa vào tỷ lệ phần trăm của lợi nhuận trước thuế từ hoạt động kinh doanh liên tục của các năm trước Khi có các biến động bất thường làm tăng hoặc giảm đáng
kể lợi nhuận trước thuế, kiểm toán viên có thể xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính bằng cách sử dụng một mức lợi nhuận trước thuế từ hoạt động kinh doanh liên tục đã loại trừ ảnh hưởng của các biến động bất thường, dựa vào kết quả hoạt động kinh doanh của các kỳ trước
Mức trọng yếu phải được xác định gắn liền với báo cáo tài chính mà kiểm toán viên thực hiện Khi báo cáo tài chính được lập cho kỳ kế toán dài hơn hoặc ngắn hơn 12 tháng, ví dụ đối với một đơn vị mới thành lập hoặc thay đổi kỳ kế toán, mức trọng yếu cần phải được xác định dựa trên báo cáo tài chính được lập cho kỳ kế toán đó
Xác định tỷ lệ phần trăm (%) áp dụng cho tiêu chí đã chọn
Việc xác định tỷ lệ phần trăm (%) tùy thuộc vào tiêu chí lựa chọn Kiểm toán viên phải sử dụng xét đoán chuyên môn khi xác định tỷ lệ phần trăm (%)
áp dụng cho tiêu chí đã lựa chọn Ví dụ tỷ lệ phổ biến đối với doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận là 5% của lợi nhuận trước thuế, tuy nhiên, tỷ
lệ này có thể tăng hoặc giảm tùy vào từng tình huống cụ thể
Trang 29Chuẩn mực kiểm toán quốc tế cũng như của Việt Nam không đưa quy định cụ thể về xác định tỷ lệ % là bao nhiêu Tuy nhiên, trên thế giới, dựa trên kinh nghiệm hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính hơn 100 năm, có những tỷ
lệ % được thừa nhận chung trong ngành kiểm toán trên thế giới, trên cơ sở các
số liệu thống kê và quan điểm của đại bộ phận các nhà đầu tư, những người trực tiếp sử dụng báo cáo tài chính, và được áp dụng rộng rãi ở các nước Theo tài liệu hướng dẫn thực hiện chuẩn mực kiểm toán số 320 do VACPA ban hành thì tỷ lệ % áp dụng như sau:
- 5% đến 10% lợi nhuận trước thuế
là 10% để xác định mức trọng yếu Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên đánh giá rằng hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) của khách hàng không được tốt như đánh giá ban đầu của kiểm toán viên, nên kiểm toán viên điều chỉnh tỷ
lệ % xác định mức trọng yếu xuống một tỷ lệ thấp hơn, giả sử là một mức trung bình giữa tỷ lệ % tối thiểu và tỷ lệ % tối đa là 7,5%
Các phương pháp xác định mức trọng yếu
Có 4 cách sau để xác định:
(1) Áp dụng một tỷ lệ đơn nhất
Trang 30(2) Áp dụng tỷ lệ tùy theo quy mô của đơn vị được kiểm toán
§ 5% đến 10% lợi nhuận trước thuế
§ 1% đến 2% tổng tài sản
§ 1% đến 5% vốn chủ sở hữu
§ 0.5% đến 1% tổng doanh thu
- Áp dụng tỷ lệ tùy theo quy mô của đơn vị được kiểm toán
Cách này tương tự như áp dụng một tỷ lệ đơn nhất nhưng chỉ khác ở chỗ cho phép kiểm toán viên áp dụng các mức trọng yếu khác nhau tùy theo quy mô của từng đơn vị được kiểm toán trên cơ sở quy mô tiêu chí lựa chọn càng lớn thì tỷ lệ % lựa chọn càng nhỏ Kiểm toán viên phải cân nhắc các yếu
tố định tính để xác định mức trọng yếu nào là tương ứng với quy mô phù hợp
Ví dụ
§ 2% đến 5% Lợi nhuận gộp nếu Lợi nhuận gộp nhỏ hơn 20.000 USD
§ 1% đến 2% Lợi nhuận gộp nếu Lợi nhuận gộp đạt từ 20.000 USD – 1.000.000 USD
§ 0,5% đến 1% Lợi nhuận gộp nếu Lợi nhuận gộp đạt từ 1.000.000 – 100.000.000 USD
§ 0,5% nếu Lợi nhuận gộp vượt trên 100.000.000 USD
- Áp dụng phương pháp bình quân
Theo phương pháp tính này thì KTV không chọn cơ sở xác lập mức trọng yếu dựa trên một chỉ tiêu cụ thể mà dựa nhiều chỉ tiêu khác nhau trên
Trang 31BCTC (Lợi nhuận trước thuế, Doanh thu, Tổng tài sản, Vốn chủ sở hữu…) và sau đó xác định mức trọng yếu trên cơ sở bình quân trong các số tính được
Ví dụ tại Công ty A có số liệu kế toán như sau:
3 Lợi nhuận trước thuế 25.000 EUR
Trang 32Theo bảng tính trên, mức trọng yếu theo phương pháp bình quân là 756 EUR (3.025/4)
- Áp dụng công thức có sẵn
Công thức tính mức trọng yếu được xác định thông qua phân tích thống
kê về các mức trọng yếu từ một số lượng lớn các đơn vị được kiểm toán Thực chất, đây là cách tính bình quân như trên nhưng có hệ số cố định Ví dụ năm 1998, công ty kiểm toán KPMG có sử dụng công thức dùng để xác định mức trọng yếu là:
Mức trọng yếu = 1,84 x (Số lớn hơn giữa Doanh thu và tổng tài sản) 2/3
Công thức 1.1 Xác định mức trọng yếu theo công thức có sẵn
Tiếp theo ví dụ tại áp dụng phương pháp bình quân nêu trên, mức trọng yếu = 1,84 x 100.0002/3 = 854,05 EUR
1.2.2 Xác định mức trọng yếu thực hiện
Thực tế có những sai phạm kiểm toán viên không phát hiện được chưa kể kiểm toán được thực hiện trên cơ sở chọn mẫu và từ kết quả sai phạm mẫu suy ra sai phạm tổng thể vẫn có sai lệch so với sai phạm thực tế nên người ta chỉ xác định được sai phạm mà KTV phát hiện được còn những sai phạm không phát hiện được thì không thể phát hiện được Do đó, kiểm toán viên cần xác định một mức trọng yếu thực hiện nhằm giảm xuống một mức độ thấp hợp lý khả năng các sai phạm không được điều chỉnh và không được phát hiện khi tổng hợp lại sẽ vượt quá mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính Kiểm toán viên phải dựa trên rủi ro kiểm toán để xác định mức trọng yếu thực hiện Nếu rủi ro kiểm toán cao thì mức trọng yếu thực hiện càng nhỏ so với mức trọng yếu tổng thể báo cáo tài chính
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 320, mức trọng yếu thực hiện
là mức giá trị do kiểm toán viên xác định ở mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính nhằm giảm xuống một mức độ thấp hợp lý khả năng các sai sót không được điều chỉnh và không được phát hiện khi tổng hợp
Trang 33lại sẽ vượt quá mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính Trong một
số trường hợp, "mức trọng yếu thực hiện" có thể hiểu là mức giá trị hoặc các mức giá trị do kiểm toán viên xác định thấp hơn mức hoặc các mức trọng yếu đối với các nhóm giao dịch, số dư tài khoản hoặc thuyết minh cụ thể trên báo cáo tài chính
Kiểm toán viên thường xác định mức trọng yếu thực hiện bằng một tỷ lệ phần trăm (%) của mức trọng yếu tổng thể của báo cáo tài chính Theo chương trình kiểm toán mẫu ban hành năm 2013 của Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), mức trọng yếu thực hiện thường xác định trong khoảng từ 50% đến 75% mức trọng yếu tổng thể báo cáo tài chính.Tuy nhiên, việc xác định bao nhiêu phần trăm (%) thì cần sự xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên Kiểm toán viên cần quan tâm đến các yếu tố như: sự hiểu biết
về doanh nghiệp được kiểm toán và được cập nhật thay đổi trong suốt quá trình thực hiện các thủ tục đánh giá rủi ro, bản chất, phạm vi của những sai phạm đã phát hiện trong các cuộc kiểm toán trước và đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro sai phạm trong kỳ hiện tại
1.2.3 Xác định mức trọng yếu cho nhóm giao dịch, số dư tài khoản
và thông tin thuyết minh trên báo cáo tài chính
Sau khi kiểm toán viên đã có xác định được mức trọng yếu thực hiện, mức trọng yếu này cần được xác định cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính Đó cũng chính là sai phạm có thể bỏ qua đối với từng khoản mục Việc xác định mức trọng yếu cho các khoản mục là cần thiết vì bằng chứng thường được thu thập theo các khoản mục hơn là theo toàn bộ báo cáo tài chính nói chung Việc xác định này sẽ giúp xác định được số lượng bằng chứng kiểm toán thích hợp phải thu thập đối với từng khoản mục Ví dụ với số dư công nợ phải thu là 1.000.000 USD, kiểm toán viên sẽ thu thập nhiều bằng chứng hơn nếu một sai sót được coi là trọng yếu là 50.000 USD hơn là 300.000 USD
Trang 34Do kế toán thực hiện ghi sổ theo nguyên tắc ghi sổ kép nên nếu một sai phạm ảnh hưởng tới báo cáo kết quả hoạt động quả kinh doanh cũng ảnh hưởng đối với bảng cân đối kế toán (BCKT) Vì thế, khi thực hiện xác định mức trọng yếu cho các khoản mục trên báo cáo tài chính, mức trọng yếu này
có thể được xác định cho các tài khoản trên Báo cáo kết quả HĐKD, hoặc cho các tài khoản trên BCĐKT Tuy nhiên, do hầu hết các thủ tục kiểm toán tập trung vào các tài khoản trên BCĐKT nên mức trọng yếu thường được xác định cho các tài khoản trên BCĐKT
KTV có thể sử dụng các cách sau đây để xác định mức trọng yếu cho số
dư tài khoản, loại giao dịch hoặc thuyết minh từ mức trọng yếu tổng thể BCTC:
(1) Xét đoán của KTV: KTV hoàn toàn sử dụng xét đoán chuyên môn của
mình để xác định mức trọng yếu cho từng tài khoản
Ví dụ:
Mức trọng yếu tổng thể là 100 triệu VND Số dư tài khoản hàng tồn kho chiếm 10% tổng tài sản, tuy nhiên, KTV xác định mức trọng yếu cho tài khoản hàng tồn kho là 50 triệu VND (=50% mức trọng yếu tổng thể)
(2) Phương pháp hệ số: KTV xác định mức trọng yếu cho từng tài khoản
dựa vào đánh giá về rủi ro
Ví dụ:
KTV có thể sử dụng hệ số từ 1/3 đến 1/6 Nếu rủi ro cao thì mức trọng yếu xác định = 1/6 mức trọng yếu tổng thể Cách này giúp KTV tập trung kiểm tra các tài khoản có rủi ro cao
(3) Phương pháp dựa vào số lượng bút toán điều chỉnh năm trước:
Ví dụ:
Năm trước có 5 bút toán điều chỉnh thì KTV có thể xác định mức trọng yếu cho tài khoản này = 1/5 mức trọng yếu tổng thể Cách này dựa trên giả
Trang 35định càng nhiều bút toán điều chỉnh, hệ thống càng kém tin cậy, các tài khoản liên quan càng phải kiểm tra chặt chẽ hơn
(4) Phương pháp sử dụng công thức toán học: kiểm toán viên xác định
mức trọng yếu cho từng tài khoản trên cơ sở độ lớn tương ứng của từng tài khoản và khả năng bù trừ sai sót Tài khoản lớn sẽ được xác định mức trọng yếu với số tiền lớn
Ví dụ:
Một tài khoản chiếm 40% giá trị của tất cả các tài khoản sẽ được xác định bằng 63% mức trọng yếu, trong khi một tài khoản chiếm 10% tổng giá trị các tài khoản chỉ được xác định 32% mức trọng yếu
Mức trọng yếu cho từng tài khoản = Mức trọng yếu thực hiện x (Số dư tài khoản / Tổng số dư các tài khoản) x 1/2
KTV cũng cần cân nhắc các yếu tố định tính khi xác định mức trọng yếu cho từng tài khoản, ví dụ:
- Kết quả của thủ tục phân tích: Thủ tục phân tích ban đầu có thể là dấu
hiệu cho những sai phạm có thể có ở mỗi tài khoản Nếu kết quả phân tích ban đầu chỉ ra rằng dấu hiệu sai phạm ở một khoản mục nào đó, kiểm toán viên cần xác định mức trọng yếu thấp cho khoản mục đó
- Các bút toán điều chỉnh trong cuộc kiểm toán trước đó: Một tài khoản
mà không có bút toán điều chỉnh nào sau khi thực hiện các thử nghiệm cơ bản
ở cuộc kiểm toán trước thì kiểm toán viên có thể xác định mức trọng yếu cao hơn nếu như môi trường tổng thể ổn định
- Hậu quả của những sai phạm: Một số khoản mục cần được xác định
mức trọng yếu thấp nếu hậu quả của những sai phạm là nghiêm trọng Ví dụ: nếu thất bại trong việc thực hiện việc thanh toán bằng sáng chế thích hợp sẽ dẫn đến việc mất một công nghệ quan trọng, lúc này kiểm toán viên cần phải xác định mức trọng yếu thấp cho khoản mục này Tương tự, nếu có một khoản vay ngân hàng yêu cầu một tỷ lệ thanh toán hiện hành nhất định, và nếu
Trang 36doanh nghiệp không đáp ứng được tỷ lệ yêu cầu đó thì ngân hàng có thể không tiếp tục cho vay, trong trường hợp này kiểm toán viên cần phải sử dụng mức trọng yếu thấp cho những khoản mục liên quan việc tính toán tỷ lệ thanh
toán hiện hành
- Việc sử dụng số liệu của tài khoản cho mục đích khác: Một tài khoản
có thể được kiểm tra 100% mà không quan tâm đến mức trọng yếu nếu như
sự chính xác của số liệu đó là quan trọng cho mục đích hoặc lý do khác Ví dụ: tiền bồi thường cần phải được kiểm toán chặt chẽ vì nó phải được báo cáo
riêng cho ủy ban chứng khoán hoặc ban quản trị yêu cầu thông tin đó
- Bản chất của các khoản mục, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá sơ bộ đối với các khoản mục: Nếu khoản mục được đánh giá là có
rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát cao thì nguy cơ sai phạm đối với khoản mục là lớn, do đó mức trọng yếu được xác định cho khoản mục đó sẽ thấp Ngược lại, khi hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng hoạt động tốt, rủi ro xảy ra là thấp thì mức trọng yếu có thể được xác định cao hơn
- Kinh nghiệm của kiểm toán viên về các sai phạm của khoản mục: Ví
dụ, nếu kiểm toán viên dự đoán rằng có ít hoặc không có sai phạm trong một khoản mục dựa theo kết quả của lần kiểm toán trước và một số nhân tố khác thì một giá trị trọng yếu lớn hơn có thể được xác định cho khoản mục này Do
dự đoán của kiểm toán viên về khả năng sai phạm thấp nên phạm vi kiểm toán khoản mục đó có thể giảm đi
- Chi phí kiểm toán đối với các khoản mục: Những khoản mục chi phí
kiểm toán cao, kiểm toán viên thường xác định mức trọng yếu cao để giảm bớt khối lượng công việc và chi phí kiểm toán Ví dụ, chi phí thu thập bằng chứng về hàng tồn kho cao hơn chi phí thu thập bằng chứng về công nợ (nợ phải thu, nợ phải trả), chi phí thu thập bằng chứng về công nợ lại cao hơn chi phí thu thập bằng chứng về các tài khoản khác (tiền, tài sản cố định, vốn chủ
sở hữu,…) nên sai số có thể chấp nhận được đối với hàng tồn kho cao hơn sai
Trang 37số có thể chấp nhận được đối với công nợ, sai số có thể chấp nhận được đối với công nợ lại cao hơn đối với tài khoản khác Không có sai số có thể chấp nhận được đối với lợi nhuận chưa phân phối vì chỉ tiêu này chỉ có thể suy ra
từ sai số của các tài khoản khác…
Khi xác định mức trọng yếu cho từng nhóm giao dịch, số dư tài khoản hoặc thuyết minh, để đảm bảo tính hiệu quả của cuộc kiểm toán, KTV cần phải quan tâm đến bằng chứng kiểm toán thu thập được từ các tài khoản đối ứng xuất phát từ quan hệ bút toán kép trong kế toán để giảm bớt công việc kiểm toán cần thực hiện
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 320, không bắt buộc xác định mức trọng yếu cho tất cả các khoản mục trên báo cáo tài chính trừ những trường hợp cụ thể của đơn vị được kiểm toán, nếu có một hoặc một số nhóm các giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh (nếu xét riêng lẻ) có sai phạm với mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính nhưng có thể ảnh hưởng (nếu xét tổng thể) đến quyết định kinh tế của người
sử dụng báo cáo tài chính, thì kiểm toán viên phải xác định mức trọng yếu hoặc các mức trọng yếu áp dụng cho từng nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh Ví dụ: Công ty dược có phát sinh chi phí nghiên cứu và triển khai, thông tin này là một thông tin thuyết minh quan trọng vì liên quan đến ngành nghề mà công ty đang hoạt động, do đó kiểm toán viên
sẽ cần phải xác định mức trọng yếu cho khoản mục này; hoặc công ty được kiểm toán có hoạt động mua một bộ phận kinh doanh, kiểm toán viên cần thiết lập mức trọng yếu cho giao dịch này vì đây có thể là một lĩnh vực hoạt động của đơn vị mà người sử dụng báo cáo tài chính quan tâm
1.2.4 Ngưỡng sai sót có thể bỏ qua
Ngưỡng sai sót có thể bỏ qua không phải là mức trọng yếu nhưng việc xác định ngưỡng này giúp kiểm toán viên loại bỏ những sai phạm nhỏ ngay cả khi tổng hợp lại cũng không đủ gây ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài
Trang 38chính Các sai phạm dưới ngưỡng sai sót không đáng kể sẽ không cần tổng hợp lại khi trao đổi với đơn vị và quyết định ý kiến kiểm toán Ngưỡng sai sót
có thể bỏ qua chủ yếu được sử dụng trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, tuy nhiên nó cũng được xác định cùng lúc với xác định mức trọng yếu Thường ngưỡng này bằng một tỷ lệ phần trăm khá nhỏ của mức trọng yếu thực hiện Theo chương trình kiểm toán mẫu năm 2013 của VACPA, tỷ lệ này là 0% đến 4%
1.2.5 Điều chỉnh mức trọng yếu
Mức trọng yếu tổng thể được thiết lập trong giai đoạn lập kế hoạch Trong quá trình kiểm toán có thể có những tình huống có thêm các thông tin mới (Ví dụ đơn vị được kiểm toán quyết định bán một bộ phận kinh doanh chính) hay việc thực hiện thêm các thủ tục kiểm toán làm thay đổi hiểu biết của kiểm toán viên về đơn vị được kiểm toán và hoạt động của đơn vị đó (Ví
dụ kết quả kinh doanh thực tế khác khá nhiều so với kết quả dự kiến vào cuối
kỳ đã được sử dụng) Do đó trong trường hợp này kiểm toán viên phải điều chỉnh lại mức trọng yếu
Trường hợp mức trọng yếu được xác định lại thấp hơn mức trọng yếu ban đầu, nghĩa là phạm vi và khối lượng các thủ tục kiểm toán cần thực hiện
sẽ nhiều hơn so với thiết kế ban đầu Lúc này kiểm toán viên cần đánh giá lại
sự phù hợp của các công việc kiểm toán đã thực hiện để đánh giá liệu có cần thiết phải thực hiện thêm các thủ tục kiểm toán nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp hay không
Mức trọng yếu có thể được điều chỉnh trong các trường hợp sau:
- Cập nhật lại giá trị của tiêu chí xác định mức trọng yếu (benchmark)
- Thay đổi tiêu chí xác định mức trọng yếu
- Điều chỉnh tỷ lệ % tính mức trọng yếu
Cập nhật lại giá trị của tiêu chí xác định mức trọng yếu (benchmark)
Trang 39Đây là trường hợp đơn giản nhất, xảy ra khi tiêu chí xác định mức trọng yếu thay đổi đáng kể so với mức dự kiến
Ví dụ:
Trong quá trình kiểm toán, khi doanh thu thực tế cả năm tăng khoảng 40% so với kết quả dự kiến tổng doanh thu ở thời điểm giữa năm, thì kiểm toán viên cần phải sửa đổi lại mức trọng yếu đã xác định ở giai đoạn lập kế hoạch
Thay đổi tiêu chí xác định mức trọng yếu
Kiểm toán viên tiến hành thay đổi tiêu chí xác định mức trọng yếu khi đối tượng chính sử dụng thông tin tài chính có sự thay đổi về nhu cầu thông tin cung cấp
Ví dụ:
Năm 2015, Công A chuẩn bị vay ngân hàng một khoản vay lớn để đầu tư vào dây chuyền sản xuất mới Theo quy định của ngân hàng, để có thể vay thì công ty A phải có báo cáo tài chính được kiểm toán Trong trường hợp này, tiêu chí phù hợp để kiểm toán viên xác định mức trọng yếu là tổng tài sản vì đối tượng sử dụng báo cáo tài chính là ngân hàng do liên quan đến việc sử dụng tài sản và khả năng đảm bảo tiền vay
Sang năm 2016, công ty A chuẩn bị niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Khi đó tiêu chí phù hợp để xác định mức trọng yếu là lợi nhuận trước thuế do đối tượng sử dụng thông tin tài chính là nhà đầu tư vì đây là yếu tố các nhà đầu tư tiềm năng quan tâm đầu tiên trước khi quyết định đầu tư vào một đơn vị
Điều chỉnh tỷ lệ % tính mức trọng yếu
Việc điều chỉnh tỷ lệ % tính mức trọng yếu, kiểm toán viên có thể chọn
tỷ lệ cao hơn hoặc thấp hơn khi thay đổi mức độ rủi ro đánh giá ban đầu ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Ví dụ:
Trang 40Kiểm toán viên xác định mức trọng yếu căn cứ vào việc đánh giá rủi ro ban đầu là cao do không tin tưởng vào hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị, dẫn đến việc kiểm toán viên xác định mức trọng yếu trên cơ sở tổng doanh thu với tỷ lệ phần trăm thấp (Ví dụ 0,5%)
Tuy nhiên trong quá trình kiểm toán và kiểm tra hệ thống kiểm soát nội
bộ, kiểm toán viên nhận thấy rằng hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được thiết kế và hoạt động hiệu quả có thể ngăn chặn hoặc phát hiện và sửa chữa các sai sót kịp thời Khi đó, kiểm toán viên có thể xem xét lại việc thay đổi mức trọng yếu bằng cách tăng tỷ lệ phần trăm trên tiêu chí đã được lựa chọn
từ 0,5% lên 1% tổng doanh thu để xác định mức trọng yếu mới
Trường hợp kiểm toán viên nhận thấy cần phải xác định lại mức trọng yếu và mức trọng yếu xác định lại thấp hơn so với mức trọng yếu kế hoạch, nghĩa là phạm vi và khối lượng các thủ tục kiểm toán cần thực hiện sẽ lớn hơn
so với thiết kế ban đầu Lúc này kiểm toán viên cần đánh giá lại sự phù hợp của các công việc kiểm toán đã thực hiện để đánh giá liệu có cần thiết phải thực hiện thêm các thủ tục kiểm toán nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp hay không Chẳng hạn:
- Thực hiện thêm các thử nghiệm kiểm soát để xem xét rủi ro kiểm soát
có giảm hay không, nếu rủi ro kiểm soát giảm thì lúc đó kiểm toán viên có thể không cần tăng khối lượng công việc kiểm toán nữa
- Giảm rủi ro phát hiện bằng cách sửa đổi lại nội dung, lịch trình và phạm vi của những thủ tục kiểm tra chi tiết đã dự kiến
1.2.6 Xác định mức trọng yếu đối với kiểm toán tập đoàn
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngày càng có nhiều công ty, tập đoàn với nhiều đơn vị thành viên là công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết Việc xác lập mức trọng yếu cho các công ty, tập đoàn với nhiều đơn
vị thành viên là quan trọng để kiểm toán viên có thể thiết kế được kế hoạch, lịch trình kiểm toán phù hợp