ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANGSỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỀ TÀI CẤP TỈNH CHUYÊN ĐỀ 1 PHÂN TÍCH, KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI CẤP TỈNH
CHUYÊN ĐỀ 1
PHÂN TÍCH, KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ
VÀ SUY THOÁI KINH TẾ TOÀN CẦU
TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
HẬU GIANG NHỮNG NĂM QUA
Cơ quan chủ trì: TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ Chủ nhiệm đề tài: PGs.Ts ĐÀO DUY HUÂN Người thực hiện: Ts NGUYỄN TIẾN DŨNG
HẬU GIANG - NĂM 2013
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Mục lục ii
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 2
3.2 Phương pháp phân tích 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
4.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu 2
4.2 Giới hạn vùng nghiên cứu 3
4.3 Giới hạn thời gian nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4
1 Diễn biến của suy thoái kinh tế toàn cầu 4
2 Suy thoái kinh tế toàn cầu tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam nói chung và Hậu Giang nói riêng 6
2.1 Tác động đến Việt Nam 6
2.2 Tác động đến Hậu Giang 8
2.2.1 Những cơ hội 8
2.2.2 Những thách thức 11
KẾT LUẬN 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài
Tỉnh Hậu Giang được thành lập ngày 01 tháng 01 năm 2004 trên cơ sở tách ra từ tỉnh Cần Thơ theo Nghị quyết số 22/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội khoá XI Sau 10 năm thành lập, kinh tế-xã hội tỉnh Hậu Giang đã có bước phát triển khá nhanh, tạo tiền đề quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Hậu Giang có lợi thế là trung tâm của tiểu vùng Tây sông Hậu, đầu mối trung chuyển giữa vùng Tây sông Hậu và bắc bán đảo
Cà Mau qua quốc lộ 61, đường nối Vị Thanh-Cần Thơ, tuyến đường thủy Thành phố Hồ Chí Minh-Cà Mau, Thành phố Hồ Chí Minh-Kiên Giang Những năm qua được sự quan tâm của Chính phủ, các bộ ngành ở Trung ương đã tạo nhiều
cơ hội cho tỉnh Hậu Giang sớm ổn định tổ chức bộ máy, hỗ trợ vốn đầu tư kết cấu hạ tầng tạo tiền đề phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Bên cạnh đó, Hậu Giang có điểm mạnh nổi bật là sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời của Tỉnh ủy, quản
lý điều hành năng động, sáng tạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, sự nỗ lực của các ngành, các cấp, sự đồng thuận của nhân dân, sự liên kết với các tỉnh bạn, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh nên đã huy động được nhiều nguồn lực thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh 10 năm qua
Quy mô VA của Hậu Giang vẫn còn nhỏ so với các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Nếu so tỷ trọng VA của tỉnh với cả vùng trong giai đoạn 2004-2011, chỉ chiếm khoảng 3,7- 4,0%, năm 2011 tỷ trọng tổng VA của Hậu Giang so với ĐBSCL là 4,4% (15.155 tỷ đồng so với khoảng 344.000 tỷ đồng) Giá trị gia tăng bình quân đầu người 19,66 triệu đồng, gấp 3,2 lần so với năm 2004 (năm 2004 là 5,99 triệu đồng), quy ra USD đạt 959 USD (năm 2004
là 383 USD), bằng 73,7%VA/người của cả nước và 84-85%VA/người của vùng ĐBSCL
Để góp một phần nhỏ vào việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế tỉnh Hậu giang theo hướng cạnh tranh giai đoạn từ năm
2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2025”, chúng tôi viết chuyên đề 1 với chủ đề “Phân tích, khái quát lý luận và thực tiễn về khủng hoảng tài chính-tiền tệ và suy thoái kinh tế toàn cầu tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hậu Giang (trên cả 2 mặt cơ hội và thách thức) những năm qua”
Trang 42 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Phân tích, đánh giá khủng hoảng tài chính-tiền tệ và suy thoái kinh tế toàn cầu tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hậu Giang những năm qua và nghiên cứu xác định những cơ hội và thách thức mà tỉnh Hậu Giang sẽ gặp phải trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình kinh tế theo hướng tăng năng suất, hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh
2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Phân tích, đánh giá suy thoái kinh tế toàn cầu tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam và Hậu Giang
(2) Xác định những cơ hội và thách thức tỉnh Hậu Giang sẽ gặp phải trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình kinh tế theo hướng tăng năng suất, hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các cơ quan, ban ngành như Tổng cục thống kê, Cục thống kê Hậu Giang, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hậu Giang, Tạp chí Tài chính-Marketing, các bài tham luận từ các hội thảo khoa học nhằm phân tích, đánh giá suy thoái kinh tế toàn cầu tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam và Hậu Giang
3.2 Phương pháp phân tích
- Mục tiêu 1: sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh
- Mục tiêu 2: sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp Tổng hợp các kết quả đã phân tích ở mục tiêu 1 làm cơ sở xác định những cơ hội và thách thức đối với Hậu Giang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
- Khái quát lý luận và thực tiễn về khủng hoảng tài chính-tiền tệ và suy thoái kinh tế toàn cầu những năm qua
- Những tác động của khủng hoảng tài chính-tiền tệ và suy thoái kinh tế đối với Việt Nam
Trang 5- Những cơ hội và thách thức đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế tỉnh Hậu Giang
4.2 Giới hạn vùng nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Hậu Giang
4.3 Giới hạn thời gian nghiên cứu
- Thời gian thực hiện đề tài: từ 01/2013 đến 04/2013
- Thời gian của dữ liệu thứ cấp: giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2011
5 Bố cục của đề tài
Đề tài được cấu trúc thành 3 phần:
- Mở đầu
- Kết quả và thảo luận
- Kết luận
Trang 6KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Diễn biến của suy thoái kinh tế toàn cầu
Ngày 14/3/2009, trong “Báo cáo tại cuộc họp Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương các nước G20”, Ngân hàng Thế giới nhận định: “GDP toàn cầu giảm lần đầu tiên từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai”; nửa đầu năm 2009, sản lượng công nghiệp thế giới sẽ thấp hơn 15% so với cùng kỳ năm 2008
Thương mại quốc tế giảm nhiều nhất, kim ngạch xuất khẩu tháng 1/2009 của Nhật Bản giảm 46,3%, Mỹ giảm 31%, Trung Quốc giảm 17,5%, Đài Loan giảm 42,9% so với tháng 1/2008 (theo AFP, Reuteurs)
Kinh tế Mỹ đối mặt với nhiều vụ phá sản, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, chỉ số lòng tin của người dân Mỹ suy giảm đến mức thấp nhất kể từ những năm 80 của thế kỷ trước Theo economy.com của Hãng định mức tín nhiệm Moody’s thì GDP Mỹ có thể giảm 5% trong quý I/2009
Ủy ban châu Âu thừa nhận, 15 nước sử dụng đồng euro đã bước vào đợt suy thoái Nền kinh tế lớn thứ hai thế giới - Nhật Bản cũng đang trong trạng thái tồi tệ nhất, khi sản lượng công nghiệp giảm 10% và mức tiêu dùng mỗi hộ gia đình giảm 5,9% trong tháng Giêng Trung Quốc cũng chịu tác động nghiêm trọng, dự báo năm nay GDP của nước này chỉ tăng 5%
Giá cả thị trường lên xuống thất thường, giá dầu thô có lúc là 147 USD/thùng, hiện nay dao động ở mức trên dưới 50 USD/thùng, do nhu cầu tiêu dùng và đầu tư giảm nhiều, nên nhìn chung giá cả hàng hóa đang có xu hướng giảm Nếu vào thời điểm này năm ngoái, lạm phát là “bóng ma” ám ảnh nền kinh tế nhiều nước, trong đó có Việt Nam, thì hiện nay xuất hiện “bóng ma” mới: giảm phát
Giám đốc Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) nhận định, nguy cơ giảm phát đã lên đến đỉnh điểm trong vòng một thập kỷ, bởi các ngân hàng tiếp tục giảm nguồn tín dụng, doanh nghiệp thiếu vốn, làm ăn thua lỗ, giá cả giảm, đó là cái vòng luẩn quẩn đang tiếp diễn cho đến khi chấm dứt khủng hoảng (theo News Weeks) Dự báo giá cả thị trường thế giới năm 2009 giảm trung bình khoảng 20%, chỉ tăng nhẹ 0,5% vào năm 2010
Giáo sư Roubini, người từ đầu năm 2005 đã đưa ra cảnh báo về “bóng bóng nhà đất tại Mỹ sẽ đổ vỡ” nhấn chìm nền kinh tế nước này, nhận định rằng, không thể hy vọng suy thoái kinh tế thế giới diễn biến theo hình chữ V, nghĩa là
Trang 7sụp đổ nhanh chóng, nhưng cũng phục hồi nhanh chóng, mà theo hình chữ U, đáy của chữ U thể hiện thời gian suy thoái, theo ông, ít nhất là 3 năm kể từ tháng 12/2007 Tại một hội nghị ở New Delhi, Ấn Độ ngày 7/3/2009, ông nhận định rằng: “các nhà hoạch định chính sách đang đi đúng hướng, nhưng tất cả đều quá
ít và quá muộn”
Để đối phó với tình trạng suy thoái kinh tế, nhiều nước áp dụng giải pháp chủ yếu là kích cầu trong nước, giải cứu các doanh nghiệp khỏi tình trạng phá sản bằng cách bơm những khoản tiền lớn vào đầu tư và tiêu dùng để kích thích thị trường nội địa, do đó xuất hiện nguy cơ chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch được khôi phục, đi ngược lại xu thế tự do hóa thương mại
Điển hình là khi Chính quyền của Tổng thống Mỹ G W Bush thực hiện gói giải pháp cứu trợ đầu tiên vào tháng 10/2008, nước này đã đề ra những quy định gây khó khăn cho doanh nghiệp nước ngoài trong việc tiếp cận với những
dự án của gói cứu trợ đó, nhiều nước đã lên tiếng phản đối, buộc Chính phủ Mỹ phải cam kết sửa đổi quy định đó
Tuy vậy, mỗi quốc gia đều phải đối mặt với đòi hỏi của người dân nước mình về việc làm, thu nhập, nên không thể không ưu tiên cho thị trường nội địa
và doanh nghiệp trong nước Đây là vấn đề mới đang được dư luận thế giới theo dõi, để có thể tìm được giải pháp thích hợp đối với từng nước, nhưng không làm tổn hại đến xu thế mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế
Cuộc khủng hoảng kinh tế lần này diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa đang bước vào giai đoạn mới, tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc gia tăng mạnh mẽ, do vậy, cùng với các gói giải pháp của từng quốc gia, các tổ chức quốc tế, các nước trong khu vực và trên thế giới đã phối hợp hành động ứng phó
Ngày 2/4/2009, Hội nghị Nguyên thủ các nước thuộc nhóm G.20 được tổ chức tại London (Anh) để bàn về việc phối hợp hành động toàn cầu nhằm khắc phục tình trạng suy thoái kinh tế thế giới, xử lý tình trạng nợ xấu và phục hồi hoạt động tín dụng của các ngân hàng, tăng cường thể chế quốc tế trong lĩnh vực tiền tệ để ngăn ngừa các cuộc khủng hoảng mới và cải tổ các thể chế tài chính -tiền tệ quốc tế, giảm thiểu sự lệ thuộc của kinh tế các nước vào đồng USD… Tại châu Á, các nước ASEAN và Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đã chủ trương thành lập Quỹ Dự trữ ngoại hối chung 100 tỷ USD để bảo vệ đồng tiền của các nước này
Trang 82 Suy thoái kinh tế toàn cầu tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam nói chung và Hậu Giang nói riêng
2.1 Tác động đến Việt Nam
Tác động bởi sự suy thoái kinh tế toàn cầu đã đảo lộn và ảnh hưởng đến các nước, rõ nhất vẫn là hệ thống tài chính, ngân hàng của mỗi nước Tại Việt nam, phần lớn hoạt động sản xuất phục vụ cho lĩnh vực xuất khẩu gặp rất nhiều khó khăn Trong đó, các thị trường lớn như: Mỹ, EU, Nhật là những thị trường truyền thống nhập khẩu hàng sản xuất từ Việt nam đang bị khủng hoảng, do mức sinh hoạt của người dân bị đảo lộn, đòi hỏi mọi người phải cắt giảm chi tiêu, mức độ mua hàng giảm, nhu cầu thanh toán yếu Việt nam là một trong những nước ảnh hưởng nặng trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa Điều đó ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt nam bị sụt giảm, từ mức 8,48% năm 2007 xuống còn 6,23% năm 2008 và chỉ còn 5,32% năm 2009
Bảng 1: Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam năm 2008 ĐVT: Triệu USD
7 Điện tử ,máy tính 2.703
11 Dây & cáp điện 1.014
Nguồn: http// www.indembassy.com.vn/tabid/960/default.aspx
Tác động của khủng hoảng toàn cầu ảnh hưởng đến các thị trường Mỹ,
EU, Nhật Chính sự khó khăn của các thị trường này đã ảnh hưởng đến sản phẩm của Việt nam, có thời điểm nông sản xuất khẩu giảm mạnh so với thời điểm giá cao nhất trong năm: gạo đã giảm 58%, cao su giảm 48%, cà phê giảm
Trang 924% Những tháng đầu năm 2009 so với 2008, tổng kim ngạch xuất khẩu Nông, Lâm, Thủy sản Việt nam giảm 15%
Sự tác động khủng hoảng Thế giới làm cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt nam gặp rất nhiều khó khăn một phần bị từ chối hợp đồng, sản phẩm tiêu thụ chậm, hàng tồn kho ngày càng nhiều Phần thì chịu ảnh hưởng của chính sách thắt chặt tiền tệ, hạn chế tăng trưởng tín dụng ngân hàng làm lãi suất cho vay cao vượt xa khả năng kinh doanh của doanh nghiệp (lãi suất đi vay không ngừng được nâng lên và lãi suất cho vay cũng tăng lên từ 14% năm (năm 2007)
và đã tăng 20% và 24% năm ( năm 2010) Tuy rằng ngân hàng nhà nước đã đưa mức lãi trần nhưng đều không đạt kết quả do các ngân hàng thương mại không thực hiện triệt để Nợ xấu ngân hàng ngày càng có xu hướng gia tăng Từ những
lý do trên các doanh nghiệp khó, lại càng khó hơn và số doanh nghiệp đã tự giác đóng cửa, tuyên bố phá sản tăng 21,8% so với năm 2010 và công nhân là những nạn nhân gánh hậu quả, thực tế là thất nghiệp ngày càng nhiều hơn Doanh số bán lẻ và tiêu dùng dịch vụ năm 2011 chỉ tăng 4% mức tăng thấp nhất từ trước đến nay
Bên cạnh đó, công tác nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam cũng không tốt hơn các doanh nghiệp xuất khẩu Tại sao? Người lao động thu nhập thấp hơn chi dùng, để giảm khó khăn cho sinh hoạt gia đình người dân phải cắt, giảm chi tiêu, thất nghiệp trong xã hội gia tăng, …làm cho những doanh nghiệp nhập khẩu Việt Nam ngần ngại trước cuộc sống mà mức thu nhập của người dân thấp hơn so với mức tiêu dùng hàng hóa, vậy giới hạn nhập khẩu hàng tiêu dùng của các doanh nghiệp nằm trong một số mặt hàng cần thiết mà các nhà nhập khẩu Việt Nam xác định giới hạn an toàn không bị lỗ, nhưng nhập mức độ cầm chừng hoặc co cụm, hạn chế phát triển và mở rộng
Từ xuất khẩu cho đến nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đều giảm, gây khó khăn cho các doanh nghiệp làm dịch vụ, sản xuất các phụ liệu đi kèm, hỗ trợ cho xuất khẩu cũng bị ảnh hưởng như: bao bì, đóng gói, vận chuyển… đều giảm, lượng hàng tồn kho tăng
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã có những ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, có thể khẳng định những tác động đến xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
là không đáng kể
Thực tế cho thấy, kể từ khi kinh tế thế giới khủng hoảng, xuất khẩu của Việt Nam vẫn không ngừng tăng Lý do hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn chủ yếu là hàng thiết yếu có độ co giãn cầu với thu nhập thấp Tuy nhiên, nếu nhìn
Trang 10về tương lai Việt Nam có thể chịu nhiều tác động từ những biến động trong khu vực hơn là từ Mỹ và châu Âu Những tác động đó bao gồm:
Thứ nhất, tác động từ cải cách ở Trung Quốc: (i) tín dụng ở Trung Quốc
sẽ không còn rẻ và dễ dãi như trước, lương sẽ tăng, đồng nhân dân tệ sẽ tiếp tục lên giá Điều này có lợi cho kinh tế Việt Nam theo nghĩa áp lực cạnh tranh từ phía Trung Quốc đối với hàng hoá Việt Nam sẽ giảm bớt; (ii) Trung Quốc sẽ không còn hấp dẫn nhà đầu tư quốc tế như là một nơi đầu tư có chi phí thấp như trước nữa Trên thực tế đã xuất hiện hiện tượng di chuyển cơ sở sản xuất của công ty đa quốc gia ra khỏi Trung Quốc Việt Nam có thể hưởng lợi từ hiệu ứng này nếu chúng ta có các chính sách ưu đãi, hấp dẫn, thu hút vốn FDI của các tổ chức nước ngoài
Thứ hai, Nhật Bản và Hàn Quốc đang có chiều hướng đầu tư lớn vào Việt Nam Năm 2011, Nhật Bản có 234 dự án, chiếm 25% tổng FDI vào Việt Nam; năm 2012 có 317 dự án, tổng giá trị 5,6 tỷ USD, chiếm 50% tổng FDI vào Việt Nam; tính từ đầu năm 2013 đến nay số vốn cấp mới và tăng thêm là 4 tỷ USD Nhật Bản cũng là nước cung cấp ODA lớn nhất cho Việt Nam (chiếm hơn 30%)
Trong khi đó, Hàn Quốc được coi là đối tác đầu tư chiến lược của Việt Nam trong việc thực hiện, triển khai các dự án đầu tư tại địa bàn các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang và Bắc Ninh Như vậy, Việt Nam là một căn cứ thuận lợi,
dễ tiếp cận và kiểm soát của Nhật Bản và Hàn Quốc trong quá trình di chuyển căn cứ sản xuất ra bên ngoài của hai nước này Điều này có ý nghĩa lớn về tăng trưởng, việc làm và công nghệ trong tương lai, đặc biệt trong bối cảnh có sự cạnh tranh từ Campuchia và Mianmar đang tăng lên
2.2 Tác động đến Hậu Giang
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng đến Việt Nam và đã tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mô hình tăng trưởng kinh tế Hậu Giang trên các mặt sau:
2.2.1. Những cơ hội
(1) Phá vỡ cục bộ hay toàn cục cơ cấu kinh tế cũ cũa Hậu Giang dựa trên chủ yếu nông nghiệp truyền thống, phá vỡ mô hình kinh tế hiện có chủ yếu dựa vào tănng trưởng vốn, lao động chuyên môn thấp, để tạo cơ hội xây dựng cơ cấu mới dựa trên công nghiệp chế biến, dịch vụ và nông nghiệp sản xuất hàng hóa chất lượng cao Tạo cơ hội xây dựng mô hình tăng trưởng kinh tế kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu, sử dụng vốn chọn lọc dựa trên lao động chất lượng cao,