Hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lộc, tỉnh Cao Bằng: Truyền thống và biến đổi (tt)Hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lộc, tỉnh Cao Bằng: Truyền thống và biến đổi (tt)Hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lộc, tỉnh Cao Bằng: Truyền thống và biến đổi (tt)Hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lộc, tỉnh Cao Bằng: Truyền thống và biến đổi (tt)Hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lộc, tỉnh Cao Bằng: Truyền thống và biến đổi (tt)Hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lộc, tỉnh Cao Bằng: Truyền thống và biến đổi (tt)Hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lộc, tỉnh Cao Bằng: Truyền thống và biến đổi (tt)Hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lộc, tỉnh Cao Bằng: Truyền thống và biến đổi (tt)Hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lộc, tỉnh Cao Bằng: Truyền thống và biến đổi (tt)Hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lộc, tỉnh Cao Bằng: Truyền thống và biến đổi (tt)Hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lộc, tỉnh Cao Bằng: Truyền thống và biến đổi (tt)Hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lộc, tỉnh Cao Bằng: Truyền thống và biến đổi (tt)
Trang 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Phạm Quang Hoan
TS Lò Giàng Páo
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại
Khoa Dân tộc học và Nhân học, Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Phạm Quang Hoan
2 TS Lò Giàng Páo
Phản biện 1: PGS.TS Lê Ngọc Thắng
Phản biện 2:PGS.TS Nguyễn Duy Thiệu
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Nga
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án
Tiến sĩ cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa học xã hội,
477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
Vào hồi…… giờ… phút, ngày… tháng….năm 2017
Có thể tìm luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lô Lô là một trong 6 tộc người thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến ở Việt Nam, cư trú chủ yếu tại địa bàn các huyện vùng cao biên giới của các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai và Lai Châu Hôn nhân là những tập tục, những nghi lễ và là phương thức tạo lập gia đình mới, tạo nên tế bào của xã hội, nơi bảo tồn, trao truyền và làm giàu các giá trị văn hóa tộc người qua các thế hệ Đối với người Lô Lô, nghiên cứu về hôn nhân sẽ góp phần làm rõ những giá trị văn hoá tộc người được bảo tồn và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Từ đó, góp phần nhận diện một cách cụ thể về bức tranh văn hoá tộc người Lô Lô, cũng như bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc, thực hiện quan điểm đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, cụ thể là việc thực hiện Nghị quyết số 33 của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ IX, khóa XI ban hành ngày 9 tháng 6 năm
2014 về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”
Trong thời kỳ đổi mới, giao lưu hội nhập khu vực và quốc tế, văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta nói chung, hôn nhân của người Lô Lô nói riêng vẫn còn bảo lưu được nhiều yếu tố văn hóa truyền thồng Trong
đó, có những yếu tố cần giữ gìn, phát huy và một số yếu tố không còn phù hợp với xã hội hiện đại như: kết hôn cận huyết thống, tảo hôn, kết hôn không đăng ký, sinh con sớm, đẻ con nhiều Bên cạnh đó, dưới tác động của bối cảnh công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH), giao lưu kinh tế, văn hóa đã làm thay đổi quan niệm, cách nhìn nhận của người
Lô Lô ở huyện Bảo Lạc trong đời sống sinh hoạt thường nhật, mà hôn nhân là một thành tố chịu sự tác động và biến đổi mạnh mẽ từ nội dung thời gian thực hành các nghi thức, nghi lễ đến trang phục, sinh hoạt ăn uống của người Lô Lô hiện nay
Việc nghiên cứu về hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao bằng sẽ góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống quan trọng của tộc người này, cũng như sự phát triển văn hóa của họ trong xã hội hiện
Trang 4đại Vì lẽ đó, nghiên cứu về hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo lạc, tỉnh Cao Bằng để làm cơ sở khoa học cho các nhà quản lý xã hội và quản
lý văn hóa áp dụng các giải pháp phù hợp khi thực hiện Luật Hôn nhân và Gia đình đối với người Lô Lô, góp phần thực hiện nếp sống văn hóa và trong quá trình xây dựng nông thôn mới, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Xuất phát từ những yêu cầu về phương diện lý luận và thực tiễn nêu
trên, nghiên cứu sinh chọn vấn đề Hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo
Lạc, tỉnh Cao Bằng: Truyền thống và biến đổi làm đề tài luận án tiến sĩ
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận án trình bày những quan niệm, nguyên tắc, hình thức hôn nhân và cư trú sau hôn nhân, các phong tục và nghi lễ trong hôn nhân, đặc điểm văn hóa trong hôn nhân
- Phân tích những yếu tố văn hóa trong hôn nhân truyền thống của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc
- Trình bày, phân tích những biến đổi trong hôn nhân của người Lô
Lô, nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi
- Phân tích, so sánh về những tương đồng và khác biệt trong hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc với đồng tộc ở tỉnh Hà Giang
và với người Tày ở huyện Bảo Lạc
- Chỉ rõ những vấn đề đặt ra và khuyến nghị về việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá tộc người trong hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng hiện nay
Trang 53 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tuợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hôn nhân của người Lô Lô hiện đang sinh sống ở huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng, trong đó tập trung vào cả những yếu tố truyền thống và hiện đại Ngoài ra, luận án còn so sánh hôn nhân khác tộc của người Lô Lô với người Tày ở huyện Bảo Lạc và cộng đồng người Lô Lô sinh sống ở tỉnh Hà Giang
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu các khía cạnh liên quan
đến hôn nhân truyền thống của người Lô Lô, sự biến đổi của hôn nhân
và những yếu tố tác động đến sự biến đổi đó
- Phạm vi thời gian: Hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc
trước và sau năm 2014 Đây là thời điểm tỉnh Cao Bằng nói chung và huyện Bảo Lạc triển khai sâu rộng hoạt động phổ biến tinh thần nội dung của Luật Hôn nhân và Gia đình được sửa đổi Đây cũng là thời điểm các giá trị văn hóa truyền thống đang có xu hướng biến đổi và những giá trị văn hóa mới được tiếp thu
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Gồm các thôn có người Lô Lô
sinh sống ở huyện Bảo Lạc Cụ thể là các thôn Cốc Xả, Nà Van thuộc
xã Hồng Trị, thôn Khuổi Khon thuộc xã Kim Cúc, thôn Ngàm Lồm
thuộc xã Cô Ba huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc, về hôn nhân và gia đình, cũng như Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điền dã Dân tộc học/Nhân học là phương pháp chủ đạo trong quá trình triển khai thực hiện nội dung luận án Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp chuyên gia, phương pháp so sánh, phương pháp
Trang 6phân tích, tổng hợp, xử lý các tư liệu, kế thừa các kết quả nghiên cứu, các
tư liệu hiện có liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài luận án
5 Đóng góp của luận án
- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống, chuyên sâu về hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng dưới góc độ Nhân học, từ truyền thống đến hiện tại
- Luận án đưa ra những kiến nghị, giải pháp để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong hôn nhân của người Lô Lô, góp phần xây dựng đời sống văn hóa mới ở cộng đồng người Lô Lô
- Luận án góp phần cung cấp những tư liệu, thông tin mới xác thực,
có giá trị về lĩnh vực hôn nhân của người Lô Lô cho các nhà hoạch định chính sách, các giảng viên, các nhà nghiên cứu, sinh viên ngành Văn hoá học, Dân tộc học/ Nhân học tham khảo
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu về hôn nhân của người Lô Lô tại một huyện vùng cao biên giới, luận án góp phần bổ sung nguồn tư liệu mới, làm rõ đặc điểm và các giá trị trong hôn nhân của người Lô Lô
- Luận án cung cấp luận cứ khoa học nhằm cụ thể hóa Luật Hôn nhân và Gia đình, đồng thời làm cơ sở cho các nhà quản lý tham khảo trong việc hoạch định và thực thi chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị trong hôn nhân của người Lô Lô hiện nay
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội
dung chính của luận án gồm 04 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và khái
quát về người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc
Chương 2: Hôn nhân truyền thống của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc Chương 3: Sự biến đổi hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc
hiện nay
Chương 4: Giá trị hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc
hiện nay - Vấn đề bàn luận
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI LÔ LÔ Ở HUYỆN BẢO LẠC 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Hôn nhân nói chung qua các tài liệu nước ngoài
Qua công trình Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của
Nhà nước của Ph Ăngghen (1884), Nghiên cứu lịch sử cổ đại - Hôn nhân nguyên thủy của Mác - Lê nin (1866), Xã hội cổ đại của L.H Morgan
(1877) hôn nhân được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau
1.1.2 Hôn nhân các dân tộc thiểu số Việt Nam qua tài liệu trong nước
Nghiên cứu về hôn nhân và gia đình dưới góc độ đánh giá thực trạng và xu hướng Các nghiên cứu này chú ý nhiều đến mô tả các phong tục tập quán, chủ yếu các nghi lễ và những mối quan hệ trong hôn nhân Nghiên cứu về hôn nhân và nghi lễ trong hôn nhân của người Thái Một số ít công trình nghiên cứu đã đi sâu về những vấn đề đặt ra của hôn nhân với phát triển xã hội Trong những năm gần đây, một số ít công trình mới chỉ dừng lại ở mô tả tương đối khái quát về thực trạng và xu hướng kết hôn của một nhóm địa phương của người Nùng ở tỉnh Lạng Sơn như Lê Thị Hường (2009) Một số công trình đã xuất bản có đề cập đến hôn nhân xuyên biên của người Hmông và người Khơ - mú ở vùng biên giới Việt - Lào như Phạm Quang Hoan (2012); hôn nhân đồng tộc của người Brâu ở tỉnh Kon Tum và một số địa phương vùng biên giới Việt Nam - Campuchia như Bùi Ngọc Quang (2006); hôn nhân đồng tộc của người Mnông ở khu vực biên giới tỉnh Đăk Nông với Cămpuchia như Lý Hành Sơn (2013)
1.1.3 Dân tộc Lô Lô ở Việt Nam và hôn nhân của họ qua các tài liệu nghiên cứu
Công trình của giới học thuật nước ngoài nghiên cứu về người Lô
Lô ở Việt Nam còn khá thưa vắng, chủ yếu là học giả trong nước quan
Trang 8tâm đến hướng nghiên cứu này Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu cũng
đã công bố những ấn phẩm có giá trị, đề cập các chiều cạnh khác nhau
về văn hóa của người Lô Lô Một số công trình có đề cập đến hôn nhân xuyên biên giới giữa người Lô Lô ở Việt Nam với người Di ở miền Nam Trung Quốc
Nhìn chung, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu
về hôn nhân và gia đình của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng trên cơ sở so sánh những yếu tố truyền thống và hiện đại để thấy được sự gìn giữ, trao truyền, tiếp thu và biến đổi theo xu hướng của xã hội đương đại Việc nghiên cứu của luận án này là tư liệu, thông tin mới về hôn nhân của người Lô Lô tại một huyện vùng cao biên giới ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta trong bối cảnh hiện nay
1.2 Cơ sở lý thuyết
1.2.1 Các khái niệm cơ bản: Luận án đã trình bày làm rõ nội hàm
về một số khái niệm cơ bản liên quan như: Hôn nhân, Nghi lễ, Nghi lễ
hôn nhân, Phong tục, Phong tục hôn nhân, Giá trị, Giá trị hôn nhân, Gia
đình, Văn hoá tộc người, Truyền thống, Biến đổi…
1.2.2 Cơ sở lý thuyết: Để nghiên cứu về hôn nhân của người Lô
Lô, luận án vận dụng một số lý thuyết sau: Lý thuyết về nghi lễ chuyển đổi, Lý thuyết về bản sắc văn hóa tộc người, Lý thuyết về giao lưu và tiếp biến văn hóa
1.3 Khái quát về người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc
1.3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Bảo Lạc
- Điều kiện tự nhiên: Huyện Bảo Lạc có vị trí địa lý, kinh tế,
quốc phòng rất quan trọng đối với tỉnh Cao Bằng, có đường biên giới dài 53,6 km chung với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, có quốc
lộ 34 chạy qua Tổng diện tích tự nhiên là 92.063, 68 ha Huyện có
16 xã và một thị trấn, số xã đặc biệt khó khăn là 15/17 xã thuộc vùng III đang được hưởng những chính sách ưu đãi của Nhà nước
- Đặc điểm cư dân: Ở huyện Bảo Lạc hiện nay có trên 10.000 hộ với
trên 60.000 nhân khẩu Toàn huyện Bảo Lạc có 09 dân tộc chủ yếu sinh
Trang 9sống Do diện tích tự nhiên lớn, dân số chưa đông, nên việc phân bổ dân cư cũng không đồng đều, số dân sống tập trung chủ yếu ở thị trấn và các xã gần đường quốc lộ theo hướng về thành phố Cao Bằng, còn các xã ở vùng biên giới tiếp giáp với Trung Quốc dân cư sinh sống rất thưa thớt
- Điều kiện kinh tế - xã hội: Trong những năm gần đây, sản xuất
nông nghiệp của huyện Bảo Lạc đã có sự phát triển đáng kể Giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp - thuỷ sản tăng đều qua các năm, năm
2011 đạt 155 tỷ đồng, năm 2012 đạt 208 tỷ đồng, năm 2013 đạt 195 tỷ đồng, năm 2014 đạt 330 tỷ đồng, năm 2015 đạt 294,5 tỷ đồng, năm
2016 đạt 372 tỷ đồng
1.3.2 Đôi nét về người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc
- Lịch sử tộc người, dân số và phân bố dân cư: Theo một số nhà
nghiên cứu, có ba cuộc di cư lớn ở các thế kỉ X, XVI, XVII đưa hàng vạn người Lô Lô vào nước ta Ngoài hai đợt di cư lớn trên, người Lô
Lô còn rải rác sang Việt Nam hoặc từ Việt Nam đi ngược lại Trung Quốc vào các thời kỳ sau
- Không gian cư trú: Các bản làng của người Lô Lô tập trung sinh
sống ở phía Tây (giáp huyện Bảo Lâm) và phía Bắc (giáp Huyện Nà Po, tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc) Người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc được xếp vào nhóm Lô Lô đen, sinh sống tập trung thành từng làng bản, mỗi bản khoảng 20 - 30 gia đình Làng của người Lô Lô có nhiều dòng họ cùng chung sống, họ không phân biệt các dòng họ mà sống quây quần bên nhau
- Vài nét sinh kế của người Lô Lô: Trong truyền thống và hiện tại,
hoạt động sinh kế của người Lô Lô vẫn chủ yếu là kinh tế nông nghiệp trên nương, tự cấp, tự túc
- Một số đặc điểm về văn hoá
+ Nhà ở
+ Trang phục
+ Tập quán ăn, uống
+ Gia đình
Trang 10+ Phong tục tập quán
+Tín ngưỡng
+ Múa dân gian
+ Truyện kể dân gian
+ Dân ca
Tiểu kết chương 1
Khi nghiên cứu về hôn nhân và gia đình nói chung và hôn nhân của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc trong truyền thống và biến đổi, luận án đã nghiên cứu, khai thác các công trình, bài viết được đăng tải ở trong nước và ngoài nước Các nguồn tài liệu này có tính chất tổng quan về những khía cạnh khác nhau của văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người Lô Lô
ở nước ta, trong đó có vấn đề hôn nhân Luận án đã nêu rõ các khái niệm
cơ bản liên quan đến đề tài, đã trình bày khái quát về người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc trên các phương diện cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, lịch sử tộc người và sự phân bố dân cư; đặc điểm văn hóa tộc người thể hiện qua các dạng thức, các thành tố văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể như nhà ở, trang phục, ăn uống, phương tiện vận chuyển, gia đình và một số hình thức văn học dân gian khác
Chương 2 HÔN NHÂN TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI LÔ LÔ
Ở HUYỆN BẢO LẠC
2.1 Quan niệm về hôn nhân của người Lô Lô
2.1.1 Quan niệm truyền thống hôn nhân của người Lô Lô
Trong quan niệm truyền thống của người Lô Lô, hôn nhân không những là yếu tố để duy trì nòi giống, thể hiện tình cảm giữa nam và nữ
với nhau mà còn phản ánh giá trị đạo đức tộc người
Trước đây, việc tiến tới hôn nhân của người Lô Lô không hoàn toàn xuất phát từ tình yêu đôi lứa Phần lớn các cặp hôn nhân của người Lô Lô thường do cha mẹ sắp đặt Hôn nhân thể hiện sự trọng thị giữa hai gia đình
thông gia, vì vậy vai trò của ông bà mối (Quan lang) rất quan trọng trong quá
Trang 11trình diễn ra lễ cưới Ông (bà) Quan lang là người đại diện cho gia đình cô
dâu và chú rể, là người am hiểu phong tục tập quán, khéo ăn nói và là người điều hành các nghi lễ trong quá trình hôn nhân
2.1.2 Tuổi kết hôn
Nguời Lô Lô ở huyện Bảo Lạc kết hôn thường rất sớm, cá biệt có những trường hợp chỉ mới 12, 13 tuổi đã kết hôn Việc tạo lập gia đình cho con ở lứa tuổi còn quá trẻ như vậy là do quan niệm, có cháu sớm để nối dõi tông đường, tăng thêm nguồn nhân lực lao động cho gia đình, nâng cao uy tín và thế lực cho dòng họ, là nơi nương tựa cho cha mẹ lúc tuổi già Tình trạng tảo hôn diễn ra phổ biến, xuất phát từ tâm lý họ tộc,
dòng họ có uy tín
2.1.3 Tiêu chí chọn vợ, chọn chồng
Tiêu chuẩn hàng đầu trong việc chọn vợ, chọn chồng của người Lô
Lô là khoẻ mạnh, lao động giỏi, cần cù và quý trọng lao động Hình thức của cô gái tuy không phải là tiêu chí hàng đầu, song lại là yếu tố
mà các chàng trai Lô Lô luôn để ý
2.2 Các quy tắc trong hôn nhân của người Lô Lô
2.2.1 Hôn nhân khác dòng họ
Trong truyền thống, người Lô Lô không cho phép kết hôn với những người cùng thuyết thống, cùng họ bố Nguyên tắc này được thực hiện nghiêm ngặt với những nam, nữ cùng họ, khác chi nhưng quan hệ dòng máu vẫn gần gũi Đối với các dòng họ Lô Lô, nguyên tắc ngoại hôn dòng họ được quy định chặt chẽ bởi luật tục, mọi thành viên trong khối cộng đồng phải tuân thủ nghiêm ngặt Trên thực tế, nguyên tắc ngoại hôn dòng họ thường được tuân thủ nghiêm ngặt trong phạm vi cộng đồng thân tộc sinh ra từ một ông tổ từ 4 đến 5 đời Đây là nguyên tắc ngoại hôn dòng họ tương đối
2.2.2 Hôn nhân con cô, con cậu
Hiện nay, người Lô Lô vẫn duy trì hình thức hôn nhân cận huyết thống, con trai cô lấy con gái cậu, hình thức hôn nhân này người Lô Lô rất ưa thích,
vì họ cho rằng, mẹ chồng là cô ruột của con dâu sẽ yêu thương con dâu như
Trang 12con đẻ của mình, dạy bảo con dâu cặn kẽ, đồng thời việc kết hôn theo phương thức này còn đảm bảo việc thừa hưởng gia sản Tuy nhiên, hiện nay,
do chính sách của Nhà nước, cán bộ dân số đã vận động người Lô Lô không kết hôn với người cận huyết, do đó đa số người dân đã chấp hành, nhưng có một vài trường hợp hôn nhân cận huyết thống vẫn diễn ra
2.2.3 Hôn nhân hợp số mệnh
Người Lô Lô quan niệm, nếu hợp số thì đôi trẻ sẽ có cuộc sống hạnh phúc suốt đời Để tiến tới hôn nhân, trước hết phải so số mệnh của đôi trẻ Người Lô Lô rất coi trọng việc làm này Hiện nay, việc thực hiện so số mệnh trong hôn nhân của người Lô Lô tuy vẫn được thực hiện, song tầm quan trọng đã giảm bớt và chủ yếu xem chọn ngày tốt cho việc tổ chức các nghi lễ hôn nhân
2.2.4 Hôn nhân một vợ, một chồng bền vững
Đối với người Lô Lô, chế độ hôn nhân một vợ, một chồng được thực hiện từ rất sớm và bền chặt Với người phụ nữ Lô Lô, sau khi lấy chồng, tức đã là ma nhà chồng, là người của nhà chồng, nên họ không
có tư tuởng ly hôn Với người đàn ông, trong điều kiện cuộc sống còn nhiều khó khăn, lễ vật cưới còn nặng nề cộng thêm sự chê trách của gia đình, của dòng họ và cộng đồng nên cũng ít khi người đàn ông bỏ
vợ Một trong những yếu tố quan trọng giúp cho hôn nhân của họ được bền chặt là tình cảm, trách nhiệm với gia đình, với các con cái
2.2.5 Cư trú sau kết hôn
Đối với người Lô Lô, hình thức hôn nhân vợ cư trú bên nhà chồng được tuân thủ một cách nghiêm ngặt Tuy nhiên, họ vẫn duy trì kiểu hôn nhân cư trú bên nhà vợ hay còn gọi là tục ở rể, nếu bên nhà vợ không có anh hay em trai còn nhỏ Việc cư trú riêng của gia đình cá thể một hoặc hai thế hệ chủ yếu xuất hiện trong các gia đình có điều kiện kinh tế hoặc ở những gia đình mà cha mẹ hai bên đều khuất núi
2.3 Phong tục và nghi lễ trong hôn nhân của người Lô Lô
2.3.1 Giai đoạn nam nữ tìm hiểu
Trong hôn nhân truyền thống của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc,
độ tuổi kết hôn thường khoảng 14 đến 16 tuổi Các đôi trai gái có thể tự
Trang 13do gặp gỡ, tìm hiểu nhau, nhưng để đi đến hôn nhân thì thường do cha
mẹ quyết định
2.3.2 Các bước chuẩn bị cho hôn nhân
Đối với người Lô Lô, thời gian chuẩn bị cho hôn lễ dài hay ngắn tùy thuộc vào điều kiện từng gia đình, nhưng tối thiểu cũng khoảng 3 năm để hai bên gia đình chuẩn bị cho lễ cưới Trong truyền thống, người phụ nữ Lô Lô đen khi về nhà chồng phải tặng cho bố mẹ, họ hàng nhà chồng rất nhiều quà tặng và cần phải mang của hồi môn về nhà chồng, nên các ông bố, bà mẹ và họ hàng khuyên bảo dặn dò cô con gái sắp lấy chồng thì phải học làm bông, dệt vải, nhuộm chàm, thêu thùa để đến khi đón dâu có nhiều của hồi môn và quà tặng đẹp Việc chuẩn bị thực phẩm phục vụ trong đám cưới cũng tốn rất nhiều thời gian như nuôi con lợn, nấu rượu, chuẩn bị gạo nếp và gạo tẻ…
2.3.3 Các nghi lễ trong hôn nhân
Cưới xin của người Lô Lô ở huyện Bảo Lạc vẫn còn bảo lưu đuợc nhiều những nét sinh hoạt xưa, đặc biệt là các nghi lễ diễn ra trong quá trình hôn nhân Các chàng trai, cô gái Lô Lô được tự do tìm hiểu nhau, tuy nhiên họ phải tuân thủ theo sự sắp đặt của cha mẹ trong kết hôn
Những nghi lễ theo qui định của cộng đồng gồm các bước như sau:(i)
Nghi lễ hỏi tuổi;(ii) Lễ ăn hỏi; (iii) Lễ cưới;(iv).Lễ lại mặt
2.4 Những trường hợp hôn nhân khác của người Lô Lô
2.4.1 Hôn nhân của những người goá vợ, goá chồng
Sau ba năm mãn tang, người phụ nữ có thể đi bước nữa, nếu có con thì có thể để lại cho bố mẹ chồng nuôi hoặc mang theo, tài sản của người chồng quá cố do anh em bên chồng quản lý Người đàn bà góa chồng chỉ mang theo con cái và đồ đạc cá nhân Trường hợp người đàn ông góa vợ cũng chỉ được lấy vợ kế sau khi mãn tang vợ ba năm Trong trường hợp này, hai gia đình sẽ không tổ chức đám cưới theo nghi thức truyền thống, mà hai vợ chồng chỉ thưa chuyện với cha mẹ hai bên xin phép về ở với nhau, thông thường cũng làm một bữa cơm mời hai bên gia đình cùng chung vui và chúc phúc cho đôi vợ chồng cưới lại lần hai