1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay

91 442 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với nước Đức, hợp đồng NQTM chỉ được nhận biết thông qua sự so sánh chúng với các hợp đồng phân phối hàng hoá, dịch vụ với các đặc tính: i Trong hợp đồng nhượng quyền, quan hệ cung ứ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

_

PHẠM THỊ CÚC HOA

ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

_

PHẠM THỊ CÚC HOA

ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS ĐẶNG VŨ HUÂN

HÀ NỘI - NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồn trích dẫn rõ ràng Kết quả nghiên cứu của luận văn không có sự trùng lặp với bất kỳ công trình nào đã công bố

Hà Nội, tháng 9 năm 2017

Tác giả

Phạm Thị Cúc Hoa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo của Học viện Khoa học Xã hội đã truyền dạy những kiến thức quý báu, cảm ơn TS Đặng Vũ Huân - Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành tốt bản luận văn này

Tác giả

Phạm Thị Cúc Hoa

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN

THƯƠNG MẠI 6

1.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 6 1.2 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 17

Kết luận Chương 1 26 Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH ĐIỀU KHOẢN 27 HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN

THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 27

2.1 NHẬN DIỆN MỘT SỐ ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 27 2.2 HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ GIỚI HẠN KIỂM SOÁT 44 2.3 CHẾ TÀI XỬ LÝ ĐỐI VỚI CÁC ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 51

Kết luận Chương 2 65 Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT66 KIỂM SOÁT ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG 66 HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 66

3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT ĐIỀU

KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG

QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 66 3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN

THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 69

Kết luận Chương 3 78 KẾT LUẬN 79

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Nhượng quyền thương mại cùng với các hình thức kinh doanh khác đã tạo nên một bức tranh sống động của nền kinh tế thế giới Hình thành từ thế kỷ thứ XIX, hình thức này không ngừng được mở rộng, phát huy tính hiệu quả trong kinh doanh Tại Việt Nam, hình thức nhượng quyền thương mại hình thành vào những năm 90 của thế kỷ XX và mang tính tự phát rất cao, dường như không có nhiều cơ hội để tham gia hoặc thậm chí chứng kiến các sản phẩm

và dịch vụ của các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới tại Việt Nam Tuy nhiên, sau hơn 30 năm đổi mới và hơn 10 năm kể từ ngày gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã nổi lên là một trong số các quốc gia thu hút các nhà đầu tư và các nhà nhượng quyền thương mại nhất Bạn có thể bắt đầu một buổi sáng đẹp trời với bạn bè tại Starbucks hoặc thưởng thức bữa trưa cùng với gia đình tại các cửa hàng của KFC hay Lotteria Bạn cũng có thể mua những sản phẩm mới nhất của Nike hoặc Adias cũng như các thương hiệu nổi tiếng khác trên thế giới tại chính các cửa hàng ở Việt Nam Thay đổi này là kết quả của mô hình kinh doanh hiệu quả – nhượng quyền thương mại (NQTM)

Với vai trò tích cực của mình, NQTM đã và đang được xem là cách thức hiệu quả để các bên mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh bằng cách khai thác các thương hiệu thành công thông qua việc chuyển giao quyền sử dụng các quyền thương mại của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền Giống như các hoạt động thương mại khác, nội dung của quan hệ NQTM cũng thể hiện các quyền và nghĩa vụ tương ứng của các bên, tuy nhiên, HĐNQTM có những đặc thù nhất định so với các hoạt động cụ thể khác, kể cả đối với đại lý thương mại hoặc chuyển giao công nghệ Trong HĐNQTM, bao giờ cũng có các điều kiện về hạn chế cạnh tranh (HCCT) giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền Chính vì vậy mà trong các quan hệ nhượng quyền có thể chứa đựng những hạn chế có khả năng tác động đến môi trường cạnh tranh Những hạn chế này trong nhiều trường hợp được giải thích là cần thiết, hợp lý nhằm bảo vệ lợi ích của bên nhượng quyền và danh tiếng của hệ thống nhượng quyền Tuy nhiên, dưới góc độ pháp luật cạnh tranh (PLCT), những điều kiện về HCCT

Trang 8

này có thể gây ra những hệ quả nhất định đối với môi trường cạnh tranh lành mạnh, vì vậy, các bên phải hết sức cẩn thận khi đưa các điều kiện này vào trong hợp đồng, vì nếu một điều khoản nào đó trái với pháp luật về cạnh tranh thì hợp đồng có thể coi là vô hiệu Điều kiện về HCCT muốn có giá trị pháp lý sẽ được thể hiện trong hợp đồng NQTM Đó là kết quả của sự thống nhất ý chí của các bên, là cơ sở để các bên thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình và căn cứ pháp lý khi có tranh chấp xảy ra Có thể nói, hợp đồng NQTM có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các bên tham gia quan hệ nhượng quyền

Tuy nhiên, pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện nay chưa quy định rõ ràng về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền Các quy định hiện hành chỉ đề cập đến các hình thức biểu hiện bên ngoài một cách cứng nhắc, chưa tiếp cận được bản chất phản cạnh tranh của các hành vi này Việc nghiên cứu để tìm hiểu rõ hơn về các điều khoản HCCT trong hợp đồng NQTM ở Việt Nam và việc điều chỉnh, kiểm soát nó bằng pháp luật hiện nay như thế nào là

yêu cầu có tính cấp thiết Đây cũng là lý do mà học viên lựa chọn đề tài “Điều

khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay” để làm Luận văn Thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu

Trước khi có Luật Thương mại 2005, hầu như pháp luật nước ta không

đề cập đến hình thức kinh doanh NQTM còn khá mới mẻ này Mặc dù cùng nằm trong tổng thể pháp luật thương mại nói chung, song hai lĩnh vực cạnh tranh và NQTM vẫn được quy định và có những điều chỉnh riêng, đặc thù, do

đó, khi đề cập đến điều khoản HCCT trong hợp đồng NQTM thì đây được coi

là một vấn đề khá lạ lẫm và có nhiều nội dung cần nghiên cứu, phân tích Cho đến nay, nghiên cứu về pháp luật điều chỉnh các điều khoản HCCT và hợp đồng NQTM dưới góc độ của PLCT có một số công trình đã đề cập đến như:

- Đào Đặng Thu Hường, “Hợp đồng nhượng quyền thương mại trong pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, 2007;

- Nguyễn Thanh Tú, “Nhượng quyền thương mại dưới góc độ của pháp luật cạnh tranh”, Luận án Tiến sĩ luật học, Khoa luật, Đại học Lund, Thuỵ

Điển, 2007;

Trang 9

- Vũ Đặng Hải Yến, “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”,

Luận án Tiến sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, 2008;

- Nguyễn Thị Như Nguyên, “Pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, Luận văn Thạc sĩ

luật học, Đại học Luật Hà Nội, 2012;

- Trần Thị Hồng Thúy, “Kiểm soát hợp đồng nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ”, Luận văn

Thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012;

- Nguyễn Thị Hồng Vân, “Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử, 2016

Bên cạnh đó, còn có công trình đi sâu vào nghiên cứu lý luận, các quy định hiện hành, phương thức kiểm soát và những vấn đề thực tiễn về các

TTHCCT trong hợp đồng NQTM như: “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại” của ThS Hằng Nga, Nxb Tổng hợp TP

Hồ Chí Minh, 2009 Tuy nhiên, tác phẩm này có phạm vi bao quát khá rộng các vấn đề liên quan đến TTHCCT trong hợp đồng NQTM ở cả hệ thống pháp luật thế giới và Việt Nam sau khi Luật Thương mại 2005 được vận dụng vào thực tế nên việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn còn nhiều khó khăn Do đó, dựa trên

cơ sở tình hình nghiên cứu này, Luận văn sẽ kế thừa một số luận điểm nghiên cứu, phân tích chuyên sâu pháp luật về TTHCCT trong toàn bộ hoạt động NQTM nói chung, tập trung vào nghiên cứu hệ thống pháp luật và thực tiễn thi hành ở Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam, từ đó, kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về HCCT trong hợp đồng NQTM tại Việt Nam

Trang 10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu ở trên, Luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

- Làm sáng tỏ về mặt lý luận pháp luật về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong nhượng quyền thương mại và pháp luật về hợp đồng nhượng chuyền thương mại

- Thực hiện nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật về kiểm soát điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những bất cập, tồn tại của hệ thống pháp luật cũng như thực tiễn quá trình áp dụng

- Đề xuất, kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận, thực tiễn và hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh điều khoản HCCT trong hợp đồng NQTM được quy định trong Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Thương mại năm

2005 và các văn bản liên quan như: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, các văn bản, quy định pháp luật liên quan của các quốc gia khác trên thế giới

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về điều khoản HCCT trong hợp đồng NQTM ở Việt Nam từ khi Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Thương mại năm 2005 được ban hành đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những nhiệm nghiên cứu được đặt ra, tác giả nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận

Trang 11

cơ bản về điều khoản HCCT trong hợp đồng NQTM; phương pháp so sánh giữa các quy định của pháp luật về điều khoản HCCT trong hợp đồng NQTM giữa các văn bản pháp luật liên quan như Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới Ngoài ra, để nắm bắt được những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các quy định về điều khoản HCCT trong hợp đồng NQTM, tác giả còn áp dụng phương pháp hệ thống hoá, khảo sát thực tiễn và xã hội học kiểm chứng

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu một cách tập trung và có hệ thống về điều khoản HCCT hợp đồng NQTM theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần xây dựng các giải pháp tổng thể hoàn thiện pháp luật về điều khoản HCCT trong hoạt động NQTM, xây dựng cơ chế thực thi pháp luật về vấn xây dựng cơ chế thực thi pháp luật về vấn đề này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự vận hành phương thức kinh doanh NQTM, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về điều khoản hạn chế cạnh

tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh điều khoản hạn chế cạnh

tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật kiểm soát điều

khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

1.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hạn chế cạnh tranh

1.1.1.1 Khái niệm hạn chế cạnh tranh

Một nền kinh tế phát triển lành mạnh luôn cần có cạnh tranh và tôn trọng quyền tự do cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh Song mặt trái của nền kinh

tế thị trường nói chung và của cạnh tranh nói riêng luôn tồn tại nguy cơ xuất hiện những vấn đề mà nếu không được pháp luật kiểm soát sẽ dẫn đến triệt tiêu cạnh tranh lành mạnh, mất động lực phát triển kinh tế, đó là những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hành vi hạn chế cạnh tranh (HCCT) của các doanh nghiệp Mỗi hành vi này thường có mục đích và tác động đến nền kinh

tế ở những mức độ và khía cạnh khác nhau Về khái niệm, bản thân Luật mẫu

về cạnh tranh của Liên Hợp quốc cũng như Luật Cạnh tranh năm 2004 của Việt Nam đều không đưa ra định nghĩa pháp lý chính thức về hành vi HCCT Các quy định mới chỉ dừng lại ở việc xác định cụ thể những hành vi được coi là hành vi HCCT theo kiểu liệt kê chứ chưa đưa ra những định nghĩa mang tính định tính cho những hành vi này Hành vi HCCT thông thường được chia ra

làm các nhóm như: Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (TTHCCT); Lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền; Tập trung kinh tế Trong đó, hành vi thỏa thuận

của các chủ thể kinh doanh là hành vi có thể dẫn đến nguy cơ HCCT nhiều nhất trên thị trường

Thứ nhất, nhóm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: TTHCCT là

hành vi thống nhất ý chí của từ hai doanh nghiệp trở lên nhằm tác động tiêu cực lên thị trường cạnh tranh làm giảm, sai lệch kết quả cạnh tranh trên thị trường

đó Các hành vi này có thể bao gồm: Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ

Trang 13

một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ; thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ; thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường; thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận; thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ…Điều khoản về TTHCCT được coi là điều khoản hạn chế cạnh tranh chủ yếu và phổ biến nhất trong hợp đồng NQTM

Thứ hai, nhóm hành vi lạm dụng ví trí thống lĩnh, vị trí độc quyền: Theo

pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện hành, chủ thể của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền là doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu như có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh Nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh nếu nhóm đó có tổng thị phần kết hợp trên thị trường liên quan là từ 50% trở lên (đối với 2 doanh nghiệp); từ 65% trờ lên (đối với 3 doanh nghiệp) và từ 75% trở lên (đối với 4 doanh nghiệp) [1] Doanh nghiệp có vị trí độc quyền là doanh nghiệp không có đối thủ cạnh tranh nào trên thị trường liên quan, nghĩa là hàng hóa hay dịch vụ mà doanh nghiệp

đó kinh doanh là độc nhất trên thị trường không có bất kì doanh nghiệp nào khác kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó nữa

Thứ ba, nhóm hành vi tập trung kinh tế: Tập trung kinh tế là hoạt động

của các doanh nghiệp nhằm tăng cường sức mạnh theo chiều ngang và chiều dọc bằng những hình thức sáp nhập, hợp nhất, mua lại, liên doanh hay những

hình thức khác theo quy định của pháp luật Tập trung kinh tế bao gồm các

hành vi: Sáp nhập; hợp nhất; mua lại doanh nghiệp; liên doanh giữa các doanh nghiệp và những hành vi tập trung kinh tế khác…

Trang 14

1.1.1.2 Đặc điểm của hạn chế cạnh tranh

Thứ nhất, hành vi HCCT diễn ra giữa các doanh nghiệp hoạt động độc

lập trên thị trường Theo PLCT, các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận có thể là đối thủ cạnh tranh của nhau hoặc không phải là đối thủ cạnh tranh tùy thuộc vào thỏa thuận dọc hoặc thỏa thuận ngang Ngoài ra, các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận phải độc lập với nhau (về tài chính, về ý chí) và không phải là những người liên quan đến nhau về mặt pháp luật Mặc khác, ý chí của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận phải là ý chí độc lập của riêng doanh nghiệp

mà không phụ thuộc và không chịu tác động của bất kì ai như việc thực hiện

hành vi HCCT theo quyết định của công ty mẹ hay tập đoàn…

Trên thị trường các nhóm chủ thể có xu hướng liên kết với nhau nhằm HCCT như: (i) Nhóm các chủ thể kinh doanh dẫn đầu sẽ có xu hướng thỏa thuận với nhau về những vấn đề nhằm triệt tiêu cạnh tranh giữa họ và đảm bảo

vị thế của họ trên thị trường một cách lâu dài, hình thành này có khả năng dẫn đến độc quyền nhóm; (ii) Nhóm các chủ thể kinh doanh có vị thế kém hơn so với nhóm dẫn đầu sẽ luôn tìm và tạo ra các cơ hội để vươn lên Một trong các cách thức được sử dụng đó là liên kết lại với nhau nhằm tăng vị thế và sức mạnh cạnh tranh trên thị trường, tạo ra những sức ép nhất định đối với những chủ thể kinh doanh đang chiếm ưu thế nói trên

Thứ hai, việc tiến hành hành vi có dấu hiệu lạm dụng, có mục đích làm sai

lệnh, cản trở, đặc biệt là mục đích loại bỏ đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường, thông qua sức mạnh thị trường, năng lực cạnh tranh, liên kết với nhau…

Thứ ba, những hành vi HCCT bị cấm mặc nhiên hoặc có thể bị cấm nếu

thoả mãn những điều kiện nhất định, ví dụ như hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền bị cấm chỉ khi doanh nghiệp có thị phần từ 30% trở lên hoặc có khả năng gây HCCT đáng kể (khoản 1, Điều 11 Luật cạnh tranh) Thêm nữa, theo pháp luật cạnh tranh của Việt Nam, chỉ các thỏa thuận sau đây mới bị coi là TTHCCT, bao gồm: Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ,

Trang 15

nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ; thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ; thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận; thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ

Thứ tư, Các hành vi HCCT không những xâm hại trực tiếp đến lợi ích

của các chủ thể kinh doanh, lợi ích của người tiêu dùng xã hội, lợi ích của nền kinh tế nói chung mà còn có thể phá vỡ hay làm thay đổi trật tự của một thị trường, một lĩnh vực hay ngành hàng nhất định Điều này cho thấy, mức độ ảnh hưởng của hành vi này là tương đối rộng, có khi còn gây tác động tới một khu vực thị trường rộng lớn như hành vi thoả thuận giữa các chủ thể cùng cấp độ kinh doanh với nhau, liên quan tới giá cả, phân chia thị trường…

Như vậy, có thể thấy hành vi HCCT luôn hướng đến việc hình thành sức mạnh thị trường hoặc lợi dụng sức mạnh thị trường để làm cho tình trạng cạnh tranh trên thị trường bị biến dạng Điều này có thể dẫn đến làm thay đổi cấu trúc thị trường, thay đổi tương quan cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường Hành vi HCCT gây tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh và cần phải kiểm soát nó bằng pháp luật và chính sách cạnh tranh của nhà nước [1]

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm hợp đồng nhượng quyền thương mại

1.1.2.1 Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại

Xuất phát từ bản chất của hoạt động NQTM, hợp đồng về NQTM được nhiều quốc gia trên thế giới quy định Theo Hiệp ước EEC, “hợp đồng NQTM

là một thoả thuận trong đó, một bên là bên nhượng quyền cấp phép cho một bên khác là bên nhận quyền khả năng được khai thác một “quyền thương mại”

Trang 16

nhằm mục đích xúc tiến thương mại đối với một loại sản phẩm hoặc dịch vụ đặc thù để đổi lại một cách trực tiếp hay gián tiếp một khoản tiền nhất định Hợp đồng này phải quy định những nghĩa vụ tối thiểu của các bên, liên quan đến việc sử dụng tên thông thường hoặc dấu hiệu của cửa hàng hoặc một cách thức chung; việc trao đổi công nghệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền; việc tiếp tục thực hiện của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền trong việc trợ giúp, hỗ trợ thương mại cũng như kỹ thuật trong suốt thời gian hợp đồng NQTM còn hiệu lực” [11, tr15]

Hợp đồng NQTM mang tính chất đặc thù, vì nó chứa đựng những yếu tố của hợp đồng li-xăng, đó là việc hướng tới quyền sở hữu công nghiệp như sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp Bên cạnh đó, hợp đồng này có những đặc trưng của hợp đồng chuyển giao công nghệ khi mà nội dung của hợp đồng luôn nhấn mạnh rõ vấn đề bên nhượng quyền phải chuyển giao về mặt công nghệ, hỗ trợ về mặt kỹ thuật cho bên nhận quyền Không những thế, việc tìm thấy hình bóng của hợp đồng đại lý hay hợp đồng cung ứng trong hợp đồng NQTM đã đưa đến một thực tế rằng, hợp đồng NQTM là hợp đồng mang tính đặc thù và phức tạp

Ở Đức, mặc dù Hiệp hội NQTM của nước Đức đã đưa ra một khái niệm chính thức về hoạt động NQTM, nhưng pháp luật thương mại của nước này lại không đề cập đến khái niệm hợp đồng NQTM với tư cách là một loại hợp đồng đặc thù, mà chỉ là một loại hợp đồng hợp tác để phân phối sản phẩm Đối với nước Đức, hợp đồng NQTM chỉ được nhận biết thông qua sự so sánh chúng với các hợp đồng phân phối hàng hoá, dịch vụ với các đặc tính: (i) Trong hợp đồng nhượng quyền, quan hệ cung ứng hàng hoá, dịch vụ từ phía bên nhượng quyền cho bên nhận quyền không nhất thiết phải tồn tại với lý do bên nhận quyền có thể tự mình sản xuất ra sản phẩm; (ii) Bên nhượng quyền trao toàn bộ

“quyền thương mại” dưới một thể thống nhất cho bên nhận quyền; (iii) Bên nhận quyền vẫn có tên thương mại đăng ký theo quy định của pháp luật, mặc

dù dịch vụ hoặc hàng hoá mà bên này cung cấp trên thị trường lại không mang tên thương mại đã đăng ký với Nhà nước [32]

Trang 17

Cộng hoà Pháp cũng không ban hành một luật riêng cho hoạt động NQTM Ở đây, các án lệ, các quy định của Hiệp hội NQTM Pháp được coi là luật lệ chính điều chỉnh hoạt động NQTM Hợp đồng NQTM được coi là một tập hợp các thoả thuận của các bên chủ thể, trong đó các bên phải đề cập đến ít nhất một số vấn đề chủ yếu liên quan đến: (i) Sự chuyển giao các yếu tố của quyền sở hữu công nghiệp, sở hữu trí tuệ từ bên nhượng quyền sang bên nhận quyền nhằm khai thác thu lợi nhuận; (ii) Sự hỗ trợ của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng; (iii) Nghĩa vụ tài chính cũng như các nghĩa vụ đối ứng khác của bên nhận quyền đối với bên nhượng quyền Với khái niệm này, hợp đồng NQTM đã thể hiện được đúng bản chất pháp lý của hoạt động NQTM, giúp cho công chúng có thể dễ dàng phân biệt được loại hợp đồng thương mại đặc biệt này với một số loại hợp đồng khác có cùng một hoặc một số tính chất nhất định

Theo Uỷ ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (FTC) [33], khái niệm một hợp đồng NQTM là hợp đồng, theo đó bên giao hỗ trợ đáng kể cho bên nhận trong việc điều hành doanh nghiệp hoặc kiểm soát chặt chẽ phương pháp điều hành doanh nghiệp của bên nhận; li-xăng nhãn hiệu cho bên nhận để phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ theo nhãn hiệu hàng hóa của bên giao; yêu cầu bên nhận thanh toán cho bên giao một khoản phí tối thiểu

Như vậy, hợp đồng NQTM là một tập hợp các thoả thuận của các bên chủ thể, trong đó các bên phải đề cập đến các yếu tố có liên quan như: Sự chuyển giao các yếu tố của quyền sở hữu công nghiệp, sở hữu trí tuệ từ bên nhượng quyền sang bên nhận quyền nhằm khai thác thu lợi nhuận; sự hỗ trợ của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng; nghĩa vụ tài chính cũng như các nghĩa vụ đối ứng khác của bên nhận quyền đối với bên nhượng quyền [26]

Ở Việt Nam, pháp luật không đưa ra định nghĩa về hợp đồng NQTM mà chỉ quy định về hình thức của loại hợp đồng này tại Điều 285 Luật Thương mại năm 2005 Trên phương diện pháp luật, khái niệm hợp đồng NQTM được hiểu

Trang 18

là thoả thuận giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong quá trình thực hiện hoạt động thương mại, mà ở đây là hoạt động nhượng quyền Trên cơ sở đó, hợp đồng NQTM cũng mang những đặc điểm của hợp đồng dân sự được quy định tại Bộ luật Dân sự 2005, đồng thời thoả mãn các điều kiện của một hợp đồng thương mại

Không đưa ra một khái niệm cụ thể về hợp đồng NQTM nhưng tại Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/03/2006 của Chính phủ lại nêu định nghĩa về các dạng đặc biệt của hợp đồng NQTM như hợp đồng phát triển nhượng quyền thương mại hay hợp đồng thứ cấp, trong đó bên nhượng quyền có nghĩa vụ trao quyền thương mại và cung cấp các hỗ trợ kỹ thuật đối với việc kinh doanh quyền thương mại cho bên nhận quyền, và bên nhận quyền có nghĩa vụ thanh toán cho bên nhượng quyền Bên nhận quyền có thể tiếp tục chuyển nhượng quyền thương mại cho người khác nếu hợp đồng nhượng quyền thương mại đã

có thỏa thuận hoặc người đã chuyển quyền thương mại đồng ý cho chuyển tiếp [7] Theo ý kiến đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, việc đưa ra định nghĩa về các loại hợp đồng đặc biệt là điều cần thiết Tuy nhiên, khi giải thích về nghĩa của các hợp đồng đặc biệt, các nhà làm luật vẫn sử dụng thuật ngữ NQTM Như vậy, ở đây có sự thiếu chính xác khi pháp luật không đưa ra định nghĩa về hợp đồng NQTM mà lại dùng chính thuật ngữ này để diễn đạt cho các hợp đồng khác có liên quan, đối chiếu với pháp luật của một số nước trên thế giới thì điều này là chưa phù hợp với thông lệ quốc tế

1.1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng nhượng quyền thương mại

Dù hoạt động NQTM có phát triển như thế nào thì về bản chất, pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều công nhận NQTM không phải là

“việc kinh doanh” cụ thể nào đó mà là một phương thức kinh doanh Đó chính

là phương thức hợp tác giữa ít nhất là hai bên chủ thể: Chủ sở hữu các quyền SHTT (như nhãn hiệu, bí mật kinh doanh, tên thương mại, biển hiệu hay các biểu tượng quảng cáo…) với một hoặc nhiều doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh khác trong việc cùng khai thác giá trị thương mại của các đối tượng NQTM của

Trang 19

bên nhượng quyền Đổi lại, bên nhượng quyền sẽ nhận được các khoản phí do bên nhận quyền trả Dựa vào bản chất đã phân tích, có thể thấy hoạt động NQTM có một số đặc điểm sau:

Một là, về chủ thể: Hoạt động này bao gồm bên nhượng quyền và bên

nhận quyền, trong đó bên nhượng quyền bắt buộc phải là thương nhân có một

hệ thống và cơ sở kinh doanh đang có lợi thế cạnh tranh trên thị trường Bên nhận quyền là một doanh nghiệp độc lập về mặt tài chính, pháp lý và đầu tư, đồng thời chấp nhận rủi ro đối với nguồn vốn bỏ ra khi thực hiện việc tham gia vào hệ thống nhượng quyền của bên nhượng quyền Điều này nghĩa là các bên của hợp đồng NQTM là các thương nhân có quyền kinh doanh độc lập Sự độc lập này thể hiện ở chỗ, bên nhượng quyền khai thác hệ thống NQTM vì lợi ích của chính mình và bên nhượng quyền được tự do thực hiện các hoạt động khác, ngoài hợp đồng NQTM Đặc điểm độc lập này là đặc điểm quan trọng giúp phân biệt giữa quan hệ NQTM với quan hệ chi nhánh

Hai là, về tính đồng bộ, thống nhất: NQTM là sự phát triển đồng bộ một

thương hiệu tạo ra sự thống nhất một hình ảnh các cửa hàng, để khách hàng vào bất cứ cửa hàng nào trong hệ thống cũng đều cảm thấy thoải mái, hài lòng như nhau Hệ thống nhượng quyền như một guồng máy mà mỗi cửa hàng, cơ sở là một mắt xích để tạo nên chính thể đó, sự thay đổi của một mắt xích tất yếu làm ảnh hưởng tới cả hệ thống Đây là điểm nhạy cảm của NQTM, bởi nó có thể giúp phát triển danh tiếng của hàng hoá, hệ thống nhượng quyền một cách nhanh chóng nhưng cũng có thế làm cho uy tín xây dựng trong một thời gian dài của sản phẩm/dịch vụ nhượng quyền đó sụp đổ

Ba là, về khái niệm “quyền thương mại”: Tuỳ thuộc vào từng loại hình

NQTM và sự thoả thuận của các bên mà nội dung của khái niệm này rộng, hẹp khác nhau Đây là một khái niệm trừu tượng, có mối liên hệ đặc biệt đối với các đối tượng của SHTT Theo cách hiểu NQTM là nhượng quyền phương thức kinh doanh, thì quyền thương mại không chỉ dừng ở việc sử dụng tên thương mại, kiểu dáng thiết kế của hàng hoá mà còn mở rộng không ngừng bao gồm

Trang 20

nhiều quyền năng khác trong hoạt động kinh doanh Cũng như các quan hệ khác, NQTM càng phát triển mở rộng, thì khả năng chứa đựng nhiều mâu thuẫn, tranh chấp càng cao Sở dĩ như vậy là do, bản thân “quyền thương mại”

đã liên quan đến lợi ích thiết thân của một nhà kinh doanh Việc nhượng lại quyền thiết thân này cho một chủ thể kinh doanh khác để cùng kinh doanh, cùng chia sẻ những lợi thế mà quyền kinh doanh đem lại, vì thế, chắc chắn sẽ gây ra không ít tranh chấp, vì đặc điểm này mà NQTM phải được pháp luật điều chỉnh

Bốn là, về tính gắn kết của các bên trong hợp đồng NQTM: NQTM luôn

tồn tại mối quan hệ mật thiết giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền, sự gắn bó này là vô cùng chặt chẽ Bởi NQTM về bản chất là sự nhân rộng một

mô hình kinh doanh đã thành công, bên nhận quyền được bên nhượng quyền chia sẻ các công thức kinh doanh, các bí quyết kinh doanh, phương thức kinh doanh của bên nhượng quyền nhằm tạo ra sự đồng bộ ở tất cả các cửa hàng nhượng quyền so với cửa hàng chính của bên nhượng quyền Vì thế, bên nhượng quyền và bên nhận quyền phải tạo ra một mối quan hệ liên tục, thông suốt trong toàn bộ thời gian của hợp đồng NQTM Bên nhượng quyền phải hướng dẫn, giúp đỡ kĩ thuật, đào tạo những nhân viên chủ lực cho bên nhạn quyền, đồng thời bên nhận quyền không thể tự mình sáng tạo thêm các ý tưởng mới trong kinh doanh, nhất là các ý tưởng có khả năng phá vỡ sự đồng nhất trong hệ thống NQTM

1.1.3 Điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

Các điều khoản HCCT trong hợp đồng NQTM chủ yếu phải kể đến các điều khoản về TTHCCT Giống như các loại hợp đồng thương mại khác, nội dung của hợp đồng NQTM và ghi nhận trong các hợp đồng NQTM là các quyền và nghĩa vụ tương ứng của các bên tham gia vào quan hệ nhượng quyền, tuy nhiên, với những đặc thù nhất định của hợp đồng NQTM như đã phân tích

ở phần trên, có thể thấy, để xác định một thỏa thuận thương mại bất kỳ là một

Trang 21

TTHCCT cần phải xác định rất nhiều yếu tố liên quan như chủ thể, khách thể cũng như tính chất và mức độ HCCT của thỏa thuận đó

Nhắc đến TTHCCT trong hợp đồng NQTM có thể bao gồm điều khoản thỏa thuận giữa các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh thuộc các hệ thống nhượng quyền khác nhau hoặc thỏa thuận giữa chính bên nhượng quyền và bên nhận quyền trong một hệ thống NQTM Theo đó, các TTHCCT được chia thành TTHCCT theo chiều ngang và TTHCCT theo chiều dọc, cụ thể:

Thứ nhất, thỏa thuận theo chiều ngang là thỏa thuận giữa các chủ thể

kinh doanh trong cùng ngành hàng và cùng khâu của quá trình kinh doanh, diễn

ra giữa các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh với nhau Ví dụ, thỏa thuận giữa các doanh nghiệp hoạt động theo hình thức nhượng quyền trong cùng một thị trường sản phẩm như: Gà rán, đồ uống…Có thể kể đến một số hành vi cụ thể như: Điều khoản thỏa thuận ấn định giá giữa các hệ thống nhượng quyền trên cùng một thị trường liên quan, nhằm tăng, giảm, ấn định hoặc duy trì giá sản phẩm, dịch vụ trên thị trường; điều khoản thỏa thuận hạn chế về sản lượng sản xuất, sản lượng bán hoặc tỷ lệ tăng trưởng thị trường; điều khoản thỏa thuận phân chia thị trường là thỏa thuận mà các bên tham gia phân chia các thị trường với nhau theo lãnh thổ, theo lượng cung, cầu của từng doanh nghiệp hoặc theo nhóm khách hàng cụ thể

Thứ hai, thỏa thuận theo chiều dọc là thỏa thuận giữa hai hay nhiều doanh

nghiệp hoạt động ở những khâu khác nhau trong quá trình sản xuất, hoặc phân phối trên thị trường Như đã phân tích, chủ thể ký kết hợp đồng NQTM là các thương nhân có quyền kinh doanh độc lập, hoạt động kinh doanh theo mô hình mạng lưới thống nhất về hành động của bên nhượng quyền và các bên nhận quyền, để đảm bảo lợi ích của bên nhượng quyền và các bên nhận quyền khác Các bên nhận quyền phải tuân thủ trung thành mô hình NQTM, khai thác bí quyết một cách nhất quán trong mạng lưới NQTM, phải trả phí khai thác lợi ích cho bên nhượng quyền và phí sử dụng thương hiệu trong suốt thời gian nhận quyền (đối với quan hệ đại lý, bên nhận đại lý không phải thực hiện nghĩa vụ này) Bên

Trang 22

nhượng quyền có quyền kiểm soát bên nhận quyền trong việc tuân thủ trung thành

mô hình NQTM (bên đại lý cũng không có quyền kiểm soát này đối với bên nhận đại lý) Hoạt động của hệ thống NQTM thường dẫn tới hệ quả phân chia thị trường và có thể gây HCCT trong thoả thuận về phân chia lãnh thổ, thể hiện ở

“điều khoản về địa điểm bán hàng” (location clause); cấm bên nhận quyền quảng cáo ngoài phạm vi của mình; mua bán độc quyền liên quan đến nhãn hiệu hàng hoá, thương hiệu sản phẩm; quy định bán kèm Ngoài ra, trong hoạt động NQTM, nhiều trường hợp còn quy định về ấn định giá bán cho các thành viên của

hệ thống NQTM và có thể có một số ràng buộc khác Căn cứ vào tính chất của đối tượng điều chỉnh, hoạt động NQTM có thể được chia thành các loại: (i) NQTM về dịch vụ, theo đó bên nhận quyền chào bán một dịch vụ dưới tên thương mại hoặc biểu tượng và đôi khi là nhãn hiệu thương mại của bên nhượng quyền, theo những chỉ dẫn của bên nhượng quyền; (ii) NQTM về sản xuất, quy định bên nhận quyền sản xuất các sản phẩm theo đúng những chỉ dẫn của bên nhượng quyền và bán chúng dưới nhãn hiệu thương mại của bên nhượng quyền; (iii) NQTM về phân phối, trong đó bên nhận quyền đơn thuần bán các sản phẩm nhất định trong một cửa hàng mang tên thương mại hoặc biểu tượng của bên nhượng quyền Do đó, mỗi loại đối tượng của hoạt động NQTM sẽ có khả năng dẫn đến HCCT khác nhau tuỳ thuộc vào ngữ cảnh kinh tế và nội dung nhượng quyền cụ thể

Có thể nói, điều khoản HCCT trong hợp đồng NQTM là loại điều khoản thỏa thuận được ra đời bởi sự cho phép và bảo vệ của Nhà nước Căn cứ các quy định về TTHCCT, các thỏa thuận giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền được ghi nhận trong các hợp đồng NQTM có thể dẫn tới TTHCCT, chúng thường được thể hiện dưới các dạng sau: Thoả thuận quy định phân chia khu vực kinh

doanh; thoả thuận phân phối và cung ứng độc quyền; thoả thuận mua bán cả gói;

thoả thuận ấn định giá bán lại; kiểm soát số lượng đầu vào, đầu ra của sản phẩm Ngoài ra, trong hợp đồng NQTM có thể kể đến một số thỏa thuận hợp tác, mang lại lợi ích kinh tế cho bản thân các chủ thể thỏa thuận và người tiêu dùng Ví dụ như các thỏa thuận nghiên cứu và phát triển; thỏa thuận sản xuất; thỏa thuận định

Trang 23

chuẩn (xác định thống nhất tiêu chuẩn chất lượng, kỹ thuật, phương pháp sản xuất cần tuân thủ…); thỏa thuận về các điều kiện kinh doanh [23, tr 24]

1.2 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

1.2.1 Yêu cầu điều chỉnh pháp luật đối với điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

NQTM là một hình thức kinh doanh trong đó bên nhượng quyền trao cho bên nhận quyền quyền khai thác nhãn hiệu và bí quyết kinh doanh Bên nhận quyền, là các thương nhân độc lập, có nghĩa vụ khai thác mô hình kinh doanh theo đúng các quy định và quy trình do bên nhượng quyền đặt ra Mục đích của NQTM là nhân rộng mô hình kinh doanh đã được bên nhượng quyền thực hiện thành công trên một phạm vi địa lý nhất định Vì vậy, việc tạo ra và duy trì tính độc đáo và đồng nhất của mô hình kinh doanh đóng vai trò then chốt Các yếu tố liên quan trực tiếp đến mô hình kinh doanh là chất lượng hàng hoá, dịch vụ (gọi chung là sản phẩm); nhãn hiệu hàng hoá, biểu tượng kinh doanh, tên thương mại của bên nhượng quyền; hoạt động quảng cáo, khuyến mại; phương thức phục vụ; cách thức bài trí cơ sở kinh doanh…Tính đồng nhất trong các mắt xích của chuỗi NQTM chỉ có thể được bảo đảm khi các bên nhận quyền tuân thủ trung thành

mô hình kinh doanh, khai thác bí quyết kinh doanh một cách nhất quán trong toàn mạng lưới NQTM Để đạt được mục đích này, bên nhượng quyền thường đưa vào hợp đồng các điều khoản độc quyền về lãnh thổ, độc quyền cung cấp sản phẩm, và trong một số trường hợp còn ấn định giá bán lại sản phẩm Nếu như các thỏa thuận có bản chất HCCT này là cần thiết để duy trì sự ổn định của

hệ thống, bảo vệ bí quyết kinh doanh, uy tín của thương hiệu, thì mặt khác chúng

có thể ảnh hưởng tới lợi ích của bên nhận quyền, người tiêu dùng và các doanh nghiệp khác trên thị trường sản phẩm liên quan Bởi vậy, pháp luật cần có sự kiểm soát quá trình này nhằm đảm bảo tính lành mạnh trong các hoạt động thương mại Pháp luật kiểm soát HCCT trong hợp đồng NQTM được hiểu là

Trang 24

những quy định của pháp luật điều chỉnh, kiểm soát các hành vi HCCT nói chung và các điều khoản có liên quan trong hợp đồng NQTM nói riêng

Một số công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng, các điều khoản HCCT trong hợp đồng NQTM luôn cần thiết có sự điều chỉnh của pháp luật bởi: (i) Hành vi HCCT trong quan hệ NQTM tồn tại một cách tất yếu, khách quan và cần phải có sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh; (ii) Hoạt động NQTM là hoạt động thương mại tương đối đặc thù, cần phải có những ghi nhận những ngoại lệ nhất định cho phép hành vi HCCT được tiến hành trong một số trường hợp để đảm bảo tính đồng bộ, bảo vệ danh tiếng của hệ thống nhượng quyền (iii) Hành vi HCCT trong hoạt động NQTM được điều tiết khá mềm dẻo, có tính đến bản chất đặc thù của hoạt động NQTM Theo đó, cho phép một số hành vi HCCT mặc dù đạt đủ điều kiện của một hành vi HCCT bị cấm theo pháp luật cạnh tranh thông thường nhưng áp dụng trong quan hệ NQTM lại được phép nếu hành vi đó là cần thiết để đảm bảo tính đồng bộ của

hệ thống nhượng quyền; (iv) Nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới, đại diện là

Mỹ, mặc dù không có quy định riêng điều chỉnh hành vi HCCT trong hoạt động nhượng quyền, nhưng lại sử dụng án lệ như một nguồn luật quan trọng để giải quyết các tranh chấp liên quan đến hành vi HCCT trong hoạt động NQTM

Ở Việt Nam, hành vi HCCT và điều khoản HCCT trong hợp đồng NQTM chủ yếu chịu sự điều chỉnh của Luật Cạnh tranh 2004, ngoài ra còn có các quy định trong Luật thương mại 2005 và các văn bản hướng dẫn luật khác

Kể từ khi Luật Cạnh tranh năm 2004 được ban hành đã tạo cơ sở pháp

lý trong việc điều chỉnh lĩnh vực cạnh tranh trong các hoạt động thương mại Tuy nhiên, các quy định trong Luật Cạnh tranh năm 2004 và các quy định có liên quan còn khá mới mẻ với người dân nói chung và các chủ thể có hoạt động kinh doanh nói riêng Những quy định trong Luật Cạnh tranh năm 2004 mới điều chỉnh, kiểm soát những vấn đề cơ bản nhất, đưa ra những quy định chung nhất về hành vi TTHCCT trong nền kinh tế nói chung, khái quát cho tất cả các ngành, lĩnh vực, tìm ra giải pháp nhằm hạn chế tác động tiêu cực

Trang 25

của hành vi này, góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Đối với việc điều chỉnh, kiểm soát các TTHCCT trong từng lĩnh vực cụ thể, đặc biệt trong các hoạt động kinh doanh thương mại riêng biệt như NQTM thì PLCT Việt Nam chưa có quy định rõ ràng và hiện nay các văn bản pháp luật chuyên ngành cũng chưa đề cập nhiều đến các hành vi HCCT trong lĩnh vực mà mình điều chỉnh [28] Vì vậy, Luật Cạnh tranh hiện nay khó có thể điều chỉnh một cách hợp lý, hiệu quả đối với lĩnh vực đặc thù này Và khi áp dụng PLCT vào hoạt động NQTM cần phải có sự xem xét, đánh giá mối tương quan giữa những lợi ích cho nền kinh tế và người tiêu dùng với tác động HCCT một cách đáng kể của thỏa thuận ấy để làm cơ sở cho việc xử lý

Bản thân pháp luật về NQTM cũng chỉ quy định một cách chung nhất, khái quát về quyền và nghĩa vụ của các bên, đăng ký hoạt động NQTM…mà chưa có những quy định cụ thể liên quan đến việc điều chỉnh mối quan hệ giữa hoạt động này và các lĩnh vực chuyên ngành khác, mà cụ thể là các thỏa thuận của các bên trong hợp đồng NQTM Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam một cách sâu rộng, bởi hệ thống pháp luật về thương mại đang còn nhiều bất cập, vốn hiểu biết về pháp luật NQTM của các bên nhượng quyền và các bên dự kiến nhận quyền của Việt Nam còn hạn chế mà không có văn bản pháp luật nào có khả năng hướng dẫn các chủ thể kinh doanh về ranh giới giữa hai lĩnh vực pháp luật cạnh tranh và pháp luật về NQTM

Trong hợp đồng NQTM thường thấy xuất hiện quy định bên nhượng quyền yêu cầu bên nhận quyền không được chuyển cửa hàng khỏi vị trí đã được xác định trong hợp đồng; hay không được chuyển giao cửa hàng cho bên thứ ba bất kỳ mà không có sự đồng ý của bên nhượng quyền; hoặc bên nhượng quyền có quyền chuyển giao quyền thương mại cho nhiều bên nhận quyền khác nhau; bên nhận quyền có quyền độc quyền sử dụng thương hiệu, sản phẩm kinh doanh trong một khu vực địa lý xác định trong hợp đồng NQTM Việc pháp

Trang 26

luật về NQTM trao quyền khai thác độc quyền cho bên nhượng quyền và các bên nhận quyền có thể dẫn tới việc xung đột với pháp luật về cạnh tranh Tuy nhiên, không nên hiểu rằng sự xung đột này là cố hữu, bởi cả hai lĩnh vực pháp luật nói trên cùng chia sẻ một mục tiêu cơ bản là khuyến khích sự thịnh vượng của người tiêu dùng và sự phân phối hiệu quả các nguồn lực NQTM khuyến khích sự cạnh tranh bằng việc cổ vũ các bên nhượng quyền tập trung đầu tư vào việc phát triển các sản phẩm và quy trình mới, hoặc cải tiến sản phẩm tích cực thu hút khách hàng hơn nữa Sự thành công của NQTM là tương đối cao nên thu hút nhiều đối thủ cạnh tranh tiềm năng gia nhập thị trường, làm môi trường cạnh tranh sôi động hơn Tuy nhiên, như đã phân tích, pháp luật về NQTM trao cho các chủ thể một số độc quyền, việc này có thể gây ảnh hưởng đến cạnh tranh nên tùy tình huống cụ thể, căn cứ vào hậu quả HCCT so với ảnh hưởng khuyến khích cạnh tranh của mỗi quy định trong hợp đồng NQTM mà đánh giá một quy định có vi phạm PLCT hay không

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật về NQTM và pháp luật cạnh tranh đều là bộ phận của hệ thống pháp luật thương mại, vì thế giữa chúng

có mối quan hệ qua lại tác động lẫn nhau Hay nói theo quan điểm triết học Mác - Lênin thì pháp luật về NQTM và pháp luật về cạnh tranh là hai cái riêng trong một cái chung là hệ thống pháp luật thương mại Vì thế việc nghiên cứu mối quan hệ giữa chúng là việc nên làm, bởi “bất cứ cái riêng nào cũng nằm trong mối liên hệ dẫn tới cái chung” [12] Bởi vậy, để hoàn thiện hệ thống pháp luật thương mại quốc gia thì việc nghiên cứu mối quan hệ giữa NQTM và pháp luật cạnh tranh, đồng thời là mối quan hệ giữa chúng với pháp luật trong các lĩnh vực khác như SHTT là cần thiết

Ở Mỹ và Liên minh Châu Âu (EU), có khá nhiều những tranh chấp liên quan đến NQTM trên cơ sở PLCT Mặc dù pháp luật về NQTM ở các quốc gia này đã phát triển và luôn được hoàn thiện, nhưng các bên có liên quan vẫn sử dụng các quy định của PLCT để chống lại những hành vi TTHCCT trong HĐNQTM, chống lại các hành vi lạm quyền của bên nhượng quyền và cơ quan

Trang 27

nhà nước có thẩm quyền về cạnh tranh thậm chí vẫn ban hành các quy định về việc áp dụng PLCT trong HĐNQTM

Ở Việt Nam, HĐNQTM hiện đang rất phát triển và tương lai sẽ phát triển hơn nữa Do đó, việc nghiên cứu các quy định pháp luật về cạnh tranh khi thực hiện hoạt động NQTM cũng như các vụ tranh chấp liên quan là cần thiết nhằm có thể đảm bảo một môi trường cạnh tranh lành mạnh cho HĐNQTM diễn ra trên thị trường Việt Nam; đồng thời vận dụng những quy định đó nhằm bảo vệ doanh nghiệp Việt Nam, thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tích cực tham gia vào các HĐNQTM với nước ngoài, đặc biệt là với các nước có PLCT phát triển như Mỹ, EU…Từ đó, có thể tránh được các vụ kiện tụng liên quan tới các hành vi TTHCCT của bên nhượng quyền Việt Nam, giúp các cơ quan lập pháp,

cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tương ứng có những hiểu biết đầy đủ

và hoàn thiện các quy định pháp luật về NQTM nói chung, pháp luật về thương mại nói riêng theo hướng đưa pháp luật quốc gia phù hợp hơn với pháp luật quốc tế, đáp ứng xu thế hội nhập

Có thể nói, bản thân các điều khoản HCCT nếu tồn tại trong hợp đồng NQTM không phải lúc nào cũng vi phạm PLCT Vì điều dễ thấy rằng, các điều khoản này có thể là công cụ pháp lý để các bên tự bảo vệ quyền lợi của mình trong quá trình tiến hành hoạt động kinh doanh trên thương trường và chúng mang lại hiệu quả nhất định cho nền kinh tế Bởi thế, những điều khoản HCCT này hoàn toàn có thể được chấp nhận trong một giới hạn nhất định nếu tại giới hạn đó chúng không làm hạn chế một cách nghiêm trọng khả năng cạnh tranh và ảnh hưởng khuyến khách cạnh tranh của một TTHCCT mà ảnh hưởng khuyến khích cạnh tranh có phần lớn hơn thì điều khoản đó không được coi là vi phạm PLCT

1.2.2 Nội dung pháp luật về kiểm soát điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

Trên thực tế, việc tồn tại những xung đột giữa các quy phạm pháp luật điều chỉnh HCCT trong LCT và các luật chuyên ngành khác là điều hoàn toàn

Trang 28

có thể xảy ra Bởi những điều khoản mang tính chất HCCT hoặc tất yếu sẽ dẫn đến hậu quả HCCT xuất hiện rải rác ở một số văn bản pháp luật khác nhau Ngoài ra mỗi hoạt động đều có đặc thù riêng có thể sẽ dẫn đến trái với các quy định theo LCT Một trong những ví dụ cụ thể, đó là việc những hành vi HCCT

có thể được thiết lập trên cơ sở những quy định của pháp luật NQTM Luật Cạnh tranh của Việt Nam năm 2004 sử dụng phương pháp liệt kê 8 loại hành vi TTHCCT Theo quy định tại Điều 9 của Luật này thì 03 TTHCCT tại khoản e,

f, g, Điều 8 sẽ bị cấm tuyệt đối, những thỏa thuận còn lại vẫn có trường hợp được miễn trừ (quy định tại khoản 2, Điều 9 và Điều 10 của Luật Cạnh tranh năm 2004) Theo khoản 1 Điều 10 thì những trường hợp được miễn trừ chủ yếu dựa trên mục đích của TTHCCT mà các bên đưa ra

NQTM là một phương thức kinh doanh đặc biệt có liên quan đến nhiều khía cạnh pháp luật chuyên ngành khác Xét trong mối quan hệ với PLCT, trong hợp đồng NQTM có những điều khoản vốn là thể hiện bản chất của NQTM nhưng nếu xem xét dưới góc độ PLCT lại có thể vi phạm PLCT Luật Thương mại Việt Nam không điều chỉnh các TTHCCT trong HĐNQTM Theo PLCT của Mỹ, các hành vi HCCT thường phải được xem xét trên nguyên tắc lập luận hợp lý, tức nó phải được đưa vào phân tích một cách toàn diện trên cơ

sở bối cảnh kinh tế cụ thể Lúc này tất cả các ảnh hưởng khuyến khích cạnh tranh cũng như các ảnh hưởng HCCT của một hành vi HCCT sẽ và phải được phân tích, đánh giá chi tiết, kĩ lưỡng nhằm xác định xem HCCT đó về bản chất

có tác dụng khuyến khích cạnh tranh hay thực sự ngăn cản cạnh tranh Tuy nhiên, để đảm bảo tính kịp thời và minh bạch, Tòa án tối cao Mỹ đã khẳng định, nếu một TTHCCT thỏa mãn hai điều kiện: (i) Có các ảnh hưởng nghiêm trọng đến cạnh tranh và (ii) không có tác dụng thúc đẩy cạnh tranh để bù lại, tức không có sự biện minh hợp lý về tính hiệu quả của hành vi, thì thỏa thuận

đó mặc nhiên vi phạm PLCT mà không cần phải tiến hành phân tích toàn diện theo nguyên tắc lập luận hợp lý Điều này đã khắc phục được nhược điểm trong nguyên tắc lập luận hợp lý, bởi để xác định được đâu là một HCCT đã khó,

Trang 29

việc phân tích các khía cạnh kinh tế của một TTHCCT lại càng khó hơn Các phân tích kinh tế như vậy thường rất phức tạp, kéo dài và không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả Hơn nữa, việc quy định rõ ràng hai điều kiện để một TTHCCT được coi là mặc nhiên vi phạm PLCT còn tạo niềm tin cho các doanh nghiệp, các thương nhân, giúp họ có thể kiểm soát được các thỏa thuận của chính họ có xu hướng HCCT liệu có vi phạm PLCT hay không Như vậy, theo pháp luật quốc tế và một số quốc gia thì các điều khoản TTHCCT trong hợp đồng NQTM được pháp luật điều chỉnh theo hướng:

Thứ nhất, những điều kiện hạn chế mà các bên có thể đưa vào hợp

đồng, tuy nhiên, chúng có thể được coi là không có hiệu lực theo yêu cầu của

cơ quan quản lý cạnh tranh hay các cơ quan chức năng khác nếu những thỏa thuận hạn chế này xuất phát từ đặc điểm thị trường tương ứng và điều kiện kinh tế của các bên, trái với pháp luật quốc gia hay quốc tế về cạnh tranh

Những hạn chế này chỉ được cho phép ở một chừng mực nhất định mà chúng liên quan đến sự cần thiết để bảo vệ quyền SHTT và công nghiệp của bên NQTM Các bên có thể đưa vào trong hợp đồng các điều kiện, theo đó bên nhận quyền có các nghĩa vụ sau: (i) Bán hàng hay sử dụng các đối tượng của hợp đồng phù hợp với chất lượng bên nhượng quyền quy định; (ii) Chỉ được bán loại hàng hóa do bên nhượng quyền sản xuất, nếu bên nhượng quyền không có hàng thì bán loại hàng hóa được mua ở những người khác do bên nhượng quyền chỉ định, có tính đến những tiêu chuẩn khách quan về chất lượng hàng hóa; (iii) Không được cạnh tranh với thị trường của những người nhận quyền khác trong cùng lĩnh vực, ngay cả trong thời hạn hợp lý được các bên thỏa thuận trong hợp đồng sau khi hợp đồng hết hiệu lực, thời hạn này thường

là không quá một năm; (iv) Không được phép đầu tư tài chính vào xí nghiệp của đối thủ cạnh tranh của bên nhượng quyền, nếu sự tham gia này làm cho sản phẩm của họ có tính cạnh tranh hơn; (v) Chỉ được phép bán hàng hay cung cấp dịch vụ là đối tượng của HĐNQTM cho người tiêu dùng cuối cùng, cho mạng lưới tiêu thụ khác do bên nhượng quyền tổ chức hay được sự đồng ý của bên

Trang 30

nhượng quyền; (vi) Phải áp dụng những biện pháp để cho việc bán hàng hay cung cấp dịch vụ là đối tượng của hợp đồng tốt hơn, thỏa mãn những yêu cầu khác của bên nhượng quyền, trong đó có yêu cầu theo đó bên nhận quyền luôn phải có một lượng hàng tối thiểu trong lưu thông cũng như bảo hành cho khách hàng; (vii) Phải trả những khoản phí có liên quan đến quảng cáo hay một số khoản khác co mục đích

Thứ hai, các TTHCCT không trái với pháp luật về cạnh tranh và các

bên có thể đưa vào hợp đồng Theo quy định Điều 2 Nghị quyết số 4087/88 của

EU, các điều kiện về hạn chế cạnh tranh sau đây được coi là không trái với pháp luật về cạnh tranh của EU: (i) Các điều kiện quy định bên nhận quyền được độc quyền sử dụng trên lãnh thổ được quy định trong hợp đồng; (ii) Các điều kiện cấm bên nhận quyền chuyển giao các quyền được giao cho bên thứ ba ngoài lãnh thổ quy định; (iii) Các điều kiện, theo đó bên nhận quyền có quyền

sử dụng các quyền được giao chỉ trên lãnh thổ mà các bên quy định trong hợp đồng; (iv) Hạn chế bên nhận quyền bán hàng ra ngoài lãnh thổ quy định; (v) Trong quá trình cung cấp dịch vụ hay sản xuất, bên nhận quyền không được bán hay sử dụng hàng hóa của đối thủ cạnh tranh của nhượng quyền hay của những người nhận quyền khác, ngoại trừ các thiết bị dự trữ hay các linh kiện thay thế

Thứ ba, những TTHCCT mà các bên khi tham gia vào HĐNQTM không

thể đưa vào trong hợp đồng, bao gồm: (i) Thỏa thuận về phân chia thị trường

giữa các xí nghiệp sản xuất hàng hóa hay cung cấp dịch vụ giống nhau hay người tiêu dùng coi hàng hóa họ sản xuất giống nhau hay giữa nhượng quyền

và bên nhận quyền; (ii) Cấm bên nhận quyền có khả năng mua hàng hóa thay thế của người khác trong một số trường hợp ngoại lệ, ví dụ, trong trường hợp bên nhận quyền hết hàng dự trữ, tuy nhiên bên nhượng quyền không có hàng hóa để cung cấp cho họ; (iii) Không cho phép bên nhận quyền mua nguyên liệu của người thứ ba do bên nhận quyền chỉ định vì những nguyên nhân không liên quan đến việc bảo vệ quyền SHTT hay giữ uy tín của bên nhượng quyền; (iv)

Trang 31

Nghiêm cấm sử dụng know-how sau khi hợp đồng hết hiệu lực, nếu know-how

đã được mọi người biết hay có thể tiếp cận chúng một cách dễ dàng; (v) Cho phép bên giao đặc quyền quy định giá hàng hóa (hoặc giá tối thiểu, giá tối đa) nếu giá không được các bên thỏa thuận; (vi) Cấm giao hàng cho người tiêu dùng ngoài lãnh thổ được quy định trong hợp đồng; (vii) Ngăn cấm bên nhận quyền bán hay sản xuất hàng tốt hơn so với hàng được bên nhượng quyền tự sản xuất [25, tr32]

Tuy nhiên, việc xác định cụ thể những thỏa thuận mang tính HCCT nào của các bên chủ thể NQTM là vi phạm PLCT, những thỏa thuận nào không vi phạm PLCT, và những thỏa thuận nào mà sự vi phạm hay không vi phạm PLCT còn tùy từng trường hợp? Hiện nay, pháp luật Việt Nam vẫn còn mơ hồ

và không có quy định rõ ràng, ngay cả trong pháp luật thương mại, pháp luật cạnh tranh hay các văn bản pháp luật chuyên ngành, do đó, gây khó khăn trong hoạt động quản lý của cơ quan có thẩm quyền và thiếu thống nhất, minh bạch trong HĐNQTM của các chủ thể kinh doanh

Trang 32

Kết luận Chương 1

NQTM là một hình thức kinh doanh trong đó bên nhượng quyền trao cho bên nhận quyền quyền khai thác nhãn hiệu và bí quyết kinh doanh Mục đích của NQTM là nhân rộng mô hình kinh doanh đã được bên nhượng quyền thực hiện thành công trên một phạm vi địa lý nhất định Để đạt được mục đích này, bên nhượng quyền thường đưa vào hợp đồng các điều khoản độc quyền về lãnh thổ, độc quyền cung cấp sản phẩm, và trong một số trường hợp còn ấn định giá bán lại sản phẩm…Tại Chương 1 của Luận văn là những phân tích khái quát nhất về điều khoản HCCT, chủ yếu là điều khoản về TTHCCT trong hợp đồng NQTM Những nội dung này sẽ là cơ sở lý luận giúp có cái nhìn chính xác để tiếp tục đi sâu tìm hiểu về các khía cạnh nội dung mà luận văn đề cập liên quan

tới các điều khoản HCCT trong hợp đồng NQTM

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH ĐIỀU KHOẢN

HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN

THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 NHẬN DIỆN MỘT SỐ ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

Không thể phủ nhận được thực tế là các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường luôn hướng tới lợi nhuận thông qua hoạt động cạnh tranh Chính vì vậy, trong bất kỳ hoạt động thương mại nào cũng luôn tiềm ẩn xu thế này và HĐNQTM cũng không phải là ngoại lệ Điều này được thể hiện ở chỗ, các bên trong hệ thống nhượng quyền là các chủ thể độc lập nhau về mặt tư cách pháp lý và tài chính, trong khi họ lại cùng kinh doanh một loại sản phẩm theo một phương thức như nhau, dẫn tới họ cùng tiếp cận chung một đối tượng khách hàng Như một quy luật, để thu hút khách hàng về phía mình, các bên trong hệ thống nhượng quyền sẽ tìm mọi cách cạnh tranh với nhau trên mọi phương diện (như: giá cả, chất lượng, phương thức cung ứng dịch vụ, chế độ chăm sóc khách hàng…), khi đó tính đồng bộ trong hệ thống nhượng quyền thương mại có khả năng bị phá vỡ Chính vì vậy, nếu giữa các bên không có ràng buộc nhằm cấm hoặc HCCT trong hệ thống thì đương nhiên hành vi cạnh tranh giữa các bên trong hệ thống nhượng quyền sẽ tất yếu phát sinh và tính đồng bộ của hệ thống nhượng quyền theo đó cũng không giữ vững được Do nhận thức được khả năng và nhu cầu cạnh tranh giữa các bên trong hệ thống nhượng quyền là tất yếu, khách quan nên khi thiết lập quan hệ nhượng quyền, các bên thường có những hành vi nhằm HCCT giữa các bên trong hệ thống Để viện dẫn cho tính hợp lý của các hành vi hạn chế cạnh tranh này, các bên thường vin vào lý do nhằm đảm bảo tính đồng bộ trong toàn bộ hệ thống nhượng quyền để lẩn tránh sự kiểm soát của pháp luật cạnh tranh Với sự tồn tại của cạnh tranh và hành vi hạn chế cạnh tranh giữa các bên trong hệ thống

Trang 34

nhượng quyền diễn ra một cách phổ biến và khách quan như trên, đặt ra nhu cầu điều tiết hành vi cạnh tranh của pháp luật nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trong quan hệ nhượng quyền thương mại

Vậy để kiểm soát chặt chẽ các hành vi HCCT trên thực tế, cần nhận diện được các điều khoản HCCT cụ thể, bởi mỗi mỗi loại đối tượng của hợp đồng NQTM sẽ có khả năng dẫn đến HCCT khác nhau tuỳ thuộc vào ngữ cảnh kinh

tế và nội dung cụ thể của hợp đồng Do đó, các hành vi HCCT trong hoạt động NQTM được chia thành nhiều dạng khác nhau và có những đặc điểm nhận diện, cũng như dẫn đến những hậu quả pháp lý khác nhau Đối với TTHCCT, Luật cạnh tranh và Nghị định số 116/2006/NĐ-CP đã quy định có 8 loại TTHCCT đồng thời đưa ra các dấu hiệu đặc trưng của từng loại thoả thuận này cũng như hậu quả pháp lý áp dụng đối với các chủ thể thực hiện các thoả thuận

đó Theo đó, một số TTHCCT mặc nhiên bị cấm, một số TTHCCT bị cấm trong điều kiện nhất định và một số TTHCCT không bị cấm thực hiện [28, tr 3] Từ thực tiễn Việt Nam, các dạng điều khoản HCCT trong hợp đồng NQTM

có thể được xác định như sau:

2.1.1 Điều khoản phân chia thị trường kinh doanh

Thực chất các TTHCCT về khu vực kinh doanh, về khách hàng trong hoạt động NQTM thường xuất hiện trong hợp đồng NQTM độc quyền, trong một chừng mực nhất định, là các thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác (bên nhượng quyền khác và bên nhận quyền khác) tham gia thị trường, phát triển kinh doanh hoặc loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên thỏa thuận Cụ thể, với mục đích để cân bằng lợi ích của bên nhận quyền, đảm bảo không có sự cạnh tranh giữa các bên nhận quyền trong một khu vực địa lý nhất định, đồng thời đạt hiệu quả kinh doanh cho cả hệ thống, bên nhượng quyền thường quyết định số lượng cửa hàng nhượng quyền trên một khu vực địa lý nhất định bằng việc phân chia khu vực kinh doanh cụ thể cho mỗi bên nhận quyền Quy định này cấm bên nhận quyền kinh doanh ngoài phạm vi được cho phép bởi bên nhượng quyền và chỉ được

Trang 35

khai thác một cơ sở duy nhất do bên nhượng quyền cấp Điều này tương đồng trong quy định của pháp luật Việt Nam và các nước khác trên thế giới Ví dụ, trong thoả thuận NQTM của hệ thống nhà hàng Burger King, Hoa Kỳ quy định:

“NQTM này dành cho địa điểm được quy định cụ thể và không cấp hoặc ngụ ý cấp bất kỳ sự độc quyền đối với khu vực, thị trường hoặc lãnh thổ nào cho Bên nhận quyền” [29] Hay hệ thống nhượng quyền của KFC, bên nhượng quyền đồng ý bảo trợ độc quyền trong bán kính 1,5 dặm với dân số khoảng 30.000 người Ở Việt Nam, các thỏa thuận phân chia thị trường trong hoạt động của hai hệ thống nhượng quyền trên cũng được áp dụng tương tự Quy định về việc phân chia thị trường và HCCT giữa các bên trong hợp đồng NQTM là một trong những đặc trưng của HĐNQTM nhằm bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ nhượng quyền Do đó, bằng sự thoả thuận mỗi bên nhận quyền chỉ kinh doanh một cơ sở duy nhất trong một phạm vi nhất định, đã tạo

ra vị thế độc quyền trong khu vực cho mỗi bên nhận quyền Thoả thuận dọc này có thể hạn chế quyền tự do kinh doanh và khả năng phát triển của bên nhận quyền, và sẽ tạo ra sự hạn chế (theo chiều ngang) đối với các doanh nghiệp khác kinh doanh cùng lĩnh vực ngành nghề gia nhập thị trường ở những khu vực đã được bên nhượng quyền phân chia cho các bên nhận quyền Đồng thời, làm hạn chế khả năng lựa chọn nhà cung cấp sản phẩm hàng hoá, cung ứng dịch vụ của người tiêu dùng trong một khu vực địa lý nhất định Tuy nhiên, không phải mọi thoả thuận phân chia khu vực địa lý để kinh doanh đều vi phạm cạnh tranh, để xác định hành vi này có vi phạm PLCT hay không còn tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể Có trường hợp, những TTHCCT dạng này có thể tạo chỗ đứng cho các chủ thể tham gia thỏa thuận trên thương trường, hay cũng nhờ những TTHCCT này mà bên nhượng quyền có thể duy trì và phát triển HĐNQTM của mình, qua đó góp phần thúc đẩy cạnh tranh giữa các bên nhượng quyền của một loại sản phẩm Lúc này, giá trị khuyến khích cạnh tranh của các thỏa thuận này thường lớn hơn ảnh hưởng HCCT, do vậy, có thể nói không phải mọi TTHCCT về phân chia khu vực địa lý đều vi phạm PLCT

Trang 36

Ở Việt Nam, những hạn chế về thị trường địa lý, khách hàng này rơi vào trường hợp các TTHCCT quy định tại khoản 6 và 7 Điều 8 Luật cạnh tranh năm 2004 và Điều 19, Điều 20 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP [5]

Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Cạnh tranh, các TTHCCT này bị cấm (vi phạm mặc nhiên) So sánh với quy định tương ứng của pháp luật Mỹ,

EU, thì ở đây các TTHCCT dạng này có thể nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong thỏa thuận, khuyến khích và tạo động lực cho các bên đầu tư phát triển kinh doanh Nếu không cho phép những HCCT dạng này thì

sẽ tạo tâm lí đề phòng, cẩn trọng của các bên và do đó lẽ tất nhiên sẽ hạn chế HĐNQTM Trong hợp đồng NQTM mẫu trong lĩnh vực nhà hàng thức ăn nhanh của Hoa Kỳ có quy định: “Bên nhận quyền đồng ý rằng trong thời hạn hợp đồng, bên nhận quyền sẽ không kinh doanh bất cứ nhà hàng nào hoặc loại thức ăn đã chế biến nào, giống hệt hoặc tương tự kiểu kinh doanh của bên nhượng quyền” Đây cũng chính là quy định trong hợp đồng NQTM ở vụ Pronuptia năm 1985 (Tòa án Tư pháp Châu Âu), theo phán quyết của Tòa án này, quy định trên có thể được coi là hợp lý với mục đích bảo vệ bí quyết của

hệ thống NQTM, nhưng vẫn có thể coi là TTHCCT giữa các thành viên của hệ thống Việc xét các thoả thuận đó có vi phạm PLCT hay không còn phụ thuộc vào việc giữa sự cạnh tranh của các thành viên trong hệ thống và sự cạnh tranh giữa hệ thống NQTM này và hệ thống NQTM khác thì cạnh tranh nào được coi trọng hơn Trong vụ Pronuptia thì những quy định như: (i) Cấm bên nhận quyền mở một cửa hiệu có đặc điểm giống hệt hoặc tương tự, trong một khu vực mà anh ta có thể cạnh tranh với một thành viên của hệ thống NQTM, trong thời hạn hợp đồng còn giá trị và trong một thời hạn hợp lý sau khi hết hạn hợp đồng; (ii) Bên nhận quyền có nghĩa vụ không chuyển nhượng cửa hiệu của mình cho bên khác nếu không có sự chấp nhận từ trước của bên nhượng quyền,

là cực kỳ cần thiết cho việc bảo đảm rằng bí quyết và sự hỗ trợ của bên nhượng quyền không làm lợi cho các đối thủ cạnh tranh, vì vậy không cấu thành các HCCT theo quy định của pháp luật EU Thế nhưng những quy định dạng này

Trang 37

theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam có thể được quy là hành vi “thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ…” (Khoản 2 Điều 8 Luật Cạnh tranh) và sẽ bị cấm theo khoản 2 Điều 9 của Luật này nếu “các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên những thị trường liên quan từ 30% trở lên” (có thể được miễn trừ theo khoản 1 Điều 10) Tuy nhiên, thực tế hiện nay, PLCT cũng như pháp luật NQTM của Việt Nam đều chưa có dự liệu cụ thể về trường hợp này Mặt khác, việc bên nhận quyền được độc quyền trong một khu vực kinh doanh sẽ cản trở bên thứ ba ký kết hợp đồng NQTM để kinh doanh tại khu vực nêu trên, vậy đây có thể được coi là “thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh” (Khoản 6 Điều 8), một thỏa thuận bị cấm tuyệt đối tại khoản 1 Điều 9, thì pháp luật Việt Nam cũng chưa có quy định và hướng dẫn cụ thể

Bên cạnh những thỏa thuận thuộc dạng phân chia khu vực kinh doanh như đã đề cập, hành vi phân chia thị trường còn có biểu hiện ở các thỏa thuận

về phân chia khách hàng Ví dụ: (i) Bên nhượng quyền đảm bảo việc không tranh giành khách hàng với bên nhận quyền (cam kết không mở thêm bất kỳ cửa hàng nào trên phạm vi lãnh thổ đã quy định sẵn trong hợp đồng NQTM hay không bán hàng cho bên thứ 3 bất kỳ khác trong phạm vi lãnh thổ đó); (ii) Cấm bên nhận quyền quảng cáo ngoài phạm vi lãnh thổ được quy định sẵn trong hợp đồng NQTM; (iii) Bên nhận quyền có nghĩa vụ chỉ bán hàng cho người tiêu dùng hoặc bên nhận quyền khác

2.1.2 Các điều khoản thoả thuận mua bán cả gói

Thoả thuận này thường được áp dụng trong hình thức NQTM dịch vụ về lĩnh vực ăn uống, nhà hàng, khách sạn Bên nhận quyền khai thác dịch vụ có thể bị áp đặt các thoả thuận độc quyền trong việc cung ứng những thiết bị, hàng hoá đi kèm Một ràng buộc bán kèm được hiểu là một hành vi trong đó một nhà cung cấp hàng hoá, như một điều kiện để cung cấp hàng hoá đó yêu cầu khách hàng phải: (i) Mua lại một hàng hoá khác từ nhà cung cấp hoặc người do nhà cung cấp chỉ định; hoặc (ii) Hạn chế sử dụng hoặc phân phối,

Trang 38

cùng với hàng hoá ràng buộc, một hàng hoá khác không thuộc nhãn hiệu do nhà cung cấp hoặc người được nhà cung cấp chỉ định nêu rõ, và một hành vi trong đó nhà cung cấp hàng hoá lôi kéo khách hàng đáp ứng một yêu cầu đặt ra trong (i) hoặc (ii) bằng cách đề nghị cung cấp hàng hoá đó cho khách hàng đó với những điều kiện hay điều khoản ưu đãi hơn nếu khách hàng đó đồng ý đáp ứng một trong những điều kiện trên Hay nói cách khác, khi bên bán sẽ bán một sản phẩm chính với điều kiện bên mua đồng ý mua một sản phẩm khác hoặc/và phải mua sản phẩm được bán kèm từ một doanh nghiệp khác do bên nhượng quyền chỉ định hoặc ít nhất đồng ý không mua sản phẩm được bán kèm từ một doanh nghiệp khác Ví dụ, hệ thống nhà hàng Burger King quy định: “Tất cả thực phẩm, đồ uống và các món khác sẽ được phục vụ và bán trong bao bì đáp ứng các quy cách của BKC Chỉ có thực phẩm, nguồn cung ứng, các sản phẩm giấy và bao bì từ các nguồn đã được phê duyệt bởi BKC sẽ được sử dụng tại Nhà hàng NQTM” [28]

Theo PLCT của Hoa Kỳ, Điều 1 Đạo luật Sherman, một thoả thuận ràng buộc bán kèm vi phạm LCT nếu người bán có năng lực thị trường mạnh trên thị trường sản phẩm chính và nếu thoả thuận ràng buộc đó ảnh hưởng lớn đến hoạt động thương mại trên thị trường sản phẩm được bán kèm Và việc chứng minh một thoả thuận bán kèm HCCT, phải thoả mãn các điều kiện: (i) Sản phẩm chính và sản phẩm được bán kèm là hai sản phẩm riêng biệt; (ii) Bên bán đã thực sự ép buộc bên mua Trong án lệ Siegel v Chicken Delight, Inc, chuỗi nhà hàng bán thức ăn nhanh Chicken Delight quy định bên nhận quyền phải mua các bếp nấu hoặc chảo rán, sản phẩm bao bì, và các hỗn hợp thực phẩm và những vật liệu đi kèm khác từ bên nhượng quyền với giá cao hơn giá các sản phẩm cùng loại do nhà cung cấp khác bán ra Dấu hiệu phân biệt sự bán kèm

đó là việc cấm các đối thủ cạnh tranh tiếp cận thị trường sản phẩm bị ràng buộc, không phải vì bên áp đặt thoả thuận có một sản phẩm siêu hạng trong thị trường đó, mà vì quyền lực hoặc ảnh hưởng được áp dụng bởi sản phẩm ràng buộc Các nguyên tắc điều chỉnh thoả thuận ràng buộc được thiết kế để nhắm

Trang 39

vào, không chỉ là sự kết hợp của các đồ vật có thể chia tách về mặt vật chất, mà còn vào việc sử dụng một sản phẩm mong muốn chi phối để bắt ép mua một mặt hàng riêng biệt thứ hai [23] Trong thực tế, việc bị ép buộc mua một sản phẩm bị ràng buộc thứ hai là một điều kiện để được áp dụng cho việc mua một sản phẩm ràng buộc chi phối Bằng việc ngăn cản các đối thủ cạnh tranh xâm nhập thị trường sản phẩm bị ràng buộc, các thoả thuận ràng buộc hầu như không thể sử dụng cho bất kỳ mục đích nào không phải là sự triệt tiêu cạnh tranh Một thoả thuận bán hàng có ràng buộc bán kèm được coi là vi phạm PLCT phải được xem xét trong ngữ cảnh chung “người bán có năng lực thị trường mạnh trên thị trường sản phẩm chính và nếu thoả thuận ràng buộc đó ảnh hưởng lớn đến hoạt động thương mại trên thị trường sản phẩm được bán kèm” và nội dung thoả thuận cụ thể của hợp đồng

2.1.3 Điều khoản ấn định giá bán lại

Ấn định giá bán lại được hiểu là hành vi của một doanh nghiệp (doanh nghiệp sản xuất hoặc bán buôn) trong cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho một doanh nghiệp khác để ấn định giá bán lại sản phẩm đó nhằm ấn định và duy trì mức giá độc quyền của doanh nghiệp để ngăn ngừa sự cạnh tranh từ các đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan (ấn định giá tối thiểu) hoặc bảo đảm chiến lược bán phá giá của doanh nghiệp (ấn định giá tối đa dưới mức chi phí sản xuất) [23] Việc thoả thuận áp đặt giá bán hàng hoá, dịch vụ nhằm ấn định một mức giá trần hoặc mức giá sàn hoặc một mức giá đề nghị không mang tính chất ràng buộc hoặc bất kỳ mức giá đề nghị nào được quảng cáo bởi bên nhượng quyền Theo đó, bên nhận quyền có nghĩa vụ không bán hàng hoá dưới mức giá bán lẻ tối thiểu, là mức giá sàn được thoả thuận để giá không thể xuống thấp hơn, hay mức giá bán lại tối đa, là mức giá trần được thoả thuận để giá bán không được cao hơn hoặc chỉ bán hàng hoá theo mức giá đã ấn định Trong hợp đồng của Pronuptia de Paris GmbH, giá cả được đề nghị bởi bên nhượng quyền

về giá bán lẻ, mà không phương hại đến quyền quy định giá bán riêng của bên nhận quyền, nhưng rất khó có thể đưa ra một giá thấp hơn giá mà bên nhượng

Trang 40

quyền khuyến nghị vì chi phí đầu vào đã quá cao do những điều kiện ràng buộc khác được quy định bởi bên nhượng quyền [27] Trong nhiều trường hợp, bên nhượng quyền không ấn định giá bán trong hợp đồng mà chỉ đưa ra đề nghị giá bán lẻ, về mặt hình thức thì thoả thuận này nhằm tạo quyền tự chủ cho bên nhận quyền, không HCCT nhưng thực tế thì khó có bên nhận quyền nào có thể đưa ra mức giá cao hơn hoặc thấp hơn Ví dụ một số hệ thống NQTM tại Việt Nam hiện nay như Highland Coffee, KFC Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy giá bán lẻ tại các cửa hàng nhận quyền cùng một hệ thống nhượng quyền này hầu như không khác nhau, và như vậy trong trường hợp này, có thể gọi đây là các thỏa thuận ngầm giữa các bên trong quan hệ nhượng quyền Trước đây, trong chuỗi cửa hàng phở 24 tại Việt Nam công khai ấn định giá của cả hệ thống là 24 ngàn đồng một tô phở, đến nay, tuy không công khai nhưng tất cả các cửa hàng đều bán theo giá đồng nhất tuỳ theo mỗi thời điểm khác nhau

Do đó, những thoả thuận nhằm duy trì giá bán lại có thể dẫn đến những

hệ quả phản cạnh tranh, nếu duy trì mức giá bán lại tối đa có thể có lợi cho công chúng và thường được miễn trừ trong LCT của các nước, nhưng thoả thuận đó trên thực tế có thể khiến các công ty nhỏ, không có lợi thế

về kinh tế bị loại khỏi thị trường, bởi họ muốn đưa ra mức giá cao hơn mức giá trần đã được qui định để tránh lỗ Đối với hệ thống NQTM, việc duy trì giá bán lại ở mức tối đa sẽ dẫn tới hình thành mức giá phổ biến trên thị trường và như vậy sẽ loại bỏ cạnh tranh về giá Mặt khác, nếu duy trì giá bán lại tối thiểu sẽ dẫn đến hạn chế mức độ cạnh tranh giữa các bên nhận quyền về giá, thoả thuận này làm thui chột sự sáng tạo linh hoạt (hạn chế sự cạnh tranh) trong hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền và làm gia tăng khả năng thông đồng về giá

Bên nhận quyền mua sản phẩm với mục đích là để bán lại chứ không phải để tiêu dùng Là một thương nhân độc lập, về nguyên tắc bên nhận quyền phải được tự do ấn định giá bán lại các sản phẩm mà mình đã mua của bên nhượng quyền Tuy nhiên, quan điểm của bên nhượng quyền lại có thể khác Mục đích của điều khoản HCCT không phải chỉ là để bên nhận quyền bán lại

Ngày đăng: 27/11/2017, 16:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Nguyễn Thị Vân Anh, Một số bất cập điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh của Việt Nam, tạp chí luật học số 4/ 2011, tr3 Khác
2. Bộ Công thương, Cục Quản lý Cạnh tranh, Báo cáo Rà soát các quy định của Luật cạnh tranh Việt Nam, ngày 8 tháng 10 năm 2012 Khác
3. Bộ Thương mại, Thông tư số 09/2006/TT-BTM ngay 25 tháng 5 năm 2006 của Bộ Thương mại về hướng dẫn đăng ký HĐNQTM Khác
4. ThS. Nguyến Bá Bình, Nhượng quyền thương mại - bản chất và mối quan hệ với hoạt động chuyển giao công nghệ, hoạt động li-xăng,Trang tin điện tử Vietnamfranchise, 2010 Khác
5. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh Khác
6. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh Khác
7. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết về HĐNQTM Khác
8. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh Khác
9.TS. Bùi Ngọc Cường, Hoàn thiện khung pháp lý về nhượng quyền thương mại, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 103, 8/2017 Khác
10. Nguyễn Thị Dung, Một số vấn đề pháp lý về hoạt động nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội, 2008 Khác
11. Đặng Thị Hà, Pháp luật Việt Nam về hợp đồng nhượng quyền thương mại, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật - Đại học Huế, 2015 Khác
13. Ths. Hằng Nga, Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, Nxb Tổng hợp TPHCM, 2009 Khác
14. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hiến pháp năm 2013, Nxb. Tư pháp, Hà Nội Khác
15. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật thương mại năm 2005, Nxb. Tư pháp, Hà Nội Khác
16. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Cạnh tranh năm 2004, Nxb. CTQG, Hà Nội Khác
17. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2006, Nxb. Tư pháp, Hà Nội Khác
18. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Cạnh tranh Việt Nam, Nxb Công an nhân dân Khác
19. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam, Nxb Công an nhân dân Khác
20. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Một số hợp đồng đặc thù trong hoạt động thương mại và kĩ năng đàm phán, soạn thảo, Nxb Công an nhân dân, 2012 Khác
21. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Nxb Công an nhân dân Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm