Nhờ việc áp dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật vào thực tiễn sản xuất mà trong những năm qua chăn nuôi lợn đã có bước phát triển mạnh mẽ, nhưng trong thời đại CNH – HĐH thì việc chăn n
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên - năm 2017
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn: ThS Trần Nhật Thắng
Thái Nguyên - năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian thực tập từ ngày 18 tháng 5 năm 2016 đến ngày 17 tháng
11 năm 2016 tại trại lợn Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, đến nay em đã hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp của mình
Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa, cùng toàn thể các thầy,
cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo và giúp đỡ
em trong suốt thời gian học tập tại trường và lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Ths Trần Nhật Thắng, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập, giúp em hoàn thành khóa luận này
Tiếp đến, em cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ kỹ thuật, công nhân viên tại trại Bùi Huy Hạnh - Tứ Kỳ - Hải Dương đã hướng dẫn em rèn luyện nâng cao tay nghề, giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Huyên
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Phác đồ điều trị 27
Bảng 4.1 Lịch sát trùng 30
Bảng 4.2 Lịch tiêm vacxin phòng bệnh của trang trại 32
Bảng 4.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 39
Bảng 4.4: Cơ cấu đàn lợn trong 3 năm từ năm 2014 đến năm 2016 40
Bảng 4.5: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo tuổi 41
Bảng 4.6: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo giống 42
Bảng 4.7 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung qua các tháng theo dõi 43
Bảng 4.8 Hiệu quả điều trị 44
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo giống 42Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo các tháng theo dõi 44Hình 4.3: Biểu đồ hiệu quả điều trị 45
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2:TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Điều kiện khí hậu 4
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại 4
2.1.4 Cơ sở vật chất của trại 5
2.2 Tổng quan tài liệu, kết quả nghiên cứu tình hình trong và ngoài nước 6
2.2.1 Tổng quan tài liệu 6
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới 21
Phần 3: ĐỐI TƯƠNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26 3.1 Đối tượng 26
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 26
3.3 Nội dung thực hiện 26
3.3.1 Đánh giá công tác chăn nuôi, vệ sinh thú y của trại 26
3.3.2 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái nuôi tại trại 26
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 26
Trang 83.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 26
3.4.2 Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin) 26
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 28
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 29
4.1.1 Công tác chăn nuôi 29
4.1.2 Công tác thú y 32
4.1.3 Các công tác khác 39
4.2 Kết quả thực hiện đề tài 40
4.2.1 Cơ cấu đàn lợn trong 3 năm gần đây 40
4.2.2 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo tuổi 41
4.2.3 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo giống 42
4.2.4.Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung qua các tháng theo dõi 43
4.2.5 Hiệu quả điều trị 44
Phần 5:KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Đề nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 9Trên thế giới, ngành chăn nuôi lợn phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng Sản lượng thịt hằng năm đạt 80 triệu tấn Còn riêng ở Việt Nam, chăn nuôi lợn cũng đang có tốc độ tăng trưởng khá nhanh, só lượng đầu lợn đứng thứ 7 thế giới (năm 2007)
Nhờ việc áp dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật vào thực tiễn sản xuất mà trong những năm qua chăn nuôi lợn đã có bước phát triển mạnh mẽ, nhưng trong thời đại CNH – HĐH thì việc chăn nuôi lợn không thể chỉ dừng
ại ở đó mà cần phát triển nhanh, mạnh, bền vững, quản lý tốt đàn lợn đặc biệt
là đàn lợn nái sinh sản hơn nữa
Ở lợn nái sinh sản thường thấy mắc nhiều bệnh trong đó không thể không nói đến bệnh: viêm tử cung, bệnh gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế đối với các cơ sở chăn nuôi
Xuất phát từ đòi hỏi thực tế của sản xuất cũng như để thấy rõ những ảnh hưởng của bệnh tật, công tác chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh phòng bệnh
đối với chăn nuôi lợn nái sinh sản, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương và biện pháp điều trị”
Trang 101.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
- Đánh giá tình hình chăn nuôi, vệ sinh phòng bệnh của trại
- Tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại trang trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
- Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung và rút ra phác
đồ điều trị tốt hơn
1.2.2 Yêu cầu
Theo dõi, quan sát được tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản và đưa ra biện pháp phòng trị bệnh
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Tứ Kỳ là một huyện thuộc tỉnh Hải Dương nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ Cũng giống như các huyện khác của tỉnh Hải Dương, Tứ Kỳ nằm hoàn toàn ở giữa vùng hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình, đất đai của huyện được hình thành nhờ sự bồi đắp của hệ thống sông này phía Đông bắc giáp huyện Thanh Hà (ranh giới là sông Thái Bình); phía Tây bắc giáp thành phố Hải Dương; phía tây giáp huyện Gia Lộc; phía tây nam giáp huyện Ninh Giang, phía Đông nam giáp huyện Vĩnh Bảo (ranh giới là sông Luộc); phía đông giáp huyện Tiên Lãng (ranh giới là một đoạn sông Thái Bình), đều là các huyện của thành phố Hải Phòng; Ngã ba sông Luộc đổ vào sông Thái Bình nằm trên ranh giới này Hầu như xung quanh huyện được bao bọc bởi các con sông nhỏ của hệ thống sông Thái Bình Chính giữa địa bàn huyện là con sông Tứ Kỳ, con sông này chảy qua huyện Ninh Giang theo hướng từ Tây sang Đông, đổ vào huyện Tứ Kỳ ở địa phận xã rồi chạy dọc theo chiều dài của huyện theo hướng Tây Bắc - Đông nam, men theo thị trấn Tứ Kỳ ở đoạn giữa Thị trấn, xã Văn Tố với xã Minh Đức, đến đoạn giữa xã Phượng Kỳ và
xã Hà Thanh tách làm hai, một nhánh chảy xuống phía nam đổ vào sông Luộc nơi tiếp giáp giữa xã Tiên Động với Vĩnh Bảo ra cầu Quý Cao sang huyện Tiên Lãng- Hải Phòng; một nhánh qua giữa Xã Nguyên Giáp và Tiên Động chảy ra Cầu Xe trước khi đổ vào sông Thái Bình tại địa phận giữa xã An Thanh và Quang Trung, đây là ngã ba ranh giới giữa các huyện Tứ Kỳ, Thanh
Hà và Tiên Lãng
Diện tích: 170,03 km²
Dân số: 168.790 người (tháng 3/2008)
Trang 12 Mật độ: 970 người/km²
Tái Sơn là một xã thuộc huyện Tứ Kỳ, Hải Dương, Việt Nam Xã Tái
Sơn có diện tích 3,55 km2, dân số năm 1999 là 3298 người, mật độ dân số đạt
929 người/km2
Xã Tái Sơn là tên gọi chung sau Cách mạng tháng Tám khi đã sáp nhập
2 xã trong lịch sử là: xã Ngọc Tái (có 3 thôn: thôn Tượng, thôn Trung, thôn Ngọc Trấn-tên chỉ được sử dụng từ đời vui Nguyễn Thành Thái, trước có tên
là Ngọc Đường) và xã Thiết Tái
Trang trại chăn nuôi của ông Bùi Huy Hạnh nằm độc lập giữa một vùng bát ngát màu xanh của cánh đồng lúa, được thành lập và đi vào sản xuất năm
2007 địa điểm xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
2.1.2 Điều kiện khí hậu
Huyện Tứ Kỳ nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chia làm 4 mùa
rỗ rệt (xuân, hạ, thu, đông) Vào giai đoạn từ tiết lập xuân đến tiết thanh minh (khoảng đầu tháng hai – đầu tháng tư dương lịch) có hiện tượng mưa phùn và nồm là giai đoạn chuyển tiếp từ mùa mưa sang mùa khô Mùa mưa kéo dài từ tháng tư đến tháng mười hằng năm
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại
Trại gồm có 31 người trong đó có:
+ 2 quản lý
+ 1 kỹ sư chính của công ty
+ 2 tổ trưởng (1 chuồng bầu, 1 chuồng đẻ)
+ 1 bảo vệ
+ 14 công nhân trong chuồng
+ 8 công nhân ngoài đồng
+ 2 cấp dưỡng
+ 1 lái xe
+ 1 kế toán
Trang 132.1.4 Cơ sở vật chất của trại
- Về quy mô:
Trang trại có tổng diện tích 3ha, trong đó xây dựng 1ha khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ cận và 2ha trồng cây xanh và ao hồ Khu chăn nuôi của trại chuyên nuôi lợn sinh sản do công ty CP cung cấp hai giống lợn Landrat – Yorshine và Pitrain – Duroc
Hiện nay trại nuôi 1.200 con lợn nái ngoại, 30 con lợn đực, 120 con lợn hậu bị Lợn con sau khi sinh từ 19 đến 23 ngày thì được xuất chuồng Trại luôn thực hiện tốt các quy trình chăm sóc, ứng dụng tốt các quy trình nuôi lợn theo kỹ thuật cao từ khâu chọn giống đến kỹ thuật chăn nuôi Trại được chia làm nhiều phân khu chuồng trại liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ nuôi dưỡng phù hợp với từng loại lợn Thức ăn cho lợn ở mỗi giai đoạn dinh dưỡng cũng phải khác nhau Trang trại có 31 lao động nhưng đảm nhiệm chăm sóc nuôi dưỡng cho hàng nghìn con lợn Mỗi con lợn có một thẻ nái riêng về việc phối tinh, đẻ, xuất chuồng, cai sữa đều chính xác đến từng ngày Để phòng tránh dịch bệnh, khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Mọi nhân viên trong trại cho đến khách, muốn vào chuồng lợn đều phải thay quần áo, đeo khẩu trang, ủng chuyên dùng và phải đi qua hệ thống sát trùng Xung quanh trang trại được trồng cây xanh, đào những
hồ sinh học tạo môi trường thông thoáng cho lợn sinh trưởng Mô hình chăn nuôi của ông Bùi Huy Hạnh không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cao, mà còn là
mô hình phát triển bền vững, được nhân rộng trong toàn tỉnh Và đây cũng là
nơi rất tốt cho sinh viên đến thực tập, trải nghiệm nâng cao tay nghề
-Về cơ sở vật chất :
+ Có đầy đủ các thiết bị, máy móc để phục vụ cho công nhân và sinh viên sinh hoạt hàng ngày như: máy giặt, tắm nóng lạnh, tivi, tủ lạnh, quạt,
Trang 14+ Những vật dụng cá nhân như : kem đánh răng, xà phòng tắm, dầu gội đầu cũng được trại chuẩn bị
+ Trại còn đầu tư mua bàn chơi pi-a, cầu lông, bóng bàn để công nhân giải trí sau giờ làm việc
+ Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trại chú trọng đầu tư hơn hết:
- Trong các chuồng đều có các cũi sắt (đối với chuồng bầu) và giường nằm (đối với chuồng đẻ) được lắp đặt theo dãy
- Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, vòi uống nước cho lợn tự động
- Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông
- Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện
- Về cơ sở hạ tầng:
+ Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt : khu điều hành và khu sản xuất + Khu điều hành gồm nơi ăn, ở của công nhân và nơi làm việc của chủ trại cùng với khu đào tạo kỹ thuật của công ty CP
+ Khu sản xuất gồm 6 chuồng đẻ, 2 chuồng bầu, 2 chuồng cách ly, kho
cám, kho thuốc, nhà xuất lợn con, trạm điện, xưởng cơ khí, nhà sát trùng
+Nguồn nước thải rửa chuồng trại được gom, chảy đến 3 hầm Biogas,
có tổng dung tích 150 m3
2.2 Tổng quan tài liệu, kết quả nghiên cứu tình hình trong và ngoài nước
2.2.1 Tổng quan tài liệu
2.2.1.1 Đặc điểm cấu tạo giải phẫu cơ quan sinh dục của lợn nái
Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [7], cơ quan sinh dục của lợn nái
được chia thành 2 bộ phận gồm: bộ phận sinh dục bên trong và bộ phận sinh dục bên ngoài
Trang 15+ Bộ phận sinh dục bên trong gồm: buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung,
âm đạo
+ Bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: âm môn, âm vật, tiền đình
- Bộ phận sinh dục bên trong
* Buồng trứng (ovarian)
Buồng trứng lợn nằm trong xoang bụng, phát triển thành một cặp, thực hiện cả hai chức năng: ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh ra hormone sinh dục cái) Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai
Cấu tạo: Phía ngoài buồng trứng được bao bọc bởi lớp màng liên kết sợi, chắc như màng dịch hoàn Phía trong buồng trứng được chia làm hai miền là miền vỏ và miền tủy Miền tủy có nhiều mạch máu, tổ chức liên kết dày đặc đảm bảo nhiệm vụ nuôi dưỡng và bảo vệ Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng Miền vỏ gồm ba thành phần: Tế bào trứng nguyên thủy, thể vàng và tế bào hình hạt Tế bào trứng nguyên thủy hay còn gọi là trứng non (Fulliculo oophoriprimari) nằm dưới lớp màng của buồng trứng Khi noãn bao chín các tế bào nang bao quanh tế bào trứng và phân chia thành nhiều tầng tế bào có hình hạt (Stratum glanulosum) Noãn bao ngày càng phát triển thì các tế bào bao nang tiêu tan tạo thành một lớp màng bao bọc, ở ngoài có chỗ dày lên để chứa trứng (ovum)
* Ống dẫn trứng: (vòi Fallop)
Ống dẫn trứng được treo bởi màng treo ống dẫn trứng, đó là một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng Căn cứ vào chức năng
có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn:
- Tua diềm: có hình giống như tua diềm
- Phễu: có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng
- Phồng ống dẫn trứng: đoạn ống giãn rộng xa tâm
- Eo: đoạn ống hẹp gần tâm,nối ống dẫn trứng với xoang tử cung
Trang 16Ống dẫn trứng có một chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùng theo hướng ngược chiều nhau, hầu hết là đồng thời
* Tử cung (Uterus)
Ở lợn, tử cung thuộc loại hình sừng kép,các sừng gấp nếp hoặc quấn lại
và có độ dài đến hơn 1m trong khi thân tử cung lại ngắn lại Độ dài này thích hợp cho việc mang nhiều thai Cả hai mặt của tử cung được đính vào khung chậu và thành bụng bằng dây chằng rộng
- Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo trong xoang chậu Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng thông với một thân và cổ tử cung Sừng tử cung dài 40-65cm Thân tử cung dài 5cm Cổ tử cung dài 10cm có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theo chiều dài rãnh thông với âm đạo
Chức năng của tử cung: Tử cung có nhiều chức năng Nội mạc tử cung
và các dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sinh sản Gồm:
- Chuyển vận tinh trùng
- Làm tổ, chửa và đẻ
* Âm đạo (Vagina)
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2004) [6], âm đạo lợn dài 10-12cm, là một ống tròn, trước là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh Âm đạo được cấu tạo bởi 3 lớp:
+ Lớp liên kết bên ngoài
+ Lớp cơ trơn: Bên ngoài là cơ dọc, bên trong là cơ vòng, chúng liên kết với các cơ tử cung
+ Lớp niêm mạc: Trên bề mặt có nhiều tế bào thượng bì gấp nếp dọc Ngoài âm đạo ra còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh ra và là ống thải các chất dịch từ bên trong tử cung
Trang 17Bộ phận sinh dục bên ngoài: là những phần ta có thể nhìn thấy, sờ thấy
và quan sát được, gồm: âm môn, âm vật và tiền đình
* Âm môn
Âm môn hay còn gọi là âm hộ (vulvae) nằm dưới hậu môn Phía ngoài
âm môn có hai môi (labia pudendi) Hai môi được nối với nhau bằng hai mép (rima vulvae)
Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết (như tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến tiết mồ hôi)
* Âm vật (clitoris)
Âm vật nằm ở góc phía dưới hai mép của âm môn Âm vật giống như dương vật con đực được thu nhỏ lại Về cấu tạo, âm vật cũng có các thể hổng như cấu tạo dương vật của con đực Trên âm vật có nếp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới
2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái
* Sự thành thục về tính dục
- Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ muộn về sinh dục và khả năng sinh sản Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục
đã phát triển hoàn thiện và có thể bước vào hoạt động sinh sản Đồng thời với
sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động
Trang 18dục Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt, điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng
Giống
Các giống lợn khác nhau có độ tuổi thành thục về tính khác nhau
Điều kiện nuôi dưỡng quản lý
Chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý tốt thì gia súc sẽ sớm thành thục về tính và ngược lại
Điều kiện ngoại cảnh
Sự kích thích của con đực cũng làm ảnh hưởng tới sự thành thục về tính của lợn nái hậu bị Theo một số tác giả, nếu cho lợn nái hậu bị tiếp xúc với lợn đực 2 lần/ngày, với thời gian 15-20 phút thì 83% lợn nái (trên 90kg) động dục ở 165 ngày tuổi Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia súc phối giống khi đã đạt khối lượng nhất định tùy theo giống
- Chu kỳ động dục: Từ khi thành thục về tính những biểu hiện tính dục của lợn được diễn ra liên tục và có tính chu kỳ, nó chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể con vật hết khả năng sinh sản (buồng trứng hết tế bào trứng) Một chu kỳ động dục của lợn dao động khoảng 18-22 ngày, trung bình là 21 ngày
Giai đoạn trước động dục: Kéo dài 1-2 ngày Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ động dục Ở giai đoạn này các noãn bao phát triển mạnh, các noãn bao chín, tế bào tách trứng khỏi noãn bao Tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung chạy ra, con vật giảm ăn, hay kêu rống, hay nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng của mình Thần kinh con vật bị kích thích, con vật có biểu hiện băn khoăn, ngơ ngác, đi lại không yên, đái dắt, kêu
la (hoặc không kêu)
Trang 19Buồng trứng có nang trứng phát triển, màng nhầy tử cung dày lên, tụ huyết, cổ tử cung hé mở, đỏ hồng, bóng ướt, niêm dịch nhiều, lỏng và trong suốt, dễ đứt, khó kéo dài, âm đạo đỏ hồng, ướt bóng
Giai đoạn động dục: Kéo dài từ ngày thứ 2 hoặc thứ 3 tiếp theo của giai đoạn trước Giai đoạn này dài hay ngắn tùy theo giống Lợn ngoại và lợn lai, thường kéo dài 4-5 ngày Ở giai đoạn này con vật biểu hiện hưng phấn cao độ, phá chuồng, giảm ăn uống, kêu rống, thích nhảy lên lưng con khác và
để con khác nhảy lên lưng của mình, thích gần đực, lúc gần đực luôn ở tư thế sẵn sàng chịu đực, đuôi cong lên và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra
và hơi khụy xuống sẵn sàng chịu đực, âm hộ giảm độ sưng, hơi thâm, se lại có vết nhăn mờ, nước nhờn chảy ra, dính đục, âm đạo bớt đỏ
Giai đoạn yên tĩnh: Thường bắt đầu từ ngày sau khi rụng trứng và không được thụ tinh đến khi thể vàng tiêu biến Giai đoạn này kéo dài từ 10-
12 ngày, cổ tử cung đóng chặt lại, không có niêm dịch, lợn nái trở lại trạng thái bình thường
* Thời điểm phối giống thích hợp:
Trứng rụng vào ống dẫn trứng và có khả năng thụ thai trong thời gian 8-10h kể từ khi rụng trứng Tinh trùng sống trong đường sinh dục cái còn có khả năng thụ tinh 34-72h Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối giống vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ
4 tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội sớm hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục của lợn nái nội ngắn hơn, cần cho phối 2 lần ở giai đoạn chịu đực hay “chặn đầu khóa đuôi” của thời kỳ rụng trứng
* Quá trình mang thai và đẻ:
Nguyễn Xuân Tịnh và cs (1996) [22] cho biết, thụ thai là sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng tạo thành hợp tử, hay nói cụ thể hơn là quá trình đồng
Trang 20hóa giữa tinh trùng và trứng Đó là kết quả của sự tái tổ hợp các gen từ 2 nguồn gen khác nhau Thời gian mang thai của lợn trung bình 114 ngày Khi mang thai thể vàng tồn tại và tiết ra kích tố Progesterone ức chế sự phát triển của bao noãn Do đó, con vật chửa sẽ không động dục và không thải trứng
Thời gian chửa của lợn cái được chia ra làm hai thời kỳ:
+ Chửa kỳ 1: Là thời gian lợn chửa 84 ngày đầu tiên
+ Chửa kỳ 2: Là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ
- Theo Trương Lăng (2003) [10], trong thời kỳ lợn chửa có thể xuất hiện hai tai biến:
+ Toàn bộ các thai chết gây sảy thai
+ Một phần thai chết, các thai khác tiếp tục phát triển xen kẽ không bị đẩy ra ngoài
- Giai đoạn tiết sữa và nuôi con
Khả năng tiết sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng, thức
ăn, giống lợn, số lượng lợn con Lượng sữa tiết ra nhiều nhất vào tuần thứ
2-3 Sự tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ do những kích thích của bầu vú gây ra, phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau Thần kinh giữ vai trò chủ đạo trong quá trình tiết sữa Khi lợn con thúc vú, những kích thích này chuyển lên vỏ não, từ vỏ não lại truyền xuống vùng Hypothalamus từ đó các luồng xung động tác động vào tuyến yên, tuyến yên tiết ra kích tố Oxytocin
Sau đẻ để lợn con có đủ kháng thể trong ngày đầu sau khi sinh vì trong sữa đầu của lợn mẹ có chứa Globulin giúp cho cơ thể lợn con có sức đề kháng Trần Văn Phùng và cs (2008) [16] cho biết, quá trình sinh trưởng của lợn con từ khi mới đẻ đến khi cai sữa gặp phải thời kỳ khủng hoảng lúc sau 3 tuần tuổi Khối lượng hầu như tăng theo tuần tuổi, nhưng tỷ lệ tăng có sự biến đổi khá rõ rệt Vào 4 tuần tuổi tăng khối lượng giảm xuống vì giai đoạn đó nhu
Trang 21cầu dinh dưỡng của lợn con tăng nhưng do lượng sữa mẹ giảm cả về số lượng
và chất lượng Vì vậy, muốn đảm bảo cho lợn sinh trưởng tốt cần bổ sung thức ăn sớm
2.2.1.3 Bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản
Bệnh viêm tử cung thường xảy ra ở lợn nái sau khi đẻ, có thể xảy ra ở lợn nái sau khi giao phối Đây là một trong những tổn thương ở đường sinh dục ở lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng và chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh mất khả năng sinh sản
Nguyên nhân gây bệnh:
Theo Trần Tiến Dũng (2004) [6], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào
tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái
Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [8], Nguyễn Hữu Phước (1992) [17], bê ̣nh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ
Trang 22- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao…gây viêm
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau
đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm
Đoàn Kim Dung và Lê Thi ̣ Tài (2002) [5] cho biết, nguyên nhân gây viêm tử
cung là do vi khuẩn tu ̣ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết
(Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E coli…
Lê Văn Năm (1999) [14] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân từ ngoa ̣i cảnh gây bệnh như : Do thức ăn nghèo dinh dưỡng , do can thiê ̣p đỡ đẻ bằng dụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến Muxin của chất nhày các cơ quan sinh du ̣c bi ̣ phá hủy hoă ̣c kết tủa , kết hợp với viê ̣c chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếu vâ ̣n đô ̣ng đã làm châ ̣m quá trình thu t eo sinh lý của da ̣ con (trong điều kiện cai sữa bình thường da ̣ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ) Đây là điều kiê ̣n tốt để vi khuẩ n xâm nhâ ̣p vào tử cung gây bệnh Biến chứ ng nhiễm trùng do vi khuẩ n xâm nhâ ̣p vào da ̣ con gây lên trong thời gian đô ̣ng đực (vì lúc đó tử cung mở ) và do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật
Bê ̣nh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý : Khẩu phần thiếu hay thừa protein trước , trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung Lợn nái sử du ̣ng quá nhiều tinh bô ̣t gây đẻ khó , viêm tử cung do xây xát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung
Trang 23Triệu chứng:
Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [19], khi lợn nái bị viêm tử cung, các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: Sáng sốt nhẹ 39-39,50C, chiều 40-410C Con vật kém ăn, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn đái Từ cơ quan sinh dục chảy ra niêm dịch lẫn nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu
đỏ Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn, trong trường hợp thai chết lưu âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu và có mùi hôi thối Xung quanh âm hộ và mép đuôi dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi đi lại khó khăn
Viêm tử cung ở lợn có các thể sau:
+ Thể nhẹ (1+) gọi là viêm tử cung nhờn: Thân nhiệt bình thường, có khi hơi cao 39-39,50
C Lợn kém ăn, có dịch tiết ra từ âm hộ 12-72 giờ sau đẻ, dịch lỏng có màu trắng đục hoặc xanh dạng sợi mùi hôi tanh Thể viêm này ít ảnh hưởng đến sản lượng sữa của lợn mẹ
+ Thể vừa (2+) thuộc dạng viêm tử cung mủ: Thân nhiệt cao 39,5-400C Lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, hay nằm lỳ Khi nằm có dịch từ âm hộ chảy ra màu vàng xen lẫn mủ trắng đục, hơi sệt, mùi tanh thối
Khi soi đường sinh dục, vùng âm đạo có dính váng mủ, niêm mạc có vùng nhạt đỏ không đều, niêm dịch chảy từ cổ tử cung ra có mùi thối
+ Thể nặng (3+) thuộc dạng viêm tử cung mủ: Thân nhiệt tăng cao
39,5-400C Lợn ủ rũ, hay nằm, bỏ ăn Dịch tiết từ âm hộ ra dạng mủ xanh vàng sệt,
có khi lẫn máu, mùi tanh thối
Niêm mạc âm đạo nhợt nhạt, nhiều mủ đặc dính lại, cổ tử cung hơi mở,
có mủ trắng đục chảy ra, mùi thối khắm Trạng thái này xuất hiện chậm 7-8 ngày sau khi lợn đẻ Bệnh làm ảnh hưởng đến sản lượng sữa
Trang 24- Hậu quả:
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa Lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản
Lê Thị Tài và cs (2002) [21] cho rằng, đây là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái Nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng thụ thai và sinh sản
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng của cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo độc tố spermiolysin có hại cho tinh trùng Các loại độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các dạng đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, nếu
có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường bất lợi cũng dễ bị chết non (Lê Văn Năm và cs (1999) [14]
Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn có chửa là do biến đổi bệnh lý trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc…) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và dạ con nên qua các chỗ tổn thương vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào thai phát triển không bình thường
vú gây viêm toàn bộ tuyến vú hoặc gây nhiễm trùng máu tạo nên thể điển
Trang 25hình của hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa Để chẩn đoán người ta dựa vào các triệu chứng lâm sàng
Có thể tìm muxin trong dịch nhầy từ âm hộ chảy ra rồi cho vào 1 ml dung dịch axit axetic 1%, nếu phản ứng dương tính, muxin kết tủa là mắc bệnh và ngược lại (Lê Văn Năm và cs, 1999) [14]
Trong khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng kỹ bằng cồn hoặc rượu và được bôi trơn bằng Vazelin hoặc dầu lạc Trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng dụng cụ trợ sản thì dụng cụ phải sạch sẽ và phải được vô trùng
Can thiệp đẻ khó, thao tác phải nhẹ nhàng và đúng kỹ thuật
Khi lợn đẻ xong nên dùng dung dịch thuốc tím 0,1% hay nước muối sinh
lý 0,9% để rửa sạch bộ phận sinh dục của lợn Sau đó bơm hoặc đặt thuốc kháng sinh như: Penicillin 2-3 triệu UI, tetramycin hay sulfanilamid 2-5g, hoặc clorazol 4-6 viên (2-3g) vào tử cung để chống viêm
Nên tiêm một mũi oxytocin liều 2ml/con sau khi đẻ xong để kích thích
tử cung co bóp đẩy hết nhau thai và sản dịch ra ngoài tử cung, âm đạo Đồng thời tiêm cho lợn nái một liều kháng sinh loại không ảnh hưởng đến sữa như: Tetramycin Trong thời gian dùng kháng sinh nên tiêm kèm theo thuốc bổ trợ như: vitamin B1, B-complex, vitamin B12, gluconatcanxi để trợ sức, kích thích lợn nái ăn khỏe để có sữa cho con bú
Dụng cụ thụ tinh nhân tạo phải đúng quy định, được tiệt trùng trước và sau khi sử dụng
Trang 26Không sử dụng lợn đực bị bệnh ở đường sinh dục để thụ tinh trực tiếp hoặc khai thác tinh nhân tạo
Phòng các bệnh truyền nhiễm cho lợn nái thông qua công tác tiêm phòng vaccine theo định kỳ và thực hiện tốt công tác vệ sinh thú y
Có thể phòng bệnh viêm tử cung cho đàn lợn nái bằng quy trình phòng bệnh tổng hợp có bổ sung chế phẩm Biomin - pHD vào thức ăn
- Điều trị:
Bệnh do vi khuẩn gây ra nên cần phải xác định được vai trò của vi khuẩn gây bệnh, sự mẫn cảm của chúng với kháng sinh và hóa dược trong điều trị nhằm tiêu diệt kịp thời và triệt để vi khuẩn gây bệnh, tránh sự lây lan của chúng
Việc điều trị bệnh cần đạt được hai mục đích: Phục hồi nguyên vẹn niêm mạc tử cung và phục hồi chức năng co bóp của tử cung
Tử cung có liên quan mật thiết với các cơ quan khác, trong đó có hệ thần kinh - thể dịch Bởi vậy, điều trị bệnh viêm tử cung bao gồm điều trị cục bộ
và điều trị toàn thân (Lê Văn Năm và cs, 1999) [14]
+ Điều trị cục bộ: Bơm rửa tử cung hàng ngày 1-2 lần, thụt rửa tử cung bằng dung dịch nước muối 0,9%, sau đó thụt 1 trong các loại kháng sinh sau: penicillin, streptomycin, tetramycin…
+ Điều trị toàn thân: Có thể dùng một số loại kháng sinh tổng hợp như: ampisep, genorfcoli, lincomycin, hanoxylin 10%, ampicillin… kết hợp với thuốc trợ lực: vitamin C, B-complex
Tiêm anagin(giảm sốt 2-3 ống/ngày)
Tiêm kháng sinh:
- Cách 1: Tiêm tetramycine, tiêm bắp liều 10-15 mg/kg, tiêm liên tục từ 3-4 ngày, kết hợp septotryl tiêm bắp hay tiêm tĩnh mạch 1ml/10-15 kgTT/ngày liên tục từ 3-4 ngày
- Cách 2: Dùng tylan + polysul tiêm bắp hay tiêm tĩnh mạch 10kgTT liên tục 3-4 ngày
Trang 271ml/5-Tiêm thuốc giảm viêm: dectancyl, hydrocortizone,…Nếu tiêm hydrocortizone thì tiêm bắp 1ml/kgTT/ngày liên tục trong 3 ngày
Tiêm thuốc trợ sức: vitamin C; B1; B12
Tiêm thuốc tạo sữa: thyroxineo ngày 1-2 ống liên tục trong 2-3 ngày, chỉ dùng khi nhiệt độ cơ thể hạ xuống bình thường
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [9], tiêm oxytetracylin 30mg/kgTT dùng liên tục trong 3-4 ngày: tiêm penicillin 50.000 UI/kg.P
Đồng thời thụt rửa âm đạo tử cung bằng rivanol 5%, tiêm thuốc trợ sức, trợ lực (vitamin B1; vitamin C; cyein)
2.1.1.4 Một số loại thuốc kháng sinh dùng trong phác đồ điều trị
Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại kháng sinh có hiệu quả điều trị cao như: vetrimoxin, pendistrep, streptomycine, peniciline, genta - tylosin, bio bio - D.O.G…
Trang 28- Công dụng điều trị các bệnh về nhiễm trùng đường tiêu hóa, nhiễm
trùng đường hô hấp (như các bệnh do Pasteurella gây ra), nhiễm trùng da và
mô mềm, nhiễm trùng đường sinh dục –tiết niệu (viêm bàng quang, viêm vú, viêm tử cung), nhiễm trùng sau giải phẫu
- Liều lượng và cách dùng:
Tiêm bắp hoặc tiêm dưới da:
1ml của vetrimoxin LA cho mỗi 10 kg thể trọng và lặp lại trong vòng 3 ngày khi cần thiết Tỉ lệ này tương đương với 15 mg amoxicillin cho mỗi kg thể trọng
Nếu liều lượng vượt quá 20ml, nên chia ra thành hai lần tiêm
khuẩn đường ruột như E.coli
Penicillin chủ yếu tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch bởi nó thải trừ rất nhanh và gây tác dụng phụ Gần đây, người ta đã điều chế ra loại penicyline tổng hợp, loại này có thể dùng cho tiêu hóa là rất tốt
Penicillin có tác dụng chủ yếu với các bệnh như nhiệt thán trâu bò (dùng liều cao – tiêm hàng ngày), bệnh đóng dấu lợn, bệnh viêm vú truyền nhiễm,
Trang 29Actiromy cosis ở bò, nhiễm trùng khi đẻ, viêm tử cung, sot nhau,… và một số bệnh khác
- Liều lượng và cách dùng:
Gia súc: 1 ml/ 10kg TT điều trị trong 3-5 ngày
Tiêm bắp hoặc tiêm dưới da
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới
2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Viêm tử cung là một trong những nguyên nhân dẫn đến hội chứng viêm
vú, viên tử cung, mất sữa Ở lợn hội chứng này ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Tỉ lệ phối không đạt tăng lên ở đàn lợn nái bị viêm tử cung sau đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước sang lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ và số lứa đẻ trên một năm của lợn nái sinh sản
Nguyên nhân: là do tử cung của lợn nái bị tổn thương, sót nhau, bệnh phát triển do chăm sóc nuôi dưỡng không tốt, không đủ chất dinh dưỡng, đưa vào đường sinh dục các chất kích thích đẻ khác nhau, chúng phá hủy hoặc làm kết tủa các chất nhầy ở bộ máy sinh dụ
- Khi tiến hành nghiên cứu bệnh lý sinh đẻ vào năm 1991 trên đàn lợn
xứ Brơ-ta-nhơ (Pháp) cho thấy 15% số lợn nái bị viêm tử cung (theo Madec, 1991) [25]
- Theo Madec F (1995) [26], qua kiểm tra vi thể xứ Brơ-ta-nhơ của miền tây bắc nước Pháp, cho thấy 26% lợn nái có bệnh viêm tử cung Ngoài ra, 2% số lợn nái có bệnh tích thoái hóa mô nội mạng tử cung với đặc điểm thành tử cung có cấu tạo sợi fibrine Viêm tử cung thường bắt đầu sốt vài giờ khi đẻ, chảy dịch viêm vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ vài hôm sau và thường kéo dài 48 đến 72 giờ.Tỷ lệ bệnh tích đường tiết niệu sinh dục ở đàn nái loại thải tăng theo số lứa đẻ
Trang 30John C Rea (1996) [23] cho biết, âm đạo của lợn khỏe mạnh có chứa nhiều loại vi khuẩn khác nhau Bao gồm Gram dương (+), Gram âm (-) hiếu khí và Gram dương (+), Gram âm (-) yếm khí
Điển hình là các vi khuẩn Streptococcus spp, Staphylococcus spp
Micrococus, Corynebacterium, Enterobacteria Số lượng vi khuẩn tăng lên một
cách đều đều từ phần đầu đến phần cuối của âm đạo Khi phối giống hoặc sau khi đẻ cổ tử cung mở rộng tạo điều kiện thuận lợi để các vi khuẩn này xâm nhập vào bên trong
Popkov (1999) [27], đã sử dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào màng treo cổ tử cung ở lợn nái bị viêm cho thấy hiệu quả điều trị khá cao với phác đồ điều trị như sau:
+ Streptomicin: 0,25 g
+ Penicilin: 500.000 UI
+ Dung dịch MgSO4 1%: 40 ml + VTMC
2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ngành chăn nuôi được phát triển, mở rộng thì công tác thú y rất được chú trọng vì khi chăn nuôi phát triển sẽ kèm theo nhiều dịch bệnh xảy ra, có thể bùng phát nếu như không được xử lý kịp thời gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi Vì vậy, công tác thú y ngày càng được chú trọng, phát triển nhằm khống chế, ngăn chặn, tiêu diệt mầm bệnh, dịch bệnh, nâng cao năng suất, tăng thu nhập cho người chăn nuôi
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [8], bệnh viêm tử cung do vi khuẩn
Streptococcus và Colib acilus nhiễm qua cuống rốn của lợn con sang lợn mẹ
do đẻ khó, sát nhau, sảy thai hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát tạo các ổ viêm nhiễm trong tử cung, âm đạo
Trần Tiến Dũng (2004) [6] cho biết, viêm tử cung là một quá bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm hủy các tế bào tổ