Quản lý Nhà nước về Trợ giúp pháp lý từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí MinhQuản lý Nhà nước về Trợ giúp pháp lý từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí MinhQuản lý Nhà nước về Trợ giúp pháp lý từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí MinhQuản lý Nhà nước về Trợ giúp pháp lý từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí MinhQuản lý Nhà nước về Trợ giúp pháp lý từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí MinhQuản lý Nhà nước về Trợ giúp pháp lý từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí MinhQuản lý Nhà nước về Trợ giúp pháp lý từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí MinhQuản lý Nhà nước về Trợ giúp pháp lý từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí MinhQuản lý Nhà nước về Trợ giúp pháp lý từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí MinhQuản lý Nhà nước về Trợ giúp pháp lý từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Trần Kim Liễu Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công
trình nào
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Văn Thắng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau gần 02 năm học tập và nghiên cứu tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Việt Nam, được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy, cô giáo đặc biệt là
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của TS Trần Kim Liễu, sự giúp đỡ của các bạn, đến
nay tôi đã hoàn thành Luận văn thạc sĩ Luật học “Quản lý Nhà nước về Trợ giúp
pháp lý từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh”
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, chu đáo của TS Trần Kim Liễu và các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, các thầy, cô giáo, các đồng chí lãnh đạo Ủy ban nhân dân thành phố, Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hồ Chí Minh và Đoàn Luật sư thành phố
Hồ Chí Minh, trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành Luận văn này
TÁC GIẢ
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm của quản lý Nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý 7
1.2 Vai trò của quản lý nhà nước với hoạt động trợ giúp pháp lý 15
1.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý 17
1.4 Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý 23
1.5 Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý 28
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 32
2.1 Các yếu tố đặc thù về vị trí địa lý, kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý ở thành phố Hồ Chí Minh 32
2.2 Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý 33
2.3 Thực trạng về công tác tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý ở thành phố Hồ Chí Minh 37
Chương 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ 60
3.1 Các quan điểm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý 60
3.2 Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý 61
3.3 Những giải pháp hoàn thiện cơ cấu, tổ chức của chủ thể quản lý trợ giúp pháp lý tại thành phố Hồ Chí Minh 64
3.4 Một số giải pháp khác 66
KẾT LUẬN 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTV Cộng tác viên
GDPL Giáo dục pháp luật
LSCTV Luật sư cộng tác viên
LSCTVTGPL Luật sư Công tác viên Trợ giúp pháp lý QLNN Quản lý nhà nước
TAND Tòa án nhân dân
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Mô hình bộ máy QLNN về TGPL 24 Bảng 2.1: Mô hình tổ chức bộ máy hoạt động của Sở Tư pháp TP Hồ Chí Minh 39 Bảng 2.2: Mô hình cơ cấu, tổ chức Trung tâm TGPL thành phố Hồ Chí Minh 41
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trách nhiệm và là một chức năng của xã hội thể hiện tinh thần nhân đạo của Nhà nước hỗ trợ về mặt pháp lý cho các đối tượng khó khăn trong xã hội Nguyên tắc của Đại hội đồng Liên hợp quốc tại Nghị quyết
số 67/187, thì trợ giúp pháp lý (TGPL) bao gồm tư vấn pháp luật, giúp đỡ và đại diện cho người bị giam giữ, người bị bắt hoặc bị phạt tù; người bị tình nghi, bị buộc tội hoặc phạm tội; nạn nhân, nhân chứng trong quá trình tư pháp, miễn phí cho người có điều kiện khó khăn Luật trợ giúp pháp lý của hầu hết các nước không có điều luật riêng về phạm vi điều chỉnh nhưng đều thể hiện quan điểm TGPL do Nhà nước đảm bảo và thực hiện
Chế độ trợ giúp pháp lý (TGPL) là một loại trợ giúp tư pháp được đại đa số các nước trên thế giới áp dụng (khoảng 150 nước) Nó là kết quả tất yếu của sự phát triển trong xã hội, là công cụ để nhà nước thực hiện nghĩa vụ đối với công dân của mình Nhà nước ban hành pháp luật, buộc người dân phải tuân theo Do vậy, Nhà nước cũng phải bảo đảm để pháp luật bảo vệ được quyền lợi của nhân dân Nếu không làm được điều này, tất yếu sự hoài nghi của công chúng đối với pháp luật sẽ nảy sinh và đó sẽ là nguy cơ lớn đối với khả năng thực thi pháp luật của Nhà nước
Cụ thể: Theo kinh nghiệm nghiên cứu ở Đức có quan niệm "TGPL là giúp đỡ một phần hoặc toàn bộ tài chính cho những người không có khả năng thanh toán cho các chi phí về tư vấn pháp luật, đại diện hoặc bào chữa trước toà án" Điều 5, Luật TGPL năm 1997 của bang Queensland (Úc) quy định "TGPL có nghĩa là cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí hoặc có thu phí nhưng với mức thấp hơn so với giá trị thực
tế của dịch vụ" Theo pháp luật của Anh và xứ Wales thì TGPL là “Giúp đỡ pháp lý cho những người không có khả năng chi trả cho việc tư vấn, hỗ trợ và đại diện pháp lý” Đạo luật TGPL năm 1995 của Singapore định nghĩa "TGPL là việc giúp đỡ những người không có khả năng chi trả cho dịch vụ pháp lý" Năm 1959, Đại hội với chủ đề “Trật tự luật pháp trong một xã hội tự do” do Ủy ban tư pháp quốc tế tổ chức ở New Delhi đã khẳng định: “Việc tiếp cận luật pháp của người giàu cũng
Trang 9như của người nghèo là cần thiết đối với việc duy trì trật tự pháp luật, do đó, cần phải tư vấn và đại diện pháp lý phù hợp cho những người mà cuộc sống, tài sản, tự
do, danh dự bị đe doạ nhưng không có khả năng chi trả dịch vụ pháp lý…".[69]
Ở Việt Nam năm 1997, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 thành lập hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đối tượng chính sách Năm 2006, Quốc hội khóa 11 đã thông qua Luật Trợ giúp pháp lý đã tạo
cơ sở pháp lý cho việc hình thành và hoàn chỉnh hệ hoạt động trợ giúp pháp lý tại Việt Nam Tại thành phố Hồ Chí Minh, ngày 21/9/1998, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ra quyết định số 4899/QĐ-UBND về việc thành lập Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước với nhiệm vụ thực hiện trợ giúp pháp lý trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Từ đó đến nay, quy mô tổ chức và chất lượng vụ việc ngày một hoàn thiện hơn
Mặc dù vậy, trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa hiện nay ở nước ta, khi mà sự phân hóa giàu nghèo diễn ra một cách sâu sắc, các chủ thể được trợ giúp pháp lý ngày càng khó tiếp cận các dịch vụ pháp lý thì hoạt động trợ giúp pháp lý trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa đạt được mục đích đã đề ra Nguyên nhân xuất phát từ hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý vẫn còn nhiều bất cập, nhất là về vị trí, vai trò của trợ giúp viên pháp
lý trong hoạt động tố tụng, gây cản trở trong quá trình tác nghiệp của đội ngũ này Việc thu hút người thực hiện trợ giúp pháp lý và tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia hoạt động này vẫn còn yếu Đồng thời, hệ thống cơ quan Quản lý Nhà nước về trợ giúp pháp lý chưa được sắp xếp, quy định một cách cụ thể, đội ngũ quản lý còn yếu kém
Xuất phát từ những nguyên nhân trên, tôi cho rằng nghiên cứu vấn đề về hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp là cần thiết nhằm góp phần nâng cao năng lực quản lý nhà nước và thực hiện trợ giúp pháp lý trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cũng như cả nước nói chung Hơn nữa, thực hiện tốt vấn
đề trợ giúp pháp lý là nhằm đảm bảo quyền được bảo vệ của công dân trước pháp luật, nhất là trong tình hình hiện nay, vấn đề nhân quyền đang được cộng đồng thế
Trang 10giới quan tâm Ngoài ra, thông qua đó cũng góp phần thực hiện Nghị quyết số NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ chính trị mà Đảng và Nhà nước ta quyết tâm thực hiện
48-2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Về các công trình nước ngoài: Có rất nhiều bài viết giới thiệu về hoạt động
trợ giúp pháp lý của các nước trên thế giới như Allen C.Choate với “Trợ giúp pháp
lý tại Trung Quốc” Trong đó, tác giả đề cập một cách tổng quát về trợ giúp pháp lý
tại Trung Quốc như khái niệm trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý, hệ thống trợ giúp pháp lý tại Trung Quốc
Ở nước ta, trong những năm gần đây, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của
xã hội trong tình hình mới, vấn đề trợ giúp pháp lý được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu, các bài báo nghiên cứu của các chuyên gia Xin nêu ra một
số công trình nghiên cứu đáng chú ý:
Các luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ:
- Luận án Tiến sĩ “Điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong điều kiện đổi mới” của tác giả Tạ Thị Minh Lý Luận án đã tập trung nghiên
cứu cở sở lý luận, pháp lý của pháp luật điều chỉnh về Trợ giúp pháp lý; thực trạng điều chỉnh đến trợ giúp pháp lý và những phương hướng hoàn chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý trong điều kiện đổi mới của nước ta
- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện các hình thức tiếp cận pháp luật của người nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Đỗ Xuân Lân Nội dung
của luận văn đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng các hình thức tiếp cận pháp luật của người nghèo Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo cho người nghèo dễ dàng tiếp cận với với pháp luật nói chung và pháp luật về trợ giúp pháp lý nói riêng
- Luận văn “Hoạt động trợ giúp pháp lý tại thành phố Hồ Chí Minh và một
số kiến nghị” của tác giả Lê Thị Diệu Tác giả cũng đã đưa ra các cơ sở lý luận kết
Trang 11hợp với thực trạng phát triển TGPL ở thành phố Hồ Chí Minh để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động trợ giúp pháp lý ở thành phố Hồ Chí Minh
- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện pháp luật về người thực hiện Trợ giúp pháp
lý ở Việt Nam” của tác giả Vũ Hồng Tuyến Tác giả đã đưa ra các cơ sở lý luận,
hoạt động của người trợ giúp pháp lý ở Việt Nam để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về người trợ giúp phá lý ở Việt Nam
- Luận văn thạc sĩ “Trợ giúp pháp lý từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình” của tác giả
Ngô Thị Lý Tác giả đã nêu ra cơ sở lý luận, các quy định pháp luận liên quan đến trợ giúp pháp lý kết hợp với việc nghiên cứu thực tiễn trợ giúp pháp lý ở tỉnh Ninh Bình để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hàn thiện công tác Trợ giúp pháp lý nói chung và ở tỉnh Ninh Bình nói riêng
- Luận văn thạc sĩ “Các giải pháp nâng cao hiệu quả họa động trợ giúp pháp lý” của tác giả Nguyễn Bích Ngọc Tác giả đã tập trung vào việc nghiên cứu và
đánh giá quá trình tổ chức và hoạt động trợ giúp pháplý ở Việt Nam trong thời gian qua rồi từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện
Các đề tài, bài báo nghiên cứu liên quan: Đỗ Xuân Lân với “Chuyên viên
trợ giúp pháp lý với việc đại diện, bào chữa trước Toà án”; Tạ Thị Minh Lý với
“Bàn về khái niệm trợ giúp pháp lý” và “Chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý”, Ngoài ra, cũng có đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ mã số 96-98-034/ĐT: “Mô hình tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay” của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp)
Điểm chung của các công trình nghiên cứu trên là chưa nghiên cứu hoạt động TGPL dưới góc độ quản lý nhà nước, nếu có đề cập cũng chỉ một phần của hoạt động quản lý nhà nước Tuy nhiên, để nghiên cứu và thực hiện đề tài này thì cần phải kế thừa, vận dụng những kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn trong
hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý tại thành phố Hồ Chí
Trang 12Minh, từ đó nêu lên những vấn đề tồn đọng và đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau: Một là, nghiên cứu làm rõ khái niệm, nội dung, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng của TGPL Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động
của TGPL thành phố Hồ Chí Minh; làm rõ những nguyên nhân, hạn chế và những
vấn đề đặt ra cần giải quyết Ba là, đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động TGPL
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đề tài nghiên cứu lý luận về quản lý nhà
nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý Đồng thời, nghiên cứu pháp luật và nghiên cứu thực trạng về quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý
Phạm vi nghiên cứu đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động ban hành
văn bản pháp luật quản lý hoạt động trợ giúp pháp lý, công tác quản lý chất lượng thực hiện trợ giúp pháp lý, quản lý tổ chức và người thực hiện trợ giúp pháp lý và tổ chức bộ máy quản lý tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2007 đến nay
5, Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác –
Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam và nhà nước về con người, chính sách đối với con người, quyền con người, quyền công dân và các vấn đề liên quan đến quyền lực và tổ chức quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn đã sử dụng phương pháp luận của Triết
học Mácxit về chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Đồng thời, tác giả còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê thu thập được trên Internet, sách, báo, tạp chí,…để giải quyết các nhiệm vụ nhằm đạt được mục đích của luận văn đặt ra
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về khoa học: Có giá trị tham khảo đối với nghiên cứu giảng dạy về TGPL
Trang 13Về thực tiễn: Giải pháp có ý nghĩa đối với các cơ quan thực thiện hoạt động
trợ giúp pháp lý
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
1.1 Khái niệm, đặc điểm của quản lý Nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm trợ giúp pháp lý
1.1.1.1 Khái niệm trợ giúp pháp lý
Hiện nay trên thế giới và ở nước ta có nhiều cách hiểu khác nhau về TGPL Hầu hết pháp luật các nước trên thế giới dựa trên lý luận về nhân quyền và bảo đảm nhân quyền, coi TGPL như là một biện pháp bảo đảm tư pháp dành cho người không có điều kiện kinh tế để tiếp cận sử dụng pháp luật như pháp luật của Đức thì coi TGPL là giúp đỡ một phần hoặc toàn bộ tài chính cho những người không có khả năng thanh toán cho các chi phí về tư vấn pháp luật, đại diện hoặc bào chữa trước toà án Khái niệm này tương tự như khái niệm được đưa ra trong từ điển Oxford, theo đó TGPL được hiểu là khoản tiền mà chính phủ hoặc tổ cung cấp cho những người cần để trả cho các dịch vụ pháp lý Tại Hoa Kỳ, thuật ngữ TGPL được
biết với thuật ngữ “legal aid” (đối với hoạt động vào những năm 1960), legal
services, civil legal assistance (được sử dụng từ năm 1965 trở lại đây) được hiểu là cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho những người không thể đáp ứng được chi
phí pháp lý [71] Trong tiếng Trung Quốc TGPL được gọi là “fa lu yuan zhu” có
nghĩa là cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp cho người xứng đáng được miễn phí hoặc với tỷ lệ giảm bớt hoặc trợ cấp thường trong các vụ kiện, tranh chấp [70] Dựa trên hình thức thực hiện, TGPL cũng được hiểu: Giáo dục, tư vấn, thông tin pháp luật; bất cứ dịch vụ pháp luật nào do luật sư cung cấp; các dịch vụ khác trong phạm vi thẩm quyền của TGPL bao gồm dịch vụ của luật sư theo nghĩa vụ, tư vấn pháp luật và hỗ trợ pháp luật theo Luật TGPL 1978 (bản sửa đổi ngày 01/01/2010) của bang Victoria, Australia Quy định tại Đạo luật về hành nghề luật B.E 2528 năm
1985 của Thái Lan, TGPL được hiểu là việc tư vấn và đưa ra ý kiến; soạn thảo các
Trang 15hợp đồng; cung cấp các dịch vụ pháp lý phục vụ hoạt động tranh tụng cho những người nghèo và người bị đối xử bất công
Ở nước ta cũng tồn tại hai trường phái, hiểu khái niệm TGPL ở hai phạm vi, rộng và hẹp, khác nhau:
Theo nghĩa rộng: TGPL được hiểu là sự giúp đỡ miễn phí của Nhà nước và
xã hội cho người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận với các dịch vụ pháp lý (tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa), nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội [61]
Theo nghĩa hẹp: TGPL được hiểu là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn
phí của các tổ chức TGPL cho người nghèo và người được hưởng chính sách ưu đãi
và một số đối tượng khác [62] Ngoài ra cũng có quan niệm cho rằng TGPL là việc giúp đỡ pháp luật miễn phí cho người nghèo và đối tượng được hưởng chính sách
ưu đãi của Nhà nước để họ có điều kiện tiếp cận, sử dụng pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình [65]
Qua các khái niệm được ghi nhận trong các văn bản pháp luật của các nước, cũng như các khái niệm đang tồn tại ở nước ta có thể nhận thấy, TGPL được hiểu là
sự giúp đỡ về mặt pháp lý, bằng nhiều hình thức khác nhau, của Nhà nước và xã hội cho những người không có khả năng chi trả cho các chi phí pháp lý
TGPL, trước hết về mặt ngữ nghĩa thì “trợ giúp” là sự giúp đỡ, hỗ trợ, giúp
cho ai việc gì, đem cho ai cái gì trong lúc khó khăn, đang cần đến [64] hoặc cũng có thể là giúp để làm giảm bớt khó khăn, nghĩa là làm cho một ai đó một việc mà
người đó đang cần [37] Còn thuật ngữ “pháp lý” được hiểu là lý lẽ, lẽ phải theo
pháp luật nói một cách khái quát; pháp lý là lý luận, luận điểm cơ bản đối với pháp luật của một chế độ [51] Trong điều kiện hiện nay, pháp luật là hệ thống các quy phạm do Nhà nước ban hành để quản lý xã hội Mọi người dân phải lấy pháp luật làm chuẩn mực để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Theo hướng tiếp cận này, TGPL là sự giúp đỡ thực hiện một việc, hay nói cách khác là cung cấp một dịch vụ pháp lý cho những người đang cần sự giúp đỡ về mặt pháp lý bảo vệ các quyền và lợi ích của mình theo quy định của pháp luật
Trang 16Qua phân tích ở trên, trợ giúp pháp lý được hiểu là việc nhà nước, tổ chức và
cá nhân thực hiện cung cấp các dịch vụ pháp lý miễn phí hoặc giảm phí qua các hình thức: đại diện, bào chữa, tư vấn pháp luật và các loại hình khác cho những đối tượng nhất định, giúp họ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài về quản lý nhà nước đối với hoạt động TGPL nên khái niệm TGPL trong luận văn được hiểu theo khái niệm được nêu trong các văn bản quy phạm pháp luật, mà cụ thể là Điều 2 Luật TGPL năm 2017 quy định:
“Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.”
1.1.1.2 Đặc điểm trợ giúp pháp lý
- Trợ giúp pháp lý là hoạt động không thu phí, lệ phí, thù lao từ người được TGPL TGPL là trách nhiệm của nhà nước Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện TGPL; khuyến khích, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức hành nghề luật sư và Luật sư, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ hoạt động TGPL
- Trợ giúp pháp lý không chỉ giúp người được Trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình mà còn giúp họ nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và
vi phạm pháp luật
Ngoài những đặc điểm trên thì TGPL có các thuộc tính cơ bản sau:
Một là, khả năng người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt, không thể tiếp
cận các dịch vụ pháp lý để tự bảo vệ mình (mà trong một số tài liệu gọi là người yếu
Trang 17thế) được thụ hưởng một dịch vụ pháp lý từ chuyên gia pháp luật mà không phải chi trả tài chính hoặc chi trả khoản tài chính thấp hơn mức bình thường
Hai là, việc cung cấp dịch vụ pháp lý này nhằm mục đích giúp người được
TGPL bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và
vi phạm pháp luật
Ba là, dịch vụ pháp lý này được thực hiện xuất phát từ trách nhiệm của Nhà
nước đối vối công dân, đặc biệt là những người trong tình trạng không thể tự bảo vệ mình, nhưng cũng có thể xuất phát từ trách nhiệm của xã hội đối với thành viên của cộng đồng Ngoài ra, trách nhiệm nghề nghiệp, của những cá nhân có khả năng chuyên môn cũng thực hiện TGPL như là sự đóng góp cho xã hội
Bốn là, Trợ giúp pháp lý là hoạt động không mang tính quyền lực nhà nước,
không mang tính lợi nhuận nên khác với hoạt động quản lý hành chính thông thường và khác với hoạt động dịch vụ tư vấn – đó chính là tính nhân văn trong vai trò của Nhà nước
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý
1.1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý
Trong xã hội có nhiều kiểu quản lý khác nhau và kiểu quản lý nào cũng quan trọng Song vai trò quản lý của Nhà nước và sự quản lý của nó thì quản lý nhà nước đối với các quá trình phát triển xã hội đã nổi lên, chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng Quản lý nhà nước là sự biểu hiện khả năng mà xã hội có thể sử dụng để tổ
chức và điều chỉnh cuộc sống của mình Trong tác phẩm “Bàn về quyền uy”, Ph.Ăngghen đã viết: “Muốn tiêu diệt quyền uy trong đại công nghiệp, chính là muốn tiêu diệt ngay cả bản thân công nghiệp, chính là tiêu diệt nhà máy sợi để quay
để về với cái xa kéo sợi” [35]
Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa [63]:
Trang 18Theo nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành hiến pháp, luật và
điều hành trên cơ sở hiến pháp và các luật đó Do đó, QLNN theo nghĩa rộng bao hàm QLNN theo nghĩa hẹp Đây là cách hiểu trong khoa học luật hành chính xã hội chủ nghĩa cũng như ở Việt Nam từ trước đến nay Chủ thể của QLNN theo nghĩa hẹp chủ yếu là toàn bộ hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, đứng đầu là Chính phủ và các cơ quan phái sinh từ chúng, các cơ quan, đơn vị, tổ chức trực thuộc Nguyên thủ quốc gia nước ta tuy không phải là người đứng đầu hệ thống hành pháp, nhưng vẫn có nhiều quyền trong lĩnh vực hành pháp nên cũng có thể coi
là một chủ thể tham gia vào quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng: Quản lý nhà nước là toàn bộ mọi hoạt động của nhà nước
nói chung, mọi hoạt động mang tính nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước Chủ thể của QLNN theo nghĩa rộng là tất cả các cơ quan nhà nước của bộ máy nhà nước, tức là cả ba hệ thống cơ quan: Lập pháp, hành pháp và
tư pháp Nhân dân cũng là chủ thể của QLNN theo nghĩa rộng khi thực hiện quyền trưng cầu dân ý - bỏ phiếu toàn dân, hoặc tham gia QLNN bằng các hình thức khác Các tổ chức xã hội, các cơ quan xã hội,…cũng là chủ thể của quản lý nhà nươc theo nghĩa rộng nếu được nhà nước trao quyền thực hiện chức năng nhà nước
Như đã nói ở trên, Quản lý nhà nước là một hoạt động được diễn ra trong nhiều lĩnh vực, nhiều hoạt động của xã hội như kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh-
quốc phòng,…Đối với trợ giúp pháp lý thì:“Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch
vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật”[47] Cho nên QLNN đối với hoạt
động TGPL là một bộ phận trong tổng thể QLNN nói chung QLNN đối với hoạt động TGPL là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan nhà nước (hoặc các tổ chức xã hội nếu được nhà nước ủy quyền) được tiến hành trên cơ sở và để thi
Trang 19hành pháp luật nhằm thực hiện trong cuộc sống hàng ngày các chức năng của nhà nước đối với hoạt động TGPL
1.1.2.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý
Quản lý nhà nước trong hoạt động TGPL cũng có những đặc điểm chung của QLNN, đó là tính tổ chức và điều chỉnh; tính quyền lực nhà nước; tính khoa học; tính kế hoạch và tính liên tục Tuy nhiên, QLNN đối với hoạt động TGPL cũng có những đặc điểm riêng nhằm khẳng định vị trí và vai trò của nó đối với sự phát triển của xã hội, đó là:
- Chủ thể QLNN về hoạt động Trợ giúp pháp lý được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Ở cấp trung ương, đó là Chính phủ, Bộ Tư pháp (có
cơ quan giúp việc là Cục TGPL), UBND cấp tỉnh và cấp huyện, Sở Tư pháp và phòng Tư pháp
Theo Điều 40, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định như sau: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về TGPL Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về TGPL và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về TGPL; Xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành chiến lược, kế hoạch phát triển TGPL và tổ chức triển khai thực hiện; Ban hành các quy định hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ, mẫu giấy tờ trong hoạt động TGPL; tiêu chí xác định vụ việc TGPL phức tạp, điển hình; thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về trợ giúp pháp lý; Hướng dẫn, tổ chức và theo dõi việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về TGPL; Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ cho người thực hiện TGPL; Tổ chức công tác truyền thông về TGPL và việc thẩm định, đánh giá chất lượng vụ việc TGPL; Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện hoạt động TGPL; khen thưởng, kỷ luật và
xử lý vi phạm trong hoạt động TGPL; Tiếp nhận hỗ trợ, đóng góp của tổ chức, cá nhân cho công tác TGPL; Thực hiện hợp tác quốc tế về trợ giúp pháp lý Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện TGPL Ủy
Trang 20ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quản lý nhà nước về TGPL tại địa phương; bảo đảm các điều kiện làm việc cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước
- Khách thể QLNN đối với hoạt động TGPL là trật tự QLNN đối với các hoạt động TGPL được thiết lập bởi các quy định của pháp luật Theo quy định tại Điều 7, Luật TGPL năm 2017 thì những nhóm người sau đây thuộc diện được trợ giúp pháp lý: Người có công với cách mạng; Người thuộc hộ nghèo; Trẻ em trong quá trình tố tụng, xử lý vi phạm hành chính, phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng; Người dân tộc thiểu số thường trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khan; Người
bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo; Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về tài chính: người cao tuổi; người khuyết tật; cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng liệt sĩ; nạn nhân của hành vi mua bán người; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị hại trong vụ án hình sự; nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; người nhiễm chất độc da cam/dioxin; người nhiễm HIV/AIDS
Các đối tượng trên sẽ trợ giúp pháp lý mà không phải trả tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác Bên cạnh đó, họ có quyền tự mình hoặc thông qua người thân thích, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác yêu cầu TGPL; được thông tin về quyền được TGPL, trình tự, thủ tục TGPL khi đến tổ chức thực hiện TGPL và các cơ quan nhà nước có liên quan Họ cũng có quyền lựa chọn tổ chức thực hiện TGPL và người thực hiện TGPL tại địa phương trong danh sách được công bố
- Nhà nước quản lý hoạt động TGPL bằng nhiều hình thức khác nhau bao gồm các hoạt động mang tính pháp lý, các hoạt động ít mang tính pháp lý và cả các hoạt động không mang tính pháp lý, trong đó hình thức cơ bản và quan trọng nhất là hình thức mang tính chất pháp lý, tức là ban hành các quyết định quản lý TGPL được thực hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau, đó là:
+ Hoạt động TGPL miễn phí cho người được TGPL do hệ thống TGPL của nhà nước thực hiện dựa trên quy định của Luật TGPL Đây là hoạt động mà xét về bản chất là sự giúp đỡ pháp luật miễn phí mà Nhà nước dành cho các đối tượng nhất
Trang 21định (gồm người nghèo, người có công với cách mạng, người già cô đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa; người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) đối với các dịch vụ pháp lý như dịch vụ tư vấn pháp luật, dịch vụ thuê luật sư đại diện, bào chữa,
+ Hoạt động bào chữa miễn phí của luật sư, bào chữa viên nhân dân và người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo quy định tại Điều 57, Bộ Luật Tố tụng Hình sự Quy định nhằm bảo vệ quyền của bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ Luật Hình sự, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất Trong những trường hợp này, người thụ hưởng không phải trả một khoản tiền thù lao nào cho người bào chữa mà trách nhiệm thuộc về nhà nước
+ Hoạt động tư vấn pháp luật, giải thích pháp luật của cán bộ, công chức khi công dân yêu cầu để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ Hơn nữa, trong phạm
vi chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nước còn phải có trách nhiệm phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân
+ Các luật sư và tổ chức hành nghề luật sư trong quá trình hành nghề của mình thực hiện việc miễn hoặc giảm thù lao cho thân chủ là người nghèo,…
+ Hoạt động tư vấn pháp luật miễn phí hoặc giảm phí của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật theo quy định tại Nghị định số 77/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/7/2008 về tư vấn pháp luật
+ Hoạt động trả lời pháp luật trên đài, báo, hộp thư công dân, giải đáp pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng khác cũng mang tính chất giúp đỡ về mặt pháp luật một cách miễn phí đối với độc giả
- TGPL là trách nhiệm của nhà nước, nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện TGPL; khuyến khích, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức hành nghề luật sư và Luật sư, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ hoạt động TGPL Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện TGPL như
Trang 22thành lập, tổ chức hệ thống trung tâm TGPL để thực hiện TGPL, đảm bảo cơ sở, vật chất và đội ngũ để thực hiện TGPL Nhà nước khuyến khích tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức hành nghề luật sư và Luật
sư, tổ chức, cá nhân khác tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ hoạt động TGPL bằng việc hướng dẫn, khuyến khích các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị
xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật miễn phí cho các thành viên, hội viên và tham gia thực hiện TGPL miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách, đồng thời bồi dưỡng nghiệp vụ, hỗ trợ cho các tổ chức này về cơ sở vật chất (máy vi tính, tủ sách pháp luật…), cung cấp biểu mẫu, sổ sách nghiệp vụ,…
- Mục tiêu của QLNN đối với hoạt động TGPL là để bảo vệ tốt hơn quyền và nghĩa vụ hợp pháp của người được TGPL, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo
vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật;
- Quản lý nhà nước đối với hoạt động TGPL có nội dung đa dạng như: Xây dựng và ban hành các quyết định QLNN chủ đạo, quyết định QLNN quy phạm, quyết định QLNN cá biệt; Quản lý đội ngũ người thực hiện TGPL, tổ chức thực hiện TGPL; Thanh tra, kiểm tra về TGPL
1.2 Vai trò của quản lý nhà nước với hoạt động trợ giúp pháp lý
Trước năm 1997, thời điểm Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 734/TTg về việc thành lập hệ thống tổ chức TGPL cho người nghèo, đối tượng
chính sách, TGPL tồn tại dưới hình thức “tư pháp bảo trợ”, tập trung ở quyền bào
chữa cho bị can, bị cáo tại phiên tòa và chủ yếu do đội ngũ luật sư thực hiện, các văn bản quy định về hình thức này rất ít, chủ yếu tồn tại dưới dạng một quy định nhỏ trong các văn bản pháp luật Nên hoạt động TGPL chưa thực sự giúp bảo vệ quyền lợi cho người được TGPL Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN hiện nay ở nước ta, vai trò QLNN đối với hoạt động TGPL được đặt ra một cách cấp thiết hơn bao giờ hết
Trang 23Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN hiện nay, có mặt tích cực là thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhưng có mặt tiêu cực là làm gia tăng sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, các vùng lãnh thổ và các nhóm xã hội Khoảng cách giàu nghèo về kinh tế tất yếu dẫn đến sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận với các điều kiện giáo dục, y tế, văn hoá, và đặc biệt
là trong việc tiếp cận với dịch vụ pháp lý Người nghèo thường không có điều kiện
về kinh tế để tiếp cận với các loại dịch vụ pháp lý có thu phí, nên trong nhiều trường hợp không được tư vấn pháp luật hoặc không mời được luật sư bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại Mặt khác, trong điều kiện hệ thống pháp luật nước ta đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện, số lượng văn bản pháp luật ngày càng nhiều và thường xuyên được sửa đổi, bổ sung thì việc người dân tiếp cận với pháp luật để nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, để xử sự phù hợp với pháp luật trong các quan hệ xã hội hàng ngày không phải dễ dàng Do đó, vai trò QLNN đối với hoạt động TGPL càng được thể hiện một cách rõ nét ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, nhà nước có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo công bằng
trong việc hưởng các dịch vụ pháp lý Nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN có mặt tích cực là thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhưng có mặt tiêu cực
là làm gia tăng sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, các vùng lãnh thổ
và các nhóm xã hội, khoảng cách giàu nghèo về kinh tế tất yếu dẫn đến sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận với các điều kiện giáo dục, y tế, văn hoá, Đặc biệt là trong việc tiếp cận với dịch vụ pháp lý Người nghèo thường không có điều kiện về kinh
tế để tiếp cận với các loại dịch vụ pháp lý có thu phí, nên trong nhiều trường hợp không được tư vấn pháp luật hoặc không mời được luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại
Thứ hai, nhà nước ban hành một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật,
tạo hành lang pháp lý cho hoạt động TGPL làm cơ sở, hành lang pháp lý cho hoạt động TGPL Quản lý nhà nước về TGPL là sự tác động có tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước về TGPL đối với tổ chức và hoạt động TGPL, để điều chỉnh các
Trang 24mối quan hệ xã hội về Trợ giúp pháp lý và trật tự pháp luật, góp phần thực hiện chức năng của xã hội trong việc giúp đỡ người nghèo, đối tượng chính sách có điều kiện tương tự như người khác trong việc tiếp cận với pháp luật, nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, đảm bảo mọi người dân đều bình đẳng trước pháp luật, góp phần nâng cao trình độ pháp lý cộng đồng để xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Thứ ba, sự quản lý của nhà nước không chỉ nhằm tổ chức hoạt động TGPL
mà còn nhằm bảo đảm chất lượng hoạt động TGPL Để thực hiện công việc này, nhà nước đã ban hành văn bản hướng dẫn nghiệp vụ đánh giá và xếp loại chất lượng
vụ việc TGPL, quy tắc nghê nghiệp TGPL, tổ chức các lớp tập huấn và nghiệp vụ cho lực lượng thực hiện TGPL,…Nhà nước cũng hợp tác với các Nhà nước, tổ chức, cá nhân quốc tế nhằm năng cao năng lực và khả năng thực hiện TGPL Từ năm 2005, các tổ chức quốc tế (Sida, Novib, SDC và SCS) đã phối hợp với Bộ Tư pháp xây dựng Dự án chung và ký cam kết tiếp tục hỗ trợ phát triển hệ thống TGPL
ở Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Công văn số QHQT ngày 17/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ, hỗ trợ toàn diện cho Cục TGPL,
1850/TTg-63 Trung tâm TGPL trong toàn quốc và 05 Văn phòng TGPL cho phụ nữ
1.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý
1.3.1 Xây dựng và ban hành quyết định quản lý nhà nước về chiến lược,
kế hoạch phát triển trợ giúp pháp lý, các quyết định quy phạm và quyết định tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật
Để thực hiện các nhiệm vụ và chức năng QLNN, các chủ thể quản lý sử dụng nhiều hình thức hoạt động khác nhau, nhưng hình thức cơ bản và quan trọng nhất là hoạt động xây dựng và ban hành quyết định QLNN Hoạt động ban hành quyết định QLNN chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động quản lý, bởi vì hầu hết mọi hình thức hoạt động quản lý khác đều trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ cho hoạt động xây dựng và ban hành các loại quyết định QLNN, hoặc là để tổ chức thực hiện các quyết định đó Quyết định QLNN là phương tiện không thể thiếu và chủ yếu mà các chủ
Trang 25thể quản lý sử dụng để thực hiện hầu hết các nhiệm vụ, chức năng quản lý Theo tính pháp lý, quyết định QLNN được phân thành ba loại [63]:
- Quyết định QLNN chủ đạo là loại quyết định đề ra chủ trương, đường lối,
nhiệm vụ, chính sách, các biện pháp lớn có tính chất chung, là công cụ định hướng chiến lược trong việc thức hiện chức năng lãnh đạo của QLNN
- Quyết định QLNN quy phạm là loại quyết định làm thay đổi hệ thống quy
phạm pháp luật hành chính Quyết định quy phạm có vai trò như là công cụ cơ bản
để thực hiện các nhiệm vu, chức năng QLNN, thiết lập trật tự, định “khuôn khổ”
cho việc thực hiện các hoạt động điều hành cụ thể
- Quyết định QLNN cá biệt, mà còn có thể gọi là “quyết định hành chính”,
có chức năng làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật cụ thể (tức là các quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể cụ thể)
Ở nước ta, trong hoạt động TGPL, để triển khai thực hiện các chủ trương, chiến lược của Đảng, Luật TGPL của Quốc hội, các cơ quan QLNN đã ban hành một loạt các văn bản quyết định quản lý nhà nước Đó có thể là quyết định quản lý nhà nước chủ đạo dưới dạng quyết định của Thủ tướng Chính phủ nhằm nêu lên những việc cần phải làm, thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ về TGPL đối với từng
cơ quan, tổ chức Đồng thời, cũng có thể là quyết định QLNN quy phạm của Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ,…hoặc của liên Bộ như Nghị định, Thông tư, Thông tư liên bộ Các văn bản này tạo thành nền tảng của sự điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động quản lý Đây cũng là công cụ cơ bản để các cơ quan QLNN đối với hoạt động TGPL thực hiện các nhiệm vụ, chức năng QLNN của mình, thiết lập một trật
tự, định khuôn khổ, hành lang cho việc thực hiện các hoạt động điều chỉnh cụ thể về người được TGPL, tổ chức thực hiện TGPL, TGVPL và cộng tác viên TGPL, hoạt động TGPL và quản lý nhà nước về TGPL Quyết định quy phạm là cơ sở cho việc ban hành các quyết định cá biệt Trong quá trình quản lý nhà nước, các cơ quan QLNN đối với hoạt động TGPL cũng ban hành một số lượng lớn các quyết định quản lý nhà nước cá biệt để giải quyết các việc cá biệt, cụ thể như quyết định thành lập Trung tâm TGPL, quyết định kiện toàn Trung tâm TGPL, quyết định bổ nhiệm,
Trang 26miễn nhiệm Giám đốc trung tâm, trưởng chi nhánh trung tâm TGPL, quyết định nâng lương đối với từng công chức, viên chức cụ thể,
1.3.2 Quản lý đội ngũ người thực hiện TGPL, tổ chức thực hiện TGPL
Con người là tổng hoà các quan hệ xã hội, con người sống trong xã hội và không thể tách rời xã hội Khi xã hội càng phát triển thì vai trò của nhân tố con người và quản lý, tổ chức con người lại càng quan trọng Quản lý con người là phải thiết lập được sự hài hoà, tối ưu giữa những lợi ích, nguyện vọng và sự phát triển của cá nhân, tập thể cũng như phải điều hoà được những yêu cầu của cá nhân, tập thể và xã hội với nhau
Trong hoạt động QLNN đối với hoạt động TGPL thì quản lý đội ngũ người thực hiện TGPL bao gồm thực hiện các nội dung:
- Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho người thực hiện TGPL: Người thực hiện TGPL phải là những người am hiểu về pháp luật, có các kỹ năng thực hiện các hoạt động TGPL một cách riêng biệt Do đó, ngoài các kiến thức
và kỹ năng đã có, họ cần phải được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Việc tập huấn, bồi dưỡng phải đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, thường xuyên cập nhật nội dung mới, phù hợp với vị trí công tác của người tham dự, đa dạng hoá và kết hợp linh hoạt các hình thức, phương pháp bồi dưỡng để chuẩn hoá đội ngũ người thực hiện TGPL theo hướng chuyên nghiệp và chuyên sâu
- Tổ chức kiểm tra và cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ TGPL trong phạm
vi thẩm quyền theo quy định của pháp luật: TGVPL là viên chức nhà nước, làm việc tại Trung tâm TGPL nhà nước và đã qua lớp bồi dưỡng nguồn bổ nhiệm TGVPL Trong khi trước đó, đội ngũ này chỉ là những Cử nhân luật (được trang bị kiến thức
cơ bản về pháp luật) và tham dự có kết quả khoá đào tạo nghề luật sư theo chương trình đào tạo của Học viện tư pháp (đối với đối tượng không được miễn đào tạo nghề luật sư theo quy định của Luật luật sư) Nói chung, trước khi tham dự lớp bồi dưỡng nghiệp vụ TGPL, đội ngũ này hầu như không được trang bị các kỹ năng thực hiện các hình thức TGPL cho những đối tượng được TGPL Do đó, lớp bồi dưỡng nghiệp vụ TGPL là nhằm trang bị kỹ năng TGPL, cập nhật kiến thức pháp luật, quy
Trang 27tắc nghề nghiệp Trợ giúp pháp lý nhằm xây dựng đội ngũ TGVPL đủ về số lượng, tinh thông về nghiệp vụ, có kỹ năng tư vấn, đại diện và bào chữa, có đạo đức và bản lĩnh nghề nghiệp
- Quy định mẫu Giấy đăng ký tham gia TGPL, mẫu thẻ TGVPL, mẫu thẻ cộng tác viên, mẫu đơn đề nghị làm cộng tác viên, mẫu hợp đồng cộng tác, bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL, cấp thẻ cộng tác viên
Về quản lý đối với các tổ chức thực hiện TGPL: Các tổ chức thực hiện TGPL
là Trung tâm TGPL nhà nước và các tổ chức tham gia TGPL (gồm: Tổ chức hành nghề luật sư; tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội-nghề nghiệp) Đây là các tổ chức được thành lập để thực hiện TGPL (đối với trung tâm TGPL) hoặc phải đăng ký bằng văn bản
về phạm vi, hình thức, lĩnh vực TGPL với Sở Tư pháp nơi đã cấp Giấy đăng ký hoạt động để thực hiện TGPL (đối với tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật) Việc quản lý các tổ chức thực hiện TGPL giúp các tổ chức này có được cơ sở pháp lý, vật chất, nguồn lực cũng như điều kiện cần thiết khác để thực hiện TGPL
Quản lý đối với các tổ chức thực hiện TGPL bao gồm thực hiện các hoạt động: Quản lý, hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của Trung tâm, Chi nhánh của Trung tâm, của tổ chức tham gia TGPL; ban hành các quy định mẫu về nội quy nơi thực hiện TGPL; hướng dẫn, tạo điều kiện để các hội nghề nghiệp về TGPL, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các cá nhân thực hiện pháp luật về TGPL và tham gia hoạt động TGPL theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ
1.3.3 Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, kỷ luật và xử lý vi phạm trong hoạt động trợ giúp pháp lý
Các cơ quan QLNN về hoạt động TGPL, ngoài chức năng chính của mình đều thực hiện hoạt động bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong QLNN bằng nhiều hình thức, phương pháp, biện pháp khác nhau (gọi là các phương thức bảo đảm pháp chế
và kỷ luật) Nếu không thực hiện tốt loại hoạt động này thì tất yếu sẽ ảnh hưởng xấu
Trang 28đến việc thực hiện chức năng chính Theo quy định của pháp luật, các cơ quan thực hiện QLNN đối với hoạt động TGPL có hai phương thức thanh tra, kiểm tra
Trong hoạt động QLNN đối với hoạt động TGPL thì thanh tra tác động tới hoạt động TGPL, xem xét việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có tham gia vào hoạt động TGPL, nhằm lập lại trật tự và nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước đối với hoạt động TGPL Thanh tra giúp phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động QLNN; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Kiểm tra trong QLNN đối với hoạt động TGPL được hiểu là soát xét, kiểm soát, nó mang tính cụ thể, là hoạt động thường xuyên mà thủ trưởng tiến hành trong quan hệ với cơ quan, nhân viên cấp dưới trong nội bộ cơ quan, tổ chức, như kiểm tra một vấn đề cụ thể nào đó, việc thực hiện một quyết định nào đó Kiểm tra nhằm xác định xem thực tế hoạt động TGPL phù hợp hay không phù hợp với trạng thái định trước Nó cho phép phát hiện và loại bỏ các lệch lạc có thể có trong hoạt động TGPL, hoặc chỉnh lý lại các quyết định đã ban hành trước đây cho phù hợp thực tế
và yêu cầu nhiệm vụ quản lý
Bên cạnh công tác thanh tra, kiểm tra thì việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và
xử lý các vi phạm pháp luật về hoạt động TGPL cũng là rất quan trọng Quyền
khiếu nại, tố cáo của công dân được ghi nhận tại Điều 30 Hiến pháp 2013: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo Người bị thiệt hại
có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.” [41] Theo quy định tại Điều 2, Luật Khiếu nại năm 2011 thì
“Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục
do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại
Trang 29quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Và giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại.”[42]
Trong hoạt động TGPL, người được TGPL có quyền khiếu nại đối với các hành vi từ chối thụ lý vụ việc TGPL, không thực hiện TGPL, thay đổi người thực hiện TGPL của Trung tâm TGPL nhà nước, TGVPL, cộng tác viên khi có căn cứ cho rằng hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình;
tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại về việc cấp, thay đổi, thu hồi Giấy đăng ký thực hiện Trợ giúp pháp lý; cấp, thu hồi thẻ cộng tác viên; quyết định xử lý kỷ luật, quyết định xử phạt hành chính và các quyết định hành chính, hành vi hành chính khác trong lĩnh vực TGPL Về tố cáo, cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về Trợ giúp pháp lý Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về TGPL được tiến hành theo theo quy định của pháp luật về khiếu nại
Khen thưởng là một biện pháp khuyến khích tinh thần trách nhiệm, ý thức sáng tạo, tạo ra một thái độ tận tụy với nghề nghiệp và với nhiệm vụ được giao phó, mang hết sức mình phục vụ nhà nước và nhân dân Khen thưởng là sự đánh giá cao, tích cực của Nhà nước và của xã hội đối với kết quả hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức, phản ánh sự thừa nhận chính thức về mặt nhà nước và xã hội đối với công lao của họ Đây là một biện pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công vụ, tạo ra sự thi đua giữa các cán bộ, công chức, viên chức Khen thưởng còn là một yếu tố quan trọng có liên quan đến việc xem xét nâng ngạch, nâng bậc lương trước thời hạn, bổ nhiệm vào một chức vụ cao hơn, hoặc xét tới các yếu tố khác như cử đi đào tạo chuyên môn, cải thiện điều kiện sinh hoạt vật chất, nhà ở, [49] Vì vậy, nhà nước rất quan tâm đến việc đánh giá đúng đắn, khách quan và khen thưởng kịp thời đối với những người có thành tích trong công tác
Trang 30Bên cạnh khen thưởng, kỷ luật cũng là một biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công vụ Dưới góc độ chung nhất, kỷ luật là tổng thể các quy định nhằm đảm bảo trật tự; nề nếp hoạt động nội bộ của mọi cơ quan, tổ chức của Nhà nước và của xã hội nói chung, cũng như sự tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định đó Nếu vi phạm kỷ luật thì phải chịu trách nhiệm Trách nhiệm kỷ luật hành chính là việc áp dụng những hậu quả bất lợi đối với những cán bộ, công chức, viên chức thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị xử lý kỷ luật Trong QLNN đối với hoạt động TGPL, nếu người thực hiện TGPL, người được TGPL hoặc người khác có hành vi vi phạm quy định của Luật trợ giúp pháp lý; người lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở, gây khó khăn cho hoạt động Trợ giúp pháp lý hoặc vi phạm pháp luật về TGPL thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý
kỷ luật Theo Điều 22, Nghị định 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật trợ giúp pháp lý quy định TGVPL
vi phạm các quy định về việc sử dụng thẻ TGVPL, cộng tác viên vi phạm các quy định về việc sử dụng thẻ cộng tác viên thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý kỷ luật
Người thực hiện TGPL, người được TGPL hoặc người khác có hành vi vi phạm quy định của pháp luật TGPL thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử
lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật Đối với tổ chức tham gia TGPL nếu có hành vi vi phạm quy định của pháp luật TGPL thì bị xử phạt hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật; trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm thì không được tiếp tục tham gia Trợ giúp pháp lý Hình thức, thẩm quyền, thủ tục xử lý vi phạm hành chính về TGPL được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
1.4 Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý
Bộ máy QLNN về hoạt động TGPL có thể được diễn tả bằng mô hình sau:
Trang 31Bảng 1 1: Mô hình bộ máy QLNN về TGPL 1.4.1 Cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương
Ở Trung ương, Chính phủ với tính chất là cơ quan chấp hành của Quốc hội,
cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan có chức năng thống nhất QLNN về TGPL
Các Bộ, cơ quan ngang bộ khác trong nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc thực hiện QLNN về TGPL cụ thể: Quản lý nhà nước về TGPL trong phạm vi lĩnh vực được phân công phụ trách; hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan, đơn vị trực thuộc trong việc thực hiện pháp luật về TGPL; chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện việc phối hợp giải quyết dứt điểm các kiến nghị về việc thi hành pháp luật [17]
Trong hệ thống bộ máy nhà nước ở Trung ương, Bộ Tư pháp là cơ quan có chức năng QLNN về TGPL chính [47] Trong cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, Cục TGPL là cơ quan QLNN và quản lý chuyên ngành về TGPL, có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân công Cụ thể:
Ghi chú:
Sự quản lý trực tiếp;
Sự quản lý, chỉ đạo chuyên môn, nghiệp vụ
CHÍNH PHỦ
Bộ Tư pháp
Cục TGPL
Các Bộ, cơ quan ngang bộ khác
Ủy ban nhân dân
- Quỹ TGPL Việt Nam;
- Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ TGPL.
Trang 32theo Quyết định số 1989/QĐ-BTP ngày 17/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục TGPL thì Cục TGPL có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
1.4.1.1 Trong quản lý nhà nước nói chung
- Xây dựng chiến lược, chương trình quốc gia, quy hoạch, đề án, chương trình, kế hoạch, các biện pháp hỗ trợ phát triển TGPL và dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về TGPL;
- Tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình quốc gia, quy hoạch, đề án, chương trình, kế hoạch, các biện pháp hỗ trợ phát triển TGPL và dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về TGPL sau khi được ban hành hoặc phê duyệt;
- Thống nhất ấn hành các tài liệu về TGPL theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ;
- Hướng dẫn, theo dõi việc thi hành pháp luật trong lĩnh vực TGPL, đề xuất các chính sách, giải pháp nhằm giải quyết vướng mắc, hoàn thiện pháp luật về TGPL; định kỳ báo cáo Bộ trưởng về công tác theo dõi, thi hành pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý của Cục;
- Giúp Bộ trưởng - Chủ tịch Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng ở Trung ương và Tổ giúp việc cho Hội đồng thực hiện nhiệm vụ của cơ quan thường trực Hội đồng theo quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng ở Trung ương;
- Làm đầu mối giúp Bộ trưởng hướng dẫn, theo dõi và tổ chức thực hiện chính sách TGPL trong các Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ;
- Hướng dẫn, tạo điều kiện để các hội nghề nghiệp về TGPL, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các cá nhân thực hiện pháp luật về TGPL và tham gia hoạt động TGPL theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ;
Trang 33- Chỉ đạo, hướng dẫn, xây dựng và thực hiện quản lý Quỹ TGPL Việt Nam theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ;
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực TGPL; Thực hiện truyền thông pháp luật về TGPL theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ;
- Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực TGPL theo quy định của pháp luật
- Thực hiện chương trình cải cách hành chính; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực TGPL theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ;
- Tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng và quản lý đội ngũ công chức, viên chức và người lao động của đơn vị theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ;
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật theo phân cấp của Bộ hoặc do Bộ trưởng giao
1.4.1.2 Trong quản lý chuyên ngành về Trợ giúp pháp lý
- Ban hành theo thẩm quyền các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về TGPL theo quy định của pháp luật;
- Thống nhất quản lý nghiệp vụ TGPL đối với các tổ chức thực hiện TGPL trong phạm vi toàn quốc;
- Hướng dẫn và theo dõi tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL và việc thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển TGPL;
- Thống nhất quản lý, hướng dẫn và tổ chức kiểm tra, đánh giá chất lượng vụ việc TGPL theo quy định của pháp luật;
Trang 34- Hướng dẫn công tác bồi dưỡng nghiệp vụ TGPL và tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ TGPL trong phạm vi thẩm quyền hoặc theo phân cấp của Bộ; tổ chức kiểm tra và cấp Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ TGPL trong phạm vi thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
1.4.2 Cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương
Theo Luật TGPL thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện QLNN về TGPL tại địa phương,
có trách nhiệm bảo đảm biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc cho Trung tâm TGPL nhà nước; thực hiện thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại,
tố cáo, khen thưởng, kỷ luật và xử lý vi phạm về TGPL trong phạm vi địa phương [47] Cụ thể, quy định trên, tại Điều 46, Nghị định 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật trợ giúp pháp lý thì UBND cấp tỉnh có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Hội đồng nhân dân cùng cấp ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về TGPL; Hướng dẫn, tổ chức và theo dõi việc thực hiện pháp luật về TGPL ở địa phương;
- Quyết định thành lập Trung tâm TGPL nhà nước và ban hành Quy chế tổ chức, hoạt động của Trung tâm trên cơ sở quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động của Trung tâm do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành;
- Quản lý về tổ chức và hoạt động TGPL của Trung tâm và Chi nhánh, hoạt động tham gia TGPL của các Văn phòng luật sư, Công ty luật, Trung tâm tư vấn pháp luật ở địa phương;
- Quản lý người thực hiện TGPL ở địa phương; trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê duyệt biên chế của Trung tâm và Chi nhánh; Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho người thực hiện TGPL trong phạm vi địa phương;
- Chỉ đạo Sở Tư pháp thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật trợ giúp pháp lý và quy định của Nghị định này; Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND cấp tỉnh, cơ quan tư pháp cấp dưới phối hợp với Trung tâm
và Chi nhánh trong công tác TGPL ở địa phương;
Trang 35- Lập kế hoạch xây dựng nguồn cán bộ, bảo đảm biên chế, cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động, trang thiết bị, phương tiện làm việc của Trung tâm và Chi nhánh
Tư pháp, tham gia đảm nhiệm một số hoạt động mang tính quản lý đối với các Chi nhánh, Câu lạc bộ TGPL và đội ngũ người thực hiện TGPL trên địa bàn
1.5 Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về TGPL
Hoạt động quản lý nhà nước về TGPL có tác động mạnh mẽ đến công tác tổ chức thực hiện pháp luật, đưa công lý, pháp luật đến với người nghèo, đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, qua đó nâng cao vị thế, vai trò của pháp luật trong quản lý xã hội và bảo vệ quyền công dân
1.5.1 Về thể chế để thực hiện hoạt động Trợ giúp pháp lý
Thể chế giữ vị trí quan trọng đối với hiệu quả hoạt động về TGPL Khi hệ thống pháp luật đã đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và khả thi thì dễ dàng trong quá trình áp dụng pháp luật Hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ sẽ tạo cơ sở phù hợp cho việc củng cố, kiện toàn mạng lưới tổ chức thực hiện TGPL Đồng thời
Trang 36từng bước nâng cao đội ngũ thực hiện TGPL, chất lượng các vụ việc và tăng cường công tác quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý
1.5.2 Về sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước trong hoạt động TGPL
Sự quan tâm lãnh đạo và chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp đối với công tác trợ giúp pháp lý là yếu tố quan trọng để thực hiện tốt hoạt động trợ giúp pháp lý Làm cho hoạt động trợ giúp pháp lý ngày càng đi vào chiều sâu, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân về pháp luật, từ đó góp phần trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
1.5.3 Nhận thức của các cơ quan, ban ngành về Trợ giúp pháp lý
Việc nhận thức đúng và đầy đủ của các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương về hoạt động trợ giúp pháp lý sẽ góp phần đóng góp và hỗ trợ cho hoạt động trợ giúp pháp lý ngày càng hoàn thiện và đến gần với người dân để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân cũng như của xã hội Từ hoạt động nhận thức đúng đắn đối với vị trí, vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý thì các cơ quan, ban ngành mới có sự đầu tư và quan tâm đúng đắn đến hoạt động trợ giúp pháp lý Còn ngược lại, khi sẽ không có sự quan tâm đúng đắn và đầu tư đúng mức cho công tác trợ giúp pháp lý của các địa phương thì chất lượng TGPL sẽ không cao
1.5.4 Về tổ chức bộ máy và đội ngũ thực hiện Trợ giúp pháp lý
Có thể nói năng lực, trách nhiệm và kinh nghiệm của những người thực hiện TGPL giữ vị trí tiên phong để các vụ việc TGPL được hiện hiện tốt hơn Các vụ việc về TGPL không thể đảm bảo khi đội ngũ thực hiện không tốt về cả chuyên môn lẫn đạo đức nghề nghiêp Đồng thời, tổ chức bộ máy và người thực hiện TGPL đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo các hoạt động TGPL Để cho hoạt động trợ giúp pháp lý đạt hiệu quả thì phải được tổ chức tốt từ Trung ương đến địa phương, phai luôn tạo điều kiện tốt nhất về con người, chuyên môn cho hoạt động Trợ giúp pháp lý
1.5.5 Về cơ sở vật chất và kinh phí phục vụ cho hoạt động TGPL
Trang 37Hoạt động TGPL với ý nghĩa là hạt động TGPL miễn phí không có thu Do
đó, nếu không có sự quan tâm và đầu tư về cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động tương xứng với nhu cầu thực tế của nhân dân thì không thể đạt mục tiêu mà Luật TGPL và các văn bản liên quan đã đề ra Khi không có đủ cơ sở vật chất để thực hiện thì việc cung ứng các dịch vụ pháp lý đến với các đối tượng cần được trợ giúp pháp lý sẽ rất khó khăn Cơ sở vật chất và kinh phí đảm bảo cho hoạt động TGPL có tác động gián tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước về TGPL Đây là yếu tố quyết định đến hoạt động TGPL cũng như chất lượng và hiệu quả của công tác TGPL
1.5.6 Hoạt động tuyên truyền phổ biến về trợ giúp pháp lý
Công tác tuyên truyền và phổ biến về TGPL đến người dân là một yêu cầu cần thiết bởi khi đó họ biết được quyền của mình về TGPL, địa chỉ của các tổ chức
về trợ giúp pháp lý Đồng thời, họat động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TGPL còn góp phần nâng cao tinh thần và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có trách nhiệm đối với hoạt động về TGPL
1.5.7 Sự phối hợp giữa các cơ quan trong hoạt động TGPL
Trợ giúp pháp lý cần phải nhận thức rằng đây không phải chỉ là hoạt động của các cơ quan, cá nhân hay tổ chức mà đó là sự phối hợp xuyên suốt và chặt chẽ của nhiều cơ quan, ban ngành Cụ thể như giữa Trung tâm TGPL, Trợ giúp viên pháp lý với Công an, Viện kiểm sát, Tòa án,…trong việc thu thập, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đối tượng cần được trợ giúp pháp lý
Tóm lại, Quản lý hoạt động TGPL của nhà nước nhằm đạt được các mục
đích của hoạt động TGPL TGPL là một hoạt động đã được hình thành từ rất lâu nhưng phải đến khi các cuộc cách mạng tư sản và phong trào nhân quyền phát triển mạng mẽ, TGPL mới được phát triển và đóng một vị trí quan trọng trong xã hội Cùng với sự phát triển mạnh mẽ hiện nay của TGPL, vấn đề QLNN đối với hoạt động TGPL có nội dung rất phong phú và đa dạng, trong đó, quan trọng và chủ yếu
là các nội dung ban hành các quyết định QLNN về TGPL, quản lý đội ngũ người thực hiện TGPL và tổ chức thực hiện TGPL cũng như vấn đề thanh tra, kiểm tra về TGPL Để thực hiện QLNN đối với hoạt động TGPL cần có một hệ thống cơ quan
Trang 38QLNN từ trung ương đến địa phương được tổ chức một cách thống nhất, có sự phân công, phân nhiệm một cách rõ ràng, phù hợp với đặc thù của hoạt động QLNN đối với hoạt động TGPL Tại Trung ương, Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện QLNN về TGPL còn Cục TGPL là cơ quan quản lý chuyên ngành về TGPL; tại địa phương, nhiệm vụ QLNN ở địa phương được phân công cho nhiều cơ quan khác nhau bao gồm: UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện với cơ quan chuyên môn giúp việc tương ứng là Sở Tư pháp và Phòng Tư pháp Ngoài ra, còn có một số
cơ quan thực hiện một số chức năng về QLNN đối với hoạt động TGPL là Trung tâm Trợ giúp pháp lý và UBND cấp xã Cùng với một đội ngũ công chức, viên chức đông đảo, có trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới
Kết luận chương 1
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về Trợ giúp pháp
lý trong Chương 1, tác giả tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm của trợ giúp pháp
lý cũng như khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động Trợ giúp pháp lý; hoạt động quản lý Nhà nước về Trợ giúp pháp lý; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý Trợ giúp pháp lý để từ đó nâng cao nhận thức và có sự quan tâm đúng mức cho hoạt động trợ giúp pháp lý Những vấn lý luận đã trình bày ở Chương 1 là cơ sở tốt nhất để phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý tại thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua từ đó làm cơ sở để các cấp ủy và chính quyền Thành phố từng bước hoàn hiện thể chế và chính sách liên quan đến quản lý nhà nước nhà nước nói chung
và quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ giúp pháp lý nói riêng
Trang 39
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP
PHÁP LÝ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Các yếu tố đặc thù về vị trí địa lý, kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý ở thành phố Hồ Chí Minh
Tiền thân của thành phố Hồ Chí Minh là Sài Gòn cổ xưa được thành lập từ năm 1623, nhưng tới năm 1698, Chúa Nguyễn mới cử Thống soái Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất Phương Nam, khai sinh ra Thành phố Sài Gòn
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong toạ độ địa lý khoảng 100 10' – 10038 vĩ
độ bắc và 1060 22' – 106054' kinh độ đông Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh , Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Đây là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố trẻ, với hơn 300 năm hình thành và phát triển, thành phố có rất nhiều công trình kiến trúc cổ, nhiều di tích và hệ thống bảo
tàng phong phú Là nơi một thời được mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn Đông" đã là
trung tâm thương mại và là nơi hội tụ của nhiều dân tộc anh em, mỗi dân tộc có tín ngưỡng, sắc thái văn hoá riêng góp phần tạo nên một nền văn hoá đa dạng
Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2.095,06 km² Về dân số, tính đến năm 2015, Thành phố có 8.224.000 triệu người và sự phân bố dân cư ở Thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều Trong khi một số quận như 4, 5, 10 và 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km², thì huyện ngoại thành như huyện Cần Giờ có mật độ tương đối thấp 98 người/km² Về mức độ gia tăng dân số, trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên khoảng 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 2,5% Tuy nhiên, nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của Thành phố vượt trên 10 triệu người Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 21,3% tổng sản phẩm (GDP) và 29,38% tổng thu ngân sách nhà nước
Trang 40Về mặt văn hóa - xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi hội tụ nhiều dòng chảy văn hóa Với lịch sử hơn 300 năm hình thành và phát triển, Bến Nghé - Sài Gòn xưa, nay là Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tiếp nhận các nguồn lưu dân từ Miền Bắc, Trung đến lập nghiệp, rồi các di dân người Hoa vào định cư ở Biên Hòa,
Mỹ Tho cùng hội tụ với cư dân bản địa Sau đó, Sài Gòn trở thành một trong những trung tâm của cả nước đón nhận những ảnh hưởng của văn hóa Pháp, Mỹ qua các giai đoạn thăng trầm của đất nước Tính giao thoa hội tụ của những người cần cù vượt khó, hội tụ tài năng và sức lực của cả nước đã biến Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh thành một phức thể văn hóa thông qua phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo,…Nét đặc trưng văn hóa của vùng đất này là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống dân tộc với những nét văn hóa phương Bắc, phương Tây, góp phần thành lối sống, phong cách con người Thành phố Đó là những con người phóng khoáng, năng động, sáng tạo, có bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm [70]
Xuất phát từ những đặc điểm trên, QLNN đối với hoạt động TGPL tại thành phố Hồ Chí Minh ngoài những đặc điểm chung của QLNN đối với hoạt động TGPL, cũng mang những đặc điểm riêng
2.2 Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động TGPL
2.2.1 Văn bản về Trợ giúp pháp lý ở Trung ương
Chính sách, pháp luật về TGPL trong suốt 19 năm qua được từng bước hình thành, kiểm nghiệm trong thực tiễn và ngày càng hoàn thiện Mức độ và phạm vi điều chỉnh của pháp luật về TGPL được mở rộng, đầy đủ, toàn diện, có hiệu lực pháp lý ngày càng cao hơn, mà kết quả cao nhất hiện nay là Luật trợ giúp pháp lý
Từ buổi ban đầu, hoạt động TGPL chỉ được điều chỉnh bằng Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập hệ thống TGPL, Chỉ thị
số 05/2000/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và 16 văn bản của cơ quan có thẩm
quyền ở Trung ương (Thông tư liên tịch giữa Bộ Tư pháp với các Bộ, ngành có liên quan; quyết định, thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp) và các văn bản triển khai thi hành của UBND cấp tỉnh (Quyết định thành lập Trung tâm TGPL của Nhà nước, quyết định ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm; chỉ thị về việc