1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh sinh sản của lợn nái ngoại nuôi tại trại chăn nuôi Phương Hà, xã Hương Lung huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ.

61 201 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 815,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM Hệ đào tạo: chính quy Chuyên ngành/Ngành: chăn nuôi thú y Lớp: CNTY45n01 Khoa: chăn nuôi thú y Khóa học: 2013-2017 Giảng viên hướng dẫn:

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Hệ đào tạo: chính quy

Chuyên ngành/Ngành: chăn nuôi thú y

Lớp: CNTY45n01

Khoa: chăn nuôi thú y

Khóa học: 2013-2017

Giảng viên hướng dẫn: Ths Phạm Thị Trang

Thái Nguyên, ngày tháng năm

NGUYỄN THỊ BÍCH VIỆT

Tên đề tài:

ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG

VÀ PHÒNG TRỊ MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN CỦA LỢN NÁI NGOẠI NUÔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI PHƯƠNG HÀ, XÃ HƯƠNG LUNG,

HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Thái Nguyên - năm 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

NGUYỄN THỊ BÍCH VIỆT

Tên đề tài:

ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG

VÀ PHÒNG TRỊ MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN CỦA LỢN NÁI NGOẠI NUÔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI PHƯƠNG HÀ, XÃ HƯƠNG LUNG,

HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thu Quyên

Thái Nguyên - năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập, rèn luyện dưới mái trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y, đã trang bị cho

em những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học Đến nay em đã hoàn thành chương trình học tập và thực tập tốt nghiệp Nhân dịp này, em xin bày

tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới:

Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y

Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn cô giáo TS Nguyễn Thu Quyên, bộ môn cơ sở, Khoa Chăn nuôi Thú y – Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, người trực tiếp hướng dẫn em trong quá trình thực tập và báo cáo tốt nghiệp

Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình cô chú Hùng Hiền chủ trang trại cùng tập thể công nhân trong trại Phương Hà, Hương Lung – Cẩm Khê – Phú Thọ đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành khóa luận của mình

Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, những người luôn tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ em vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khoá luận

Em xin chân thành cảm ơn

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Thị Bích Việt

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại lợn công ty TNHH Phương Hà qua 3 năm

2014 - 2016 33

Bảng 4.2 Khẩu phần ăn cho lợn nái nuôi tại trại 35

Bảng 4.3 Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ 36

Bảng 4.4: Kết quả áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại công ty TNHH Phương Hà, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ 37

Bảng 4.5 Kết quả thực hiện đỡ đẻ, phẫu thuật trên đàn lợn con 38

Bảng 4.6 Kết quả đỡ đẻ và can thiệp khi lợn nái đẻ khó 40

Bảng 4.7 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 42

Bảng 4.8: Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh bằng vắc xin cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ nuôi tại trại công ty TNHH Phương Hà, huyên Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ 44

Bảng 4.9 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ trong thời gian thực tập 46

Trang 5

vú (Mastitis), mất sữa (Agalactia)

E.coli: Escherichia coli

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 1

1.2.1 Mục đích 1

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Điều kiện cơ sơ nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 4

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của cơ sở thực tập 4

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 7

2.2.1 Hoạt động sinh dục ở lợn nái 7

2.2.2 Biểu hiện động dục của lợn nái 7

2.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 9

2.2.4 Biện pháp phòng trị bệnh sinh sản ở lợn nái 12

2.2.5 Một số bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản trong quá trình thực tập 16

2.2.6 Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn con theo mẹ 23

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 25

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 25

2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 26

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 31

3.1 Đối tượng 31

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 31

3.3 Nội dung thực hiện 31

Trang 7

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 31

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 31

3.4.2 Phương pháp thực hiện 31

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 32

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33

4.1 Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại lợn công ty TNHH Phương Hà trong 3 năm gần đây (2014 – 2016) 33

4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn 34

4.2.1 Thực hiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản 34

4.2.2 Kết quả thực hiện biện pháp phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 42

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

PHỤ LỤC 53

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, với mục đích hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa, đồng thời đáp ứng nhu cầu xuất khẩu thịt lợn, mô hình chăn nuôi lợn theo hướng tập trung quy mô trang trại đang được áp dụng trên cả nước Muốn đạt được hiệu quả kinh tế cao thì chúng ta cần đẩy mạnh các biện pháp kỹ thuật như: Giống, thức ăn, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng Đặc biệt chú trọng đến công tác giống, giống tốt thì vật nuôi mới tăng trọng nhanh, khả năng tận dụng thức ăn tốt, thích nghi và chống chịu bệnh cao

Để cung cấp giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản cần đặc biệt được quan tâm Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái hiện nay đang nuôi ở các trang trại là bệnh còn xảy ra rất nhiều, do khả năng thích nghi của những giống lợn nái ngoại với khí hậu nước ta còn kém, đặc biệt là bệnh ở cơ quan sinh dục như: đẻ khó, viêm tử cung, viêm vú, ít sữa và mất sữa, sảy thai truyền nhiễm Các bệnh này do nhiều yếu tố như điều kiện vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn, nước uống không đảm bảo vệ sinh, do vi khuẩn, virus gây nên Chính vì vậy mà việc chăm sóc và tìm hiểu về bệnh ở cơ quan sinh sản của đàn lợn nái là việc cần thiết

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh sinh sản của lợn nái ngoại nuôi tại trại chăn nuôi Phương Hà, xã Hương Lung, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ”

Trang 9

- Xác định được quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn nái nuôi con tại trại

1.2.2 Yêu cầu

- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi Phương Hà, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ

- Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái mang thai

- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái mang thai

- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở

- Chăm chỉ, học hỏi để năng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

-Trại chăn nuôi công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Phương Hà đóng trên địa bàn xã Hương Lung, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ Vị trí địa lý của huyện

được xác định như sau:

- Phía Đông giáp huyện Thanh Ba với ranh giới là dòng sông Thao quanh năm nước đỏ phù sa

- Phía Tây giáp huyện Yên Lập với ranh giới là dãy núi vòng cung thuộc dãy Hoàng Liên Sơn chạy dọc từ Tây Bắc xuống Đông Nam

- Phía Nam giáp huyện Tam Nông, ranh giới là dòng sông Bứa chảy từ Tây sang Đông đổ ra sông Thao

- Phía Bắc giáp huyện Hạ Hòa, ranh giới là ngòi Giành - một chi lưu nhỏ của dòng sông Thao

- Huyện có 31 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn Sông Thao và 30 xã: Cấp Dẫn, Cát Trù, Chương Xá, Điêu Lương, Đồng Cam, Đồng Lương, Hiền Đa, Hương Lung, Ngô Xá, Phú Khê, Phú Lạc, Phùng Xá, Phượng Vĩ, Phương Xá, Sai Nga, Sơn Nga, Sơn Tình, Tạ Xá, Tam Sơn, Thanh Nga, Thụy Liễu, Tiên Lương, Tình Cương, Tùng Khê, Tuy Lộc, Văn Bán, Văn Khúc, Xương Thịnh, Yên Dưỡng, Yên Lập

- Dân số huyện Cẩm Khê gần 13 vạn người; tổng diện tích tự nhiên là 234.55 km²

2.1.1.2 Giao thông

-Với tuyến đường cao tốc Nội Bài- Lào Cai và Quốc lộ 32C bên hữu ngạn sông Hồng cùng tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai bên tả ngạn sông Hồng kết nối Cẩm Khê với Hà Nội và các tỉnh thành khác một cách thuận lợi Ngoài ra các tuyến đường tỉnh, huyện lộ trong huyện đã được thảm nhựa kết nối dễ dàng với các địa phương trong vùng, đường liên thôn, liên xã đang ngày càng được bê tông hóa

Trang 11

2.1.1.3 Khí hậu

Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có một mùa đông khô và lạnh Nhiệt độ trung bình các ngày trong năm khoảng 23ºC, lượng mưa trung bình trong năm khoảng 1.600 đến 1.800 mm Độ ẩm trung bình trong năm tương đối lớn, khoảng 85 – 87% Nhìn chung khí hậu của Phú Thọ thuận lợi cho việc phát triển cây trồng, vật nuôi đa dạng

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

- Sản xuất nông nghiệp là ngành chủ đạo trong đời sống kinh tế xã hội của người dân Cẩm Khê Trong quá trình sản xuất, trước những tác động của khó lường của thiên nhiên người dân luôn giữ vững truyền thống, những phẩm chất tốt đẹp, đó là: cần cù , chịu thương, chịu khó, tiết kiệm, vượt qua khó khăn

- Cẩm Khê có lợi thế nhiều hồ, đầm lớn và đồng chiêm trũng với diện tích mặt nước là 3370 ha và diện tích trồng lúa một vụ là 1900 ha Rất thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản, bởi vậy mà có rất nhiều tôm cá và thủy sản.Nghề cá nuôi ở Cẩm Khê xuất hiện từ rất sớm với sản lượng 2200 tấn cá hàng năm, không chỉ đáp ứng nhu cầu trong tỉnh mà còn có mặt ở các tỉnh, thành khác

- Là địa phương dẫn đầu tỉnh về phát triển làng nghề tiểu thủ công.Năm 2004, Phú Thọ được công nhận 5 làng nghề tiểu thủ công nghiệp, trong đó có 2 làng nghề thuộc huyện Cẩm Khê góp phần làm tăng thu nhập và thu hút lực lượng lao động nhàn rỗi trong huyện

- Tỉ lệ làm nông lâm nghiệp tại huyện Cẩm Khê chiếm 43,8%, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:20%, dịch vụ, thương mại: 36,2 %

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của cơ sở thực tập

2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Trại chăn nuôi được xây dựng từ năm 2009, trạỉ đi vào sản xuất được 7 năm, song hàng năm sản xuất của trại đều gia tăng, đời sống của cán bộ công nhân viên được cải thiện, bởi trại chăn nuôi có ban lãnh đạo là những người đam mê, giàu nghị lực và tâm huyết đối với nghề chăn nuôi Đặc biệt trại chăn nuôi đã tuyển dụng

Trang 12

và đào tạo được một đội ngũ cán bộ kỹ thuật có chuyên môn, kinh nghiệm, thực tiễn

và yêu nghề

Cơ cấu tô chức của trại gồm 32 cán bộ và nhân viên

Trong đó:

- Lao động gián tiếp 6 người

+ Giám đốc công ty: 1 người

+ Một kế toán: 1 người

+ Bảo vệ: 2 người

+ Làm vườn, nấu ăn: 2 người

- Lao động trực tiếp 26 người

+ 2 kỹ sư chăn nuôi

+ 24 công nhân (8 người làm chuồng bầu, 3 người trực đêm, 11 người chuồng

đẻ và 2 người luân phiên nghỉ)

2.1.3.2 Cơ sở vật chất của trang trại

- Hệ thống chuồng trại:

+ Khu vực sản xuất của trung tâm được đặt trên một khu vực cao, dễ thoát nước và được tách biệt với khu điều hành, khu dân cư xung quanh Xung quanh trung tâm có hàng rào bảo vệ, cổng vào và nơi sản xuất có hố sát trùng để ngăn ngừa dịch bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông Nam đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông và xây dựng theo kiểu mái chuồng xuôi tránh hiện tượng ứ đọng nước, có 3 chuồng đẻ chứa được 120 ô chuồng, 1 chuồng bầu có 1056 ô chuồng, 4 chuồng cách li với 40 con/ chuồng và 1 chuồng đực với 20 ô chuồng

+ Các ô chuồng thường được thiết kế theo kiểu sàn bằng bê tông Các chuồng nuôi đều được lắp đặt điện chiếu sáng, hệ thống dẫn nước tự động, mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt điện và vòi phun nước trên mái Mùa đông có hệ thống bóng đèn hồng ngoại

Trang 13

+ Tổng diện tích của trang trại là 5 ha, trong đó 2,5 ha dùng để chăn nuôi, 1 ha

là ao cá, còn lại là diện tích xây dựng công trình xung quanh trại

+ Hệ thống nước sạch được lấy từ suối đầu nguồn về bể lớn rồi được xử lý bằng chlorine với nồng độ khoảng 3-5ppm Sau đó nước được đưa tới các ô chuồng đảm bảo cho việc cung cấp nước uống tự động cho lợn Nước tắm cho lợn và rửa chuồng hàng ngày được bơm trực tiếp từ bể chứa

+ Hệ thống điện được dẫn từ trạm biến áp 110KV của trại đầu tư, phục vụ cho chăn nuôi và cho bà con thôn lân cận có nhu cầu sử dụng điện Ngoài ra trại còn chuẩn bị máy phát điện dự phòng

+ Kho cám là nơi chứa thức ăn hàng ngày cho lợn được khóa cửa cẩn thận

+ Hai nhà ăn ca để phục vụ cho cán bộ kĩ sư và công nhân viên ăn và nghỉ trưa

+ Năm nhà tắm sát trùng, trong đó có 1 nhà tắm sát trùng cho cán bộ kĩ sư, 4 nhà tắm sát trùng cho công nhân,

+ Hai bể chứa nước cùng 4 máy bơm nước phục vụ cho cấp nước sạch cho sản xuất và sinh hoạt

+ Trong khu vực sản xuất, có một phòng làm nơi khai thác, pha chế và bảo quản tinh dịch lợn đực giống

+ Ngoài cơ sở vật chất trên, trại còn chú trọng củng cố bếp ăn, nhà vệ sinh để phục vụ sinh hoạt hàng ngày của cán bộ công nhân viên trong trại

- Nhiệm vụ chính của trại chăn nuôi:

Trang 14

+ Là cơ sở sản xuất lợn giống cho các trại gia công của công ty chăn nuôi

CP, trại được giao nhiệm vụ nuôi giữ, nhân giống đàn lợn ông bà, để tạo ra đàn bố

mẹ có chất lượng tốt cung cấp cho người chăn nuôi, nhằm tăng dần số lợn trong khu vực, với mục đích tăng tỷ lệ nạc, phục vụ cho nhu cầu của người tiêu dùng trong địa bàn cũng như các tỉnh lân cận

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1 Hoạt động sinh dục ở lợn nái

Theo Trần Thanh Vân và cs (2017) [27]: Lợn nái sau khi thành thục về tính thì bắt đầu biểu hiện động dục, lần thứ nhất biểu hiện không rõ ràng, cách sau đó 15-16 ngày động dục trở lại, lần này biểu hiện rõ ràng hơn và sau đó đi vào quy luật mang tính chu kỳ

Chu kỳ động dục lợn nái trung bình là 21 ngày (18-24 ngày) Một chu kỳ tính của lợn nái thường chia làm 4 giai đoạn:

Giai đoạn trước động dục: Thường kéo dài 1-2 ngày và được tính từ khi thể vàng của động dục trước khi tiêu biến đến lần động dục tiếp theo Đây là giai đoạn chuẩn bị cho đường sinh dục cái tiếp nhận tinh trùng, đón nhận trứng rụng và thụ tinh Giai đoạn động dục: kéo dài từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 3, gồm có 3 thời kì nhỏ là hưng phấn chịu đực và hết chịu đực Giai đoạn này dài hay ngắn tùy theo từng giống lợn, lợn nội thường kéo dài 3-4 ngày, lợn ngoại và lợn lai thường kéo dài 4-5 ngày

Giai đoạn sau động dục (giai đoạn yên tĩnh): là giai đoạn kéo dài từ ngày thứ 3-4 tiếp theo của giai đoạn động dục, lúc này đấu hiệu hoạt động sinh dục bên ngoài giảm dần, âm hộ teo lại, lợn cái không muốn gần lợn đực, ăn uống tốt hơn Giai đoạn yên tĩnh thường bắt đầu từ ngày thứ 4 sau khi trứng rụng và không được thụ tinh đến khi thể vàng tiêu biến (khoảng 14-15 ngày kể từ lúc trứng rụng) Đây là giai đoạn dài nhất của cả chu kỳ sinh dục, con vật không có biểu hiện về tính dục, là giai đoạn nghỉ ngơi yên tĩnh chuẩn bị cho chu kỳ động dục tiếp theo

2.2.2 Biểu hiện động dục của lợn nái

Theo Trần Thanh Vân và cs (2017) [27]: Phát hiện lợn cái động dục là yếu

tố quan trọng nhất trong công tác phối giống, nhất là khi sử dụng phương pháp

Trang 15

thụ tinh nhân tạo Để phát hiện lợn cái động dục cần kiểm tra ít nhất một ngày 2 lần vào lúc 6 giờ sáng và 6 giờ chiều – là những thời điểm con cái có biểu hiện động dục rõ nhất

Khi kiểm tra cần kết hợp giữa việc xem xét trạng thái con cái khi dẫn con đực

đi ngang qua với việc quan sát âm hộ con cái (độ sưng, màu, dịch tiết…) Để xác định thời điểm phối giống thích hợp cho lợn cái, có nhiều phương pháp nhưng tốt nhất vẫn là cưỡi lên lưng con vật để xem thử phản xạ mê ì

Thời gian động dục của lợn cái nội từ 3 - 4 ngày, của lợn cái loại từ 4 -5 ngày, của lợn cái hậu bị ngoại có thể dài hơn từ 5 - 7 ngày

Biểu hiện động dục của lợn cái tùy thuộc vào giống, tuổi và cá thể Toàn bộ thời gian động dục của lợn cái có thể chia làm 3 giai đoạn:

* Giai đoạn trước chịu đực (bắt đầu): Đặc điểm chung của lợn cái khi bắt đầu động dục là thay đổi tính nết, kêu rít, bỏ ăn hoặc kém ăn, phá chuồng, dũi đất, cơ thể bồn chồn, tai đuôi ve vẩy, thích gần lợn đực, nếu nhốt nhiều con thì thích nhảy lên lưng con khác, âm hộ đỏ tươi sưng mọng, có nước nhờn chảy ra nhưng chưa chịu cho con đực nhảy

Giai đoạn chịu đực (phối giống): Còn gọi là thời kì mê đực, khi sờ tay lên mông lợn cái thì lợn đứng yên, đuôi cong lên, hai chân choãi rộng ra, lưng võng xuống, có hiện tượng đái són, âm hộ chuyển mầu sẫm hoặc mầu mận chín, chảy dịch nhờn Khi lợn đực lại gần thì đứng im cho phối Thời gian này kéo dài khoảng

2 ngày (lợn nội thường ngắn hơn 28 - 30 giờ) Nếu được phối giống ở giai đoạn này thì tỷ lệ thụ thai cao

Giai đoạn sau chịu đực (kết thúc): Lợn cái trở lại trạng thái bình thường, ăn uống như cũ, âm hộ giảm độ nở, se nhỏ, thâm, đuôi cụp không cho con đực phối

* Quá trình mang thai và đẻ: Sau thời gian lưu lại ống dẫn trứng khoảng 3

ngày để tự dưỡng (noãn hoàng và dịch thể do ống dẫn trứng tiết) hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết trong cơ thể mẹ thời gian chửa như sau: progesterol trong 10 ngày đầu

có chửa tăng rất nhanh, cao nhất là vào ngày chửa thứ 20, sau đó nó hơi giảm xuống

Trang 16

một chút ở 3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời gian có chửa để an thai, ức chế động dục 1-2 ngày trước khi đẻ progesterol giảm đột ngột Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời kỳ có chửa khoảng hai tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất (Trần Thanh Vân và cs, 2017) [27]

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [16] cho biết: Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày (113-116 ngày), chia làm 2 thời kỳ:

- Thời kỳ chửa kỳ 1: Là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên

- Thời kỳ chửa kỳ 2: Là thời gian lợn chửa từ ngày thứ 85 đến khi đẻ

* Sự tiết sữa của lợn nái:

Sữa được sản xuất ra từ các tuyến bào và được tích lũy trong các xoang tuyến bào Việc tiết sữa của chúng được thực hiện theo cơ chế thần kinh, thể dịch (Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn, 2005) [22]

Quá trình tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ, do những kích thích vào đầu vú gây nên Phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau Trong đó yếu tố thần kinh đóng vai trò chủ đạo, khi lợn con thúc vú

mẹ những kích thích này truyền lên vỏ não, vào vùng hypothalamus, từ đó tuyến yên sản sinh ra kích tố oxytocin tiết vào máu, kích tố này kích thích lợn nái tiết sữa

Do tác động của oxytocin trong máu khác nhau cho nên các tuyến vú khác nhau có sản lượng sữa khác nhau Những vú ở phần ngực tiết nhiều sữa hơn những vú ở phần sau Lượng sữa của lợn nái tiết sữa tăng cao dần từ khi đẻ, cao nhất lúc 21 ngày sau khi đẻ, sau đó giảm dần (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [16]

2.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con

2.2.3.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ

Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn con có

tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con Chính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con

Trang 17

- Quy trình nuôi dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [16] thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn

có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để

có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước 2 – 3 ngày giảm 1/2 lượng thức

ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú

mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn

ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc

ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 -3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột

mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 -5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái

- Quy trình chăm sóc

Việc chăm sóc lợn mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [16] cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện các trường hợp bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10 -15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng

đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 -5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ snh lợn nái sạch sẽ, lợn nái đượclau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú

và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sach sẽ cho lợn nái, chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới

Trang 18

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó

là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Theo (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [16] ô

úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con ( để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 -10 ngày tuổi ) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bịn xong ô úm cho lợn con Kích thước

ô úm : 1,2m x 1,5m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 – 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh

2.2.3.2 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con

- Quá trình nuôi dưỡng

Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa, có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn đã thối, mốc, thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt

Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%, Ca từ 0,9-1,0%, P từ 0,7% Theo Trần Thanh Vân và cs (2017) [27]

- Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con:

Trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

- Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

- Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ 1-2-3

kg tương ứng

- Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày

- Từ ngày thứ 8 đến ngày cai sữa cho heo ăn theo công thức tính:

Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/ con)

Trang 19

Số bữa ăn trên ngày: 2 bữa (sáng, chiều)

- Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì bớt đi 0,5 kg thức ăn/ngày

- Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20-30%

- Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước

- Đối với những lợn nái có số con lớn hơn 10, đàn con mập, lợn mẹ gầy thì cho lợn mẹ ăn theo khả năng (không hạn chế) bằng cách tăng số bữa ăn/ngày cho lợn mẹ

- Quy trình chăm sóc

Theo Trần Thanh Vân và cs (2017) [27], lợn nái nuôi con trong thời gian mới

đẻ, mỗi bữa cho ăn một ít một, nhưng cho ăn làm nhiều lần, thường một ngày cho

ăn 3-4 bữa Khoảng cách các bữa ăn nên chia đều nhau

Cho ăn đúng giờ, đúng tiêu chuẩn quy định

Cung cấp đủ nước uống cho lợn nái nuôi con

Khi chuyển sang dùng thức ăn cho giai đoạn nuôi con, để tránh gây ảnh hưởng tới quá trình tiêu hóa do thay đổi thức ăn, ta phải thay dần dần

Chú ý những biểu hiện sắp đẻ của lợn nái để có biện pháp tác động hợp lý Lợn nái có hiện tượng bầu vú căng to, vú căng ra hai bên, có hiện tượng giãn khớp xương chậu như cảm nhận lợn nái sụt mông, âm hộ tiết dịch nhờn và mở to, đi lại, đứng lên nằm xuống bồn chồn, vú có sữa chảy ra, ỉa cục phân không dính vào chỗ nhất định Khi lợn mẹ tìm chỗ nằm, âm hộ chảy nước nhờn, có phân lợn con kèm theo là lợn bắt đầu đẻ, từ đó chúng ta có kế hoạch đỡ đẻ kịp thời

2.2.4 Biện pháp phòng trị bệnh sinh sản ở lợn nái

2.2.4.1 Phòng bệnh

„„Phòng bệnh hơn chữa bệnh‟‟‚ nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng b ệnh tốt thì có thể han ̣ chế ho ặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vât ̣ chủ Do vây ̣, việc phòng b ệnh cũng như tr ị, bệnh phải kết hơp ̣ nhiều biên ̣ pháp khác nhau

Trang 20

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt :

Chăn nuôi đảm bả o đúng quy trình kỹ thu ật là điều rất cần thiết , chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ t ạo ra những gia súc khoẻ m ạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngư ợc lại Ô chuồng l ợn nái phải đư ợc vê ̣s inh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiêt ̣ đô ̣trong chuồng phải đảm bảo 27 – 300C đối với lợn sơ sinh và 28 – 300C với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không ẩm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch

sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu xuân

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [16] từ 3 – 5 ngày trước dự kiến đẻ, ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ

- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi

Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, đảm bảo cách

ly với môi trường xung quanh.Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và để trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1-2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi

- Phòng bệnh bằng vắc xin : Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất

Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [5] vắc xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền

Trang 21

như ARN, AND… ) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử ( vắc xin thế hệ mới – vắc xin công nghệ gen ) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễm dịch làm cho động vật có miễm dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ướng

Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch

- Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng

- Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

- Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

- Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa

Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [5] các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là :

+ Hộ lý : cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt ( thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân ,

Trang 22

nước tiểu phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó.Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh

+ Dùng kháng huyết thanh : chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng ( huyết thanh kháng độc tố)

+ Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị,vì nếu một loại thuốc chưa có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn.Tuy nhiên sử dụng kháng sinh

có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh.Vì vậy, khi dung thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây :

- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh

- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị

và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

Trang 23

- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dung thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…

Tác dụng: Thuốc sát trùng có tác dụng diệt khuẩn Gram (-), Gram (+), diệt các chất hữu cơ bề mặt, kể cả các tế bào chết bề mặt

2.2.5 Một số bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản trong quá trình thực tập

* Bệnh đẻ khó

Theo Đỗ Quốc Tuấn (2005) [26] khi gia súc sinh đẻ thì thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra ngoài Hiện tượng này do nhiều nguyên nhân, điều kiện dẫn đến, nó được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Đẻ khó gây

ra nhiều tổn thất kinh tế trong chăn nuôi Nó không những gây bệnh cho cơ quan sinh dục dẫn đến hiện tượng vô sinh mà có thể làm cho cả mẹ lẫn con chết Vì vậy, việc can thiệp các trường hợp đẻ khó là điều vô cùng cần thiết Để quyết định phương pháp can thiệp thích hợp, trước hết cần phải tiến hành chẩn đoán kịp thời và chính xác

- Nguyên nhân: Lợn nái không được chăm sóc tốt trong suốt quá trình từ hậu

bị đến chửa, đẻ như: Ít vận động, cơ bụng và cơ hoành, cơ liên sườn yếu, xương chậu hẹp Những trường hợp xương chậu hẹp do bẩm sinh, thai quá to, thời tiết nóng bức, cơ thể mẹ yếu do ăn uống, chăm sóc nuôi dưỡng kém, lợn chửa hay sốt cao, mắc một số bệnh truyền nhiễm và đã được điều trị, lợn nái quá già, nội tiết tố mất cân bằng hay nồng độ hormone kích đẻ (oxytocin và prostagladin F2α) quá thấp trong thời gian đẻ, lợn nái bị liệt 1/3 thân sau, nơi đẻ không phù hợp, cách đỡ đẻ không đúng kỹ thuật (Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, 2004) [11]

Hẹp khe âm môn và tiền đình âm đạo, âm đạo và hẹp cổ tử cung: Xảy ra do bẩm sinh hoặc ở gia súc co thắt sẹo hình thành từ chấn thương hoặc viêm, do phát triển màng sẹo liên kết của vết loét, ung bướu Đôi khi gặp trường hợp đẻ khó ở gia súc đẻ lần đầu do phì đại màng trinh bẩm sinh hoặc mắc phải (tăng sinh van niệu đạo nằm ở thành dưới âm đạo sát mép tiền đình âm đạo) Các cơn rặn đẻ mạnh trong khi đã có các cơn tiền triệu chứng đẻ nhưng gia súc không đẻ được, chứng tỏ hẹp đường sinh dục hoặc thai to quá (Debois C H W 1989) [29]

Trang 24

- Triệu chứng: Lợn nái dặn nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được, cơn co

bóp rặn đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi, khó chịu, nước ối tiết ra nhiều có lẫn cả máu (màu hồng nhạt), có những trường hợp lợn nái đẻ một con rồi nhưng vẫn khó đẻ con tiếp sau Khi kiểm tra thấy thai vướng ngay ở khung xương chậu không qua được (Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, 2004) [11]

- Chẩn đoán: Theo dõi chặt chẽ ngày phối giống, ngày đẻ, cơn co thắt, rặn đẻ,

nếu 1-2 giờ lợn nái rặn liên tục mà không đẻ được, cơn rặn thưa dần, lợn nái mệt, uống nước nhiều, nhịp thở, nhịp tim tăng hơn bình thường (Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, 2004) [11]

- Biện pháp can thiệp:

Theo Trần Thanh Vân và cs (2017) [27] Trong trường hợp lợn đẻ lâu, tức là thời gian đẻ kéo dài, nên cho lợn mẹ uống nước ấm có pha muối, đồng thời dùng tay hỗ trợ động tác đẻ cho lợn Hoặc có thể dùng lợn con đẻ trước cho vào bú mẹ để kích thích lợn mẹ đẻ

Trong trường hợp can thiệp bằng biện pháp trên không có kết quả thì ta có thể

tiêm oxytoxin cho lợn nái, với liều 4ml/lần Một điều hết sức lưu ý không tiêm

oxytoxin khi tử cung chưa mở và trường hợp quan sát thấy lợn nái rặn nhiều lần và kèm theo co chân không đẻ được, nhiều khả năng lợn con nằm ngang bịt kín đường đẩy ra Trong trường hợp như vậy phải can thiệp bằng cách cho tay vào trong để xoay lợn con lại tư thế “thuận ngôi” và cẩn thận, nhẹ nhàng lôi ra ngoài, có như vậy quá trình đẻ mới tiếp tục được Trước khi tiến hành phải dùng khăn và xà phòng để rửa sạch bộ phận sinh dục ngoài và phải dùng găng tay đã được bôi trơn

Có thể tiêm một trong các kháng sinh sau để chống viêm nhiễm:

Ampicillin: 10 mg/kg TT tiêm bắp ngày 2 lần

Trang 25

* Bệnh viêm tử cung (Metritis)

Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống nội ngoại khác nhau Lợn nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh, song tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng, các khu động thực vật ở mỗi vùng khác nhau Khi gia súc sinh, đẻ nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập

và phát triển gây viêm Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra viêm tử cung (Đỗ Quốc Tuấn, 2005) [26]

- Nguyên nhân

Bệnh viêm tử cung ở lợn thường xảy ra sau khi đẻ, có thể xảy ra ở lợn nái sau khi phối giống, rất ít khi xảy ra ở những lợn nái hậu bị Bệnh do những nguyên nhân chính sau:

Trong quá trình chửa, lợn nái chửa ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc

nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: Leptospirosis (lợn nghệ), Brucellosis (sảy thai truyền nhiễm), Pavrovirus và một số bệnh nhiễm khuẩn khác Làm cho cơ thể

lợn nái yếu dẫn đến việc khó đẻ, hay sảy thai, thai chết lưu gây viêm tử cung Trong quá trình đẻ, điều kiện vệ sinh kém, sự can thiệp của người đỡ đẻ không đúng kỹ thuật thú y, nhau thai bi sót là nguyên nhân dẫn đến viêm dạ con (Nguyễn Đức Lưu

Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4-5 ngày cá biệt tới

6-7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang vàng hay trắng và trong, không có màu đen và mùi hôi thối Trong trường hợp có viêm thì sản sinh dịch có thể có màu đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu (Nguyễn Thanh Sơn và Nguyễn Quế Côi, 2006) [18]

Trang 26

Theo Nguyễn Thị Hồng Minh và cs (2013) [12], triệu chứng lâm sàng và điển hình của lợn nái bị viêm tử cung là sốt, kém ăn, mệt mỏi, dịch viêm tử cung chảy ra…

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [8] bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:

+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41-420C trong vài ngày đầu, âm môn sưng tấy đỏ, dịch chảy ra từ âm đạo có màu trắng đục đôi khi có màu máu lờ đờ

+ Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng tấy đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy màu trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không tiết ra liên tục mà theo từng đợt kéo dài vài ngày đến một tuần Lợn thường thụ tinh không có kết quả hoặc khi thụ thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo lan sang thai làm chết thai

Nguyễn Xuân Bình (1996) [1] cho biết: Sau khi đẻ 1-10 ngày nái ăn ít sốt cao 40-410C thường sốt ở buổi chiều 15-17 giờ, ở âm hộ chảy nước đục trắng mùi hôi tanh, (sốt theo quy luật lên xuống) sáng sốt nhẹ 39-39,50C, chiều sốt cao 40-410C

+ Viêm tương mạc tử cung: Là quá trình viêm xảy ra ở lớp ngoài cùng, là thể viêm nặng nhất (Nguyễn Văn Thanh và cs, 2004) [21]

- Chẩn đoán: Dựa vào những triệu chứng lâm sàng để chẩn đoán bệnh, ngoài

ra ta thấy lợn nái có những biểu hiện mất sữa, âm đạo có những dịch tiết không bình thường, âm đạo sẽ thấy những miếng nhau thai sót hoặc thai chết lưu ở tử cung mùi hôi đặc biệt (Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, 2004) [11]

Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (1986) [14] khi kiểm tra qua trực tràng có thể cảm nhận thấy một hoặc hai sừng tử cung sưng to, thành tử cung dày, khi sờ vào phản ứng co lại của sừng tử cung yếu Nếu trong tử cung có tích nước thẩm xuất thì sờ vào thấy có vỗ sóng

Trang 27

- Tiêm thuốc điều trị:

Penicillin bột/lọ: dùng 200.000 UI/kg TT dùng liên tục 3-4 ngày (lợn bệnh cấp tính), 6-8 ngày (lợn bệnh mãn tính)

Kanamycin (Streptomycin) bột/lọ: 15-20 mg/kg TT dùng phối hợp với Penicillin theo thời gian trên

- Dùng các loại thuốc nâng cao thể trạng: Vitamin B1, vitamin C, Cafein

- Hộ lý: Giữ sạch sẽ chuồng trại và bãi chăn thả trong quá trình điều trị

Dùng PGF2α hoặc các dẫn xuất của nó tiêm dưới da 2 ml (25 mg/tiêm một lần), lugol 200 ml (neomycin 12 mg/kg TT) thụt tử cung, Ampicillin 3-5g tiêm bắp hoặc tĩnh mạch tai, ngày một lần Liệu trình điều trị 3-5 ngày (Nguyễn Văn Thanh

và cs, 2004) [21]

Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [11] dùng oxytocin 20-40 UI/nái/ngày để dạ con co bóp, tống thai, các chất ứ bẩn, dịch viêm ra ngoài Thụt rửa âm đạo, tử cung bằng Han-Iodine 5% Dùng kháng sinh liên tục trong 3-5 ngày: Gennofcoli: 1-1,5 ml/10 kg TT

Trang 28

Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy, vi

khuẩn chính gây viêm vú là Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes

đẻ không được sát trùng Tác nhân gây bệnh thường là E.coli, Aerobacter

serogenes, thường là nhiễm do thiếu vệ sinh khi đẻ

Do lợn mẹ bị tổn thương bộ phận sinh dục như âm hộ, âm đạo, tử cung, vú và bầu vú tạo điều kiện cho vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào cơ thể gây viêm nhiễm tại chỗ và vào máu gây nhiễm trùng huyết và viêm vú Lợn mẹ tiết nhiều sữa (do ăn quá nhiều chất đạm) nhưng lợn con không bú hết làm cho sữa bị ứ đọng tạo ra môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, lợn mẹ đẻ ít con nên có nhiều vú bị thừa hoặc lợn mẹ chỉ cho con bú một bên Những vú không được lợn con bú sẽ bị căng sữa dẫn đến viêm vú (http:// www.pkh.vcn.org) [32]

Ngoài những nguyên nhân trên thì (Trương Lăng và Xuân Giao, 2002) [10] còn bổ sung thêm nguyên nhân gây bệnh, đó là do lợn con mới đẻ có răng nanh không bấm nên bú làm sây sát vú mẹ, tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập Chuồng lạnh quá, nóng quá, thức ăn khó tiêu hóa cũng làm ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng

- Cơ chế sinh bệnh: Trong điều kiện chuồng trại, vệ sinh môi trường, khu vực

chăn nuôi kém, vi khuẩn có thể xâm nhập qua ống dẫn sữa ở đầu vú hoặc theo đường máu từ các vết trầy, vết thương bị nhiễm trùng khác trên cơ thể để gây bệnh Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết làm sữa ứ đọng trong bầu vú là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển (http:// www.opac.hc.edu.vn) [31]

-Triệu chứng:

Trang 29

Theo White và cs (2013) [30], biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy

ra có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có mủ, lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,50C Tùy số lượng vú bị viêm mà lợn nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm Tuy vậy, lợn nái cũng lười cho con bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy

Viêm vú ở lợn nái thường xảy ra ở những ngày đầu tiên sau khi đẻ, cũng có thể xảy ra ở thời kỳ mang thai và sau khi tách con Bệnh có thể xảy ra ở dạng cấp tính, mãn tính và cận mãn tính Bầu vú bị viêm sưng, sung huyết, khi sờ thấy nóng

và đau Sữa của bầu vú viêm loãng, đôi khi có màu hồng hoặc có cục casein như bã đậu Nái ốm ăn ít, yếu, nhiệt độ tăng

+ Viêm tiết dịch đặc trưng quá trình viêm ở mô liên kết của tuyến vú, sữa thay đổi Khi bị viêm tiết dịch cata, quá trình viêm lan đến niêm mạc khoang vú, đường tiết sữa và dẫn sữa Trong trường hợp này sữa loãng chứa nhiều cục casein Viêm

mủ đặc trưng chảy mủ khi vắt sữa, gốc vú viêm cứng hoặc có nhiều hạch di động khi sờ

+ Khi bị viêm dạng cấp tính, vú bị viêm một bầu hoặc vài bầu vú bị viêm sờ thấy cứng, đau, sưng, thành phần sữa thay đổi Tình trạng này kéo dài khoảng 4 ngày Lợn con chết khoảng 30-100% do thiếu sữa và bú sữa nhiễm trùng gây tiêu chảy Dạng viêm vú kéo dài 7-21 ngày sau khi đẻ, triệu chứng giống như viêm cấp tính nhưng ở mức độ nhẹ hơn Khi bị viêm mãn tính trong vú sẽ phát triển tăng sinh các mô liên kết, thông thường những chỗ này về sau sẽ phát triển thành các ổ áp xe (Lê Văn Năm và cs, 1999) [13]

Theo Trương Lăng (2009) [9] thì sau khi đẻ 1-2 ngày thấy vú sưng đỏ, lợn mẹ

ăn ít hoặc bỏ ăn Vú viêm không cho sữa, đầu vú sưng nóng, sờ lợn có biểu hiện đau, không cho con bú, đàn con thiếu sữa gầy yếu nhanh chóng và kêu rít nhiều Sốt cao 40-420C, sữa vú viêm chứa mủ màu xanh, lợn cợn, lắc có vẩn đục, để ra gió có mùi hôi Nếu không điều trị kịp thời vú sẽ cứng gây viêm kinh niên không cho sữa Khi viêm, ban đầu chỉ một vú viêm, không chữa trị sẽ lây lan sang vú khác

Trang 30

Sau khi đẻ 2 ngày xuất hiện những vú sưng thường thấy đối xứng giữa hai hàng vú, sờ có cảm giác nóng, ấn vào nái có phản ứng đau Nếu viêm nặng thì nái

bỏ ăn, không cho con bú, sốt 40,5 - 420C, vắt ở những vú viêm thấy vón cục Vú viêm lây sang các vú khác rất nhanh, nếu điều trị không kịp thời nái sẽ bị mất sữa

và sơ hóa nang tuyến mất khả năng tạo sữa (http://www.skhcn.vinhlong.gov.vn) [33]

- Chẩn đoán:

Dựa trên triệu chứng lâm sàng như lợn nái cho con bú rồi nằm úp vú, lợn con không no đòi bú thêm chạy lộn xộn, kêu la đòi bú Lợn con gầy, da lông không mượt, chậm lớn, có con ốm, ỉa chảy Quan sát bầu vú sưng hồng, sờ thấy nóng hơi cứng, khi vắt thường không thấy sữa, chỉ thấy những dịch hay những giọt sữa đặc như bã đậu Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm người ta dùng phương pháp thử Bromua (để xác định pH), phương pháp tìm bạch cầu và phương pháp phân lập vi khuẩn

- Cố định vú bú, giữ cho con yếu, nhỏ trong đàn được bú 2 cặp vú đầu liên tục trong 2-3 ngày đầu để giúp đàn lợn con phát triển đồng đều

- Nếu số lợn con đẻ ra nhiều hơn số vú của lợn mẹ thì nên chia đôi và thực hiện cho bú luân phiên Nhóm 1 bú xong cho vào ổ ấm, chờ 1-2 tiếng sau cho nhóm

2 vào

Ngày đăng: 27/11/2017, 15:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình (1996), Điều trị bệnh heo nái, heo con, heo thịt, Nxb Tổng hợp, Đồng Tháp, tr. 41 - 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị bệnh heo nái, heo con, heo thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Tổng hợp
Năm: 1996
2. Lê Xuân Cương (1996), Năng suất sinh sản của lợn nái, Nxb Khoa học Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản của lợn nái
Tác giả: Lê Xuân Cương
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1996
3. Cù Xuân Dần (1996), Giáo trình sinh lý học gia súc, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học gia súc
Tác giả: Cù Xuân Dần
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
4. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (2000), Bệnh ở lợn nái và lợn con, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
5. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012 ), Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y, Nxb nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
6. Nguyễn Huy Hoàng (1996), Tự trị bệnh cho heo, Nxb Tổng hợp, Đồng Tháp, tr. 76 - 87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự trị bệnh cho heo
Tác giả: Nguyễn Huy Hoàng
Nhà XB: Nxb Tổng hợp
Năm: 1996
7. Phạm Sỹ Lăng, Phan Dịch Lân (1995), Cẩm nang bệnh lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 226 - 229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang bệnh lợn
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Dịch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
8. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Thọ (2006), Các bệnh ký sinh trùng và bệnh nội sản khoa thường gặp ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bệnh ký sinh trùng và bệnh nội sản khoa thường gặp ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Thọ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
9. Trương Lăng (2009), Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn, Nxb Đà Nẵng, tr 79 - 88 10. Trương Lăng, Xuân Giao (2002), Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn, NxbLao động - Xã hội, tr. 80 - 82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn", Nxb Đà Nẵng, tr 79 - 88 10. Trương Lăng, Xuân Giao (2002), "Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn
Tác giả: Trương Lăng (2009), Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn, Nxb Đà Nẵng, tr 79 - 88 10. Trương Lăng, Xuân Giao
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2002
11. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Công ty cổ phần dược và vật tư thú y Hanvet, tr. 157 - 172 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Năm: 2004
13. Lê Văn Năm, Trần Văn Bình, Nguyễn Thị Hương (1999), Hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 158 - 163 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm, Trần Văn Bình, Nguyễn Thị Hương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
14. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (1986), Thuốc thú y tập II, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc thú y tập II
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1986
15. Nguyễn Như Pho (2002), “Ảnh hưởng của việc tăng cường điều kiện vệ sinh đến hội chứng MMA và năng suất sinh sản heo nái”, Khoa học kỹ thuật thú y, tập IX (số 1), tr. 60 - 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của việc tăng cường điều kiện vệ sinh đến hội chứng MMA và năng suất sinh sản heo nái"”, Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Như Pho
Năm: 2002
16. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
18. Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Quế Côi (2006), Chăn nuôi lợn trang trại, Nxb Lao động - Xã hội, tr. 127 - 130 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn trang trại
Tác giả: Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Quế Côi
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2006
19. Lê Thị Tài, Đoàn Kim Dung, Phương Song Liên (2002), Phòng và trị một số bệnh trong thú y bằng thuốc nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị một số bệnh trong thú y bằng thuốc nam
Tác giả: Lê Thị Tài, Đoàn Kim Dung, Phương Song Liên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
20. Nguyễn Văn Thanh (2007), “Kết quả khảo sát tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên lợn nái ngoại nuôi tại một số trang trại tại vùng đồng bằng Bắc Bộ”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, tập XIV (số 3), tr. 38 - 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo sát tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên lợn nái ngoại nuôi tại một số trang trại tại vùng đồng bằng Bắc Bộ”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2007
21. Nguyễn Văn Thanh và Bùi Thị Tho, Bùi Tuấn Nhã (2004), Phòng và trị một số bệnh thường gặp ở gia súc, gia cầm, Nxb Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phòng và trị một số bệnh thường gặp ở gia súc, gia cầm
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh và Bùi Thị Tho, Bùi Tuấn Nhã
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
Năm: 2004
22. Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2005), Giáo trình sinh lý học động vật, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học động vật
Tác giả: Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2005
23. Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010), ”Tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại và các biện pháp phòng trị”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XVII Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”, Tạp chí khoa học "kỹ thuật thú y
Tác giả: Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w