MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hòa giải ở cơ sở có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống xã hội, vì nó trực tiếp giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho các cấp chính quyền, tăng cường công tác quản lý xã hội ở cơ sở; hạn chế đơn thư, khiếu kiện trong nhân dân, giảm bớt tình trạng gửi đơn khiếu kiện lên Tòa án nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước, tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc của Nhà nước và nhân dân; góp phần phổ biến, giáo dục pháp luật trong cán bộ và nhân dân. Hiện nay, dưới tác động của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, đời sống kinh tế - xã hội của người Việt Nam có những biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ, nhưng truyền thống, tâm lý dân tộc đã tồn tại ngàn đời nay vẫn được bảo tồn và phát huy. Đây là tiền đề rất quan trọng cho hòa giải, tạo ra nhiều khả năng và cơ hội cho hòa giải trong điều kiện mới. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra cho Nhà nước là cần thay đổi cách thức quản lý xã hội. Nhà nước ngày càng phải hạn chế sự can thiệp vào các giữa các chủ thể, tôn trọng quyền tự do thỏa thuận, quyền tự định đoạt của các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Mặt khác, từ khi nước ta chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, các quan hệ xã hội ngày càng phức tạp, các tranh chấp, mâu thuẫn trong nhân dân ngày càng tăng. Các cơ quan có thẩm quyền không thể và cũng không cần giải quyết tất cả mọi tranh chấp, bất đồng giữa các thành viên trong xã hội, khi mà người dân có thể tự dàn xếp ổn thỏa những xích mích trong cộng đồng dân cư nơi họ sinh sống. Tuy nhiên, với đặc điểm địa lý, văn hóa và sự phát triển của vùng, miền, hòa giải ở cơ sở chịu sự chi phối và tác động bởi nhiều yếu tố, Long An có dân số là 1.542.606 người, với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, người dân Long An đa số sống bằng nghề nông và nuôi trồng thủy sản, họ sống trong các mối quan hệ làng xóm, gia đình, dòng tộc ràng buộc chặt chẽ, nên rất coi trọng tình làng nghĩa xóm. Khi có mâu thuẫn, xích mích xảy ra, họ luôn giữ phương châm xử sự: trong gia đình thì "đóng cửa bảo nhau", ra bên ngoài thì "một điều nhịn, chín điều lành". Hơn nữa, người dân còn có thói quen ứng xử theo đạo đức, phong tục, tập quán, hơn là theo pháp luật. Họ thường tìm cách giải quyết êm thấm các mâu thuẫn, xích mích trong nội bộ xóm giềng. Để giữ gìn mối quan hệ - yếu tố quyết định để tồn tại được trong một cộng đồng, hòa giải vẫn được xem là phương án tối ưu khi mà trong ý thức, tâm lý người dân, việc giải quyết các xích mích ở nơi "công đường" là một điều rất nghiêm trọng, mất thể diện, tình làng nghĩa xóm, quan hệ giữa các bên khó có thể hàn gắn như cũ. Họ thích giải quyết bằng "tình làng nghĩa xóm" hơn là giải quyết theo pháp luật. Với nguồn gốc lịch sử, hoàn cảnh sống và tác động của môi trường thiên nhiên đã hình thành nên tính cách người dân Long An. Ngoài tính hiếu khách, hào phóng và đôn hậu, người Long An còn biết bao nét đẹp truyền thống đáng trân trọng như tính nghĩa khí hào hiệp, tấm lòng nhân hậu bao dung, tư chất thông minh và giàu nghị lực, tình yêu quê hương, đất nước và sự đoàn kết, nhất trí trong nhân dân,…. Có thể nói, những đặc điểm tâm lý - xã hội đã ảnh hưởng không nhỏ đến cách hành xử của người dân Long An khi xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn, nhất là những mâu thuẫn, xích mích nhỏ trong cộng đồng dân cư và đặc biệt là việc thực hiện pháp luật của người dân vùng này. Trong điều kiện đẩy mạnh cải cách tư pháp, phát huy dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc phát huy tác dụng của hoạt động hoà giải ở cơ sở càng trở nên có ý nghĩa đối với Việt Nam nói chung với tỉnh Long An nói riêng. Mặc dù đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hoạt động hoà giải cơ sở, hòa giải cơ sở ở tỉnh Long An thời gian qua đã đạt nhiều kết quả quan đáng ghi nhận, tiết kiệm được thời gian, công sức, tiền bạc của Nhà nước và nhân dân; giải quyết kịp thời những vụ việc vi phạm pháp luật, giữ được an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương; nhưng thực tiễn việc thực hiện pháp luật về hoà giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Long An vẫn còn những hạn chế nhất định. Thông thường, những mâu thuẫn, va chạm trong cuộc sống, lúc đầu đơn giản, nhưng do không được quan tâm giải quyết kịp thời cho nên đã nhanh chóng trở thành phức tạp, thậm chí là nguyên nhân xuất hiện những điểm nóng về khiếu kiện. Vì vậy, nghiên cứu toàn diện từ các vấn đề lý luận đến thực tiễn về thực hiện pháp luật hòa giải cơ sở để có bức tranh đầy đủ về những thành tựu cũng như hạn chế hiện nay của công tác quản lý nhà nước về hòa giải cơ sở là rất cần thiết. Đó là lí do mà tác giả đã lựa chọn đề tài “Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở từ thực tiễn tỉnh Long An” làm đề tài luận văn thạc sĩ, nhằm tìm kiếm những giải pháp phù hợp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Long An.
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ 8
1.1 Khái niệm và đặc điểm của thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở 8
1.2 Vai trò của thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở 15
1.3 Nội dung thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở 18
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở 25
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞTRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN 29
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của hòa giải ở cơ sở tại Việt Nam 29
2.2 Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở Long An 34
2.3.Thực trạng thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở 39
2.4 Nhận xét về thực trạng thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Long An 48
Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI CƠ SỞ Ở TỈNH LONG AN 64
3.1 Quan điểm tăng cường thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Long An 64
3.2 Các giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Long An 65
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Tình hình tổ chức và Hòa giải viên trên địa bàn tỉnh Long An (từ năm
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hòa giải ở cơ sở có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống xã hội, vì nó trực tiếp giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho các cấp chính quyền, tăng cường công tác quản lý xã hội ở
cơ sở; hạn chế đơn thư, khiếu kiện trong nhân dân, giảm bớt tình trạng gửi đơn khiếu kiện lên Tòa án nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước, tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc của Nhà nước và nhân dân; góp phần phổ biến, giáo dục pháp luật trong cán bộ và nhân dân
Hiện nay, dưới tác động của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, đời sống kinh tế -
xã hội của người Việt Nam có những biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ, nhưng truyền thống, tâm lý dân tộc đã tồn tại ngàn đời nay vẫn được bảo tồn và phát huy Đây là tiền đề rất quan trọng cho hòa giải, tạo ra nhiều khả năng và cơ hội cho hòa giải trong điều kiện mới Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra cho Nhà nước là cần thay đổi cách thức quản lý xã hội Nhà nước ngày càng phải hạn chế sự can thiệp vào các giữa các chủ thể, tôn trọng quyền tự do thỏa thuận, quyền tự định đoạt của các cá nhân, tổ chức trong xã hội Mặt khác, từ khi nước ta chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, các quan hệ xã hội ngày càng phức tạp, các tranh chấp, mâu thuẫn trong nhân dân ngày càng tăng Các cơ quan có thẩm quyền không thể
và cũng không cần giải quyết tất cả mọi tranh chấp, bất đồng giữa các thành viên trong xã hội, khi mà người dân có thể tự dàn xếp ổn thỏa những xích mích trong cộng đồng dân cư nơi họ sinh sống
Tuy nhiên, với đặc điểm địa lý, văn hóa và sự phát triển của vùng, miền, hòa giải ở cơ sở chịu sự chi phối và tác động bởi nhiều yếu tố, Long An có dân số là 1.542.606 người, với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, người dân Long An
đa số sống bằng nghề nông và nuôi trồng thủy sản, họ sống trong các mối quan hệ làng xóm, gia đình, dòng tộc ràng buộc chặt chẽ, nên rất coi trọng tình làng nghĩa xóm Khi có mâu thuẫn, xích mích xảy ra, họ luôn giữ phương châm xử sự: trong
Trang 62
gia đình thì "đóng cửa bảo nhau", ra bên ngoài thì "một điều nhịn, chín điều lành"
Hơn nữa, người dân còn có thói quen ứng xử theo đạo đức, phong tục, tập quán, hơn là theo pháp luật Họ thường tìm cách giải quyết êm thấm các mâu thuẫn, xích mích trong nội bộ xóm giềng Để giữ gìn mối quan hệ - yếu tố quyết định để tồn tại được trong một cộng đồng, hòa giải vẫn được xem là phương án tối ưu khi mà trong
ý thức, tâm lý người dân, việc giải quyết các xích mích ở nơi "công đường" là một
điều rất nghiêm trọng, mất thể diện, tình làng nghĩa xóm, quan hệ giữa các bên khó
có thể hàn gắn như cũ Họ thích giải quyết bằng "tình làng nghĩa xóm" hơn là giải quyết theo pháp luật Với nguồn gốc lịch sử, hoàn cảnh sống và tác động của môi trường thiên nhiên đã hình thành nên tính cách người dân Long An Ngoài tính hiếu khách, hào phóng và đôn hậu, người Long An còn biết bao nét đẹp truyền thống đáng trân trọng như tính nghĩa khí hào hiệp, tấm lòng nhân hậu bao dung, tư chất thông minh và giàu nghị lực, tình yêu quê hương, đất nước và sự đoàn kết, nhất trí trong nhân dân,… Có thể nói, những đặc điểm tâm lý - xã hội đã ảnh hưởng không nhỏ đến cách hành xử của người dân Long An khi xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn, nhất là những mâu thuẫn, xích mích nhỏ trong cộng đồng dân cư và đặc biệt là việc thực hiện pháp luật của người dân vùng này
Trong điều kiện đẩy mạnh cải cách tư pháp, phát huy dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc phát huy tác dụng của hoạt động hoà giải ở
cơ sở càng trở nên có ý nghĩa đối với Việt Nam nói chung với tỉnh Long An nói riêng Mặc dù đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hoạt động hoà giải cơ sở, hòa giải cơ sở ở tỉnh Long An thời gian qua đã đạt nhiều kết quả quan đáng ghi nhận, tiết kiệm được thời gian, công sức, tiền bạc của Nhà nước và nhân dân; giải quyết kịp thời những vụ việc vi phạm pháp luật, giữ được an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương; nhưng thực tiễn việc thực hiện pháp luật về hoà giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Long An vẫn còn những hạn chế nhất định Thông thường, những mâu thuẫn, va chạm trong cuộc sống, lúc đầu đơn giản, nhưng do không được quan tâm giải quyết kịp thời cho nên đã nhanh chóng trở thành phức tạp, thậm chí là nguyên nhân xuất hiện những điểm nóng về khiếu kiện
Trang 73
Vì vậy, nghiên cứu toàn diện từ các vấn đề lý luận đến thực tiễn về thực hiện pháp luật hòa giải cơ sở để có bức tranh đầy đủ về những thành tựu cũng như hạn chế hiện nay của công tác quản lý nhà nước về hòa giải cơ sở là rất cần thiết Đó là
lí do mà tác giả đã lựa chọn đề tài “Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở từ thực tiễn tỉnh Long An” làm đề tài luận văn thạc sĩ, nhằm tìm kiếm những giải pháp phù
hợp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Long An
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, nghiên cứu về lĩnh vực hòa giải ở cơ sở có nhiều tài
liệu và công trình nghiên cứu, như:
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước “Xung đột xã hội và đồng thuận
xã hội trong quá trình phát triển xã hội và quản lý xã hội – cơ sở lý luận và thực tiễn” do GS.TS Võ Khánh Vinh làm Chủ nhiệm, thuộc Chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước “Quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam”, Hà Nội, 2009 Đề tài đã nêu ra những vấn đề lý luận cơ bản về
xung đột xã hội, coi đó là một trong những trạng thái thường xuyên của cuộc sống con người Xung đột xã hội là sự biểu hiện của những mâu thuẫn xã hội khách quan hoặc chủ quan phản ánh sự đối lập giữa các cá nhân, các nhóm, các tầng lớp, các tổ chức xã hội Giải quyết được cuộc xung đột về thực chất là kết quả đạt được do có
sự thỏa thuận giữa các bên về vấn đề tranh chấp, trong đó hòa giải được coi là phương thức tối ưu
Luận án tiến sĩ luật học của Đào Thị Xuân Lan, Hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh tế tại toà án Việt Nam, Viện Nhà nước và Pháp luật, 2004 Luận án
đã nêu được một số vấn đề lý luận cơ bản về hòa giải các tranh chấp kinh tế tại tòa
án ở Việt Nam sau khi Trọng tài kinh tế nhà nước không còn tồn tại và tòa án đảm nhận nhiệm vụ xét xử các tranh chấp kinh tế, từng bước đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường Luận án tuy không đề cập đến hòa giải ở cơ sở nhưng đã nêu ra một số vấn đề liên quan đến các nguyên tắc và phạm vi hòa giải nói chung, có thể vận dụng khi nghiên cứu thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
Trang 8“Hỏi đáp về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở”, Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia do TS.Nguyễn Duy Hùng và TS.Khuất Duy Kim Hải biên soạn năm 2010
Cuốn sách “Hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến giáo dục pháp luật”, do nhà xuất bản
Tư pháp, Hà Nội ấn hành năm 2006 cũng có một số chương riêng về hòa giải ở cơ
sở và phổ biến giáo dục pháp luật
Một số nhà nghiên cứu về xã hội học cũng có những công trình nghiên cứu
liên quan đến hòa giải ở cơ sở như GS.Tương Lai với bài viết “Đồng thuận xã hội” trên tạp chí Tia Sáng, năm 2005; bài viết “Đồng thuận xã hội và việc xây dựng sự đồng thuận xã hội ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Thị Lan đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị, số 6 năm 2006; Các bài viết của PGS.TS.Bùi Quang Dũng về “Giải quyết xích mích trong nhóm gia đình: phác thảo từ những kết quả nghiên cứu định tính”, “Giải quyết xích mích trong nội bộ nhân dân: phác thảo từ những kết quả nghiên cứu định tính”, “Hòa giải ở nông thôn miền Bắc Việt Nam (giả thuyết dành cho một cuộcnghiên cứu)” đăng trên tạp chí Xã hội học, số 4 năm 2001 và số 3 năm
2002 Một số bài viết trong Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề “Pháp luật hòa giải” năm 2012 và “Thể chế hòa giải ở Việt Nam” số chuyên đề tháng 9 năm
2014 mới chỉ đề cập đến thực tiễn công tác hòa giải như kết quả, một số tồn tại cũng như giải pháp nâng cao hiệu quả và chỉ trong phạm vi một địa bàn nhất định
Sổ tay pháp luật hòa giải ở cơ sở năm 2014 do Nguyễn Thị Tố Nga- Vụ trưởng Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật biên soạn; Sổ tay Hướng dẫn nghiệp vụ về hòa giải ở cơ sở của Nhà xuất bản lao động - Xã hội năm 2014 do ThS.Nguyễn Thị
Trang 9công trình nghiên cứu của nhóm tác giả về “Đánh giá xã hội dân sự ở Việt Nam”;
Dự án điều tra của Viện Xã hội học -Viện khoa học xã hội Việt Nam; hoặc là các công trình nghiên cứu của các chuyên gia Nhật bản và Hàn Quốc
Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện việc thực hiện pháp luật về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Long An Vì vậy, việc nghiên cứu những quy định của pháp luật về tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở và việc áp dụng chúng trên địa bàn tỉnh Long An và đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở là rất cần thiết
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Phân tích những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở, vai trò của thực hiện pháp luật hòa giải đó đối với đời sống xã hội và các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật đối với công tác hòa giải ở cơ sở
- Phân tích đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Từ đó đưa ra những đề xuất, phương hướng và giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải ở cơ
sở trên địa bàn tỉnh Long An
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chủ yếu là các quy định, những vấn đề cơ bản thực
hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở và giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hòa giải ở
cơ sở Trong đó, tập trung nghiên cứu thực trạng giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Long An, thông qua việc tổng kết, đánh giá
Trang 106
của cơ quan chức năng, những nội dung trên đã bộc lộ những hạn chế nhất định Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ
sở trên địa bàn tỉnh Long An
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu một cách tương đối toàn diện, hệ thống
pháp luật Việt Nam về công tác giáo dục pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Long An, nhằm đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Long An
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có các phương pháp cụ thể như sau:
Phương pháp phân tích tổng hợp: Tác giả đã đưa ra những quy định của
pháp luật trên cơ sở đó phân tích những điểm phù hợp, những điểm chưa phù hợp với thực tế áp dụng trên địa bàn tỉnh Long An
Phương pháp thống kê: Thông qua thống kê các số liệu về giáo dục pháp luật
và hòa giải trên địa bàn tỉnh Long An
Phương pháp so sánh: trên cơ sở những phân tích, thống kê số liệu qua các
giai đoạn về thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở, luận văn đánh giá, so sánh, đối chiếu giữa quy định pháp luật với nội dung vấn đề tranh chấp Từ đó,, rút ra được những hạn chế, nguyên nhân, từ đó đưa ra những đề xuất, giải pháp để hoàn thiện
Phương pháp lịch sử: Được trình bày đa phần trong Chương 1 và Chương 2
của luận văn Việc sử dụng phương pháp này nhằm nêu lên quá trình hình thành và phát triển của hòa giải cơ sở; đường lối, cách thức, quy trình thực hiện hòa giải cơ
sở qua các giai đoạn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về khoa học: Có giá trị tham khảo đối với nghiên cứu giảng dạy về Hòa giải
ở cơ sở
Về thực tiễn: Giải pháp có ý nghĩa đối với các cơ quan thực hiện hoạt động
Hòa giải tại cơ sở
Trang 117
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và mục lục, nội dung luận văn được nghiên cứu gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh
Long An
Chương 3: Quan điểm, giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật hòa giải ở
cơ sở trên địa bàn tỉnh Long An
Trang 128
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ 1.1 Khái niệm và đặc điểm của thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hòa giải ở cơ sở
1.1.1.1 Khái niệm hòa giải ở cơ sở
Hiện nay có nhiều quan niệm, khái niệm khác nhau về hòa giải, trong khoa học cũng như trong thực tiễn, tùy theo cách tiếp cận phù hợp với từng loại hình mà
có các khái niệm khác nhau Một số luật gia cho rằng hòa giải là chế định pháp luật hòa giải, coi hòa giải như một nguyên tắc, một trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động của Tòa án; còn các nhà thực tiễn thì coi hòa giải là những hành vi thuyết phục các bên tranh chấp xóa bỏ những tranh chấp, bất đồng, mâu thuẫn Trên thế giới có nhiều quan niệm về hòa giải Theo Hiệp hội hòa giải Hoa Kỳ quan niệm "Hòa giải là một quá trình, trong đó bên thứ ba giúp hai bên tranh chấp ngồi lại với nhau để cùng giải quyết vấn đề của họ" Theo quan niệm này thì vai trò của người hòa giải là người trung gian giúp hai bên tranh chấp ngồi lại với nhau giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng của họ trên cơ sở tự nguyện, chứ người hòa giải không tham gia vào quá trình giải quyết, vào việc thỏa thuận của các bên Theo Từ điển thuật ngữ của ILO/EASMAT về quan hệ lao động
và các vấn đề có liên quan thì coi:
Hòa giải là sự tiếp nối của quá trình thương lượng, trong đó các bên cố gắng làm điều hòa những ý kiến bất đồng Bên thứ ba đóng vai trò người trung gian hoàn toàn độc lập với hai bên , không có quyền áp đặt , hành động như một người môi giới, giúp hai bên ngồi lại với nhau và tìm cách đưa các bên tranh chấp tới những điểm mà họ có thể thỏa thuận được [10, tr.29]
Theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành năm
1992, hòa giải được hiểu là "thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa" và theo Đại Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin phát hành năm 1998 thì hòa giải là “làm cho ổn thỏa tình trạng mâu
Trang 13Tác giả Luận văn cho rằng hòa giải cơ sở là hình thức giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn giữa các bên, có sự tham gia của bên thứ ba với vai trò trung gian, giúp các bên đạt được sự thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội và
tự nguyện thực hiện những thỏa thuận đó
Hiện nay, ở nước ta có nhiều hình thức hòa giải với những phạm vi, đối tượng, phương pháp, trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải khác nhau như: hòa giải tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, hôn nhân và gia đình, hòa giải các tranh chấp lao động, hòa giải của trọng tài kinh tế, hòa giải ở cơ sở (hòa giải các tranh chấp nhỏ trong nội bộ nhân dân)
Từ thực tiễn công tác hòa giải thời gian qua đã khẳng định rõ vị trí, vai trò, ý nghĩa quan trọng của hòa giải viên trong hoạt động hòa giải ở cơ sở Hòa giải viên thực hiện việc hòa giải trên cơ sở pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục tập quán tốt đẹp mang tính nhân dân, nhân đạo và nhân văn sâu sắc, thể hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thông qua đó nhân dân, xã hội trực tiếp tham gia quản lý nhà nước và quản lý mọi mặt đời sống xã hội Thông qua hoạt động hòa giải, các bên tranh chấp thỏa thuận, tự nguyện giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp một cách kịp thời, không để các mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ trở thành lớn, việc đơn giản trở nên phức tạp, gây xung đột xã hội, từ đó góp phần giải tỏa mâu thuẫn, tranh chấp, vướng mắc pháp luật, ngăn ngừa phát sinh tội phạm, giữ gìn tình đoàn kết trong nội bộ nhân dân, ổn
Trang 1410
định trật tự an toàn xã hội Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013 tiếp tục kế thừa và phát
triển khái niệm hòa giải ở cơ sở như sau: Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này [51] Như
vậy, khái niệm hòa giải ở cơ sở trong Luật hòa giải ở cơ sở có kế thừa, phát triển, mang tính khoa học và phù hợp với thực tiễn hiện nay
1.1.1.2 Đặc điểm của hòa giải ở cơ sở
Hòa giải ở cơ sở với ý nghĩa là phương thức giúp các bên thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các vi pham pháp luật và tranh chấp, mâu thuẫn nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố và phát huy tình cảm, đạo lý, truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng ngừa và hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư, Hòa giải ở
cơ sở có một số đặc điểm sau:
- Hòa giải ở cơ sở là hoạt động thuyết phục vận động, giúp đỡ các bên tranh chấp thông cảm hiểu nhau hơn, tự dàn xếp, thỏa thuận để xóa bỏ tranh chấp, nối lại tình cảm gắn bó từ gia đình, xóm giềng, góp phần giữ gìn ổn định, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở
- Hòa giải ở cơ sở được tiến hành bởi hòa giải viên của tổ hòa giải Đây là những người nhiệt tình, tâm huyết, có tinh thần trách nhiệm cao đối với cộng đồng,
ở nhiều độ tuổi khác nhau, hoạt động không lương, phụ cấp của Nhà nước khi tham gia hòa giải
- Phạm vi hòa giải là những tranh chấp, mâu thuẫn, vi phạm pháp luật được giới hạn theo quy định của pháp luật hòa giải ở cơ sở
- Hòa giải ở cơ sở thường được thực hiện linh hoạt, có sự kết hợp vận dụng quy định của pháp luật với phong tục tập quán truyền thống, kinh nghiệm của dân gian, hiệu quả là có tính thuyết phục cao, mang lại kết quả ổn thỏa, lâu bền
- Hòa giải ở cơ sở là một hình thức của tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đã và đang ngày càng phát huy vai trò quan trọng của nó trong việc đưa pháp luật vào cuộc sống
Trang 1511
- Hòa giải ở cơ sở là một phương thức thực hiện dân chủ ở làng xã, thể hiện
tư tư tưởng “yên dân, lấy dân làm gốc”: Từ nghìn năm trước cổ nhân đã khẳng
định “Dĩ dân vi bản” (dân là gốc) Dân là sức mạnh, nguồn sống của đất nước, dân
có được yên ổn đất nước mới được yên ổn, dân có được ấm no đất nước mới có thể giàu mạnh Tư tưởng yên dân, lấy dân làm gốc thể hiện trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong số đó phải kể đến sức của “dân” ở lĩnh vực hòa giải tranh chấp, mâu thuẫn trong xã hội Hòa giải ở cơ sở là một phương thức để thực hiện quyền tự quản của dân, là biểu hiện dân chủ, người dân tự hành động phù hợp với pháp luật
và đạo đức trong quá trình giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn
- Hòa giải cơ sở thể hiện nét văn hóa của dân tộc: Hòa giải là một hiện tượng
xã hội - pháp luật - văn hóa đã thấm vào đời sống của nhân dân ta nhiều thế kỷ, trở thành một nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Việt Trong văn hóa ứng xử,
ý thức cộng đồng Việt Nam cũng được biểu hiện rõ nét, đó là tình yêu thương, tính nhân văn "một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ", hay lòng nhân ái, khoan dung, lòng vị tha “đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”, “một điều nhịn, chín điều lành”, hoặc nặng về đạo đức, duy tình “một trăm cái lý không bằng một tý cái tình”… Tinh thần đó của cộng đồng kích thích những giá trị nhân văn trong quan hệ giữa người với người Sức mạnh tinh thần của cá nhân kết tụ lại trong sức mạnh của cộng đồng, và sức mạnh cộng đồng hòa nhập trong sức mạnh cá nhân đã đem lại ý chí và niềm tin vào tính nhân bản của con người, đó là cơ sở nhận thức rất quan trọng về hòa giải
Trong lịch sử nước ta hòa giải được xem như một phương thức giải quyết có hiệu quả các tranh chấp, mâu thuẫn trong xã hội Nó là một hiện tượng xã hội - pháp luật - văn hóa đã thấm vào đời sống nhân dân ta hàng thế kỷ nay, chi phối và tác động đến nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội và nhà nước, trở thành một nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của cộng đồng người Việt
Hiện nay, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu đặt ra cho Nhà nước là cần thay đổi cách thức quản lý xã hội Nhà nước cần hạn chế sự can thiệp vào các quan hệ mang tính chất “tư”, tôn trọng
Trang 1612
sự tự do thỏa thuận, tự định đoạt của cá nhân, tổ chức Đây là một trong những tiền
đề quan trọng để cho hòa giải nói chung và hòa giải ở cơ sở nói riêng phát huy vai trò của nó trong tình hình mới
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
1.1.2.1.Khái niệm thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
Nhà nước muốn tổ chức, quản lý, điều hành xã hội, phải tiến hành xây dựng pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật Hoạt động xây dựng pháp luật được đánh giá là hoạt động quan trọng sống còn đối với mỗi quốc gia, ảnh hưởng lớn tới sự ổn định và phát triển đất nước, vừa mang tính chất chính trị, vừa mang tính chất kỹ thuật, được tiến hành theo những trình tự, thủ tục phức tạp Nhưng vấn đề không phải ban hành nhiều luật, mà quan trọng là thực hiện chúng
Như vậy, hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật có mối quan
hệ chặt chẽ Xây dựng pháp luật là nội dung của pháp luật, tạo ra hệ thống các quy tắc, khuôn mẫu hành vi Thực hiện pháp luật là hình thức biểu hiện quá trình áp dụng các khuôn mẫu đó vào đời sống xã hội Thực hiện pháp luật, một mặt là đảm bảo thực hiện mục đích xã hội, vì chúng mà nhà nước ban hành pháp luật Mặt khác, thông qua quá trình thực hiện pháp luật có thể kiểm tra, đánh giá tính đúng đắn, phù hợp và những hạn chế khiếm khuyết của pháp luật Qua đó, giúp cho các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng các giải pháp để bổ sung, điều chỉnh hoàn thiện hệ thống pháp luật Thực chất, hoạt động thực hiện pháp luật chính là bước tiếp theo sau khi văn bản luật được ban hành để dưa các quy phạm pháp luật trở thành các quy tắc xử xự của các chủ thể pháp luật làm cho các yêu cầu, quy định của văn bản pháp luật trở thành hiện thực
Qua việc nghiên cứu các tài liệu hiện hành cho thấy có một số quan điểm khác nhau về khái niệm thực hiện pháp luật Có ý kiến cho rằng “thực hiện pháp luật được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” Theo quan điểm của các tác giả Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội: "Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm
Trang 1713
cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật" Còn quan điểm của các nhà khoa học ở trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng: "Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy phạm pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật" [58, tr.465]
Như vậy, các định nghĩa về thực hiện pháp luật được trình bày trên, có thể
rút ra những điểm cơ bản của thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở như sau: Thực hiện pháp luật HGCS là hoạt động có mục đích nhằm thực hiện những yêu cầu của pháp luật HGCS làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống góp phần giải quyết nhanh chóng, kịp thời những tranh chấp nhỏ, những hành vi vi phạm pháp luật nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân góp phần phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, đảm bảo trật tự an toàn xã hội
1.1.2.2 Đặc điểm của thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
Thực hiện pháp luật nói chung, thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở có những đặc điểm mang tính chất đặc thù Những đặc điểm riêng của thực hiện pháp luật hòa giải được quy định bởi vị trí, vai trò của nó trong đời sống xã hội, đó là:
- Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở vừa mang tính quyền lực nhà nước vừa mang tính xã hội Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở là quá trình hoạt động
có mục đích của các chủ thể nhằm làm cho các quy định của pháp luật hòa giải ở cơ
sở được thực hiện trong đời sống thực tế Những quy phạm pháp luật hòa giải ở cơ
sở là hệ thống những quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực hòa giải ở cơ sở Vì vậy, những quy phạm này có tính bắt buộc chung đối với mọi cá nhân, tổ chức trong xã
hội khi tham gia quan hệ pháp luật phát sinh trong lĩnh vực hòa giải ở cơ sở, bảo đảm tính quyền lực của Nhà nước được thực thi trong đời sống thực tiễn Mặt khác,
hòa giải ở cơ sở là lĩnh vực rất được quan tâm của xã hội, luôn có tác động lớn đến đời sống của cộng đồng, vì vậy để thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở có hiệu quả cần phát huy sức mạnh tối đa của các chủ thể, các cá nhân, tổ chức và toàn xã hội
Đó chính là tính xã hội rộng lớn của thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
Trang 1814
- Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở có phạm vi rộng, chủ thể thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở đa dạng phong phú Đó là các cơ quan nhà nước, các tổ
chức, đoàn thể nhân dân, những người trực tiếp làm công tác hòa giải, các cá nhân
là các bên tham gia tranh chấp Hoạt động hòa giải ở cơ sở xuất hiện khi các bên vi phạm pháp luật pháp luật và tranh chấp nhỏ không tự giải quyết được các tranh chấp và mâu thuẫn mà cần có cá nhân hoặc tổ chức làm trung gian đưa ra những ý kiến có tính thuyết phục để các bên tự nguyện xử sự theo các quy định của pháp
luật, đạo đức và phong tục, tập quán Chủ thể thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
trước hết là tổ viên Tổ hòa giải, các cá nhân khác do tổ viên Tổ hòa giải mời hoặc thành viên của các tổ chức thích hợp khác của nhân dân ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư Như vậy, việc hòa giải ở cơ sở không phải do cơ quan nhà nước hay tổ chức nghề nghiệp thực hiện mà do tổ viên Tổ hòa giải thực hiện Ngoài
ra, chủ thể thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở còn có các tổ chức đa dạng và phong
phú bao gồm các cơ quan nhà nước (chính quyền địa phương), tổ chức chính trị xã hội (hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, hội người cao tuổi…), tổ chức xã hội nghề
nghiệp
Nhà nước là chủ thể có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở Nhà nước với tư cách là công cụ chủ yếu tổ chức và quản lý đời sống xã hội trên tất cả các lĩnh vực Các cơ quan quản lý nhà nước về pháp luật hòa giải ở cơ sở được xem là chủ thể có vai trò chủ đạo trong việc đưa pháp luật về pháp luật hòa giải ở cơ sở vào thực hiện trong cuộc sống
- Thực hiện pháp luật hòa giải phản ánh các chuẩn mực đạo đức vận dụng trong đời sống dân cư: Trong xã hội, đạo đức là những chuẩn mực thống nhất cho
mọi người Nhưng việc vận dụng những chuẩn mực đạo đức vào trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội hội lại tuỳ thuộc vào những đặc điểm truyền thống, tâm lý
xã hội của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng và phụ thuộc vào yêu cầu cụ thể của lĩnh vực đó Các nhà khoa học đó từng tổng kết, người Việt Nam thường duy tình hơn là duy lý, luôn coi trọng các giá trị đạo đức trong cách ứng xử, trong hành động hàng ngày, và vì vậy những giá trị, những chuẩn mực đạo đức trong nhiều trường hợp cụ
Trang 1915
thể lại có sức mạnh hơn cả pháp luật Điều đó chi phối khá mạnh mẽ văn hóa pháp luật của cộng đồng và của mỗi thành viên trong cộng đồng đó Trong lĩnh vực hòa giải luôn luôn có tác động của một nhóm các nguyên tắc, các phạm trù đạo đức Chúng định hình, tồn tại và được thực hiện trong quá trình giải quyết các vụ việc ở
mức “thấu tình, đạt lý”
1.2 Vai trò của thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
1.2.1 Vai trò của thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trong hệ thống các phương thức giải quyết tranh chấp và sự cần thiết giải quyết các tranh chấp, xích mích trong cộng đồng bằng hòa giải
Hòa giải nói chung và hòa giải ở cơ sở nói riêng đều đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Hòa giải ở cơ sở là một trong hình thức hòa giải có vai trò rất tích cực, thiết thực để giúp các bên tự nguyện, giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp có hiệu quả, một cách nhẹ nhàng, có lý, có tình vừa hạn chế khắc phục được hậu quả, vừa giữ gìn được tình làng, nghĩa xóm, tình đoàn kết tương thân, tương ái trong cộng đồng Hòa giải ở cơ sở có ưu điểm cơ bản là giải quyết kịp thời ngay từ đầu
các mâu thuẫn, tranh chấp không để tranh chấp trở nên gay gắt, “chuyện bé xé ra to” bằng các biện pháp giải quyết vừa có lý vừa có tình Những người thực hiện và
tham gia hòa giải là những người gần gũi, quen biết hàng ngày cùng lao động, sinh hoạt, dễ tạo sự thông cảm giữa các bên Hòa giải ở cơ sở được thực hiện tốt sẽ góp phần hạn chế các vụ, việc khiếu kiện vượt cấp, giảm bớt các vụ việc phải đưa ra cơ quan có thẩm quyền hoặc Tòa án giải quyết, tiết kiệm thời gian, tiền bạc của nhân dân và nhà nước
Hòa giải ở cơ sở còn trực tiếp tác động đến việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân Khi hòa giải (dù là hình thức nào), hòa giải viên đứng ra hòa giải đều phải vận dụng các quy định pháp luật để giải thích, hướng dẫn các bên tranh chấp, giúp họ hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình để từ đó xử sự phù hợp với quy định pháp luật, chuẩn mực đạo đức xã hội
Thông qua việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở, tổ chức hòa giải và các hòa giải viên góp phần giảm thiểu tranh chấp phát sinh tại tòa án
Trang 2016
1.2.2 Vai trò của thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở đối với công dân
Pháp luật không chỉ được nhìn nhận là của “riêng” Nhà nước, công cụ để nhà nước tổ chức và quản lí xã hội, ngược lại pháp luật đã trở thành “tài sản” chung của toàn xã hội, một loại quy tắc ứng xử đặc biệt quan trọng trong đời sống chung, yếu
tố thiết yếu cho cuộc sống hàng ngày, trong đó có hoạt động hòa giải ở cơ sở.[41]
Thực hiện pháp luật là cơ sở để đảm bảo an toàn xã hội, trong đó con người được yên ổn trong sinh hoạt hàng ngày, nghỉ ngơi, tài sản, bí mật đời tư không bị xâm hại Tuy nhiên, an toàn xã hội luôn có nguy cơ bị phá vỡ hoặc bị xâm hại từ nhiều phía mà nguyên nhân chủ yếu là lòng tham và sự kém hiểu biết cũng như thái
độ ứng xử của con người đối với môi trường xung quanh, điều kiện sinh hoạt, vật chất của xã hội Nhờ sự tác động mạnh mẽ, nhiều mặt của pháp luật trong hoạt động hòa giải ở cơ sở mà an toàn xã hội được đảm bảo, danh dự, tính mạng, tài sản của con người được bảo vệ Nhờ có pháp luật các chủ thể vững tâm hơn, tin tưởng hơn Thực hiện pháp luật trong hòa giải ở cơ sở có sự tác động mạnh mẽ đến giáo dục ý thức pháp luật của các mặt đời sống xã hội
Ngoài ra, việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở để giải quyết các tranh chấp trong xã hội: pháp luật được xem như một loại chuẩn mực công cộng được thừa nhận rộng rãi nhất trong toàn xã hội Với ưu thế đó, pháp luật là chuẩn mực chung, có hiệu quả nhất để các chủ thể tự giải quyết tranh chấp trong đời sống hàng ngày
Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở là phương tiện bảo đảm và bảo vệ quyền con người: Quyền tự do luôn phải đạt trong sự tôn trọng quyền, tự do của người khác, tôn trọng và tuân thủ những quy tắc chung của cộng đồng, mỗi người vừa tôn trọng cái chung, vừa có điều kiện để tự do hành động nhằm đáp ứng lợi ích riêng của mình Nói cách khác, quyền tự do của mỗi người phải bị giới hạn bởi quyền tự do của người khác Pháp luật là phương tiện để mỗi cá nhân phải ràng buộc đối với cá nhân khác và xã hội.Một mặt cá nhân được làm tất cả trừ những việc bị phápluật cấm, mặt khác họ không được làm những gì có hại cho người khác, cho cộng đồng
Trang 2117
Ngoài ra, thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở còn là phương tiện bảo đảm dân chủ, công bằng, bình đẳng và tiến bộ xã hội: Trên bình diện chung nhất, dân chủ có nghĩa người dân là chủ, người dân làm chủ, làm chủ chính bản thân mình, làm chủ xã hội trên tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, trong hoạt động hòa giải ở cơ
sở, thực hiện pháp luật chống lại sự phân biệt đối xử giới tính, dân tộc, tôn giáo , thừa nhận quyền bình đẳng trước pháp luật của tất cả mọi người
Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở có vai trò giáo dục pháp luật cho các chủ thể tham gia, đó là giữ vai trò định hướng tư tưởng cho các chủ thể, là cơ sở hình thành ý thức tuân thủ pháp luật, thái độ tôn trọng pháp luật, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, thúc đẩy hình thành thói quen suy nghĩ và hành động hợp pháp; pháp luật định hướng hành vi con người, thông qua các quy định pháp luật, các chủ thể được biết quyền, nghĩa vụ của mình, từ đó có cơ sở để thực hiện hành vi một cách phù hợp, đúng quy định pháp luật
Hòa giải góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân Khi hòa giải, các hòa giải viên đều phải vận dụng các quy định pháp luật để giải thích, hướng dẫn, thuyết phục các bên tranh chấp, giúp họ hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình để từ đó có xử sự phù hợp với quy định của pháp luật Trong nhiều trường hợp, tranh chấp phát sinh do các bên không hiểu pháp luật, nên lầm tưởng rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm hoặc cho rằng hành vi của mình là đúng pháp luật Nếu các bên được giải thích pháp luật một cách cặn kẽ, tranh chấp có thể sẽ được giải quyết dứt điểm và nhanh chóng Thông qua hòa giải,
ý thức chấp hành pháp luật của người dân sẽ nâng cao Là một hình thức tuyên truyền pháp luật mang lại hiệu quả cao để đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với người dân một cách tự nhiên, trực tiếp, có sức thẩm thấu sâu sắc, sức lan tỏa rộng
Hòa giải góp phần duy trì và phát huy đạo lý truyền thống tốt đẹp, thuần phong mỹ tục của dân tộc, thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư Khi tiến hành hòa giải, hòa giảiviên không chỉ dựa trên các quy định của pháp luật, mà còn phải dựa vào những chuẩn mực đạo đức, văn
Trang 2218
hóa ứng xử, truyền thống để tác động tới các bên tranh chấp Và như vậy, thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở đã làm cho các giá trị truyền thống được bảo tồn và phát huy
1.2.3.Vai trò thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở đối với Nhà nước
Trong hoạt động hòa giải ở cơ sở, việc thực hiện pháp luật tạo ra cơ sở pháp
lý vững chắc cho sự tồn tại của nhà nước Sự hợp pháp tạo ra cho chính quyền thế
và lực, tạo cho nhà nước tư cách và khả năng điều hành hoạt động hòa giải
Pháp luật là công cụ sắc bén để nhà nước bảo vệ mình, bảo vệ an toàn, tính tôn nghiêm của chính quyền được nâng cao Tạo tiền đề để nhà nước thực hiện tốt chức năng tổ chức thực hiện của mình
Pháp luật là cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở Pháp luật thiết lập khuôn khổ cho hoạt động bộ máy nhà nước nói chung, cho hoạt động hòa giải ở cơ sở nói riêng, nhờ vậy, việc tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở được thực hiện dễ dàng, có hiệu quả
Pháp luật là công cụ kiểm soát quyền lực nhà khai, minh bạch trong hoạt động hòa giải thì cần phái có pháp luật điều chỉnh theo khuôn nước trong hoạt động hòa giải ở cơ sở: Thực tế cho thấy, nhà nước thường hay có xu hướng lạm quyền, tham nhũng, độc tài Chính vì vậy, để đảm bảo công khổ đã được quy định
1.3 Nội dung thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
1.3.1 Phạm vi hòa giải ở cơ sở
Một là, mâu thuẫn giữa các bên (do khác nhau về quan niệm sống, lối sống,
tính tình không hợp hoặc mâu thuẫn trong việc sử dụng lối đi qua nhà, lối đi chung,
sử dụng điện, nước sinh hoạt, công trình phụ, giờ giấc sinh hoạt, gây mất vệ sinh chung hoặc các lý do khác);
Hai là, tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự như tranh chấp về quyền sở
hữu, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất;
Ba là, tranh chấp phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình như tranh chấp
phát sinh từ quan hệ giữa vợ, chồng; quan hệ giữa cha mẹ và con; quan hệ giữa ông
Trang 2319
bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa anh, chị, em và giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; ly hôn;
Bốn là, vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật những việc vi
phạm đó chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính;
Năm là, vi phạm pháp luật hình sự trong các trường hợp sau đây:
Không bị khởi tố vụ án theo quy định tại Điều 107 của Bộ luật tố tụng hình
sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;
Pháp luật quy định chỉ khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại, nhưng người bị hại không yêu cầu khởi tố theo quy định tại Khoản 1 Điều 105 của Bộ luật
tố tụng hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;
Vụ án đã được khởi tố, nhưng sau đó có quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng về đình chỉ điều tra theo quy định tại Khoản 2 Điều 164 của Bộ luật tố tụng hình sự hoặc đình chỉ vụ án theo quy định tại Khoản 1 Điều 169 của Bộ luật tố tụng hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;
Sáu là, vi phạm pháp luật bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị
trấn theo quy định tại Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc có đủ điều kiện để áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Chương II Phần thứ năm của Luật xử lý vi phạm hành chính;
Bảy là, những vụ, việc khác mà pháp luật không cấm
- Không hòa giải các trường hợp như: Mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; Vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình mà theo quy định của pháp luật phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội; Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ các trường hợp
Trang 2420
quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều này; Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải
bị xử lý vi phạm hành chính, trừ các trường hợp quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều này; Mâu thuẫn, tranh chấp khác không được hòa giải ở cơ sở quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 3 của Luật hòa giải ở cơ sở, bao gồm: Hòa giải tranh chấp về thương mại được thực hiện theo quy định của Luật thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành;Hòa giải tranh chấp về lao động được thực hiện theo quy định của Bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành [51]
Thể chế hóa Luật Hòa giải ở cơ sở, nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động hòa giải, thể hiện sự thừa nhận của nhà nước đối với tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở Xây dựng thể chế chính là khâu đầu tiên rất quan trọng trong quản lý nhà nước về công tác hòa giải Tuy nhiên, khi thể chế hóa hoạt động hòa giải, cần lưu ý rằng hòa giải ở cơ sở là hoạt động mang tính tự quản của nhân dân, quản lý nhà nước không phải nhằm hành chính hóa hoạt động này, biến Tổ hòa giải
ở cơ sở thành tổ chức của chính quyền mà chủ yếu là chỉ đạo, hướng dẫn, về chuyên môn nghiệp vụ, sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm, bồi dưỡng kiến thức, cung cấp tài liệu cho hòa giải viên, hỗ trợ kinh phí nhằm khuyến khích, thúc đẩy hoạt động hòa giải phát triển rộng khắp, có hiệu quả trong cộng đồng dân cư Hòa giải với tư cách là một khía cạnh, một yếu tố của đời sống xã hội dân sự chính là ở chỗ đó
Với ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống xã hội của công tác hòa giải ở cơ
sở, Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1997), Chỉ thị
số 30/CT-TƯ ngày 18 tháng 02 năm 1998 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20 tháng 4 năm 2007 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, đã xác định việc củng cố tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổ hòa giải là một trong những yếu tố quan trọng góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung và quản lý nhà nước nói riêng Mở rộng các hình thức tổ chức tự quản của nhân dân, công nhân, cán bộ, công chức tự bàn bạc và thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật những công việc mang tính chất xã hội
Trang 25xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân
1.3.2 Nguyên tắc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
+ Thực hiện pháp luật hòa giải phải phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân
Đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình hòa giải viên thực hiện nhiệm vụ của mình Người hòa giải nếu biết kết hợp các chính sách, quy định của pháp luật với các chuẩn mực đạo đức, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc sẽ là một trong những yếu tố quan trọng để làm nên thành công của hòa giải
Tiếp đến, hòa giải viên phải dựa vào các chuẩn mực đạo đức, các phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân ta để khuyên nhủ, giải thích, giúp các bên giải quyết mâu thuẫn được ổn thỏa Nếu chỉ dựa vào các quy định của pháp luật không thôi thì chưa
đủ Phương châm sống "một điều nhịn, chín điều lành", "chín bỏ làm mười" , cách
xử sự bao dung, nhường nhịn, tính nhân ái, nhân văn trong quan hệ giữa người với người trong xã hội Việt Nam luôn tồn tại ngay cả khi có mâu thuẫn, xích mích, tranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, hay với hàng xóm láng giềng Phương châm, cách xử sự đó luôn là sợi dây gắn bó các bên tranh chấp cho dù mâu thuẫn có gay gắt đến đâu chăng nữa Trong mỗi con người đều có những phần tốt, đó là tình yêu, lòng nhân ái, đức vị tha, là trách nhiệm, sự tôn trọng Vì vậy, hòa giải viên phải khơi dậy phần tốt đẹp trong những
Trang 2622
con ngườiấy, luôn biết kết hợp các quy định của pháp luật với đạo đức xã hội, phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân để đạt được kết quả tốt nhất trong quá trình hòa giải
+ Thực hiện pháp luật hòa giải phải tôn trọng sự tự nguyện của các bên, không bắt buộc, áp đặt các bên tranh chấp phải tiến hành hòa giải
Hòa giải là quá trình giải quyết tranh chấp giữa các bên trong đó có sự tham gia của bên thứ ba - hòa giải viên giữ vai trò làm trung gian, trung lập Với vai trò trung gian ấy, hòa giải viên có nhiệm vụ hướng dẫn, thuyết phục các bên, giúp họ tự nhận ra sai lầm, khuyết điểm của mình, động viên họ hiểu ra đúng sai, tự điều chỉnh hành vi của mình để đạt được sự thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Người hòa giải chỉ thuyết phục, hướng dẫn, giúp các bên giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng con đường hòa giải chứ không áp đặt, bắt buộc, áp đặt ý chí của mình buộc các bên phải tiến hành hòa giải nếu các bên không chấp nhận việc hòa giải
Chủ thể của các tranh chấp, bất đồng, mâu thuẫn chính là chủ thể của hòa giải Do đó, chính họ chứ không phải ai khác có toàn quyền quyết định cách thức, biện pháp giải quyết các tranh chấp, bất đồng, mâu thuẫn đó Nếu họ không chấp nhận việc hòa giải thì tổ viên Tổ hòa giải hướng dẫn cho các bên làm thủ tục cần thiết để đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết Đối với tranh chấp phức tạp, mâu thuẫn giữa các bên gay gắt, có thể gây hậu quả ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trong địa bàn dân cư, thì tổ viên Tổ hòa giải kịp thời báo cáo cho tổ trưởng Tổ hòa giải để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền có biện pháp giải quyết Trong trường hợp việc thực hiện thỏa thuận có khó khăn, thì tổ viên Tổ hòa giải động viên, thuyết phục các bên thực hiện thỏa thuận và có thể đề nghị Trưởng thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố hoặc kiến nghị với UBND xã, phường, thị trấn tạo điều kiện để các bên tự nguyện thực hiện thỏa thuận đã đạt được mà không áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành những thỏa thuận của họ Mọi tác động đến ý chí của các bên như cưỡng ép, bắt buộc đều vi phạm nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện của các bên
Trang 27+ Đảm bảo tính kịp thời, chủ động, kiên trì nhằm ngăn chặn vi phạm pháp luật, hạn chế những hậu quả xấu khác có thể xảy ra và đạt được kết quả hòa giải
Trong quá trình hòa giải, bên cạnh việc giúp các bên giải quyết tranh chấp, hòa giải viên đã góp phần nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật của người dân Hay nói cách khác, hoạt động hòa giải ở cơ sở chính là một hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật hiệu quả nhằm từng bước nâng cao nhận thức pháp luật và giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật trong cộng đồng nhân dân
1.3.3 Hình thức thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
+ Tuân thủ pháp luật hòa giải cơ sở: Là hình thức thực hiện pháp luật trong
đó các chủ thể pháp luật tự kiềm chế mình, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm trong quá trình hòa giải cơ sở Các hành vi của họ được thực hiện một cách tự nguyện, theo đúng quy định của pháp luật
Pháp luật quy định mọi tổ chức và công dân không được thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội, không được xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Đó là những điều pháp luật cấm, đồng thời vì lợi ích chung,
Trang 2824
tùy theo tình hình, hoàn cảnh cụ thể mà pháp luật bắt buộc tổ chức, công dân phải làm một việc nào đó Trong quá trình thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở, các cá nhân không được lợi dụng quyền của mình để làm khó khăn phức tạp cho hoạt động bình thường của các bên liên quan Ví dụ: hòa giải viên không được mời các bên tranh chấp đến hòa giải vào những thời điểm không thích hợp; yêu cầu các bên cung cấp những minh chứng mà khó có thể có được
+ Chấp hành pháp luật về HGCS: Là hình thức thực hiện pháp luật mà trong
đó các chủ thể thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý của mình trong quá trình HGCS với một thái độ tích cực Hoạt động chấp hành pháp luật là cơ sở pháp lý để đánh giá công trạng, thành tích và danh dự, phẩm chất tốt đẹp của công dân và tổ chức cũng như các cán bộ, công chức, viên chức nhà nước Pháp luật hòa giải ở cơ
sở đặt ra cho các chủ thể liên quan những quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, yêu cầu phải có nghĩa vụ thực hiện và chấp hành tự giác
+ Sử dụng pháp luật về HGCS: Là hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó
các chủ thể sử dụng các quyền theo quy định pháp luật hòa giải để bảo vệ các quyền
và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình tham gia HGCS (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép), ví dụ: các bên tranh chấp được quyền cung cấp tài liệu, minh chứng để chứng minh lý lẽ của mình Người hòa giải có quyền tổ chức buổi hòa giải theo thời gian phù hợp với điều kiện của cơ quan Tuy nhiên khi thực hiện các quyền đó, các chủ thể phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Ở hình thức này chủ thể có quyền thực hiện hoặc không thực hiện quyền mà pháp luật cho phép theo ý chí của mình, chứ không bị ép buộc phải thực hiện Khi vụ việc
phát sinh, vượt quá thẩm quyền thì chuyển cho các cơ quan chức năng giải quyết
+ Áp dụng pháp luật về HGCS: Là hình thức thực hiện pháp luật hòa giải ở
cơ sở là hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan hoặc người có thẩm quyền tổ chức hòa giải giải quyết các yêu cầu của các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể giữa chủ thể giải quyết yêu cầu với các bên liên quan đến tranh chấp được hòa giải
Trang 2925
Trong bốn hình thức thực hiện pháp luật nói trên, áp dụng pháp luật có sự khác biệt so với các hình thức tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ, nếu như các hình thức tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể thực hiện pháp luật đều có thể thực hiện được thì áp dụng pháp luật là hình thức luôn có sự tham gia của Nhà nước, thông qua các cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ
sở
Ở Việt Nam, việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở chịu sự chi phối và ảnh hưởng sâu sắc của nhiều yếu tố như kinh tế, văn hóa, tư tưởng, truyền thống, tôn giáo
Trong thời đại hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là cơ
sở tinh thần rất quan trọng cho hòa giải Đó là sự tiếp thu và kế thừa có chọn lọc
những tư tưởng nhân bản truyền thống với tinh thần cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân, đồng thời có sự phát triển sáng tạo phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh đất nước ta trong thời đại mới Đây là điều kiện cơ bản để tạo ra một đời sống dân chủ có tính thống nhất và ổn định Có thể nói ý thức hòa giải, đoàn kết cộng đồng của con người Việt Nam là cơ sở bền vững cho những giá trị truyền thống trong văn hoá Việt Nam và tư tưởng hòa giải nhằm duy trì và bảo vệ sự cố kết cộng đồng trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc
Đó là yếu tố tác động tích cự khiến nhà nước quan tâm ban hành các quy định pháp luật hòa giải và quán triệt việc thực hiện các quy định đó trên thực tế Nếu trong nhân dân không thấm nhuần tư tưởng đoàn kết thì việc ban hành quy định về HGCS cũng như việc thực hiện pháp luật về HGCS chắc chắn sẽ gặp những khó khăn nhất định hoặc khó đạt được những kết quả như mong muốn
- Ảnh hưởng của các yếu tố tôn giáo đối với việc thực hiện pháp luật về HGCS Ở đây bàn đến triết lý hòa giải của Phật giáo Mặc dù Việt Nam là nước tôn
trọng tự do tôn giáo nên có nhiều tôn giáo cùng tồn tại và phát triển trong đời sống
Trang 3026
của nhân dân nhưng ảnh hưởng sâu sắc nhất là Phật giáo - tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử Truyền thống hòa giải Việt Nam thấm nhuần triết lý Phật giáo Phật giáo du nhập vào các quốc gia ở Đông Nam Á từ rất sớm và nhanh chóng trở thành bộ phận văn hóa các dân tộc Trong khoảng từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, Phật giáo còn có chức năng là hệ tư tưởng chính thống tiêu biểu cho ý thức quốc gia, tinh thần độc lập tự chủ của một làn sóng hình thành quốc gia dân tộc
Hiểu theo nghĩa rộng, văn hóa hòa giải theo quan niệm của Phật giáo là cấu trúc lớn bao gồm ba cột trụ cơ bản: hòa giải giữa cá nhân với bản thân, hòa giải giữa
con người với con người và hòa giải giữa con người với thiên nhiên [76] Hòa giải giữa cá nhân với bản thânchính là trụ cột cơ bản nhất bởi xung đột, mâu thuẫn
trước tiên xuất hiện từ bên trong tâm thức của con người “Tâm bình thế giới bình” Tinh thần vô ngã vị tha, tư tưởng hòa bình, hòa hợp của Phật giáo đã giúp cho đạo Phật dễ dàng hòa nhập và thích nghi với phong tục tập quán của các nước mà Phật giáo truyền bá đến trong đó có Việt Nam Sự duy trì và phát hy những giá trị tích cực của Phật giáo trong đời sống cộng đồng dân cư người Việt sẽ góp phần giúp cho việc thực hiện pháp luật về HGCS dễ dàng, thuận tiện hơn Một bộ phận dân cư nếu có tri thức đúng về giá trị tinh hoa của Phật giáo sẽ dễ dàng chấp nhận những giải pháp mang tính thân thiện, hòa bình mà hòa giải viên đưa ra Như vậy, việc thực hiện pháp luật về HGCS dẽ dàng đạt mục tiêu
- Ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý: Ý thức pháp luật là một bộ phận của
hình thái ý thức xã hội Ý thức pháp luật bao gồm hai bộ phận: tâm lý pháp luật và
hệ tư tưởng pháp luật Tâm lý pháp luật hình thành một cách tự phát dưới dạng tình cảm, tâm trạng, cảm xúc của các cá nhân và các nhóm xã hội đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý xảy ra trong đời sống xã hội Tâm lý pháp luật biểu hiện cấp
độ nhận thức thông thường dựa trên cơ sở tình cảm pháp luật truyền thống, kinh nghiệm sống, tập quán và tâm lý xã hội Ở cấp độ này, ý thức pháp luật mới chỉ thể hiện sự thừa nhận, tiếp thu và xử sự theo sự thừa nhận, tiếp thu đó: điều hay, lẽ phải, việc nên làm, điều nên tránh… theo tình cảm hướng thiện Hệ tư tưởng pháp
Trang 3127
luật là tổng hợp các tư tưởng, quan điểm, quan niệm có tính chất lý luận và khoa học về pháp luật và các hiện tượng pháp luật một cách sâu sắc, tự giác dưới dạng các khái niệm, các phạm trù khoa học Nó là cơ sở để sáng tạo các giá trị pháp luật, phổ biến các tư tưởng, quan điểm pháp luật tiến bộ, nhân văn trong xã hội Ý thức pháp luật là sản phẩm của quá trình phát triển xã hội chịu ảnh hưởng sâu sắc của các
hệ tư tưởng và quan niệm xã hội Ý thức pháp luật - đó là trình độ hiểu biết của các tầng lớp nhân dân về pháp luật
Văn hóa pháp lý bao gồm các yếu tố sau: ý thức pháp luật; hệ thống pháp luật; hành vi, lối sống theo pháp luật của từng cá nhân, cộng đồng và cách thức, trình độ sử dụng các công cụ pháp luật của nhà nước trong quá trình quản lý nhà nước và xã hội Bản chất của văn hoá pháp lý được thể hiện ở sự hài hoà giữa tính nhân văn, tính xã hội (tính cộng đồng) Tính nhân văn thể hiện ở chỗ nó phản ánh các nhu cầu và lợi ích của con người, quy định và điều chỉnh các quan hệ giữa người với người theo những chuẩn mực chung, đó là an toàn, công khai, dân chủ, bình đẳng, công bằng, tự do Khi tham gia vào đời sống pháp luật, mỗi chủ thể đều phải tôn trọng những chuẩn mực chung; phải gạt bỏ hoặc tự hạn chế những yêu cầu riêng, lợi ích riêng Những chuẩn mực chung này được thể hiện công khai, cụ thể dưới dạng những nguyên tắc, quy tắc ứng xử với những yêu cầu cụ thể Do đó, tính nhân văn của văn hóa pháp lý không những chỉ được thể hiện dưới dạng hình thức xác định mà còn có điều kiện để bảo đảm thực hiện và được bảo vệ khi nó bị xâm hại Tính nhân văn trong văn hoá pháp lý trở thành yêu cầu, cách sống, các chủ thể phải được tôn trọng, phải tôn trọng lẫn nhau, có nghĩa vụ và trách nhiệm với mình
và với xã hội, vì vậy có ảnh hưởng rất lớn đến thể chế hòa giải ở Việt Nam Tính nhân văn đòi hỏi con người sống vì người khác, những người khác sống vì một người; biết chia sẻ, nhường nhịn để có cuộc sống yên bình, hạn chế xung đột, mâu thuẫn Bên cạnh đó, tính xã hội của văn hoá pháp lý cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến thể chế hòa giải Pháp luật là một đại lượng chung, thể hiện ý chí chung của các tầng lớp trong xã hội; đó không phải là con số cộng đơn giản các ý chí, lợi ích của từng cá nhân hay nhóm xã hội, mà là sự kết tinh những cái có tính điển hình, phổ
Trang 3228
biến, hợp lý và được thừa nhận rộng rãi Tuy nhiên, do tính chất phức tạp của các mối quan hệ xã hội, pháp luật chỉ có khả năng lựa chọn những cái cơ bản, điển hình, phổ biến để quy định và điều chỉnh và thông qua đó để tác động tới các quan hệ xã hội khác vận động và phát triển theo đúng quy luật, định hướng, yêu cầu và mục đích đặt ra Thể chế hòa giải là một thể chế phi cưỡng chế, hoàn toàn tự nguyện, không cần dùng nhiều đến pháp luật, vì vậy đã tồn tại và phát huy tác dụng của mình trong việc thực hiện pháp luật mà không cần đến bộ máy cưỡng chế nào
Kết luận chương 1
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật hòa giải ở cơ sở trong Chương 1, tác giả tập trung phân tích khái niệm, đặc điểm, vai trò của Hòa giải ở cơ sở; hoạt động quản lý Nhà nước thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở, từ đó nâng cao nhận thức và có sự quan sâu sắc đến hoạt động Hòa giải ở cơ sở
Những vấn đề lý luận đã trình bày ở Chương 1 là cơ sở tốt nhất để phân tích
và đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Long
An trong những năm qua
Trang 3329
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN 2.1 Quá trình hình thành và phát triển của hòa giải ở cơ sở tại Việt Nam
2.1.1 Giai đoạn từ năm 1998 – đến tháng 6/2013
Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của công tác hoà giải, từ tình hình tổ chức và hoạt động hoà giải trong thời gian qua và từ thực trạng pháp luật hiện hành về lĩnh vực này, ngày 25/12/1998, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh về
tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở (viết tắt là Pháp lệnh về hòa giải), có hiệu lực
từ ngày 08/01/1999 Ngày 18/10/1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 160/1999/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở (viết tắt là Nghị định số 160/1999/NĐ-CP), có hiệu lực từ ngày 01/11/1999 Đây là hai văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao quy định đầy
đủ và đồng bộ các vấn đề về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở, thể hiện tính kế thừa, tính liên tục của truyền thống hoà giải ở nước ta; tạo cơ sở pháp lý cho việc tiếp tục củng cố tổ chức, xây dựng đội ngũ tổ viên tổ hoà giải và tăng cường vai trò, trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội khác, cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang và công dân đối với công tác hoà giải ở cơ sở
Thực hiện Pháp lệnh hòa giải và Nghị định số 160/1999/NĐ-CP, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương được thành lập và hoạt động trên phạm vi cả nước, cụ thể :
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác hòa giải trong phạm vi
cả nước Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước
về công tác hòa giải ở cơ sở; chỉ đạo và hướng dẫn Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở địa phương
Bộ Tư pháp có trách nhiệm: Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức
và hoạt động hòa giải trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền; hướng dẫn về tổ chức và hoạt động hòa giải trong phạm vi cả nước; tổ chức bồi dưỡng và hướng dẫn các Sở Tư pháp tổ chức bồi dưỡng về đường lối, chính sách
Trang 3430
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nghiệp vụ hòa giải cho người làm công tác hòa giải; sơ kết, tổng kết công tác hòa giải của tổ hòa giải trong phạm vi cả nước
Ở địa phương: Ủy ban nhân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác
hòa giải theo sự chỉ đạo và hướng dẫn của Bộ Tư pháp
2.1.2 Giai đoạn từ tháng 6/2013 đến nay
Hoạt động hòa giải ở cơ sở đã ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của
nó trong xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác hòa giải ở cơ sở trong thời gian qua đã bộc lộ một số tồn tại hạn chế cần được hoàn thiện như: Pháp lênh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở năm 1998 và Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18 tháng 10 năm 1999 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh này chưa quy định cụ thể, đầy đủ về cơ chế, chính sách cho công tác hòa giải ở cơ sở, trong đó có quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên, năng lực của đội ngũ hòa giải viên nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu, ảnh hưởng đến kết quả hòa giải ở một số địa phương; việc khen thưởng, chế độ đãi ngộ, thù lao đối với hòa giải viên chưa được ghi nhận; chính sách hỗ trợ về kinh phí cho hoạt động của Tổ hòa giải chưa được quy định Do đó, hoạt động của Tổ hòa giải gặp nhiều khó khăn; vai trò của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận với cơ quan tư pháp từ trung ương đến địa phương không
rõ ràng, dẫn đến tình trạng nhiều nơi cho rằng công tác hòa giải ở cơ sở là công việc, là trách nhiệm của ngành Tư pháp; trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quan trong hoạt động hòa giải ở cơ sở chưa được quy định; trách nhiệm của UBND các cấp trong việc thực hiện quản lý nhà nước về công tác hòa giải còn chung chung
Ngày 20 tháng 6 năm 2013, tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật hòa giải ở cơ sở Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01tháng 01 năm 2014
Để triển khai thi hành Luật hòa giải ở cơ sở, ngày 27 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp đã tham mưu Chính phủ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật như sau:
- Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hòa giải ở cơ sở;
Trang 3531
- Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/CP-UBTƯMTTQVN ngày 18/11/2014 của Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn phối hợp thực hiện một số quy định của pháp luật hòa giải ở cơ sở
- Bộ Tài chính phối hợp Bộ Tư pháp ban hành Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 30/7/2014 quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng
và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở
Trên cơ sở quy định tại Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã ban hành văn bản quy định cụ thể lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện công tác hòa giải
ở cơ sở tại địa phương
Căn cứ các văn bản của Trung ương, văn bản của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ủy ban nhân dân các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đã ban hành Kế hoạch, công văn chỉ đạo, hướng dẫn về xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ hòa giải, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho hòa giải viên, hướng dẫn các đơn vị sử dụng kinh phí thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở
Ở cấp xã, hàng năm, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đều ban hành các
kế hoạch triển khai công tác hòa giải ở cơ sở (thực hiện lồng ghép trong kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở; chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở; xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước tại địa phương)
Để hướng dẫn và triển khai Luật hòa giải ở cơ sở được đồng bộ, hiệu quả, tạo tiền đề cho việc thi hành Luật, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò, ý nghĩa của công tác hòa giải ở cơ sở, khuyến khích người dân
sử dụng nhiều hơn phương thức hòa giải ở cơ sở trong giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở, ngay sau khi Luật ban hành, ở địa phương, 63/63 Sở Tư pháp đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
tổ chức hội nghị triển khai Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành cho đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh; đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện; báo cáo viên cấp tỉnh; công chức tư pháp cấp huyện; công chức tư pháp
- hộ tịch cấp xã; đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp huyện thường
Trang 3632
xuyên tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương cũng như phù hợp với đối tượng được phổ biến, tuyên truyền như mở hội nghị, sao gửi văn bản, tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh cơ sở; xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, tin bài hoạt động về công tác hòa giải ở cơ sở Nhiều địa phương có cách làm hay đã đưa Luật hòa giải ở cơ sở thật sự đi vào cuộc sống, góp phần nâng cao nhận thức của toàn xã hội, đặc biệt là người dân về vị trí, vai trò và ý nghĩa quan trọng của công tác này,
từ đó sử dụng ngày càng nhiều hơn biện pháp hòa giải để giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn, vi phạm pháp luật thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở trong cộng đồng dân
cư
Đội ngũ quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở được quan tâm củng cố, kiện toàn Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở, Bộ Tư pháp hàng năm đều có văn bản hướng dẫn các địa phương tiến hành rà soát, củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện quản lý công tác hòa giải ở cơ sở Trên cơ sở
đó, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều thống nhất giao
Sở Tư pháp tham mưu thực hiện quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (phân công Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật là đơn vị chức năng thuộc Sở Tư pháp, có công chức thực hiện nhiệm vụ quản
lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở) Ở cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp huyện giao Phòng Tư pháp thực hiện nhiệm vụ quản lý công tác hòa giải ở cơ sở (Phòng
Tư pháp phân công công chức quản lý công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn) Ở cấp
xã, công chức Tư pháp - Hộ tịch thực hiện chức năng tham mưu Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở
Tại các tổ chức chính trị - xã hội, đội ngũ cán bộ, công chức tham gia thực hiện theo dõi, hướng dẫn công tác hòa giải ở cơ sở luôn được quan tâm củng cố, kiện toàn theo sự phân công chức năng, nhiệm vụ của các ban, đơn vị trực thuộc, như tại Trung ương Hội nông dân Việt Nam, Ban Kiểm tra là đơn vị đầu mối được phân công theo dõi, hướng dẫn thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở theo hệ thống
Trang 3733
Hội Ở các cấp Hội, đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đồng thời theo dõi, hướng dẫn công tác hòa giải ở cơ sở
Bên cạnh đó, cơ quan tư pháp các cấp đã thực hiện rà soát, thống kê số liệu
về tổ chức và hoạt động hòa giải trên địa bàn, kịp thời hướng dẫn, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc cùng cấp có biện pháp củng cố, kiện toàn, phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ hoà giải ở địa phương
Qua hơn 15 năm thực hiện Pháp lệnh, 03 năm thực hiện Luật hòa giải ở cơ
sở, tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở của cả nước nói chung, của tỉnh Long An nói riêng từng bước được nâng lên Sau các đợt tập huấn và qua thực tế hoà giải về các lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình, đất đai và các tranh chấp khác trong nhân dân,
áp dụng qua các cuộc hoà giải ở cơ sở, từ đó, trình độ hoà giải viên được nâng lên, thông qua công tác hoà giải để kết hợp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có tác động giảm thiểu các tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư, giảm được số vụ khiếu kiện của nhân dân lên cấp trên hoặc Toà án giải quyết, ngăn chặn được tình trạng vi phạm pháp luật, giữ gìn sự đoàn kết gắn bó tình làng, nghĩa xóm ở cộng đồng dân cư
Về nội dung và phương pháp hoà giải ở cơ sở luôn luôn bảo đảm tính khách quan, đúng quy định của pháp luật Các Tổ hoà giải và từng Hoà giải viên lựa chọn phương pháp hòa giải linh động phù hợp với truyền thống tình làng, nghĩa sớm; tùy theo đối tượng, tùy từng trường hợp mà Hòa giải viên lựa chọn phương thức hòa giải khác nhau nhằmđem lại kết quả cao nhất trong hoạtđộng hòa giải như vậnđộng, thuyết phục,… nhiều Tổ hòa giải và hoà giải viên hoạt động khá tiêu biểu được nhân dân tin cậy
Tóm lại, thông qua khái niệm, đặc điểm, vai trò cũng như nguyên tắc hoạt
động của tổ Hòa giải ơ cơ sở, đống thời phân tích quá trình hình thành và phát triển của hoạt động Hòa giải ở cơ sở đến nay có thể khẳng định rằng hòa giải nói chung
và hòa giải ở cơ sở nói riêng đều đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Hòa giải ở cơ sở là một trong hình thức hòa giải có vai trò rất tích cực, thiết thực để giúp các bên tự nguyện, giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp có hiệu quả, một cách nhẹ
Trang 382.2 Thực hiện pháp luật về hòa giải cơ sở từ thực tiễn tỉnh Long
An
Nhằm triển khai, thi hành những quy định của pháp luật hòa giải ở cơ sở, đồng thời để thực hiện tốt công tác quản lý, chỉ đạo hoạt động hòa giải tại địa phương, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh Long An đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về công tác này, tạo nên một hệ thống khá đồng bộ các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở Chẳng hạn, Nghị quyết số 156/2014/NQ-HĐND ngày 10/12/2014 về mức chi thực hiện công tác hòa giải trên địa bàn tỉnh Long An; Quyết định số 06/2015/QĐ-UBND ngày 20/01/2015 về việc quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng, và quyết toán kinh phí ngân sách Nhà nước thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Long An;Chương trình phối hợp số 2519/CTPH-UBND-UBMTTQVN ngày 16/6/2015 giữa UBND tỉnh và UBMTTQ Việt Nam tỉnh về việc thực hiện Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/CP-UBTƯMTTQVN ngày 18/11/2014 của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc hướng dẫn phối hợp thực hiện một
số quy định của pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Long An; Văn bản số 1162/UBND-NC ngày 03/4/2015 của UBND tỉnh về việc thực hiện một số nội dung
về công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh; Kế hoạch số 1406/KH-UBND ngày 22/4/2016 của UBND tỉnh về việc tổ chức Hội thi Hòa giải viên giỏi tỉnh Long An lần thứ IV; Văn bản số 741/STP-PBGDPL ngày 03/7/2014 của Sở Tư pháp về việc hướng dẫn nội dung tập huấn nghiệp vụ Luật Hòa giải ở cơ sở 2014;Văn bản số
Trang 39và mang lại hiệu quả thiết thực trên địa bàn Qua đó, các cơ quan, đơn vị liên quan
đã ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể chuyên môn, nghiệp vụ cho cơ quan cấp dưới thực hiện Cụ thể như: Sở Tư pháp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan nghiên cứu, tham mưu cho UBND tỉnh ban hành
cơ chế, chính sách phục vụ cho công tác hòa giải ở cơ sở phù hợp với tình hình kinh
tế - xã hội ở tỉnh trong từng giai đoạn; biên soạn và cung cấp tài liệu pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải cho các Tổ hòa giải ở cơ sở; hướng dẫn củng cố và đầu tư trang bị sách, tài liệu pháp luật cho Tủ sách pháp luật xã, phường, thị trấn; quan tâm xây dựng mô hình Tủ sách pháp luật tại nhà văn hóa ấp, khu vực, điểm đọc sách tại
ấp, khu vực, tổ dân phố và cụm dân cư để tổ viên Tổ hòa giải có điều kiện tự tìm hiểu, nghiên cứu nhằm nâng cao kiến thức pháp luật cũng như kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở Định kỳ tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức Hội thi hòa giải viên giỏi; sáu tháng, hàng năm xây dựng kế hoạch kiểm tra công tác hòa giải ở cơ sở Ngoài ra, Sở Tư pháp cũng có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn UBND và cơ quan chuyên môn cấp dưới thực hiện công tác HGCS và phối hợp với Sở Tài chính có văn bản hướng dẫn mức chi thù lao cho mỗi vụ việc hòa giải thành, không thành
Phòng Tư pháp: Xây dựng kế hoạch, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ thực hiện công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và kỹ năng nghiệp vụ hòa giải cho hòa giải viên ở cơ sở; thường xuyên rà soát, kiện toàn và thống kê tình hình
tổ chức và tổ viên Tổ hòa giải ở cơ sở; tổng kết, đánh giá hoạt động hòa giải tại địa
Trang 40kỳ hàng năm hoặc đột xuất
Đối với MTTQ và các tổ chức thành viên của Mặt trận Phối hợp với Sở Tư pháp chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức cấp dưới của mình phối hợp với cơ quan tư pháp cùng cấp trong việc củng cố, kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở; động viên, khuyến khích và tạo điều kiện cho thành viên, hội viên của mình tham gia tích cực vào các hoạt động hòa giải ở cơ sở Tăng cường phối hợp giữa Tổ công tác Mặt trận, Chi hội phụ nữ, Chi hội cựu chiến binh, Chi hội nông dân với Tổ hòa giải trong hoạt động hòa giải
Ngoài ra, căn cứ vào Luật đất đai năm 2003, cũng như Luật đất đai năm 2013
và tình hình thực tế tại địa phương, tỉnh còn quy ðịnh thêm về cõ cấu tổ chức của Ban hòa giải (Hội đồng hòa giải) xã, phường, thị trấnđảm bảo số lượng Ban hòa giải
từ 05 đến 07 thành viên, do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND cấp xã làm Trưởng ban Ban hòa giải có trách nhiệm hòa giải các tranh chấp theo đúng quy định của Luật Đất đai, các vụ việc khác theo quy định pháp luật và những vụ việc do Tổ hòa giải hòa giải không thành chuyển lên.Đặc biệt, một số huyện còn đưa tỷ lệ hòa giải thành là một trong những tiêu chí thi đua thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Có thể nói, việc ban hành văn bản chỉ đạo công tác hòa giải ở cơ sở thể hiện
sự quan tâm đặc biệt của cấp ủy, chính quyền địa phương đối với công tác này Chính nhờ sự quan tâm đó, mạng lưới Tổ hòa giải ở các huyện được củng cố, mở rộng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hòa giải ngày càng phức tạp