Tuy nhiên, xét về một khía cạnh khác, kế toán ngoài việc thực hiện các báo cáo phục vụ các đối tượng bên ngoài thì bên trong tổ chức thì còn đóng vai trò hết sức quan trọng là đầu mối xử
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ THỊ THANH THẢO
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG THÔNG TIN
KẾ TOÁN CHO NHU CẦU QUẢN LÝ TẠI CÁC ĐƠN VỊ THUỘC SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ THỊ THANH THẢO
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG THÔNG TIN
KẾ TOÁN CHO NHU CẦU QUẢN LÝ TẠI CÁC ĐƠN VỊ THUỘC SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề “Đánh giá mức độ đáp ứng
thông tin kế toán cho nhu cầu quản lý tại các đơn vị thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính bản
thân tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều đều được trích dẫn
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu 4
6 Tổng quan tài liệu 4
7 Cấu trúc của luận văn 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 10
1.1 THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ NHU CẦU THÔNG TIN KẾ TOÁN 10
1.1.1 Thông tin kế toán và các đặc trưng của thông tin kế toán 10
1.1.2 Lý thuyết ngữ cảnh và những ảnh hưởng đến tổ chức thông tin kế toán phục vụ nhu cầu quản lý 15
1.1.3 Nhu cầu thông tin kế toán phục vụ cho quản lý tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập 19
1.2 ĐÁP ỨNG NHU CẦU THÔNG TIN KẾ TOÁN 22
1.2.1 Đo lường mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin kế toán 22
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin cho quản lý 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 27
2.1 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC ĐƠN VỊ THUỘC SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP ĐÀ NẴNG 27
2.1.1 Đặc điểm cơ cấu tổ chức quản lý 27
2.1.2 Đặc điểm hoạt động chuyên môn 29
2.1.3 Đặc điểm hoạt động tài chính 30
Trang 52.1.4 Đặc điểm về công tác kế toán 31
2.1.5 Những đặc điểm hoạt động khác nhau liên quan đến nhu cầu quản lý 32
2.2 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU 33
2.3 THIẾT KẾ ĐO LƯỜNG VỀ ĐÁP ỨNG NHU CẦU THÔNG TIN KẾ TOÁN CHO QUẢN LÝ 35
2.3.1 Nhu cầu thông tin kế toán phục vụ quản lý qua các báo cáo kế toán: 35
2.3.2 Mức độ đáp ứng thông tin kế toán cho nhu cầu quản lý 37
2.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đáp ứng thông tin kế toán cho nhu cầu quản lý 39
2.4 CHỌN MẪU VÀ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 43
2.4.1 Chọn mẫu 43
2.4.2 Về phương pháp thu thập dữ liệu 43
2.4.3 Về phương pháp xử lý số liệu 43
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 45
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÌNH LUẬN 46
3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 46
3.2 NHU CẦU THÔNG TIN KẾ TOÁN CHO QUẢN LÝ 46
3.2.1 Phân tích nhu cầu thông tin kế toán cho quản lý tại các đơn vị thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo Tp Đà Nẵng 46
3.3.2 Đánh giá sự khác biệt về nhu cầu thông tin kế toán cho quản lý giữa các cấp học và thâm niên công tác của người quản lý 55
3.3.3 Kết quả khảo sát mở đối với những nhu cầu thông tin khác 59
3.4 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG THÔNG TIN KẾ TOÁN CHO QUẢN LÝ 61
3.4.1 Thực trạng mức độ đáp ứng thông tin kế toán cho nhu cầu quản lý 61
Trang 63.4.2 Kiểm định sự khác biệt về mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin kế
toán phục vụ quản lý 64
3.5 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG THÔNG TIN KẾ TOÁN CHO NHU CẦU QUẢN LÝ 68
3.5.1 Yếu tố đặc trưng định tính của báo cáo kế toán 68
3.5.2 Yếu tố đặc trưng của đội ngũ kế toán 70
3.5.3 Yếu tố nhận thức cá nhân đối với việc sử dụng thông tin kế toán 72 3.5.4 Yếu tố hỗ trợ kế toán 73
3.5.5 Đánh giá sự khác biệt đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố giữa các cấp học 75
3.6 HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 78
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN, MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KIẾN NGHỊ 80
4.1 CÁC KẾT LUẬN TỪ NGHIÊN CỨU 80
4.2 CÁC HÀM Ý CHÍNH SÁCH 81
4.2.1 Hàm ý chính sách đối với nhu cầu thông tin kế toán 81
4.2.2 Hàm ý về đổi mới quản lý để đáp ứng nhu cầu thông tin quản lý83 4.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 83
4.3.1 Kiến nghị đối với các cơ sở giáo dục thuộc Sở Giáo dục và đào tạo thành phố Đà Nẵng 83
4.3.2 Kiến nghị đối với cấp trên 84
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 86
KẾT LUẬN 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 72.5 Các chỉ mục liên quan đến yếu tố nhận thức cá nhân
của người quản lý đối với việc sử dụng thông tin kế toán
3.4 Phân tích ANOVA một yếu tố trung bình nhu cầu
đối với các báo cáo ngân sách (giữa các nhóm cấp học)
56
3.5 Phân tích ANOVA một yếu tố trung bình nhu cầu
đối với báo cáo thực hiện
58
Trang 83.7 Thống kê mô tả mức độ đáp ứng nhu cầu của báo
3.11 Thống kê mô tả Yếu tố đặc trƣng định tính báo cáo
Trang 92.1 Cơ cấu tổ chức Sở Giáo dục và Đào tạo 28
3.2 Báo cáo tổng hợp tình hình và quyết toán kinh phí 50 3.3 Báo cáo chi tiết kinh phí hoạt động 51
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất cứ một tổ chức nào vai trò của kế toán cũng hết sức quan trọng
và là một chức năng không thể thiếu trong hoạt động quản lý của tổ chức Tuy nhiên, từ trước đến nay quan niệm về kế toán là những người chỉ thực hiện việc lập chứng từ và ghi sổ sách, làm những thủ tục giấy tờ, báo cáo cần thiết
để đáp ứng theo yêu cầu của Luật pháp, cơ quan thuế và các cơ quan nhà nước khác Tuy nhiên, xét về một khía cạnh khác, kế toán ngoài việc thực hiện các báo cáo phục vụ các đối tượng bên ngoài thì bên trong tổ chức thì còn đóng vai trò hết sức quan trọng là đầu mối xử lý và cung cấp thông tin về tình hình và việc sử dụng các nguồn lực của đơn vị Vì chức năng của kế toán
là phản ánh và ghi lại mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong đơn vị, do đó kế toán có vai trò quan trọng trong công tác kiểm soát nội bộ cũng như quản trị
tổ chức Với vai trò cung cấp thông tin về các nguồn lực của mình kế toán hỗ trợ giúp người quản lý và các bộphận chức năng khác thực hiện tốt công việc của mình Tuy nhiên, hoạt động cung cấp thông tin của bộ phận kế toán và những thông tin mà những bộ phận khác trong đơn vị thực sự cần có gặp nhau hay không vẫn là một câu hỏi, khi công việc của kế toán trong nhiều tổ chức khá tách biệt và xa lạ đối với những bộ phận khác, là một bộ phận họ phải đối phó hơn là một nơi họ có thể tìm được sự hỗ trợ
Thực tiễn tại các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và các đơn vị trường học nói riêng cũng vậy, kế toán từ trước đến nay chỉ chủ yếu thực hiện chức năng thu, chi xử lý chứng từ Tuy nhiên, chủ trương của nhà nước ngày càng có xu hương giao quyền tự chủ về tài chính cũng như tổ chức cho các đơn vị sự nghiệp công lập ngày càng nhiều Thể hiện qua việc ban hành nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 và mới nhất là nghị định 16/2015/NĐ-
Trang 11CP ngày 10/03/2015 quy định cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập, ngày càng giao quyền tự quyết nhiều hơn cho thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp công lập Trong xu thế đó, kế toán càng phải phát huy vai trò của mình trong việc hỗ trợ người quản lý trong việc quản trị tổ chức, ra quyết định liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực Phải thay đổi quan điểm trong cách thức hoạt động, xem việc cung cấp thông tin cho người quản lý như là một hình thức cung cấp dịch vụ cho khách hàng, xem đó là tiêu chí, tiền đề để đánh giá hoạt động của mình
Cụ thể tại Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng, các đơn vị thuộc
Sở gồm các đơn vị trường học từ cấp mầm non đến trung học phổ thông và các trung tâm giáo dục thường xuyên, chức năng hoạt động chủ yếu là công tác dạy và học, cho nên đôi khi công tác quản lý về mặt tài chính đang còn xem nhẹ Mỗi đơn vị chỉ có từ một đến hai kế toán làm việc chung trong bộ phận hành chính, đôi lúc còn kiêm nhiệm thêm nhiều công việc về nhân sự hay thống kê, tuy nhiên kế toán lại là bộ phận đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về các nguồn lực và tình hình sử dụng các nguồn lực cho thủ trưởng đơn vị Kế toán ở các đơn vị trường học, ở các trung tâm dường như từ trước đến nay chỉ được xem như có vai trò thực hiện việc thu chi, thanh toán các khoản chi kinh phí, còn vai trò cung cấp thông tin giúp thủ trưởng đơn vị thực hiện chức năng quản lý về tài chính, về phát huy vai trò tự chủ tự chịu trách nhiệm về tài chính cũng như cải thiện hiệu quả thực hiện qui chế chi tiêu nội bộ của đơn vị dường như vẫn đang còn bị xem nhẹ Hơn nữa
do đặc thù phân cấp quản lý hiện nay các đơn vị thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo được chia phân cấp quản lý trực tiếp thành cấp quận, huyện và cấp thành phố, trong đó các đơn vị từ cấp học mầm non đến cấp trung học cơ sở được quản lý trực tiếp bởi các phòng giáo dục và đào tạo quận (huyện), các đơn vị giáo dục cấp trung học phổ thông và giáo dục thường xuyên thì thuộc Sở giáo dục và
Trang 12Đào tạo, đo đó công tác quản lý về tài chính giữa các cấp cũng có sự khác biệt nhất định, và vấn đề cung cấp thông tin cho nhu cầu quản lý giữa các đơn vị các cấp học cũng có sự khác biệt mà chưa được nghiên cứu, đánh giá
Vì những lý do kể trên tôi chọn đề tài “Đánh giá mức độ đáp ứng thông
tin kế toán cho nhu cầu quản lý tại các đơn vị thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng” với mong muốn tìm hiểu để có một cái nhìn tổng
quan về thực trạng trong hoạt động cung cấp thông tin của kế toán phục vụ công tác quản lý của các đơn vị trường học thuộc Sở như thế nào, từ đó có những kết quả, kiến nghị giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như góp một phần trong việc giúp quản lý công tác tài chính toàn ngành giáo dục thành phố được tốt hơn
2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn hướng đến các mục tiêu sau:
- Đánh giá mức độ đáp ứng các yêu cầu thông tin kế toán cho quản lý tại các đơn vị thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo
- Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện công tác kế toán nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin cho quản lý được tốt hơn
3 Câu hỏi nghiên cứu
Với hai mục tiêu nghiên cứu đã trình bày ở trên, nghiên cứu này tập trung trả lời được các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Nhu cầu thông tin phục vụ cho công tác quản lý ở các đơn vị thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo TP Đà Nẵng là gì?
- Mức độ đáp ứng của thông tin kế toán được cung cấp cho người quản
lý dưới dạng các báo cáo như thế nào?
- Các yếu tố nào giúp cải thiện việc cung cấp thông tin kế toán phục vụ cho nhu cầu quản lý được tốt hơn?
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và
Trang 13định lượng để đạt được các mục tiêu nghiên cứu Cụ thể:
- Phương pháp phỏng vấn sâu: thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu với một
số đối tượng là người quản lý, nhân viên kế toán lâu năm ở các đơn vị trường học nhằm tìm ra những nhu cầu thông tin kế toán nào cần thiết và đang được
sử dụng, những nghiệp vụ, công việc kế toán nào được thực hiện để đạt được mục tiêu thứ nhất
- Phương pháp điều tra, chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo các cấp học (mầm non, tiểu học, THCS, THPT, trung tâm GDTX) theo tỷ lệ 30% tổng thể, trong khoảng hơn 200 đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Giáo dục và đào tạo để phát phiếu câu hỏi cho người quản lý nhằm thu thập được thông tin phục vụ mục tiêu đánh giá mức độ đáp ứng thông tin kế toán phục
vụ nhu cầu quản lý
- Phương pháp phân tích dữ liệu: từ số liệu từ phương pháp điều tra chọn mẫu ở trên, sử dụng các kỹ thuật phân tích dữ liệu để có được kết quả đánh giá
5 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là mức đáp ứng của thông tin kế toán cho nhu cầu quản lý ở các đơn vị thuộc Sở Giáo dục TP Đà nẵng Phạm vi nghiên cứu của
đề tài là ở các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên công lập thuộc quản lý của Sở Giáo dục và đào tạo thành phố Đà Nẵng
6 Tổng quan tài liệu
6.2 Các nghiên cứu trong nước
Trong xu thế phát triển chung của kế toán quản trị trên thế giới tại Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu kế toán trên phương diện quản trị doanh nghiệp, chú trọng theo hướng kế toán phục vụ cho các đối tượng bên trong của tổ chức Đặc biệt là các nghiên cứu về hoàn thiện hệ
Trang 14thống thông tin kế toán, chất lượng thông tin kế toán trong hệ thống quản trị hoạch định nguồn lực của doanh nghiệp (ERP), về việc sử dụng thông tin kế toán phục vụ nhu cầu ra quyết định
Trong đó có một số nghiên cứu như Luận án tiến sỹ của Nguyễn Bích
Liên nghiên cứu về việc “Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thông hoạch định nguồn lực doanh nghệp (ERP) tại các doanh nghiệp Việt Nam”(2012) đã tiếp
cận nghiên cứu chất lượng thông tin kế toán theo hướng thông tin kế toán trong môi trường ERP đáp ứng được các đặc tính của thông tin là: hữu hiệu, hiệu quả, bảo mật, toàn vẹn, sẵn sàng, tuân thủ và đáng tin cậy Hay luận văn
thạc sỹ “Nghiên cứu việc sử dụng thông tin kế toán phục vụ ra quyết định tại công ty cổ phần Trường Giang” của Trần Thị Phước Thịnh (2014) và các
nghiên cứu tương tự đã nghiên cứu việc sử dụng thông tin trên các báo cáo kế toán cụ thể tại một số đơn vị nhất định của từng đề tại nhằm phục vụ việc ra
quyết định liên quan đến hoạt động cụ thể tại đơn vị đó Bài viết “Làm rõ vai trò của thông tin kế toán phục vụ nhu cầu quản lý” của Ths Cao Xuân Hợp
cũng đề cập đến yêu cầu thông tin kế toán là phải: đầy đủ, khách quan, trung thực, kịp thời, dễ hiểu, có thể so sánh và đưa ra các tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin kế toán theo từng loại báo cáo tài chính cụ thể
Các nghiên cứu trên chỉ mới nghiên cứu chất lượng thông tin trên phương diện đáp ứng các yêu cầu đặc tính của thông tin nói chung, và thông tin kế toán nói riêng, chứ chưa xét đến việc những thông tin đó đã đáp ứng được, có phù hợp với nhu cầu quản trị của người quản lý doanh nghiệp hay các bộ phận liên quan hay chưa, hay mức độ đáp ứng, mức độ phù hợp là như thế nào Hoặc, nếu nghiên cứu thì nghiên cứu các dữ liệu cụ thể phục vụ cho mục tiêu cụ thể là ra quyết định tại một đơn vị doanh nghiệp cụ thể Chứ chưa
có nghiên cứu nào nghiên cứu về chất lượng thông tin kế toán trên phương diện
Trang 15đáp ứng nhu cầu của người quản lý và nhất là trong lĩnh vực hành chính sự nghiệp nói chung hay lĩnh vực giáo dục đào tạo nói riêng Do vậy, đây cũng là một khoảng trống nghiên cứu để tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình
6.2 Các nghiên cứu nước ngoài
Thông tin kế toán là kết quả của qui trình kế toán, thường được trình bày dưới dạng các báo cáo tài chính hoặc các báo cáo thường niên (Fardinal, 2013) Thông tin kế toán chất lượng nếu xét trên phương diện những đặc điểm của thông tin thì phải: dễ hiểu, phù hợp, tin cậy, có thể so sánh và nhất quán (Hall, 2011) Hay thông tin kế toán chất lượng phải là thông tin phù hợp, chính xác và có thể xác minh (Fardinal, 2013) Nhưng nếu xét một khía cạnh khác thì thông tin kế toán chất lượng phải là thông tin hữu dụng nghĩa là nó
phải đem lại lợi ích cho người sử dụng
Trong một nghiên cứu của Fardinal “The Quality of Accounting information and the accounting information through the Internal Control system: A study on Ministry and State Agencies of Republic of Indonesia”
(2013) đã tổng hợp các ý kiến và cho rằng thông tin kế toán hữu ích phải là thông tin phù hợp với nhu cầu của người sử dụng, hoặc giúp người sử dụng thực hiện được các hoạt động mong muốn, hay đưa ra những quyết định đúng đắn Mục tiêu của thông tin kế toán chất lượng là hướng đến sự hài lòng của nhu cầu và mong đợi của người sử dụng thông tin kế toán đó (Nirela Camelia Mirela, 2009).Trong nghiên cứu này, tập trung nghiên cứu thông tin kế toán dưới góc độ thông tin kế toán hữu ích là thông tin đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng nhằm phục vụ cho công tác quản lý, quản trị tổ chức
Vậy làm sao đo lường được chất lượng thông tin kế toán trên phương
diện đáp ứng cho nhu cầu của người sử dụng Nghiên cứu “Delivering Quality Accounting services” của Walker và các đồng sự (2006) cho rằng chất lượng
cung cấp thông tin hay chất lượng phục vụ của kế toán đối với người sử dụng
Trang 16chịu ảnh hưởng bởi mức độ đồng nhất về quan điểm của người sử dụng và người cung cấp Sự thống nhất giữa người cung cấp và mong đợi hay nhu cầu của người sử dụng giúp cho việc ra quyết định kịp thời và chính xác hơn Qui trình hoạt động của kế toán nhằm cung cấp thông tin cho người sử dụng hiệu quả khi nó làm thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng Sự thỏa mãn có thể được đo lường ở hai yếu tố là “tầm quan trọng” và “mức độ thường xuyên sử dụng”, thông tin có chất lượng là thông tin quan trọng với người sử dụng và được sử dụng thường xuyên Nghiên cứu cũng đế xuất phương thức đánh giá hiệu quả dịch vụ hay quá trình cung cấp thông tin của kế toán bằng cách tìm hiểu, so sánh khoảng cách quan điểm giữa những người làm kế toán và người
sử dụng thông tin đối với các chức năng hoạt động của kế toán, xem điểm khác nhau giữa tầm quan trọng của từng chức năng đối với người làm kế toán
và tầm quan trọng hay lợi ích mà những chức năng kế toán đó mang lại cho người sử dụng Kết quả nghiên cứu thực tiễn tại một công ty trong nghiên cứu
đã cho thấy có sự khác biệt khá lớn giữa quan điểm của người cung cấp và mong đợi của người sử dụng, người làm kế toán có thể cho rằng việc này là quan trọng, nhưng đối với người sử dụng thì ngược lại Phương pháp này là gợi ý cho nghiên cứu này khi đánh giá mức độ đáp ứng thông tin kế toán phục
vụ cho nhu cầu quản lý Thông tin kế toán từ trước đến nay ở các đơn vị tại Việt Nam được làm ra mục tiêu đầu tiên là để làm các báo cáo phục vụ cho các cơ quan Nhà nước và bị chi phối bởi nhiều qui tắc về trình bày báo cáo nên có thể nó không đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng trong đơn vị Cũng đứng trên quan điểm tiếp cận người sử dụng thông tin kế toán là khách hàng sử dụng dịch vụ, một nghiên cứu khác của Walker và các đồng sự
“Measuring management Accounting service quality” (2012) đã đánh giá sự
hài lòng của khách hàng theo mô hình SERVQUAL: (Parasuraman, 1988) để đánh giá mức độ hài lòng của người sử dụng đối với những tiện ích mà bộ
Trang 17phận kế toán hỗ trợ cho họ, trong đó cung cấp thông tin là một trong những tiện ích lớn nhất Cụ thể, nghiên cứu đã đánh giá mức độ hài lòng của người
sử dụng bằng phương pháp so sánh giữa sự mong đợi và mức độ hài lòng thực
tế của người sử dụng đối với năm yếu tố: cơ sở vật chất, độ tin cậy, sự phản hồi, sự đảm bảo và sự cảm thông Thêm vào đó, nghiên cứu cũng đưa ra những yếu tố ảnh hưởng đến mong đợi của người sử dụng đó chính là sự trao đổi thông tin, nhu cầu thông tin và dịch vụ cá nhân, những kinh nghiệm trong quá khứ Từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, quả thực có một khoảng cách khá lớn giữa mong muốn của người sử dụng và những điều thực
tế họ nhận được Và một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến khoảng cách này đó chính là thiếu sự trao đổi giao tiếp giữa người cung cấp đối với người sử dụng của mình, cũng như thiếu sự hướng dẫn cần thiết để người sử dụng hiểu rõ hơn về thông tin mình nhận được Chính điều này đã tạo nên khoảng cách và hiểu lầm, làm cho hoạt động của bộ phận kế toán trở nên xa lạ đối với những đối tượng người sử dụng mà họ phục vụ và cung cấp thông tin Phương pháp và kết quả nghiên cứu là gợi ý để xây dựng khung lý thuyết khi đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình cung cấp thông tin kế toán phục
vụ nhu cầu quản lý của người sử dụng cũng như tìm ra những biện pháp nhằm cải thiện chức năng kế toán nhằm cải thiện khả năng cung cấp thông tin cho người quản lý
Tóm lại, những nhà nghiên cứu về kế toán quản trị trên thế giới đã và đang quan tâm nghiên cứu hiệu quả của việc cung cấp thông tin kế toán cho các đối tượng sử dụng bên trong đơn vị Sự hiệu quả của dịch vụ kế toán hướng đến việc làm hài lòng yêu cầu của người sử dụng được quan tâm nhiều hơn theo quan điểm kế toán không chỉ làm nhiệm vụ thực hiện ghi chép, thực hiện những báo cáo bắt buộc để công bố thông tin ra bên ngoài Tuy nhiên, ở Việt Nam những nghiên cứu về thông tin kế toán chỉ mới chủ yếu tập trung
Trang 18vào việc nghiên cứu thiết lập hệ thống thông tin cho đơn vị, chưa nghiên cứu
cụ thể đến nhu cầu của người sử dụng Đây là khoảng trống cho những nghiên cứu khoa học trong tương lai
7 Cấu trúc của luận văn
Cấu trúc luận văn ngoài phần mở đầu gồm 3 chương: chương 1 trình bày
về cơ sở lý luận, chương 2 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu của luận văn, chương 3 trình bày kết quả khảo sát và phân tích số liệu, chương 4 trình bày phần kết luận và khuyến nghị Cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ NHU CẦU THÔNG TIN KẾ TOÁN 1.1.1 Thông tin kế toán và các đặc trưng của thông tin kế toán
a Thông tin kế toán và đối tượng sử dụng thông tin kế toán
Kế toán là khoa học thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về tài sản, nguồn hình thành tài sản và sự vận động của tài sản trong các tổ chức Kế toán được sử dụng không chỉ ở các doanh nghiệp mà còn ở mọi tổ chức khác, như trường học, bệnh viện, cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị sự nghiệp
sử dụng kinh phí của nhà nước, các tổ chức phi chính phủ… Nói chung, mọi
tổ chức có sử dụng các nguồn lực để thực hiện một mục đích nào đó đều sử dụng kế toán như là công cụ để quản lý hoạt động của mình.[1]
Thông tin kế toán là kết quả của qui trình xử lý số liệu của hệ thống thông tin kế toán, cung cấp đến người sử dụng dưới dạng các báo cáo kế toán Thông tin kế toán trên các báo cáo kế toán không chỉ được sử dụng để nộp báo cáo cho các cơ quan chức năng mà còn được sử dụng bởi những người quản lý bên trong đơn vị và những người bên ngoài có liên quan Những người sử dụng khác nhau sẽ có những yêu cầu và sự mong đợi đối với thông tin khác nhau Đối tượng sử dụng thông tin kế toán được phân thành 3 nhóm như sau:
- Ban quản trị: có thể là chủ doanh nghiệp (trực tiếp tham gia quản lý),
hội đồng quản lý, ban giám đốc hay trưởng các bộ phận
Ban quản trị là những người có trách nhiệm điều hành tổ chức để thực hiện mục tiêu của tổ chức mình Mục tiêu của các tổ chức thường khác nhau
và rất phức tạp Đối với các doanh nghiệp mục tiêu của họ có thể việc đạt được một mức lợi nhuận chấp nhận được, cung cấp hàng hoá có chất lượng
Trang 20với giá thấp, tạo công ăn việc làm, cải thiện môi trường và có thể là những nhiệm vụ khác Từng tổ chức khác nhau sẽ có những mục tiêu khác nhau, và trong một tổ chức mục tiêu cũng thay đổi theo từng thời kỳ Vì vậy ban quản trị, người quản lý đơn vị để điều hành đơn vị đạt được mục tiêu thì phải quản trị tốt nguồn lực, ra những quyết định đúng đắn, để đạt được những điều đó thì thông tin kế toán hỗ trợ việc quản lý và ra quyết định là rất quan trọng Các đơn vị sự nghiệp công lập tuy không hoạt động vì lợi nhuận nhưng cũng có những mục tiêu riêng Mục tiêu quan trọng nhất là đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị nhà nước giao cụ thể theo từng ngành, từng đơn vị Ngoài ra, những đơn vị sự nghiệp có thu, người quản lý còn cần phải quan tâm việc sử dụng tốt các nguồn thu, kết hợp với việc điều hành những khoản ngân sách khác để cải thiện cơ sở vật chất cho đơn vị, hỗ trợ một phần đời sống cho cán bộ, nhân viên và người lao động của đơn vị mình đảm bảo theo chế độ tự chủ của nhà nước quy định Khi quyền tự chủ được giao càng nhiều cho đơn vị, người quản lý sẽ càng có vai trò và trách nhiệm lớn hơn trong việc quản lý tình hình tài chính của đơn vị Do vậy, những báo cáo của kế toán không chỉ phục vụ cho việc quyết toán kinh phí và báo cáo với cơ quan cấp trên mà còn phục vụ cho nhu cầu thông tin cho người quản lý Và bên cạnh những báo cáo sẵn có đó, người quản lý sẽ cần những thông tin bổ sung để phục vụ cho công tác điều hành kinh phí của mình
- Người có quyền lợi trực tiếp: nhà đầu tư, chủ nợ
Những người đầu tư và chủ nợ là những người có quyền lợi trực tiếp đối với tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp Tình hình hoạt động của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến cổ tức nhận được của nhà đầu tư và khả năng thu hồi vốn và lãi của chủ nợ Nên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp là thông tin quan trọng để những đối tượng này nắm được tình hình tài chính của doanh nghiệp Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thì đối tượng sử dụng
Trang 21thông tin kế toán không có nhóm đối tượng này
- Người có quyền lợi gián tiếp: là các cơ quan thuế, cơ quan thống kê,
cơ quan thanh tra, kiểm tra và các cơ quan chức năng có liên quan khác
Các cơ quan chức năng để thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình cần phải thu thập những báo cáo kế toán của các đơn vị mà chủ yếu là các báo cáo tài chính
Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, thì những báo cáo kế toán tài chính phải được lập đúng kỳ và thực hiện việc nộp báo cáo quyết toán cho cơ quan quản lý cấp trên để được phê duyệt báo cáo quyết toán kinh phí
Như vậy, nhu cầu thông tin kế toán khác nhau đối với từng đối tượng cụ thể sử dụng thông tin đó Từng đối tượng có những mục đích, yêu cầu riêng khi sử dụng thông tin kế toán, do đó nhu cầu thông tin của họ cũng khác nhau
Vì vậy thông tin hướng đến đối tượng nào thì cần phải nghiên cứu nhu cầu, mục tiêu, và đặc điểm của đối tượng để cung cấp thông tin phù hợp với đối tượng sử dụng đó
b Hình thức biểu hiện của thông tin kế toán
Dựa vào hình thức biểu hiện và mục đích sử dụng của các đối tượng liên quan, thông tin kế toán có thể phân loại như sau:
- Phân loại theo hình thức thể hiện qua văn bản:
+ Báo cáo bằng số: thể hiện dưới dạng các con số trên các báo cáo, thể hiện giá trị của tình hình tài chính của đơn vị: tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí và các chỉ tiêu tài chính khác
+ Báo cáo bằng chữ: thể hiện dưới dạng các thuyết minh bằng lời, có tác dụng giải thích rõ hơn hoặc bổ sung cho các thông tin bằng số Đó có thể
là thông tin về các chính sách kế toán, các mô tả về đặc trưng và tình hình của tổ chức, hay giải thích rõ hơn về phương pháp được sử dụng trên các báo cáo kế toán
Trang 22- Phân loại theo mục đích sử dụng:
+ Thông tin kế toán trên các báo cáo tài chính: phục vụ mục đích công
bố thông tin ra công chúng, nộp cho các cơ quan nhà nước liên quan Bắt buộc phải được lập Thường được lập theo mẫu hoặc những tiêu chí được qui định thống nhất
+ Thông tin kế toán trên các báo cáo quản trị (hay các báo cáo nội bộ): phục vụ mục đích cung cấp thông tin cho người quản lý hay các bộ phận chức năng khác trong tổ chức Thường không có qui định về mẫu và không bắt buộc phải lập.Tùy từng tổ chức mà có các loại báo cáo khác nhau
- Phân loại theo mức độ chi tiết của thông tin:
Tại các đơn vị sự nghiệp công lập là các đơn vị có sử dụng ngân sách của nhà nước, do đó nhà nước cần có những thông tin để quản lý tình hình sử dụng ngân sách của đơn vị đó Do đó, thông tin kế toán còn được phân loại theo mức độ chi tiết của thông tin là thông tin kế toán trên báo cáo ngân sách
và báo cáo thực hiện (hoạt động):
- Thông tin kế toán trên báo cáo ngân sách: là các báo cáo tổng hợp thể hiện tình hình dự toán kinh phí, tình hình sử dụng kinh phí ngân sách cấp, và các nguồn kinh phí khác hàng năm của đơn vị, bao gồm các báo cáo về kế hoạch ngân sách, tổng hợp tình hình sử dụng ngân sách…
- Thông tin kế toán trên báo cáo thực hiện: là các báo cáo chi tiết thể hiện tình hình hoạt động, thu, chi thường xuyên, tình hình sử dụng tài sản cụ thể, thường xuyên tại đơn vị, bao gồm các báo cáo về tình hình tài sản, thu chi…
c Đặc trưng của thông tin kế toán
Đặc trưng của thông tin kế toán gắn liền với đặc trưng của kế toán tài chính và kế toán quản trị Đối với kế toán tài chính, thông tin kế toán tài chính cung cấp cho người sử dụng bên trong và bên ngoài đơn vị một cái nhìn tổng quan về tình hình tài chính của đơn vị tại thời điểm báo cáo Để
Trang 23thông tin đó đáng tin cậy, hữu ích cho người sử dụng, thông tin phải đảm bảo các tính chất sau:
- Trung thực: thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh
- Khách quan: thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo
- Đầy đủ: thông tin kế toán phải là kết quả của quá trình ghi chép mà mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót
- Kịp thời: các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ
- Dễ hiểu: thông tin và số liệu kế toán trình bày trong báo cáo tài chính phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng Người sử dụng ở đây được hiểu
là người có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình Thông tin về những vấn đề phức tạp trong báo cáo tài chính phải được giải trình trong phần thuyết minh
- Có thể so sánh: thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một đơn vị và giữa các đơn vị chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán
Đối với thông tin kế toán quản trị: thông tin kế toán quản trị chủ yếu hướng đến người quản lý, cho nên thông tin kế toán quản trị phải là thông tin hữu dụng cho mục đích ra quyết định (Kieso, 2012) [8], do đó, thông tin kế toán quản trị chú trọng hai yếu tố trọng yếu cơ bản để đảm bảo tính hữu ích cho người quản lý đó là thích hợp và trình bày trung thực:
+ Thích hợp (liên quan): nghĩa là thông tin phải cần thiết, phù hợp với nhu cầu thông tin của người quản lý Thêm vào đó, để đạt được điều đó thông
Trang 24tin phải có giá trị dự báo, giá trị khẳng định và trọng yếu
+ Báo cáo trung thực: thông tin phải được trình bày trung thực thì mới đảm bảo độ tin cậy cho người sử dụng, để thông tin trung thực thì thông tin phải đầy đủ, trung thực và không có sai sót
Ngoài ra để nâng cao chất lượng cung cấp thông tin cho người sử dụng thì thông tin đó kịp thời, có thể so sánh, có thể xác minh, dễ hiểu:
- Thông tin kịp thời ở đây có thể hiểu là thông tin được cung cấp đến với người quản lý đúng tại thời điểm mà người quản lý có nhu cầu về thông tin, giúp người quản lý ra quyết định đúng đắn và kịp thời hơn
- Thông tin có thể so sánh: thông tin được trình bảy theo phương pháp nhất quán, có thể so sánh giữa các kỳ khác nhau, giúp người quản lý có thể đối chiếu, so sánh số liệu nhằm hỗ trợ việc ra quyết định tốt hơn
- Dễ hiểu: thông tin phải trình bày khoa học dễ hiểu đối trong phạm vi nhận thức của người quản lý
1.1.2 Lý thuyết ngữ cảnh và những ảnh hưởng đến tổ chức thông tin
kế toán phục vụ nhu cầu quản lý
Người quản lý với vai trò quản trị tổ chức của mình thì việc ra quyết định là một trong những nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng mà họ phải thực hiện đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả để đạt được mục tiêu chung
Để có được quyết định đúng đắn, điều cốt yếu nhất người quản lý cần đó là phải có đầy đủ thông tin cho việc ra quyết định Hệ thống thông tin quan trọng nhất trong tổ chức đó là hệ thống thông tin kế toán Do vậy, kế toán có vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp thông tin phục vụ cho nhu cầu của người quản lý Như vậy, để phục vụ cho những quyết định mà mình phải thực hiện người quản lý sẽ có những nhu cầu về thông tin kế toán liên quan đến việc ra quyết định đó Những quyết định của người phát lý phát sinh từ những yêu cầu quản lý của tổ chức, mà tùy tổ chức với đặc điểm về môi
Trang 25trường bên ngoài, đặc điểm của tổ chức hay mục tiêu của tổ chức Lý thuyết ngữ cảnh là một trong những lý thuyết đề cập đến vấn đề một tổ chức thiết kế
cơ cấu hoạt động, mà hệ thống thông tin kế toán cũng là một phần trong thiết
kế tổ chức, của mình theo bối cảnh của tổ chức đó như thế nào
a Lý thuyết ngữ cảnh (Contingency theory)
Nghiên cứu về lí thuyết ngữ cảnh cho rằng kết quả của một tổ chức là kết quả của sự phù hợp giữa hai hay nhiều nhân tố Khái niệm phù hợp được định
nghĩa với Van de Ven và Drazin (1985) theo ba cách tiếp cận: sự lựa chọn, sự tương tác và tiếp cận hệ thống
Với cách tiếp cận lựa chọn, nếu một tổ chức muốn tồn tại hoặc hoạt động
có hiệu quả, tổ chức phải thích ứng với các đặc trưng của bối cảnh tổ chức Theo quan điểm đó, thiết kế tổ chức là hệ lụy của bối cảnh tổ chức Hầu hết các nghiên cứu trước đây về lí thuyết ngữ cảnh tiếp cận theo hướng này để xem xét mối quan hệ giữa bối cảnh tổ chức và thiết kế tổ chức, nhưng không phân tích hoạt động của tổ chức Sử dụng cách tiếp cận này, cả yếu tố công việc và công nghệ được xem theo hai chiều hướng Nhiều nhà nghiên cứu đã tìm ra mối quan hệ chặt chẽ giữa các đặc tính về công nghệ với cơ cấu trong một tổ chức (March và Manari, 1981) Tuy nhiên, những nghiên cứu này không cung cấp những bằng chứng về những hình thức tổ chức khác nhau tương ứng với các công việc hoặc điều kiện công nghệ khác nhau là có hiệu quả hay không?
Theo cách tiếp cận về sự tương tác, sự phù hợp được giải thích là ảnh hưởng tương tác giữa cơ cấu tổ chức và bối cảnh hoạt động (Khandwalla, 1977; Van de ven và Ferry, 1980) Khandwalla (1977) cho rằng những doanh nghiệp có hiệu quả là những doanh nghiệp có sự tương tác giữa công nghệ và các thành tố của cơ cấu tổ chức, như: tập trung hay phân quyền, tính phức tạp của hệ thống kiểm soát có ý nghĩa hơn ở những đơn vị kém hiệu quả Tuy
Trang 26nhiên, trong những nghiên cứu này, sự khác biệt về mối quan hệ giữa bối cảnh và thiết kế tổ chức trong các đơn vị hoạt động tốt hay kém lại không có
ý nghĩa Ngoài ra, những nghiên cứu này không chỉ ra nếu sự tự tương tác giữa ngữ cảnh và thiết kế tổ chức là hiệu quả
Theo cách tiếp cận hệ thống, chúng ta có thể hiểu rõ thiết kế tổ chức chỉ bằng cách khám phá đồng thời các ngữ cảnh, các chọn lựa cấu trúc tổ chức và tiêu chuẩn hoạt động tồn tại trong mỗi tổ chức Cũng có một cách nhìn khác
về sự phù hợp theo cách tiếp cận hệ thống – equifinality (Van de ven và Drazin, 1985), theo đó không có cách thức tối ưu trong việc lựa chọn, tương tác và tiếp cận hệ thống để đảm bảo sự phù hợp Hai ông cho rằng nghiên cứu
về ngữ cảnh phải được thiết kế Do vây, đánh giá so sánh các hình thức khác nhau của sự phù hợp là có thế và việc thiết kế các đơn vị thành viên trong một
tổ chức cần chú ý đến đặc trưng này,
b Vận dụng lí thuyết ngữ cảnh vào công tác kế toán
Nghiên cứu của Hofted (1967) được xem là nghiên cứu kinh điển trong việc ứng dụng lí thuyết này vào trong kế toán quản trị Ông cho rằng những xem xét về mặt kinh tế, kỹ thuật và xã hội học có ảnh hưởng đáng kể đối với thực hiện chức năng lập ngân sách của đơn vị Ngoài ra, ảnh hưởng của văn hóa đối với hệ thống kiểm soát quản lý còn được nghiên cứu bởi nhiều nhà khoa học (Hofsted, 1983; Brownell, 1982, Brownell và Hirst, 1986)… Lý thuyết ngữ cảnh theo phương diện quản lý còn được nghiên cứu trên nhiều phương diện như: Llý thuyết ngữ cảnh được áp dụng ở mức độ hành vi tổ chức tại các đơn vị trong một tổ chức như thế nào, lý thuyết ngữ cảnh với vấn
đề kiểm soát trong một tổ chức (Flamholtz, 1985), sử dụng nguyên tắc ngữ cảnh để khám phá sử dụng hệ thống kế toán quản trị và thông tin theo cách thức chiến lược (Shank, 1989), hay mối quan hệ giữa chiến lược doanh nghiệp và thiết kế hệ thống kiểm soát (Govindarajan và Gupta ,1985) Như
Trang 27vậy, có thể thấy rằng lý thuyết ngữ cảnh được áp dụng trong kế toán quản trị
để trả lời ba câu hỏi: Một là sự phù hợp giữa kiểm soát một tổ chức và cấu trúc tổ chức Hai là ảnh hưởng của sự phù hợp đối với hoạt động của doanh nghiệp Ba là khám phá các tình huống ngẫu nhiên và ảnh hưởng của nó đối với thiết kế tổ chức
Cụ thể hơn, trong vấn đề thiết kế hệ thống thông tin kế toán, lý thuyết ngữ cảnh cũng có thể áp dụng để giải thích cách thức thiết kế hệ thống thông tin của tổ chức Hướng tiếp cận của lý thuyết ngữ cảnh đối với kế toán quản trị dựa trên quan điểm cơ bản là không có một hệ thống kế toán nào thích hợp như nhau cho tất cả các loại tổ chức ở mọi hoàn cảnh (Emmanuel et al.,1990) Hơn thế lý thuyết này đề xuất rằng đặc điểm cụ thể của một hệ thống kế toán
sẽ phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể mà tổ chức gặp phải Hệ thống thông tin kế toán hiệu quả phụ thuộc vào khả năng thích ứng với những thay đổi của môi trường bên trong và bên ngoài tổ chức Các nghiên cứu về ứng dụng của
lý thuyết ngữ cảnh vào thiết kế hệ thống thông tin kế toán (Gordon và Miller, 1976) đã chỉ ra rằng các yếu tổ ngữ cảnh trọng yếu ảnh hưởng đến việc thiết
kế hệ thông thông tin kế toán đó là: Môi trường bên ngoài mà tổ chức hoạt động, đặc điểm của tổ chức và phong cách ra quyết định
Tóm lại, có thể thấy trong từng môi trường chính trị, pháp luật kinh tế, văn hóa mà tổ chức hoạt động, trong từng hoàn cảnh cụ thể tổ chức sẽ gặp phải những khó khăn, thách thức và yêu cầu khác nhau Và từng tổ chức có những đặc điểm cụ thể riêng, do đó mà người quản lý của từng tổ chức là có những tình huống phải xử lý, phải ra quyết định khác nhau, do đó nhu cầu thông tin cần thiết cho việc ra quyết định cũng khác nhau
Vậy thì, trong một đơn vị thông thường, thông tin kế toán dưới dạng các báo cáo kế toán có hai loại chủ yếu đó là báo cáo tài chính và báo cáo quản trị Báo cáo tài chính đơn vị bắt buộc phải lập để cung cấp cho các cơ quan
Trang 28nhà nước liên quan Còn báo cáo kế toán quản trị là các báo cáo không bắt buộc phải lập và tùy vào từng đặc điểm điều kiện cụ thể mà báo cáo được lập theo nhu cầu thông tin của người quản lý Theo lý thuyết ngữ cảnh ở trên thì nhu cầu quản lý khác nhau thì thông tin kế toán mà bộ phận kế toán cung cấp các báo cáo khác nhau theo yêu cầu cụ thể ở từng tổ chức
1.1.3 Nhu cầu thông tin kế toán phục vụ cho quản lý tại các đơn vị
sự nghiệp giáo dục công lập
Tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động của từng tổ chức mà người quản lý đơn vị có những nhu cầu thông tin kế toán khác nhau, từ đó có thiết kế hệ thống thông tin kế toán quản trị khác nhau Các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động theo nhiệm vụ chính trị được giao của Nhà nước, do đó các đơn vị này cũng có những đặc điểm rất riêng có thể tóm tắt theo 3 nội dung của lý thuyết ngữ cảnh như sau:
Môi trường hoạt động: tất cả các đơn vị đều hoạt động theo các quy
định, quy chế của Nhà nước Về phân cấp quản lý, các trường học cấp THPT
và các trung tâm giáo dục thường xuyên chịu sự quản lý toàn diện và trực tiếp của Sở GD&ĐT, sử dụng ngân sách cấp thành phố; còn các trường từ THCS trở xuống chịu sự quản lý trực tiếp của Phòng Giáo dục và Đào tạo, sử dụng ngân sách cấp quận Tuy nhiên, tất cả các đơn vị đều hoạt động dựa trên chỉ đạo chung của Sở GD&ĐT về cả mặt chuyên môn và tài chính
Đặc điểm của đơn vị: các đơn vị là đơn vị sự nghiệp công lập, hoạt
động chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà nước giao là thực hiện công tác dạy và học Về mặt tài chính các đơn vị thuộc Sở GD&ĐT là đơn vị được đảm bảo toàn bộ hay một phần kinh phí mọi hoạt động thu chi đều phải thực hiện theo đúng quy định nhà nước và quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị được thống nhất bởi toàn thể nhân viên, người lao động của đơn vị
Phong cách ra quyết định: Vì nhiệm vụ chủ yếu của các đơn vị thuộc
Trang 29Sở GD&ĐT là nhiệm vụ dạy và học cho nên mọi nguồn lực của đơn vị tập trung vào việc thực hiện mục tiêu dạy và học, người quản lý đơn vị khi đứng trước các quyết định sử dụng nguồn lực đều phải ưu tiên đạt mục tiêu dạy và học lên hàng đầu Mặt khác, thực hiện cơ chế tự chủ của nhà nước về tài chính, người quản lý cũng phải cân nhắc khi quyết định chi tiêu phải đảm bảo sao cho đúng qui định và tiết kiệm nhằm đảm bảo tiết kiệm một phần cải thiện một phần thu nhập cho người lao động
Từ những đặc điểm hoạt động nêu trên, thì nhu cầu thông tin kế toán của người quản lý cũng tập trung vào các nội dung: tổng ngân sách được sử dụng, tình hình sử dụng ngân sách, tình hình thu chi học phí và các khoản thu khác, tình hình tài sản, nguồn lực của đơn vị Qua các tài liệu của luật ngân sách nhà nước, các văn bản trong ngành giáo dục thì nhu cầu thông tin kế toán trong các cơ sở thuộc ngành giáo dục thường gồm các nội dung sau:
- Kế hoạch dự toán ngân sách năm: đây là thông tin về dự toán thu (chủ yếu là học phí), chi ngân sách hàng năm, sẽ bao gồm thông tin về số lượng học sinh, số lượng biên chế giao cho đơn vị, và dự toán thu chi tương ứng
- Tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng: thể hiện tổng hợp số kinh phí kỳ trước chuyển sang, được giao trong kỳ, được sử dụng, đề nghị quyết toán và chưa sử dụng chuyển sang kỳ sau theo từng loại kinh phí
- Thông tin chi tiết kinh phí hoạt động: thể hiện chi tiết kinh phí quyết toán theo mục lục ngân sách, và có thể chia ra theo từng loại khoản, tính chất kinh phí hay từng nguồn kinh phí
- Tình hình tăng giảm, kiểm kê tài sản cố định, công cụ dụng cụ
- Tình hình tăng giảm sách thư viện (về số lượng)
- Tình hình tạm ứng (các đối tượng trong đơn vị)
- Tình hình sử dụng tiền mặt, tiền gửi, kiểm kê quỹ
- Tình hình tạm ứng, sử dụng ngân sách tại Kho bạc nhà nước: thể hiện
Trang 30thông tin về kinh phí được cấp tại kho bạc, số kinh phí đã tạm ứng (bằng tiền mặt, hay chuyển khoản) chưa thanh toán, số kinh phí đã thực chi và được kho bạc chấp nhận thanh toán, và số kinh phí còn lại tại kho bạc
- Tình hình thu học phí
- Tình hình thực hiện miễn giảm, học phí
- Thông tin chi tiết chi hoạt động (nguồn học phí, ngân sách, vệ sinh, khác….): thể hiện chi tiết nội dung, thời gian từng khoản chi theo từng nguồn kinh phí hoạt động
- Tình hình thu chi hoạt động sự nghiệp: thể hiện chi tiết nội dung thu và chi các khoản thu sự nghiệp của đơn vị
- Tinh hình chi các quỹ: thể hiện tình hình trích lập và sử dụng các quỹ của đơn vị như: Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập
- Tình hình thu, chi kinh phí phục vụ bán trú: thể hiện tình thu, chi các khoản thu về tiền ăn, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác dạy bán trú của nhà trường
- Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh (hoạt động liên kết đào tạo, cung ứng dịch vụ…): Thể hiện các khoản doanh thu, chi phí và kết quả của những hoạt động cung cấp dịch vụ, liên kết đào tạo của đơn vị
- Kết quả thực hiện cơ chế tự chủ (theo NĐ 43): thể hiện tình hình dự toán được giao, số lượng đã chi, kinh phí còn lại để chi phúc lợi, các quỹ và chi thu nhập tăng thêm của người lao động của kinh phí được giao tự chủ của đơn vị
Những nội dung về nhu cầu thông tin kế toán được tổng hợp chung cho các đơn vị ở nhiều cấp học Tuy nhiên tùy từng đơn vị khác nhau mà nhu cầu
về các loại thông tin này có thể sẽ khác nhau, và có thể trong những nội dung thông tin trên có thể có nội dung sẽ ít cần thiết cho công tác quản lý hơn nội dung khác
Trang 311.2 ĐÁP ỨNG NHU CẦU THÔNG TIN KẾ TOÁN
1.2.1 Đo lường mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin kế toán
Khi nói đến mức độ đáp ứng nhu cầu của người sử dụng đối với bất cứ sản phẩm hay dịch vụ nào đều được hiểu là người cung cấp ra sản phẩm hay dịch vụ đó có cung cấp sản phẩm với tính năng “gặp” hay “đúng” với mong đợi của người sử dụng hay không Trong các nghiên cứu marketing khi nghiên cứu mức độ đáp ứng của sản phẩm đối với nhu cầu người tiêu dùng, người ta thường dùng mức độ hài lòng của người sử dụng đối với sản phẩm trên nhiều phương diện dựa trên đặc trưng của sản phẩm Mức độ hài lòng của người sử dụng đối với bất cứ sản phẩm, dịch vụ nào là cảm xúc thỏa mãn hay thất vọng, dựa trên việc so sánh giữa thực tế trải nghiệm khi sử dụng sản phẩm với mong đợi trước đó đối với sản phẩm Trong đó, chất lượng sản phẩm, dịch vụ là nhân tố tác động nhiều nhất đến sự hài lòng của khách hàng (Cronin và Taylor, 1992; Yavas et al, 1997; Ahmad và Kamal, 2002) Trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai yếu tố chất lượng và hài lòng, Spreng và Mackoy (1996) cũng chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ là tiền đề của sự hài lòng khách hàng và cho rằng khi chất lượng dịch vụ đáp ứng được mong đợi của ngườ sử dụng thì sẽ đem đến cho họ sự hài lòng
Hình 1.1 Quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng khách hàng
Trang 32Theo mô hình SERVQUAL của Parasuraman sự hài lòng được xây dựng dựa trên quan điểm chất lượng dịch vụ cảm nhận là sự so sánh giữa các giá trị
kỳ vọng/mong đợi (expectations) và các giá trị người sử dụng cảm nhận được theo 5 yếu tố chính đó là: Sự tin cậy (reliability), hiệu quả phục vụ (responsiveness), sự hữu hình (tangibles), sự đảm bảo (assurance), và sự cảm thông (empathy) Dựa trên những yếu tố này sẽ sự hài lòng sẽ được đo lường dựa trên mức độ đáp ứng của sản phẩm, dịch vụ đối với sự kỳ vọng của người
sử dụng theo từng yếu tố tới đâu Như vậy, có thể thấy mức độ đáp ứng của một sản phẩm dịch vụ có thể hiểu là một khía cạnh của sự hài lòng Người sử dụng sản phẩm, dịch vụ hài lòng đối với sản phẩm, dịch vụ đó khi họ được đáp ứng được nhu cầu Mà nhu cầu của họ được đáp ứng nghĩa sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn được những kỳ vọng, mong đợi của bản thân họ đối với sản phẩm/dịch vụ đó
Trong lĩnh vực kế toán, ngay từ thưở sơ khai kế toán được phát minh ra
là để đáp ứng nhu cầu quản lý ngày càng cao của con người đối với tài sản riêng của một tổ chức, độc lập với các tài sản khác Vì vậy, thông tin kế toán cũng vậy cũng là sản phẩm vô hình của một hệ thống thông tin kế toán được tạo ra để phục vụ những nhu cầu khác nhau của các đối tượng sử dụng khác nhau của nó dù là bên trong hay bên ngoài tổ chức Mà cụ thể ở đây, những người quản lý đơn vị, sự mong đợi của họ đối với thông tin kế toán được hình thành dựa trên những nhu cầu quản lý thực tế phát sinh trong quá trình điều hành tổ chức hướng đến mục tiêu Trong công tác quản trị, người quản lý cần quản lý, kiểm soát cái gì, thì họ sẽ cần những thông tin liên quan đến vấn đề
đó Vì vậy, thông tin kế toán có đáp ứng được nhu cầu của họ hay không có nghĩa là những thông tin kế toán có cung cấp những thông tin, báo cáo với nội dung hàm chứa những thông tin cần thiết thỏa mãn sự mong muốn của người quản lý để hỗ trợ tốt công việc của họ hay không Luận văn sẽ nghiên cứu
Trang 33mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin kế toán dựa trên việc khảo sát đánh giá của người quản lý về mức độ đáp ứng của từng nội dung thông tin so với nhu cầu (hay mong đợi) của họ
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin cho quản lý
Đã có nhiều tài liệu viết về đáp ứng nhu cầu thông tin cho quản lí Điển hình là nghiên cứu của Walker và các đồng sự năm 2006 “Cung cấp dịch vụ
kế toán chất lượng” (Delievering quality accounting service), đã chỉ ra chất lượng thông tin cung cấp đến cho người quản lý bị ảnh hưởng những yếu tố như sự khác nhau trong nhận thức về nhu cầu giữa người sử dụng và người cung cấp Cũng trong một nghiên cứu khác của Walker năm 2012 “Đo lường chất lượng dịch vụ thông tin kế toán quản trị” (Measuring management accounting service) thì chỉ ra rằng những yếu tố là sự trao đổi thông tin, nhu cầu thông tin và dịch vụ cá nhân, những kinh nghiệm trong quá khứ, kết quả nghiên cứu thực nghiệm rút ra được yếu tố có sự ảnh hưởng quan trọng nhất
là sự trao đổi thông tin giữa người sử dụng và người cung cấp về dịch vụ kế toán Từ những gợi ý đó, có thể tổng hợp thành một số nhân tố tác động đến mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm:
Đặc trưng định tính của các báo cáo kế toán: thông tin kế toán có đáp
ứng được nhu cầu của người sử dụng hay không trước hết yếu tố quan trọng nhất là nội dung trên các báo cáo có phù hợp hay không, số liệu có chính xác,
có được cung cấp kịp thời hay không
Đặc trưng đội ngũ kế toán: kế thừa kết quả các nghiên cứu trước, một
trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc đáp ứng nhu cầu thông tin
kế toán đó là đội ngũ nhân viên cung cấp những thông tin đó Những đặc điểm về năng lực, thái độ, phong cách làm việc hay quá trình tiếp xúc trao đổi
Trang 34công việc giữa đội ngũ kế toán và người quản lý là yếu tố hết sức quan trọng đối với sự hài lòng của người quản lý đối với dịch vụ kế toán, hay thông tin
kế toán mà họ nhận được
Nhận thức cá nhân của người quản lý đối với việc sử dụng thông tin
kế toán: cũng trong kết quả nghiên cứu của Walker 2006 thì yếu tố nhận thức
của người quản lý đối với vai trò hệ thống kế toán cũng là yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến sự hài lòng đối với thông tin kế toán mà họ nhận được
Các yếu tố hỗ trợ cho công tác kế toán: bên cạnh yếu tố con người thì
yếu tố cơ sở vật chất, hỗ trợ, đào tạo cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm đầu ra mà cụ thể ở đây là thông tin kế toán cung cấp đến cho người sử dụng
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Như vậy, dựa và nền tảng lý thuyết và thừa kế những nghiên cứu đi trước chương 1 đã tập trung làm rõ được cơ sở lý luận về những vấn đề cơ bản được sử dụng để nghiên cứu trong luận văn đó là về thông tin kế toán, nhu cầu thông tin kế toán phục vụ quản lý, việc đáp ứng nhu cầu thông tin kế toán phục vụ cho quản lý cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin kế toán phục vụ quản lý, cụ thể có những vấn đề chính như sau:
Thông tin kế toán là kết quả của hệ thống thông tin kế toán, có những đặc điểm về biểu hiện và đặc trưng để hữu ích cho đối tượng sử dụng thông tin đó Đối tượng khác nhau sẽ có những yêu cầu, mục tiêu khác nhau khi sử dụng thông tin mà kế toán phải quan tâm Người quản lý của đơn vị là một trong những đối tượng quan trọng sử dụng thông tin kế toán để phục vụ cho công tác quản trị đơn vị Những yếu tố về môi trường hoạt động, đặc điểm của tổ chức, phong cách ra quyết định là những yếu tố ngữ cảnh góp phần tạo nên nhu cầu quản lý và ảnh hưởng đến nhu cầu thông tin kế toán của người quản lý Dựa trên nền tảng đó và thực tiễn tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập, chương một đã đưa ra một số nhu cầu thông tin kế toán phục vụ quản lý làm tiền đề nghiên cứu ở các chương sau
Đáp ứng thông tin kế toán được hiểu là việc thỏa mãn mong đợi của người sử dụng đối với chất lượng thông tin kế toán Trong chương này, dựa trên những nghiên cứu đi trước cũng đã đưa ra những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ thông tin kế toán đó là: đặc trưng định tính của các báo cáo kế toán, đặc trưng đội ngũ kế toán, nhận thức cá nhân của người sử dụng thông tin và các yếu tố hỗ trợ công tác kế toán
Trang 36CHƯƠNG 2
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.1 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC ĐƠN VỊ THUỘC SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP ĐÀ NẴNG
Sở Giáo dục và Đào tạo (Sở GD&DT) thành phố Đà Nẵng là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố có chức năng tham mưu, giúp
Uỷ ban nhân dân thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, bao gồm: mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục và đào tạo, tiêu chuẩn nhà giáo và tiêu chuẩn cán bộ quản lý (CBQL) giáo dục; tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ; bảo đảm chất lượng giáo dục và đào tạo Sở Giáo dục và đào tạo thành phố Đà Nẵng quản lý các trường từ cấp học mầm non đến cấp Trung học phổ thông, giáo dục thường xuyên, tổng số lượng là 349 đơn vị với 242 đơn vị sự nghiệp công lập và 107 đơn vị tư thục, dân lập (Số liệu thống kê năm học 2014-2015)
2.1.1 Đặc điểm cơ cấu tổ chức quản lý
Sở GD&DT chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND thành phố; đồng thời, chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ GD&ĐT Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở, gồm: trường trung học phổ thông, trường phổ thông có nhiều cấp học (trong
đó có cấp học trung học phổ thông); trường phổ thông dân tộc nội trú; trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên; trường, lớp dành cho người khuyết tật; trường
Dưới Sở GD&ĐT là các phòng Giáo dục và Đào tạo, các phòng GD&ĐT chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Uỷ ban nhân dân cấp huyện; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về
Trang 37chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Giáo dục và Đào tạo Tổ chức sự nghiệp giáo dục ở cấp huyện gồm: trường trung học cơ sở, trường phổ thông có nhiều cấp học (trừ cấp trung học phổ thông), trường tiểu học, trường phổ thông dân tộc bán trú (nếu có), cơ sở giáo dục mầm non
Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức Sở Giáo dục và Đào tạo
Dựa trên phân cấp quản lý các đơn vị thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo, mà các đơn vị có quyền ra quyết định trong phạm vi quyền hạn của mình Về mặt nhân sự hay biên chế hành chính, các đơn vị thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo được giao số lượng biên chế và hợp đồng theo quyết định của UBND Thành phố mà Sở Giáo dục và Đào tạo và Sở nội vụ là đơn vị tham mưu Các đơn vị thuộc Phòng Giáo dục và đào tạo được giao biên chế và hợp đồng theo quyết định của UBND cấp quận, huyện mà cơ quan tham mưu là Phòng Giáo dục và Đào tạo và Phòng nội vụ Tuy nhiên, thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp công lập cũng có quyền tuyển dụng người lao động hợp đồng dựa theo yêu cầu
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
UBND THÀNH PHỐ
CÁC PHÒNG,
BAN SỞ
CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC
CÁC PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
UBND QUẬN, HUYỆN
Các Trung tâm GDTX, KTTH, HN&DN
Các trường mầm non Các trường tiểu học
Các trường THCS Các trường THPT
Trang 38công việc mà lương được chi từ nguồn học phí và các nguồn khác của đơn vị
Về mặt quản lý tài sản, quyền hạn về việc quyết định mua sắm, thanh lý, điều chuyển tài sản tại các đơn vị phải thực hiện Quyết định số 15/2011/QĐ-UBND ngày 25/5/2011 về phân cấp quản lý tài sản nhà nước tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, theo quyết định này dựa trên từng mức giá trị tài sản mà đơn vị có quyền tự quyết định mua sắm, thanh lý, điều chuyển hay phải được sự phê duyệt của cơ quan cấp trên mà có thể là Sở Giáo dục, phòng Giáo dục, Sở Tài chính, Phòng Tài chính, hay UBND cấp thành phố, hay cấp quận, huyện
2.1.2 Đặc điểm hoạt động chuyên môn
Các đơn vị sự nghiệp giáo dục từng cấp học hoạt động để thực hiện những nhiệm vụ chuyên môn dạy và học, cụ thể từng cấp học khác nhau sẽ có những nhiệm vụ chuyên môn cụ thể khác nhau dựa trên đặc trưng của đối tượng giáo dục của từng cấp Mục tiêu chung nhằm thực hiện những chính sách giáo dục chung của nhà nước như phổ cập giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, nâng cao chất lượng dạy học, cải thiện cơ sở vật chất, nhằm tạo tiền đề đào tạo ra nguồn nhân lực tương lai cho đất nước
Đối với ngành giáo dục và đào tạo của thành phố Sở Giáo dục và Đào tạo là đóng vai trò là cơ quan đầu ngành chỉ đạo ngành hướng đến mục tiêu chung Sở GD&ĐT sẽ dựa vào những chỉ đạo chung về chuyên môn chung của Bộ GD&ĐT và chỉ đạo cụ thể của UBND thành phố về những mục tiêu
cụ thể của địa phương, để thực hiện chỉ đạo chung toàn ngành, thông qua các buổi tổng kết và triển khai nhiệm vụ năm học Về từng công tác cụ thể trong năm, đối với các đơn vị trực thuộc, công tác chỉ đạo chuyên môn được thực hiện thông qua các buổi giao ban, tập huấn, kiểm tra chuyên đề, dự giờ khi cần thiết Đối với các đơn vị cấp dưới thuộc phòng GD&ĐT công tác hỉ đạo
Trang 39có thể thực hiện gián tiếp thông quan phòng GD&ĐT qua các cuộc họp chuyên môn hoặc trực tiếp đến từng đơn vị thông qua các chương trình tập huấn, hoặc thanh tra, kiểm tra nếu cần thiết
2.1.3 Đặc điểm hoạt động tài chính
Về hoạt động tài chính, các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Giáo dục
và Đào tạo hoạt động theo Luật kế toán, Luật Ngân sách, cụ thể hạch toán kế toán theo qui định tại Quyết định 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/03/2006 qui định
về việc ban hành chế độ kế toán hành chính sự nghiệp và các thông tư hướng dẫn sửa đổi; thực hiện cơ chế tự chủ theo qui định tại Nghị định 43/2006/NĐ-
CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 Qui định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về
tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, Thông tư 71/2006/TT-BTC ngày 09/08/2006 Hướng dẫn thực hiện Nghị định
Đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động Tại Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng thì các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông công lập hầu hết đều thuộc loại hình này
Hiện nay các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc sở chưa có đơn vị nào tự
Trang 40bảo đảm chi phí hoạt động Giữa các loại hình đơn vị có sự khác nhau về qui định định mức và hạch toán các khoản chi hoạt động, và trích lập các quỹ Nguồn thu sự nghiệp của các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập là nguồn thu học phí được thu và quản lý, sử dụng theo qui định tại nghị định 49/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 05 năm 2010 quy định về miến, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015
2.1.4 Đặc điểm về công tác kế toán
Các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập thuộc Sở GD&ĐT cũng như những đơn vị sự nghiệp công lập khác thực hiện việc hạch toán kế toán theo quy định tại Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/03/2006 về việc ban hành chế độ kế toán hành chính sự nghiệp và các thông tư hướng dẫn, sửa đổi
bổ sung liên quan Về việc dự toán, quyết toán ngân sách nhà nước thì thực hiện theo các quy định tại Nghị định 60/2003 ngày 06/06/2003 về hướng dẫn thi hành luật ngân sách nhà nước và các thông tư hướng dẫn liên quan Ngoài
ra, là các đơn vị sự nghiệp công lập nên mọi khoản thu, chi ngân sách đề phải thực hiện theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật liên quan và theo mục lục ngân sách nhà nước, không được tùy tiện thực hiện các khoản thu, chi trái qui định
Về công tác kế toán tại các đơn vị thuộc Sở GD&ĐT, về một số quy định chung như mức thu học phí và các khoản thu khác, các đơn vị phải thực hiện theo nghị quyết của hội đồng nhân dân dựa trên tham mưu của Sở GD&ĐT cũng như đã thông qua UBND Sở GD&ĐT chịu trách nhiệm chỉ đạo chung toàn ngành, và thực hiện việc thanh tra, kiểm tra để đảm bảo mọi đơn vị thực hiện đúng những quy định đó Việc báo cáo quyết toán ngân sách hàng năm,
và hướng dẫn cụ thể công tác kế toán được thực hiện theo phân cấp Các đơn