DANH SÁCH BẢNG1 Cơ cấu vốn tại các cơ sở sản xuất trong các ngành nghề 9 2 Quy mô lao động tham gia sản xuất tại các cơ sở 11 3 Trình độ học vấn của lao động tại các cơ sở sản xuất 11 4
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
GIAI ĐOẠN 2011-2015, 2016-2020 VÀ TẦM NHÌN 2025
Cơ quan chủ trì: TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ Chủ nhiệm đề tài: PGs.Ts ĐÀO DUY HUÂN Các thành viên thực hiện:
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Mục lục ii
Danh sách bảng iv
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 2
3.2 Phương pháp phân tích 2
4 Phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu 3
4.2 Giới hạn vùng nghiên cứu 3
4.3 Giới hạn thời gian nghiên cứu 3
5 Bố cục của đề tài 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4
1 Tổng quan về nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống 4
1.1 Các khái niệm 4
1.2 Tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống 4
1.3 Đặc điểm các ngành nghề truyền thống ở Việt Nam 4
1.4 Vai trò của ngành nghề truyền thống đối với việc chyển dịch cơ cấu kinh tế Hậu Giang 5
2 Giới thiệu ngành nghề truyền thống ở Hậu Giang 6
2.1 Nghề đóng ghe xuồng 6
2.2 Nghề dệt chiếu 7
2.3 Nghề đan đáy 7
2.4 Nghề đan lục bình 7
3 Đánh giá hiện trạng làng nghề Hậu Giang 8
Trang 33.1 Quy mô sản xuất của các ngành nghề truyền thống ở Hậu Giang 8
3.2 Thành phần lao động tham gia trong các ngành nghề truyền thống 11
3.3 Thu nhập của lao động từ các ngành nghề truyền thống 13
3.4 Trình độ công nghệ, kỹ thuật được sử dụng trong các nghề truyền thống .15 3.5 Sản phẩm và năng lực sản xuất của ngành nghề truyền thống 16
3.6 Nguồn nguyên vật liệu cung cấp trong các làng nghề 17
3.7 Phương thức tổ chức tiêu thụ và thị trường tiêu thị sản phẩm 18
3.8 Đánh giá công tác hỗ trợ của chính quyền địa phương thời gian qua 20
3.9 Đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội của các ngành nghề ở Hậu Giang 20
4 Giải pháp phát triển làng nghề truyền thống tỉnh Hậu Giang 21
4.1 Xây dựng các ngành nghề địa phương thành làng nghề truyền thống 21
4.2 Phát triển làng nghề truyền thống kết hợp phát triển du lịch sinh thái 21
4.3 Hỗ trợ vốn đổi mới thiết bị sản xuất 21
4.4 Hỗ trợ tìm thị trường tiêu thụ 22
4.5 Xây dựng vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất KẾT LUẬN 23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
PHỤ LỤC: Bảng câu hỏi phỏng vấn hộ gia đình ở các làng nghề tỉnh Hậu Giang 25
Trang 4DANH SÁCH BẢNG
1 Cơ cấu vốn tại các cơ sở sản xuất trong các ngành nghề 9
2 Quy mô lao động tham gia sản xuất tại các cơ sở 11
3 Trình độ học vấn của lao động tại các cơ sở sản xuất 11
4 Số lượng lao động được học tập nâng cao tay nghề 12
5 Đánh giá chất lượng lao động trong các ngành nghề truyền thống ở
Hậu Giang
12
6 Đánh giá mức độ dồi dào của nguồn lao động đia phương 13
7 Thu nhập của người lao động trong các nghề truyền thống 14
8 Thu nhập của lao động thuê mướn trong các nghề truyền thống 14
9 Thực trạng máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất trong các nghề truyền
thống ở Hậu Giang
15
10 Số sản phẩm trong từng ngành nghề truyền thống 16
11 Nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất trong các nghề truyền thống 18
12 Chất lượng nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất 18
13 Hình thức tiêu thụ sản phẩm trong các nghề truyền thống 19
14 Cơ cấu thị trường tiêu hụ sản phẩm trong các nghề truyền thống 19
15 Tổng hợp đào tạo nghề và giải quyết việc làm ở Hậu Giang 20
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài
Ngành nghề truyền thống là loại hình sản xuất có mặt hầu hết ở mọi điaphương, gắn bó và có vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt, lao động củangười dân Các ngành nghề truyền thống đã góp phần vào sự phát triển kinh tế-
xã hội, đóng góp cho GDP của đất nước nói chung và đối với nền kinh tế nôngthôn nói riêng giải quyết việc làm cho nhiều lao động, sản xuất ra nhiều sảnphẩm có giá trị Nhiều làng nghề truyền thống hiện nay đã được khôi phục, đầu
tư phát triển với quy mô và kỹ thuật cao hơn, hàng hóa không những phục vụ
nhu cầu trong nước mà còn cho xuất khẩu với giá trị lớn Có thể nói ngành nghề
truyền thống ngày càng trở thành ngành kinh tế quan trọng vì hoạt động nàykhông những mang lại lợi ít kinh tế to lớn mà còn đem lại hiệu quả xã hội tíchcực, có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc xoá đói giảm nghèo
Tuy nhiên vẫn còn có nhiều bất cập, các sản phẩm truyền thống của chúng
ta không những là những mặt hàng có giá trị kinh tế cao, tạo công ăn việc làmcho nhiều lao động nông thôn, giảm thiểu thời gian nông nhàn, mà còn có ýnghĩa văn hóa dân tộc sâu sắc Việt Nam cũng có nhiều tiềm năng cho phát triểncác nghề truyền thống như nguồn lao động khéo léo, giàu kinh nghiệm, nguồnnguyên liệu phong phú… Song tốc độ phát triển các ngành nghề như hiện naychưa tương xứng với tiềm năng, đặc biệt việc phát triển ngành nghề truyềnthống chưa thu hút tối đa các nguồn lực nhằm tạo ra các sản phẩm hấp dẫn, cókhả năng cạnh tranh cao trên thị trường trong và ngoài nước
Những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng, Nhà Nước và sự nỗ lựccủa các cấp lãnh đạo địa phương, Hậu Giang đã có những bước phát triển nhanhchóng, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tếcủa các địa phương trong vùng cũng như sự phát triển chung của cả nước Năm
2012 là năm thứ hai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII và
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 Theo đó,chú trọng pháttriển nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X)
và Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giaiđoạn 2010 - 20201 Trong đó, việc chuyển dịch nội bộ ngành nông nghiệp nhằmphát triển nông nghiệp kết hợp với du lịch sinh thái đồng thời phát triển nghềtruyền thống phục vụ du lịch thân thiện với môi trường Hiện tại, Hậu Giang có
Trang 6các ngành nghề mang đậm văn hoá truyền thống dân tộc như: dệt chiếu, đóngghe xuồng, đan lục bình, chằm nón.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá tổng quát hiện trạng làng nghề giai đoạn từ năm 2005 đến năm
2010 và nghiên cứu đề xuất các giải pháp thúc đẩy tái cấu trúc làng nghề theohướng tăng năng suất, hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh giai đoạn 2011-2015; 2016-2020 và tầm nhìn 2025
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
3.2 Phương pháp phân tích
- Mục tiêu 1: sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp tần số,tần suất, số trung bình để phân tích hiện trạng làng nghề tỉnh Hậu Giang
- Mục tiêu 2: sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp Tổng hợp kết quả
đã phân tích ở mục tiêu 1 làm cơ sở đề xuất các giải pháp thúc đẩy tái cấu trúclàng nghề tỉnh Hậu Giang theo hướng tăng năng suất, hiệu quả và nâng cao nănglực cạnh tranh giai đoạn 2011-2015, 2016-2020 và tầm nhìn 2025
Trang 74 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
- Phân tích, khái quát hiện trạng làng nghề và tái cấu trúc làng nghề giaiđoạn từ năm 2005 đến năm 2010
- Nguyên nhân thành công và hạn chế của làng nghề những năm qua
- Đề xuất giải pháp thúc đẩy tái cấu trúc làng nghề theo hướng tăng năngsuất, hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh
4.2 Giới hạn vùng nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Hậu giang
4.3 Giới hạn thời gian nghiên cứu
- Thời gian thực hiện đề tài: từ 07/2012 đến 10/2012
- Thời gian của dữ liệu thứ cấp: giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010
- Dữ liệu sơ cấp: được thu thập vào tháng 8 năm 2012
Trang 8KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Tổng quan về nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống 1.1 Các khái niệm
Nghề truyền thống: là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra nhữngsản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nayhoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền
Làng nghề: là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn,phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có cáchoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khácnhau
Làng nghề truyền thống: là làng nghề có nghề truyền thống được hìnhthành từ lâu đời
1.2 Tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống
Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau: (1)Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghịcông nhận; (2) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; (3)Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề
Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau: (1) Có tối thiểu 30%tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; (2)) Hoạtđộng sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghịcông nhận; (3) Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước
Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghềtruyền thống theo quy định tại Thông tư này Đối với những làng chưa đạt tiêuchuẩn a, b của tiêu chí công nhận làng nghề tại điểm 2, mục I, Phần II nhưng có
ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy định của Thông tư nàythì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống
1.3 Đặc điểm các ngành nghề truyền thống ở Việt Nam
Các ngành nghề truyền thống ở nước ta đều ra đời và tách dần từ nôngnghiệp, người lao động ở nông thôn do nhu cầu việc làm và thu nhập đã làmnghề thủ công bên cạnh làm ruộng Sự kết hợp này được hình thành và phát triểntrong mỗi gia đình ban đầu nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, khi phát triển thìtách ra thành ngành nghề độc lập và vươn lên thành ngành sản xuất chính, nên
Trang 9người thợ thủ công đồng thời cũng là người nông dân Cơ cấu ngành nghề đãthích ứng được với cơ chế thị trường, một số ngành phát triển mạnh như sảnxuất vật liệu xây dựng, chế biến nông sản thực phẩm, Có thể nói cơ cấu ngànhnghề của các ngành nghề truyền thống trong vùng rất đa dạng và phong phú.Hầu hết nguyên vật liệu được sử dụng trong làng nghề đều xuất phát từ sự sẳn
có của nguồn nguyên liệu sẳn có tại chỗ, đôi khi vẫn nhập từ các vùng khác songkhông nhiều
Trình độ kỹ thuật công nghệ có sự đan xen kết hợp yếu tố truyền thốngvới yếu tố hiện đại trên cơ sở tận dụng tiềm năng và lợi thế lao động của địaphương, có áp dụng công nghệ tiên tiến cùng với tay nghề được nâng cao Tuyvậy, công cụ lao động sử dụng trong ngành nghề truyền thống đa số vẫn là công
cụ thủ công, sản phẩm vẫn hoàn toàn dựa vào đôi bàn tay khéo léo tinh xảo, ócthẩm mỹ và tính sáng tạo của các người thợ và các nghệ nhân
Thị trường tiêu thụ sản phẩm vẫn còn mang tính địa phương, tại chỗ vànhỏ hẹp Sự ra đời của các ngành nghề truyền thống xuất phát từ việc đáp ứngnhu cầu về hàng hoá tiêu dùng tại chỗ của các địa phương, nhưng đến nay thì thịtrường của các ngành nghề truyền thống vẫn còn loay hoay tìm đầu ra ở địaphương, hoặc có chăng là các tỉnh lân cận và rất ít để dành cho xuất khẩu
Về quy mô, đại bộ phận các cơ sở sản xuất kinh doanh ngành nghề truyềnthống có quy mô sản xuất nhỏ, vốn ít, chủ yếu hoạt động tổ chức sản xuất là quy
mô hộ gia đình, mặc dù đã có phát triển thành tổ hợp tác, hợp tác xã và Doanhnghiệp tư nhân
1.4 Vai trò của ngành nghề truyền thống đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hậu giang.
Quá trình phát triển các ngành nghề truyền thống có vai trò tích cực gópphần tăng tỷ trọng sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thuhẹp tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất có thu nhậpthấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn Sự phát triển củacác ngành nghề truyền thống về quy mô góp phần thu hút nhiều lao động, đóngvai trò quan trọng trong việc thay đổi tạp quán sản xuất từ sản xuất nhỏ lẻchuyển sang sản xuất hàng hoá, đổi mới công nghẹ đáp ứng nhu cầu thị trường.Như vậy, khi ngành nghề truyền thống hình thành và phát triển thì kinh tế nôngthôn không chỉ có ngành nông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh là các ngành thủcông nghiệp, thương mại và dịch vụ cùng tồn tại phát triển
Sự phát triển của các ngành nghề truyền thống trong những năm qua đãthực sự góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng
Trang 10cơ cấu ngành công nghiệp dịch vụ, giảm cơ cấu ngành nông lâm ngư nghiệp gópphần bố trí lao động hợp lý theo hướng “ly nông bất ly hương” Hơn thế, nó tạo
đà cho công nghiệp phát triển, thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoáphát triển kinh tế nông thôn
Với hơn 2000 làng nghề trong cả nước, gồm 11 nhóm ngành nghề, sửdụng hơn 10 triệu lao động, đóng góp hơn 40 ngàn tỷ đồng cho thu nhập quốcgia… các làng nghề truyền thống đã và đang đóng một vai trò quan trọng đốivới sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam, đặc biệt là khu vực kinh tế nông thôn:
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp tận dụng nguồn nguyên liệu phong phúvới giá thành rẻ Các nghề truyền thống chủ yếu sử dụng các nguyên liệu sẵn cótrong nước, vốn là các tài nguyên thiên nhiên điển hình của miền nhiệt đới: trenứa, gỗ, tơ tằm, các sản phẩm của nông nghiệp nhiệt đới (lúa gạo, hoa quả, ngô,khoai, sắn…), các loại vật liệu xây dựng
Mặt khác, sản phẩm từ các làng nghề không chỉ đáp ứng các thị trườngtrong nước với các mức độ nhu cầu khác nhau mà còn xuất khẩu sang các thịtrường nước bạn với nhiều mặt hàng phong phú, có giá trị cao Trong đó, điểnhình nhất là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ (hiện nay, mặt hàng này xuất khẩuđạt giá trị gần 1 tỷ USD/năm) Giá trị hàng hóa từ các làng nghề hàng nămđóng góp cho nền kinh tế quốc dân từ 40 – 50 ngàn tỷ đồng Góp phần chuyểndịch cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh quá trình CNH - HĐH nông thôn
Đặc biệt, phát triển các nghề truyền thống đang góp phần giải quyết công
ăn việc làm cho hơn 11 triệu lao động chuyên và hàng ngàn lao động nông nhàn
ở nông thôn, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân
Hơn nữa, nhiều làng nghề hiện nay có xu hướng phát triển theo hướngphục vụ các dịch vụ du lịch Đây là hướng đi mới nhưng phù hợp với thời đạihiện nay và mang lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời có thể giảm thiểu tìnhtrạng ô nhiễm môi trường, nâng đời sống vật chất và tinh thần cho người dân,phục vụ mục tiêu phát triển bền vững
2 Giới thiệu ngành nghề truyền thống ở Hậu Giang
2.1 Nghề đóng ghe xuồng
Làng đóng ghe xuồng Ngã bảy Phụng Hiệp là một trong những làng nghềlâu năm của Cần Thơ nói riêng và ngày nay là của tỉnh Hậu Giang Trước kia,làng nghề Phụng Hiệp chỉ đóng ghe xuồng phục vụ dân chài lưới, đi câu, vậnchuyển lúa gạo, thủy sản, trái cây… Từ làng nghề này, hàng trăm hàng ngànxuồng câu, ghe xuồng theo thương hồ đi khắp các miệt thứ, tỉnh bạn, làm nên
Trang 11thương hiệu “xuồng Ngã bảy Phụng Hiệp” nức tiếng gần xa Vì thế, có thể nói,Ngã bảy Phụng Hiệp là nơi xuất xứ của loại xuồng năm lá mà người dân miềnTây rất ưa chuộng Tham quan làng nghề, du khách sẽ tận mắt thấy được từngcông đoạn làm ghe,xuồng, được chỉ cách phân biệt thế nào là xuồng ba lá, năm
lá Tuy nhiên ngày nay do do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, vật liệuComposit được đưa vào để chế tạo ghe xuồng thay thế cho vật liệu gỗ Bên cạnh
đó giao thông đường bộ nông thôn phát triển nhiều loại phương tiện phục vụ choviệc di lại và vận tảihàng hóa được đưa vào sử dụng thay thế cho các phươngtiện vận chuyển truyền thống bàng đường thủy trước đây đã làm nhu cầu xửdụng ghe xuồng ngày càng giảm đi rất nhiều Điều này đã làm cho nghề đóngghe xuồng ở Ngã bảy Phụng Hiệp gần như đã bị mai một hoàn toàn
2.2 Nghề dệt chiếu
Theo lời kể của ngời dân thì làng dệt chiếu Cái Chanh, Thạnh Thuận, xãĐông Thạnh huyện Châu Thành tỉnh Hậu Giang đã tồn tại cách đây hàng trămnăm trước Thế nhưng, ngày nay cuộc sống không cho phép những người nôngdân nơi này gắn bó với nghề Thanh niên trai tráng trong làng đã bỏ nghề để đilập nghiệp nơi khác Trong làng chỉ còn người già, trẻ con và phụ nữ Vì lẻ đó
mà dần dần ở trong làng chỉ còn vài chục hộ bám lấy nghề truyền thống ông bà
để lại, không biết lúc nào mất đi
2.3 Nghề làm Đáy
Đây là một nghề bắt cá trên sông của ngưởi dân gọi là Trãi Đáy, họ dùngmột lưới giống như một cái Lú, có miệng rộng khoảng từ 7m-15m chiều dài từ20m-30m, được thả bắt đầu từ thời gian nước đứng và thời gian nước ròng chođến nước gần đứng thì kéo lên và kéo từ miệng đáy trước để tránh cá đi ngược
ra, phía đáy của Đáy được cột kín cẩn thận Mỗi ngày, người dân thường thảĐáy 2 lần tuỳ vào nhật triều mà họ có thể thả Đáy lúc sáng hay tối, có khi Đáyđược thả ngay trong đêm khuya Ngày nay, khi Luật an toàn giao thông đườngthuỷ có hiệu lực, giao thông ngày càng đông đúc, Chính quyền tạo điều kiện chocác tàu lớn ra vào Cảng cần Thơ cũng như Cảng Cái Cui thì nghề Đáy cũng dầnkhông còn
2.4 Nghề đan lục bình
Ngày nay, nghề đan lục bình bước đầu đã phát triển tương đối mạnh ởmột số địa phương trong tỉnh Hậu Giang Trước hết, nó tạo ra công ăn việc làm,làm tăng thêm thu nhập cho người nông nhàn ở thôn quê, cá biệt trong một sốtrường hợp, đan lục bình đã trở thành nghề mưu sinh cho hộ gia đình trên địabàn các xã Hiệp Lợi, thị sã Ngã Bảy, xã Đông Thạnh và Đông Phước A huyện
Trang 12Châu Thành Những người đan lục bình phần đông là chị em phụ nữ Ngoàicông việc đồng áng và công việc nội trợ trong gia đình, họ thường tranh thủnhững giờ nhàn rỗi để đan lục bình Cái hay của nghề này ở chỗ, tuy chỉ là nghềphụ, nhưng do khéo tay và chịu thương chịu khó, khi đã quen tay quen việc thìthu nhập từ nghề đan lục bình lại cao hơn thu nhập chính là nghề nông Cái haynữa là công việc này luôn có quanh năm Trung bình, một người làm giỏi có thểkiếm được từ 30.000 đến 40.000 đồng một ngày, một người tay nghề bìnhthường cũng có thể kiếm được từ 20.000 đến 30.000 đồng một ngày, ít nhất thìcũng có thể kiếm được từ 10 đến 20.000 đồng một ngày Từ ngày có công việcđan lục bình, thu nhập của các hộ gia đình đã tăng lên đáng kể, đời sống đã cónhiều cải thiện Nếu trước đây thu nhạp của người dân trên địa bàn này chỉ phụthuộc vào trồng lúa thì giờ đây nghề đan lục bình đã mang đến cho cuộc sốngnơi đây những màu sắc mới Nghề đan lục bình đã và đang mang lại nhiều hiệuquả thiết thực Là cứu cánh của nhiều lao động nhàn rỗi, cây lục bình có thể xem
là cây xóa đói giảm nghèo ở một số nơi trên địa bàn tỉnh Hậu Giang Nó tạocông ăn việc làm cho lao động nhàn rỗi ở nông thôn, bước đầu góp phần làmthay đổi chất lượng đời sống của người dân Trên thị trường hiện nay, nhu cầu
về sản phẩm lục bình vẫn còn nhiều, có nghĩa là nghề đan lục bình vẫn đang có
cơ hội để phát triển mạnh trong tương lai
Ngoài ra, Hậu Giang còn có các nghề truyền thống khác như đan lưới,trằm nón, nghề mộc gia dụng…trong những năm qua những nghề này cũng gópphần tạo công ăn việc làm cho lao động nông thôn, tăng thu nhập, ổn định kinh
tế xã hội nôn thông đóng góp quan trọng vào công cuộc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của tỉnh
3 Đánh giá hiện trạng làng nghề ở Hậu Giang
3.1 Quy mô sản xuất của các ngành nghề truyền thống ở Hậu Giang
Quy mô sản xuất của một ngành nghề truyền thống có thể được đánh giádựa trên hai tiêu chí cơ bản: lực lượng lao động tham gia và nguồn vốn đầu tư
Trong nền kinh tế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, các cá nhân, tổchức sản xuất luôn tỏ rõ sự năng động, và tham vọng trong kinh doanh Thếnhưng, vấn đề luôn làm họ đau đầu là “thiếu vốn” Trong một điều tra chung vềnhu vốn cho sản xuất trong các làng nghề trên đại bàn tỉnh Hậu Giang của nhómnghiên cứu cho thấy chỉ có 32,38% số cơ sở có khả năng tiếp cận được cácnguồn của các ngân hàng thương mại, 35,24% số cơ sở khó tiếp cận và 32,38%
cơ sở hoàn toàn không tiếp cận được
Trang 13Với một tỉnh nghèo như Hậu Giang, nền kinh tế đi lên từ sản xuất nôngnghiệp nhỏ lẻ, tỷ lệ hộ nghèo chiếm đa số nên việc huy động vốn tự có phục vụcho sản xuất là quá khó đối với họ đừng nói chi tới chuyện tiếp cận vốn ngânhàng Qua khảo sát thực tế, nhiều hộ khi chuyển từ nông nghiệp sang làm trongcác ngành nghề truyền thống, trong tay họ hoàn toàn không có đồng vốn, nguồnduy nhất mà họ có được đó là vốn đất đai, nguồn nguyên liệu sẵn có nhưng rất
ít Họ rất khó khăn để huy động vốn, nguồn duy nhất họ có thể huy động là vay
nợ nóng bên ngoài Thế nhưng, không ai lường trước được kết quả sản xuất khi
mà thị trường tiêu thụ các sản phẩm thủ công mỹ nghệ trong nước ngày cànghạn chế trong khi việc tiếp cận thị trường xuất khẩu vẫn còn muôn vàng khókhăn Vì lẽ đó, nên các tổ chức tín dụng rất e ngại khi đầu tư cho những ngườinông dân đang cố gắng giữ gìn và phát huy các ngành nghề truyên thống trênquê hương mình Thực trạng thiếu vốn sản xuất bắt buộc người nông dân cũngnhư các cơ sở trong tỉnh phải thu hẹp quy mô sản xuất kìm chế sự phát triển củangành nghề Cũng theo kết quả khảo sát về quy mô vốn đầu tư thực tế tại 30 cơ
sở trên địa bàn cho thấy nguồn vốn sản xuất tại các cơ sở còn rất hạn chế nhất lànguồn vốn đầu tư cho tài sản cố định và công cụ, dụng cụ phục vụ sản xuất.Nhiều cơ sở có tổng vốn đầu tư chỉ đạt mức 4 triệu đồng, cơ sở có vốn đầu tưcao nhất cũng chỉ đạt mức 300 triệu đồng, quy mô vốn cố định bình quân chungcủa các cơ sở khoảng 30 triệu đồng Tài sản cố định chủ yếu công cụ dụng cụ vàmáy móc phục vụ sản xuất, hầu hết các cơ sở này không có các loại phương tiệnvận chuyển và nhà kho riêng phục vụ cho sản xuất Bên cạnh đó, nguồn vốn lưuđộng dùng để mua nguyên liệu phục vụ cho sản xuất cũng rất hạn chế, có cơ sởnguồn vốn lưu động chỉ đạt 1 triệu đồng, nhiều nhất cũng chỉ đạt 255 triệu đồng.Vốn lưu động bình quân cho các cơ sở này là 63 triệu đồng
Bảng 1: Cơ cấu vốn tại các cơ sở sản xuất trong các ngành nghề
Nguồn: Kết quả khảo sát thực tế tại các nghề truyền thống ở Hậu Giang, 2012.
Qua phân tích thực trạng cơ cấu nguồn vốn đầu tư cho các cơ sở kinhdoanh trong các ngành nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Hậu Giang, ta thấy
Trang 14được phần nào hạn chế khó khăn của các cơ sở này Từ thực trạng thiếu hụtnguồn vốn sản xuất và quy mô vốn đầu tư quá ít tại các cơ sở ta có thể đánh giáđược tình trạng lạc hậu của công nghệ cũng như thiết bị sản xuất trong cácngành nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Hậu Giang và đây cũng là nguyênnhân cơ bản làm hạn chế khả năng mở rộng quy mô sản xuất của các ngànhnghề truyền thống cũng như khả năng giải quyết việc làm cho lao động nôngthôn trên địa bàn tỉnh Thực trạng này cho thấy vai trò điều tiết, hỗ trợ của các tổsản xuất, các hiệp hội ngành nghề trên địa bàn nghiên cứu trong thời gia qua vẫnchưa được đánh giá cao.
Bên cạnh yếu tố vốn thì trình độ kỹ năng, tay nghề của người thợ trựctiếp sản xuất, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của họ, các chương trình đào tạonâng cao tay nghề là một nhân tố quan trọng góp phần đẩy mạnh sự phát triểncủa một ngành nghề Đối với các ngành nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh HậuGiang, nguồn lao động tại chổ đang và sẽ trở nên cần thiết đối với sự phát triểnkinh tế địa phương Tuy nhiên theo nhận định của các của các cơ sở kinh doanhthì nguồn nhân lực ở Hậu Giang hiện nay còn nhiều khiếm khuyết, chưa đáp ứngđược nhu cầu phát triển tiểu thu công nghiệp của tỉnh cụ thể: lao động có taynghề cao còn ít, trình độ nguồn nhân lực còn yếu, nhân công không ổn định,nguồn nhân lực đã qua đào tạo, thì còn rất hạn chế Nếu xét về số lượng thì quakhảo sát 30 mẫu gồm hộ gia đình và cơ sở sản xuất kinh doanh các mặt hàngthuộc các ngành nghề truyền thống như: dệt chiếu, đan lát, đan lưới, chầm lá,mộc gia dụng và đóng xuồng Kết quả khảo sát thực tế cho thấy quy mô sản xuấtcủa các hộ kinh doanh không đều nhau và có sự chênh lệch rất lớn, có cơ sở chỉ
sử dụng 3 lao động, nhưng có cơ sở sử dụng lên đến 300 lao động Việc biếnđộng số lượng lao động rất lớn cho thấy từng cơ sở khác nhau hoạt động trongnhững lĩnh vực khác nhau thì có quy mô lao động khác nhau Nhìn chung số laođộng tham gia sản xuất trong năm tại các sơ sở sản xuất dao động trung bình từ
29 đến 31 lao động Điều này cho thấy cứ mỗi năm một cơ sở hoạt động tronglĩnh vực kinh doanh các ngành nghề truyền thống giải quyết việc làm cho 29 đến
31 lao động nông thôn, góp phần tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống cho laođộng nông thôn
Bảng 2: Quy mô lao động tham gia sản xuất tại các cơ sở.
ĐVT: Người
Trang 15Tổng lao động Số lượng
nhỏ nhất
Trung bình
Số lượng cao nhất
Tổng lao động tại thời điểm cao nhất 5,00 31,96 300,00 Tổng lao động tại thời điểm thấp nhất 3,00 29,10 300,00 Tổng lao động tại thời điểm bình thường 3,00 29,56 300,00
Nguồn: Kết quả khảo sát thực tế tại các nghề truyền thống ở Hậu Giang, 2012.
Tuy nhiên xét về năng suất, chất lượng cũng như năng lực của người laođộng đang làm việc tại các làng nghề thì còn nhiều khiếm khuyết mà chínhquyền dịa phương cần quan tâm khắt phục trong thời gian tới và vấn đề này sẽđược phân tích làm rõ ở phần sau:
3.2 Thành phần lao động tham gia trong các ngành nghề truyền thống
Theo số kết quả điều tra, lao động trong các ngành nghề truyền thống ởHậu Giang phần lớn là lao động thủ công, các nghệ nhân sử dụng đôi tay khéoléo của mình để tạo ra những sản phẩm rất tinh tế Không giống như những sảnphảm công nghiệp được sản xuất đồng loạt theo dây chuyền sản xuất, mỗi sảnphẩm được tạo ra từ những người thợ, nghệ nhân được xem như một tác phẩmnghệ thuật, chứa đựng phong cách riêng, nét sáng tạo riêng Đặc điểm của cácsản phẩm thủ công mỹ nghệ này sử dụng nhiều lao động thủ công nên hao phílao động kết tinh trong giá thành sản phẩm rất lớn, kết quả điều tra cho thấy chiphí lao động chiếm 23 – 25% trong giá thành sản phẩm Phương thức tổ chứcsản xuất theo kiểu hộ gia đình chiếm 95% còn lại là các hợp tác xã có quy mônhỏ như đã phân tích ở bên trên
Mặc dù những sản phẩm thủ công này được tạo ra một cách rất tinh vithế nhưng qua khảo sát những người tạo ra nó có trình độ học vấn khá thấp,trình độ tiểu học chiếm 56,6%, trung học cơ sở chiếm 40,0% và chỉ có 3,4% cótrình độ trung học phổ thông Xét về trình độ chuyên môn đây lại là vấn đề màcác ngành chức năng cần lưu tâm khắc phục trong thời gian tới, có đến 77% laođộng chưa qua đào tạo, số còn lại chỉ mới đạt trình độ sơ cấp
Bảng 3: Trình độ học vấn của lao động tại các cơ sở sản xuất
Trình độ học vấn Tỷ lệ (%) Trình độ chuyên môn Tỷ lệ (%)
Nguồn: Kết quả khảo sát thực tế tại các nghề truyền thống ở Hậu Giang, 2012.
Trang 16Do hạn chế về trình độ học vấn cũng như kiến thức chuyên môn nên hầuhết các chủ cơ sở không có khả năng lập dự án để tiếp cận nguồn vốn từ các tổchức tín dụng Ngoài ra, trình độ học vấn thấp cũng làm hạn chế khả năng ứngdụng máy móc thiết bị và khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất để tăngnăng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Theo kết quả khảo sát, phần lớn người lao động đang làm việc trong cácngành nghề truyền thống đầu có nhu cầu được học tập nâng cao trình độ chuyênmôn thế nhưng việc tiếp cận các hình thức đào tạo chuyên môn vẫn còn quá xa
sĩ đối với họ Trong tổng số 30 người phỏng vấn thì chỉ có 7/30 người trong sốnày được một lần dự lớp tập huấn nâng cao tay nghề, số còn lại chưa tham giabất kỳ lớp tập huấn nào do chính quyền đoàn thể đại phương tổ chức Họ họcnghề chủ yếu là nghề truyền nghề theo hình thức cầm tay chỉ việc, vừa học vừalàm, người đi trước kèm cặp người theo sau dần dần rồi thạo việc
Bảng 4: Số lượng lao động được học tập nâng cao tay nghề
Nguồn: Kết quả khảo sát thực tế tại các nghề truyền thống ở Hậu Giang, 2012.
Do không được đào tạo bài bản nên trình độ và chất lượng người laođộng trong các ngành nghề truyền thống vẫn chưa được các chủ cơ sở sử dụnglao động đánh giá cao Kết quả khảo sát về khả năng đáp ứng yêu cầu công việccủa người lao động cho thấy có đến 90% số cơ sở cho rằng chấp nhận được vàchỉ có 3,3% cho rằng họ hài lòng với năng lực làm việc của người lao động
Bảng 5: Đánh giá chất lượng lao động trong các ngành nghề truyền thống ở HG
Nguồn: Kết quả khảo sát thực tế tại các nghề truyền thống ở Hậu Giang, 2012.
Bảng đánh giá trên cho thấy chất lượng nhân lực làm việc trong cácngành nghề truyền thống ở Hậu Giang còn nhiều bất cập, nhất là chất lượng đào
Trang 17tạo nghề và công tác đào tạo nghề cho người lao động chưa được quan tâm đúngmức, đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành nghề trên địa bàn.Đây thật sự là một thách thức lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh,nhất là phát triển tiểu thủ công nghệp để góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghệp nông thôn Thực trạng trình độ tay nghề lao động ở cácđịa phương trong tỉnh còn yếu kém là một trong những lục cản lớn khiến các nhàđầu, cơ sở kinh doanh còn e ngại khi muốn mở rộng quy mô sản xuất Đây là mộtrào cản đòi hỏi các ngành chức năng phải quyết tâm giải quyết bằng chiến lượclâu dài không dễ khắc phục ngày một, ngày hai đối với khả năng hiện tại của tỉnh.
Theo nhận định của những người tham gia sản xuất trong ngành thì trongtương lai nguồn lao động đáp ứng yêu cầu phát triển tiểu thủ công nghiệp tại cácđịa phương cũng có nhiều biến động phức tạp cũng có thể là mất cân đối lao độnggiữa các ngành nghề Số liệu phân tích chung cho thấy có 6/30 người cho rằngnguồn lao động rất dồi dào, 7/30 cho rằng dồi dào, 10/30 cho rằng vừa đủ và 7/30còn lại cho rằng khang hiến lao động trong tương lai
Bảng 6: Đánh giá mức độ dồi dào của nguồn lao động đia phương
Nguồn: Kết quả khảo sát thực tế tại các nghề truyền thống ở Hậu Giang, 2012.
Từ những đánh giá nêu trên cho thấy về lâu dài có sự mất cân đối về laođộng ở một số ngành nghề trên đại bàn nông thôn tỉnh Hậu Giang Các ngànhchức năng cần sớm nhận thấy vấn đề này, trên cơ sở đó thực hiện tốt công tác dựbáo, xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển bềnvững của từ ngành nghề truyền thống
3.3 Thu nhập của lao động từ các ngành nghề truyền thống
Thu nhập của người lao động có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn vàphát huy các ngành nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Hậu Giang Bởi thu nhập
là nhân tố then chốt ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình của họ Một thực tế đáng
lo ngại đang diễn ra là khá nhiều làng nghề trong cả nước đang phải đứng trướcnguy cơ mai một dần, nguyên nhân chính vẫn là do sự thiếu hụt nguồn nhân lực
Trang 18Trong những năm gần đây thu nhập từ các ngành nghề truyền thống không ổnđịnh nên nhiều người lao động không còn thiết tha gắn bó với nghề nữa Thựctrạng này cũng đang diễn ra ở một số ngành nghề truyền thống trên địa bàn tỉnhHậu Giang điển hình là nghề đóng ghe xuồng, mộc gia dụng hầu như mai mộthoàn toàn Các ngành còn lại như dệt chiếu, đang lục bình…cũng đang gặp rấtnhiều khó khăn.
Bảng 7: Thu nhập của người lao động trong các nghề truyền thống
Từ nghề truyền thống và các hoạt động khác 12 40,0
Nguồn: Kết quả khảo sát thực tế tại các nghề truyền thống ở Hậu Giang, 2012.
Kết quả khảo sát cho thấy có 18/30 hộ có nguồn thu nhập lệ thuộc hoàntoàn vào ngành nghề truyền thống, 12/30 có thêm nguồn thu nhập từ các hoạtđộng khác Điều này cho thấy sự sống còn của các nghề truyền thống có một vaitrò đặc biệt quan trọng đối với đời sống người lao động nông thôn Hậu Giang.Theo nhận định của những người dân trên địa bàn nghiên cứu, do sự tác độngcủa nhiêu nguyên nhân chủ quan và khách quan nên sức sống của các ngànhnghề truyền thống dần dần yếu đi, số lượng người bỏ nghề ngày càng đông hơn.Hiện tại số lượng người sinh sống trong mỗi ngành nghề còn rất ít do thu nhập
từ các nghề truyền thống không ổn định và có xu hướng giảm đi trong khi giá cảsinh hoạt ngày càng đắt đỏ hơn Kết quả điều tra thu nhập cho thấy từng thờiđiểm khác nhau mà người lao động có những khoảng thu nhập trung bình khácnhau dao động từ 896.000 đồng đến 1.479.333 đồng/tháng và trong một sốngành nghề khác nhau lai có sự khác biệt về thu nhập rất lớn có người chỉ kiếmđược 130.000đ/tháng nhưng có người thì có thu nhập khá cao 5.000.000đ/tháng
Bảng 8: Thu nhập của lao động thuê mướn trong các nghề truyền thống
ĐVT: Đồng
Giá trị thu nhập
Thu nhập ở thời điểm cao nhất của lao động thuê mướn
Thu nhập ở thời điểm thấp nhất của lao động thuê mướn
Thu nhập ở thời điểm phổ biến nhất của lao động thuê mướn
Trang 19Với mức thu nhập tối thiểu từ 130.000đ đến 160.000/tháng như hiện naythì trên 50% người lao động có một nguồn thu nhập duy nhất từ nghề truyềnthống không thể nào bù đắp chi phí sinh hoạt cho cuộc sống gia đình họ và lẽđương nhiên là người lao động không thể nào tiếp tục theo nghề mà chuyển sangcác công việc khác để nâng cao thu nhập cải thiện cuộc sống
Phát triển ngành nghề truyền thống thật sự có một vai trò quan trong đốivới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Hậu Giang thế nhưng vấn đề thunhập từ làng nghề lại là thách thức lớn cho người lao động cũng như các ngànhchức năng Từ thực trạng đó đã đặt ra cho chính quyền địa phương Hậu Giangmuốn thực hiện tốt công tác xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội thúc đảy pháttriển tiểu thủ công nghiệp nông thôn thì ngay từ bây giờ các ngành chức năngcần có chính sách quy hoạch tổng thể đối với sự phát triển của từng ngành nghềtruyền thống phù hợp với sự phát triển kinh tế địa phương gắn liền với việc quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
3.4 Trình độ công nghệ, kỹ thuật được sử dụng trong các nghề truyền thống
Thực trạng về thiết bị sản xuất trong các nghề truyền thống ở Hậu Giangđánh giá là rất thô sơ, nhiều sản phẩm, công đoạn trong quy trình sản xuất sửdụng rất nhiều lao động thủ công Đây là một trong những nguyên nhân làm hạnchế khả năng cạnh tranh cũng như sự phát triển của các nghề truyền thống ở HậuGiang so với các tỉnh trong khu vực Để tồn tại và phát triển trong xu thế côngnghệ hóa hiện nay, chính quyền đại phương và những bặc nghệ nhân cần phảihoàn thiện chiến lược kinh doanh, xác định nhu cầu thị trường, cơ cấu sản phẩm
để từ đó tập trung đầu tư đổi mới thiết bị sản xuất tiên tiến, phù hợp nhằm tiếntới tự động hóa một số công đoạn trong quy trình sản xuất
Bảng 9: Thực trạng máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất trong các nghề truyền thống ở Hậu Giang
Cơ cấu thiết bị Số hộ Tỷ lệ (%) Thời gian đã sử dụng máy móc, thiết bị
(năm)
Sản xuất trong nước 16 53,3 Thời gian sử dụng trung bình 9,13
Tổng cộng 30 100,0 Thời gian sử dụng nhiều nhất 30,00
Nguồn: Kết quả khảo sát thực tế tại các nghề truyền thống ở Hậu Giang, 2012.