Trong đó, liên quan đến quan điểm của Hồ Chí Minh về dân sinh được rất nhiều công trình nghiên cứu và công bố, tiêu biểu nhất là: “T ư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam”
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LƯU VĂN PHONG
VẬN DỤNG QUAN NIỆM VỀ DÂN SINH CỦA HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC ĐẢM BẢO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LƯU VĂN PHONG
VẬN DỤNG QUAN NIỆM VỀ DÂN SINH CỦA HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC ĐẢM BẢO
CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN HỒNG LƯU
Đà Nẵng - Năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các s ố liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công b ố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Lưu Văn Phong
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM VỀ DÂN SINH CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ VẤN ĐỀ AN SINH XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 7
1.1 QUAN NIỆM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN SINH 7
1.1.1 Cơ sở hình thành quan niệm dân sinh của Hồ Chí Minh 7
1.1.2 Nội dung quan niệm của Hồ Chí Minh về vấn đề dân sinh 13
1.2 VẤN ĐỀ AN SINH XÃ HỘI 25
1.2.1 Khái niệm an sinh xã hội 25
1.2.2 Các bộ phận và vai trò của an sinh xã hội 31
1.2.3 Đặc trưng của chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam 35
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 40
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 41
2.1 CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 41
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội truyền thống văn hóa, con người thành phố Đà Nẵng 41
Trang 52.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và chủ trương, chính sách của thành phố đối
với công tác an sinh xã hội 45
2.2 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 47
2.2.1 Những thành tựu đạt được 47
2.2.2 Những hạn chế cần khắc phục 62
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 64
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẢM BẢO CÁC CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở ĐÀ NẴNG HIỆN NAY65 3.1.1 Quan điểm, chính sách của Đảng và chính sách của Nhà nước về an sinh xã hội 65
3.1.2 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng đến 2020 69
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG THỜI GIAN TỚI 71
3.3.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách 71
3.3.2 Nhóm giải pháp thực thi chính sách 73
3.3.3 Nhóm giải pháp đối với đối tượng thụ hưởng 77
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT 78
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 80
KẾT LUẬN 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASXH - An sinh xã hội BHXH - Bảo hiểm xã hội BHYT - Bảo hiểm y tế
Trang 72.2 Hiện trạng bảo đảm thu nhập tối thiểu và giảm
nghèo giai đoạn 1997 - 2012
2.9 Hiện trạng thực hiện tiếp cận thông tin cho người
nghèo, vùng nghèo giai đoạn 1997 - 2012
61
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội gắn chặt với vấn đề dân sinh, Người luôn coi trọng và thực hiện ngày càng tốt hơn vấn đề dân sinh Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng nêu rõ phương thức, biện pháp để giải quyết một cách hiệu quả vấn đề dân sinh Đó là thực hành tiết kiệm, phát triển sản xuất, gắn phát triển kinh tế với chăm lo cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Những luận điểm sâu sắc của Người về dân sinh
là sự thể hiện tập trung và thiết thực tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước
Quán triệt tư tưởng dân sinh đó của Hồ Chí Minh trong hơn 25 năm đổi mới vừa qua Đảng ta đã luôn chủ trương thực hiện chính sách dân sinh mà nổi bật là chính sách An sinh xã hội (ASXH) đảm bảo nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho nhân dân Chính sách xã hội nói chung, chính sách ASXH nói riêng từ chỗ chỉ xem là phần còn lại của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đã được Đảng ta nâng tầm lên ngang bằng với các chính sách khác Chính nhờ đó đến nay chính sách ASXH đã đạt được một số thành tựu rất đáng trân trọng, thể hiện được tính nhân văn của chính sách này
Hòa chung với cả nước, hơn 15 năm qua kể từ khi trở thành thành phố trực thuộc trung ương, thành phố Đà Nẵng đã luôn gắn kết chặt chẽ tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, thực hiện nhiều chính sách ASXH độc đáo, hiệu quả, nhất là chương trình “5 không”, chương trình “3 có” Trong những năm tiếp theo, thành phố Đà Nẵng cần tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục những vướng mắc đang tồn tại trong quá trình thực hiện đảm bảo ASXH để xây dựng thành phố thực sự trở thành “thành phố đáng sống” Để thực hiện tốt điều đó, thành phố Đà Nẵng
Trang 9nhất thiết phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề dân sinh và hệ thống quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về ASXH
Với tính cấp thiết đó, tác giả chọn đề tài “Vận dụng quan niệm về Dân
sinh c ủa Hồ Chính Minh vào việc đảm bảo chính sách An sinh xã hội ở Đà
N ẵng” làm luận văn thạc sĩ triết học
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề dân sinh,
từ thực tiễn thực hiện chính sách ASXH ở thành phố Đà Nẵng, luận văn đề ra các giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục thực hiện tốt các chính sách ASXH ở thành phố Đà Nẵng hiện nay
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ quan điểm Dân sinh của Hồ Chí Minh
- Phân tích chính sách ASXH nước ta cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, qua
đó nêu lên hiện trạng thực hiện các chính sách ASXH ở thành phố Đà Nẵng những năm gần đây
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục thực hiện tốt các chính sách ASXH ở thành phố Đà Nẵng hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lý luận và thực tiễn về vấn đề Dân sinh,
ASXHở nước ta nói chung, thành phố Đà Nẵng nói riêng
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu việc vận dụng
quan điểm Dân sinh của Hồ Chí Minh trong thực hiện các chính sách ASXH
ở thành phố Đà Nẵng hiện nay Do đó, các số liệu về thành phố Đà Nẵng được đề tài sử dụng chủ yếu giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và các tư
Trang 10tưởng chủ đạo của Đảng ta về vấn đề ASXH, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu: Trừu tượng hóa khoa học, phân tích, tổng hợp, thống kê,
thu thập số liệu, so sánh, đối chiếu để rút ra các kết luận, nhận định khoa học
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Luận văn góp phần làm rõ nội dung quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn
đề Dân sinh, làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam, nhất là ở thành phố Đà Nẵng
- Luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục thực hiện hiệu quả chính sách ASXH ở Đà Nẵng trong những năm đến
- Khi đã hoàn thành, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc thực hiện chính sách ASXH ở thành phố Đà Nẵng
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Hiện nay, Tư tưởng Hồ Chí Minh được rất nhiều nhà lý luận, nhà khoa học, tác giả quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Trong đó, liên quan đến quan điểm của Hồ Chí Minh về dân sinh được rất nhiều công trình nghiên cứu và công bố, tiêu biểu nhất là:
“T ư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” của Vũ Văn
Hiền và Đinh Xuân Lý (đồng chủ biên) (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2003);“Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và con người” của Đặng Xuân Kỳ (chủ biên) (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005)’ “Tư tưởng của
H ồ Chí Minh về quyền con người” của Phạm Ngọc Anh (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã h ội” của Nguyễn Bá Linh (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005); “Hồ
Chí Minh – Đỉnh cao truyền thống nhân trí dũng Việt Nam” của Nguyễn Khắc Nho (Nxb Chính trị Quốc gia, 2008); “Hồ Chí Minh với vấn đề dân
sinh” của Nguyễn Đình Hòa (Tạp chí triết học, số 1 (212), 2009); “Giá trị
nhân v ăn trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” của Nguyễn Thị Mai
Trang 11Hoa (Tạp chí Triết học, số 11 (222), 11, 2009); “Công việc đối với con người
trong Di chúc c ủa Hồ Chí Minh” của Trần Thị Huyền (Tạp chí Triết học, số
12 (223), 12, 2009); Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội và sự vận
d ụng sáng tạo của Đảng ta trong công cuộc đổi mới” của Nguyễn Thị Minh Thùy (Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 6, 2012); “Quyền
s ống của con người – từ quan niệm của Hồ Chí Minh đến quy định của Hiến
pháp” của Phạm Ngọc Anh (Tạp chí Lý luận chính trị, số 5 – 2013); “Giá trị
Minh tri ết Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với hạnh phúc của nhân dân
và dân ch ủ xã hội” của Trần Ngọc Thiện (Thông tin những vấn đề lý luận, số
6, 2013)…
Trong những công trình trên, các tác giả đã đi sâu phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề quyền con người, về hạnh phúc của con người, về dân chủ xã hội, về dân sinh, về chính sách xã hội…Trong đó, chỉ có một bài báo khoa học trực tiếp đến vấn đề quan điểm dân sinh của Hồ Chí Minh
Về vấn đề an sinh xã hội cũng được một số học giả quan tâm nghiên
cứu mà tiêu biểu là: Mạc Tiến Anh, Bản chất và tính tất yếu khách quan của
an sinh xã h ội, Tạp chí Bảo hiểm xã hội, số 2/2005; Ansel M Sharp, Kinh tế
h ọc trong các vấn đề xã hội (sách dịch), Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội,
2005; Bộ Lao động thương binh & Xã hội, Đề tài “Luận cứ khoa học cho
vi ệc đổi mới chính sách bảo đảm xã hội trong nền kinh tế thị hàng hoá nhiều
thành ph ần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Đề tài khoa học cấp nhà nước, mã số KX04 – 05;“Phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của Nguyễn Công Nghiệp (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006); Bộ Lao động thương binh & Xã hội, Đề tài “Phát
tri ển hệ thống ASXH Việt Nam phù hợp với nền kinh tế thị trường định
h ướng xã hội chủ nghĩa” Đề tài khoa học cấp Bộ, 2006
Trang 12“Xây d ựng và hoàn thiện hệ thống An sinh xã hội – một công cụ quan
tr ọng nhằm thực hiện công bằng xã hội ở nước ta” của Phạm Thị Ngọc Trầm (Tạp chí Triết học, số 12 (223), 12, 2009); Mai Ngọc Anh, An sinh xã hội đối
v ới nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam Luận án tiến sỹ
kinh tế, (2009); Mai Ngọc Cường, Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính
sách an sinh xã h ội ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009
“T ăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam” của Hoàng Đức Thân – Đinh Quang Ty (đồng chủ biên) (Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2010); “Gắn tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt
Nam” của Trần Nguyễn Tuyên (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010);
“ Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội trong thời kỳ đổi mới” của
Nguyễn Thị Thanh (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011)…
Những kết quả nghiên cứu ở trên đã đề cập tương đối toàn diện đến các vấn đề về chính sách xã hội nói chung, chính sách An sinh xã hội nói riêng ở nước ta từ lý luận và thực tiễn
Hiện nay, các chủ đề liên quan đến kinh tế - xã hội Đà Nẵng cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Liên quan đến vấn đề thực hiện chính sách
an sinh xã hội ở thành phố Đà Nẵng có một số công trình chủ yếu sau:
“Xây d ựng lối sống đô thị trong quá trình đô thị ở thành phố Đà Nẵng,
th ực trạng và giải pháp” của Phạm Hảo (Đề tài khoa học cấp thành phố, Đà Nẵng, 2006); “Đô thị hóa và các hiệu ứng văn hóa cho sự phát triển kinh tế ở
thành ph ố Đà Nẵng hiện nay” của Lê Hữu Ái (Tạp chí Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng, số 12, 2010); “Đánh giá sự hài lòng về dịch vụ công ở Đà
N ẵng” của Lê Dân (Tạp chí Con số và sự kiện, số 4, 2010); “Thực trạng thực
hi ện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm
2015, t ầm nhìn đến năm 2020” của Trần Văn Liên (Tạp chí Phát triển kinh tế
- xã hội Đà Nẵng, số 16+17, 2011); “Đà Nẵng chú trọng xây dựng và phát
Trang 13tri ển văn hóa” của Trần Đức Anh Sơn (Tạp chí Cộng sản (chuyên đề cơ sở),
số 49, 2011); “Mối quan hệ mức sống vật chất và phân hóa xã hội trên địa
bàn thành ph ố Đà Nẵng hiện nay” của Phan Thanh Giản (Tạp chí Sinh hoạt
lý luận, số 4(113), 2012);“Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp
hóa, hi ện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng” của Dương Anh Hoàng (Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2012);
Về tổng thể, những công trình nghiên cứu này đã đề cập đến một số khía cạnh của kinh tế - xã hội, văn hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề nhân lực ở thành phố Đà Nẵng Liên quan đến đề tài luận văn chỉ có công trình nghiên cứu về vấn đề bảo trợ xã hội ở Đà Nẵng của tác giả Trần Văn Liên Như vậy, chưa có công trình nào đề cập trực tiếp đến việc vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về dân sinh trong việc thực hiện các chính sách an xã hội Mặc dù vậy, những công trình nghiên cứu đã công bố là những cơ sở định hướng, tư liệu tham khảo hết sức quan trọng để tác giả hoàn thành đề tài
Trang 14CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM VỀ DÂN SINH CỦA HỒ CHÍ MINH
VÀ VẤN ĐỀ AN SINH XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1 QUAN NIỆM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN SINH
1.1.1 Cơ sở hình thành quan niệm dân sinh của Hồ Chí Minh
Xu ất phát từ truyền thống gia đình, quê hương Nghệ Tĩnh là vùng đất
giàu truyền thống cách mạng, là nơi đã sản sinh ra nhiều con người và lãnh tụ kiệt xuất như Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu, Đặng Dung, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu,… Người được sinh ra trong một gia đình nhà nho mẫu mực, giàu truyền thống cách mạng Từ cha, mẹ đến các anh, chị của Người đều có chung một chí hướng cứu nước, thương dân Đặc biệt, Người chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nhân cách và phẩm chất cao quý, nghị lực sống phi thường của người cha - cụ Nguyễn Sinh Sắc Tất cả những điều đó là là cơ sở, điều kiện cho việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và quan niệm của Người về dân sinh sau này Với mong muốn tột bậc là "làm sao cho nước nhà được độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo
mặc, ai cũng được học hành" [40, tr 161]
Tình hình xã h ội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: Với Hòa ước
Giáp Thân năm 1884, triều đình nhà Nguyễn đã chính thức dâng Việt Nam cho thực dân Pháp xâm lược vô điều kiện Triều đình đầu hàng, nhưng nhân dân Việt Nam thì không đồng tình với quyết định đó Phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới ngọn cờ "Cần Vương" do các sĩ phu, văn thân lãnh đạo theo hệ tư tưởng phong kiến, các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng dân chủ tư sản liên tiếp nổ ra vào những năm cuối thế kỷ thứ XIX, đầu thế kỷ thứ XX đã gây ra nỗi khiếp sợ cho quân xâm lược Tuy nhiên, do đường lối cứu nước không đúng đắn, cuối
Trang 15cùng tất cả các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và dân chủ
tư sản đều thất bại Đó là nguyên nhân sâu xa làm cho Việt Nam khủng hoảng
về đường lối cứu nước
Mặc dù, Hồ Chí Minh rất quý trọng chí hướng cứu nước của các bậc tiền bối, nhưng người không tán thành con đường cứu nước giải phóng dân tộc của họ Phong trào cứu nước giải phóng dân tộc của nhân dân ta muốn giành thắng lợi phải đi theo một con đường mới Con đường đó nhất quyết không phải là "Ỷ Pháp cầu tiến bộ" như của Phan Chu Trinh, không phải chủ trương giành độc lập dân tộc bằng con đường sử dụng bạo lực mang tính manh động, cầu ngoại viện chẳng khác gì "đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau" của Phan Bội Châu, cũng không phải bằng cách dựng lại ngọn cờ phong kiến khi nó đã quá rách nát, lỗi thời, không hợp lòng dân
Trong bối cảnh đó, Người đã tự định ra cho mình một hướng đi mới:
"Phải tìm hiểu rõ bản chất của những từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái của nước cộng hòa Pháp và các nước khác Sau khi xem xét họ làm thế nào, sẽ trở về giúp đồng bào mình" [45, tr 40-41]
Người chỉ rõ: "Trong khi con thuyền cách mạng Việt Nam còn lênh đênh chưa rõ bến bờ phải đi tới, việc cứu nước như trong đêm tối "không có đường ra" thì lịch sử thế giới có những chuyến biến to lớn" [2, tr 28] Chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh chuyển sang Đế quốc chủ nghĩa, nhu cầu xâm lược thuộc địa trở thành vấn đề sống còn đối với chủ nghĩa tư bản, khi mà thị trường trong nước không đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất tư bản Điều này làm cho mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản với các nước thuộc địa Á, Phi,
Mỹ Latinh càng trở nên sâu sắc, chủ nghĩa đế quốc không những trở thành kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa, mà còn là kẻ thù "không đội trời chung"
với giai cấp vô sản hiện đại - con đẻ của nền sản xuất công nghiệp hiện đại
Trang 16Đỉnh cao sự ra đời, phát triển trưởng thành của phong trào công nhân thế giới là thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ thiên tài V.I Lênin Đối với các dân tộc thuộc địa, Cách mạng Tháng Mười Nga "Mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc" [43, tr 562], làm "thức tỉnh các dân tộc châu Á",
mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của nhân loại
Cách mạng Tháng Mười Nga chỉ có thể thành công khi giai cấp vô sản thông qua chính Đảng của mình, mà đứng đầu là V.I Lênin đào tạo ra được những lãnh tụ tài giỏi, trung thành với sự nghiệp cách mạng Bởi vì "Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào" [27, tr 473]
Xu ất phát từ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
Truyền thống tốt đẹp của dân tộc: Với lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời,
đã hình thành nên những giá trị truyền thống tốt đẹp, đặc sắc và cao quý của dân tộc Việt Nam, trở thành tiền đề lý luận xuất phát hình thành quan niệm
Hồ Chí Minh về dân sinh Trong các truyền thống đó phải kể đến:
Truy ền thống yêu nước: Đây là truyền thống quý báu của dân tộc ta và là
một trong những chuẩn mực đạo đức cơ bản của dân tộc Truyền thống đó luôn cháy bỏng trong tâm hồn của bao thế hệ Việt Nam Nhất là mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, truyền thống đó lại trỗi dậy mạnh mẽ với bao lớp người sẵn sàng "Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh", "Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh" Nói về truyền thống yêu nước, Hồ Chí Minh từng đúc kết: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn,
nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước" [42, tr 171]
Trang 17Chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước đã thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc Từ đó người đã đến với hệ thống tri thức nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác-Lênin
Truy ền thống lấy dân làm gốc: Lịch sử hơn hai nghìn năm trăm năm
dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã từng phải đối đầu với rất nhiều quân thù hung tợn, tàn bạo nhưng nhân dân Việt Nam vẫn anh dũng vượt qua mọi thử thách, chiến đấu và chiến thắng mọi kể thù xâm lược để giữ vững nền độc lập dân tộc Một trong những nguyên nhân quan trọng mang lại chiến thắng lẫy lừng của dân tộc Việt Nam trước các thế lực ngoại xâm là tư tưởng "lấy dân làm gốc" đã ngấm vào trong máu của cơ bản các triều đại phong kiến Mặc dù đội ngũ quan lại luôn mang tính giai cấp, họ được đào tạo ra để bảo
vệ sự tồn vong của nhà nước phong kiến, song thành phần vua tôi ở Việt Nam chủ yếu xuất thân từ nhân dân, nên họ là những người gần dân, thân dân, gắn
bó với nhân dân, được nhân dân che chở, ủng hộ, đùm bọc Lịch sử dân tộc cũng đã chứng minh một chân lý: Chỉ những triều đại biết dựa vào dân, lấy dân làm gốc, thấy được sức mạnh “vừa có khả năng đẩy thuyền vừa có khả năng lật thuyền” của dân, thì triều đại đó chẳng những đứng vững mà còn vượt qua được sóng gió, đất nước hưng thịnh, muôn dân thái bình
Truy ền thống đoàn kết, tinh thần tương thân, tương ái, truyền thống kiên
cường, bất khuất, thông minh sáng tạo, lòng nhân nghĩa, khiêm tốn, biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu cho văn hóa dân tộc cũng là những tiền đề tư tưởng lý luận cho sự ra đời quan điểm Hồ Chí Minh về dân sinh Trong các giá trị truyền thống dân tộc, chủ nghĩa yêu nước là giá trị cơ bản nhất
Ti ếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại: Hồ Chí Minh đã biết làm giàu vốn
văn hóa của mình bằng cách học hỏi, tiếp thu tư tưởng văn hóa phương Đông
và phương Tây
Trang 18Hồ Chí Minh đã tiếp thu trên cơ sở phê phán những quan điểm của nho giáo làm tiền đề cho sự ra đời tư tưởng Người về nhân dân và dân sinh Bằng việc tiếp thu những giá trị nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng của người quân tử trong Nho giáo, trên cơ sở phê phán những điều không đúng, như: Tư tưởng trọng nam khinh nữ; xem nhẹ lao động chân tay…
Bên cạnh đó, những giá trị tích cực khác của Nho giáo như triết lý hành động, tu thân, tề gia, nhân nghĩa, triết lý nhân sinh, đề cao văn hóa lễ giáo, ước vọng về một xã hội bình trị, một thế giới đại đồng, tư tưởng tin dân, đề cao sức mạnh của nhân dân, đặc biệt là việc đề cao tư tưởng "Đức trị" là một trong những nguồn gốc lý luận quan trọng cho sự ra đời quan niệm của Hồ Chí Minh về dân sinh Nói về vai trò của "Đức trị" trong việc trị vì quốc gia, Khổng Tử từng khẳng định: "Làm chính trị mà dùng đức thì như sao Bắc Đẩu
ở một nơi mà các ngôi sao khác hướng cả về" [26, tr 38] Thấm nhuần giá trị tiến bộ đó, Hồ Chí Minh đẩy nó cao hơn với chủ trương "Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân"; Nhà nước mới "là người đầy tớ
trung thành của nhân dân" [38, tr 663]
Hồ Chí Minh đã tiếp thu tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn; giản dị; chống phân biệt đẳng cấp, chăm lo điều thiện; thương người như thể
thương thân
Bên cạnh Nho giáo và Phật giáo, trong kho tàng tư tưởng phương Đông, quan niệm Hồ Chí Minh về dân sinh còn chịu ảnh hưởng và tiếp thu phần tích cực, tiến bộ của nhiều học thuyết khác như Mặc gia, Đạo gia, Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn
Tư tưởng văn hóa phương Tây mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác-Lênin là một trong ba tiền đề lý luận quan trọng cho sự ra đời tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và quan niệm dân sinh nói riêng Hồ Chí Minh đã nghiên cứu tiếp
Trang 19thu trên tinh thần phê phán những tư tưởng văn hóa dân chủ và cách mạng của
cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ
Về tư tưởng dân chủ của cách mạng Pháp, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tư tưởng của các nhà khai sáng: Voltaire, Rousso, Moutesquieu Đặc biệt, Người chịu ảnh hưởng sâu sắc về tư tưởng "Tự do, bình đẳng, bác ái" trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791 của Đại cách mạng Pháp để làm giàu vốn văn hóa của mình trong đó có tư tưởng về dân sinh
Đối với cách mạng Mỹ, Hồ Chí Minh đã tiếp thu các giá trị về quyền nhân dân kiểm soát chính phủ, "Quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu
hạnh phúc" trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ
Bên cạnh việc tiếp thu các giá trị, Hồ Chí Minh đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế trong Cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp là “cách mệnh Tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong
nước thì tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa" [ 39, tr 274]
Ảnh hưởng từ quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, cách mạng xã hội chủ nghĩa coi mục tiêu cuối cùng là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và đảm bảo dân sinh, dân chủ
Trí tu ệ thiên tài, nhân cách, phẩm chất Hồ Chí Minh và hoạt động thực
ti ễn của người Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của cá nhân Hồ Chí Minh
sáng tạo ra trên cơ sở những nhân tố khách quan như đã trình bày, do đó, quan niệm của Người về dân sinh còn là kết quả của những yếu tố chủ quan: Khả năng tư duy, trí tuệ, phẩm chất đạo đức và năng lực hoạt động thực tiễn của Người
Hồ Chí Minh là một trí tuệ lớn của nhân loại, Người rất thông minh, có bản lĩnh kiên định, ham học hỏi, rất nhạy bén, có lối tư duy độc lập, óc sáng tạo, có phương pháp biện chứng, hiểu biết sâu rộng, khiêm tốn, bình dị Là người sống có lý tưởng và hoài bão lớn, có đầu óc tổ chức thực tiễn, luôn gắn
Trang 20lý luận với thực tiễn, Người đặc biệt có sức cảm hóa mãnh liệt đối với mọi người Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước chân chính, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách mạng, với một trái tim yêu nước thương dân Người là đỉnh cao của sự phát triển về khả năng tư duy, trí tuệ và phẩm chất đạo đức; là "Đại nhân, đại trí, đại dũng" như cách nói của Đại tướng Võ Nguyên Giáp Không phải ngẫu nhiên khi Hồ Chí Minh mới trạc tuổi 33 mà nhà báo Liên Xô Ô Manđenxtam đã nhận xét về trí tuệ, nhân cách của người: "Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai" Văn hóa Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã và sẽ mãi còn tỏa sáng cùng với sự trường tồn của dân tộc và nhân loại
1.1.2 Nội dung quan niệm của Hồ Chí Minh về vấn đề dân sinh
Hồ Chí Minh chưa một lần dành riêng một tác phẩm, một bài viết hay một bài phát biểu để trình bày quan niệm dân sinh, triết lý nhân sinh của Người Quan niệm đó, triết lý đó ở Hồ Chí Minh được toát ra, được thể hiện sinh động từ toàn bộ cuộc đời đấu tranh cách mạng không mệt mỏi và từ cuộc sống hàng ngày rất đỗi đời thường của Người Quan niệm đó, triết lý đó là sự kết tinh cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một vĩ nhân, người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới
Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã nhận ra được vai trò của vấn đề dân sinh Có thể nói rằng, Người phải bôn ba ở nước ngoài cũng là vì tìm ra quốc
kế dân sinh cho nhân dân An Nam lúc bấy giờ Trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc,
là làm sao cho n ước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành Luận điểm này
đã phản ánh một cách cô đọng, súc tích quan điểm của Hồ Chí Minh về dân sinh hạnh phúc Người đã dành trọn cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của mình đấu tranh cho mục đích cách mạng đầy tính nhân văn - độc lập cho dân
Trang 21tộc và hạnh phúc cho nhân dân Người đã kế thừa những giá trị tư tưởng, văn hóa “vĩnh cửu” của nhân loại, thấm đượm chủ nghĩa nhân văn cao cả và đáp ứng những yêu cầu, nguyện vọng cháy bỏng và sâu xa của dân tộc và nhân loại Không chỉ thế, cả cuộc đời hoạt động cách mạng không mệt mỏi của Người còn là một tấm gương sáng ngời, một biểu hiện tiêu biểu cho chủ nghĩa nhân đạo cộng sản cao cả Chính cuộc đời hoạt động vì nước, vì dân của Người là bằng chứng sống cho quan niệm dân sinh đó
Chủ nghĩa nhân đạo, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là sự thể hiện tập trung ở quan niệm dân sinh, triết lý nhân sinh của Người - suốt đời cống hiến hết mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng con người, giải phóng giai cấp
và giải phóng nhân loại; đấu tranh không mệt mỏi để xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, mọi bất công, phi lý; giành độc lập, tự do vì quyền được phát triển bình đẳng cho dân tộc, cho nhân loại; đem lại cho mỗi con người, cho dân tộc và cho cả cộng đồng nhân loại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc
H ồ Chí Minh đã chỉ rõ trách nhiệm của Đảng và Nhà nước là: Phải hết
sức quan tâm đến đời sống của nhân dân Phải lãnh đạo, tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất, tiết kiệm Dân đủ ăn, đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa xuống sẽ dễ dàng thực hiện Nếu dân đói rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được Từ
những quan điểm trên, chúng ta thấy rằng Hồ Chí Minh đã xem dân sinh là
v ấn đề quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia, là vấn đề cốt lõi trong đường
l ối của Đảng và chính sách của Nhà nước
Quan điểm dân sinh đó, triết lý nhân sinh đó lấy thực tiễn cuộc sống làm điểm xuất phát, lấy giải phóng và phát triển con người làm mục tiêu Đó là quan điểm vì cuộc sống con người mà hành động, là triết lý cuộc sống, là đạo
lý làm người, đạo lý làm việc Ở Hồ Chí Minh, quan điểm dân sinh đó, triết lý nhân sinh đó đã trở thành phương châm hành động và, như Người đã xác định
Trang 22rõ, “đầu tiên là công việc đối với con người” [45, tr.503] mọi công việc đều
liên quan tới con người, hướng vào phục vụ con người, làm cho con người được phát triển toàn diện với mọi năng lực vốn có của nó, để con người được làm chủ, có tự do, có cuộc sống ấm no và hạnh phúc Hơn nữa, Người còn coi
đó là công việc nhất thiết phải làm, dẫu khó khăn, phức tạp đến mấy cũng phải ra sức làm
Quan niệm dân sinh của Hồ Chí Minh thể hiện ở việc phấn đấu mang lại quyền độc lập, quyền tự do, quyền làm chủ của nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập tới quyền sống của con người rất sớm, Người đã đặt nền móng lý luận và thực tiễn bằng việc khẳng định quyền sống của con người gắn với quyền dân tộc, với độc lập chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ Đối với Hồ Chí Minh, quyền sống không chỉ là quyền được tồn tại, mà còn là quyền làm người
Quan ni ệm dân sinh của Hồ Chí Minh thể hiện thông qua việc thường
xuyên th ực hiện các chính sách xã hội để nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần cho toàn thể nhân dân Theo Hồ Chí Minh, để thực hiện có hiệu quả chính sách xã hội cần phải thực hiện tốt các nội dung sau: Phải lấy dân làm gốc và là mục tiêu hướng tới của mọi chính sách xã hội; chính sách xã hội phải phù hợp và gắn với chính sách kinh tế; chính sách xã hội phải bắt nguồn
từ cơ cấu xã hội – giai cấp
Hồ Chí Minh cũng đề cập đến vấn đề dân sinh với tư cách là mục đích, đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Khi trả lời câu hỏi “chủ nghĩa xã hội là gì?”,
Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm sâu sắc và khoa học nhưng lại rất giản dị
và gần gũi như những lẽ phải thông thường mà ai cũng có thể hiểu và cảm nhận được Người cho rằng, chủ nghĩa xã hội là “ mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do” Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội là một xã hội luôn quan tâm và thực hiện ngày
Trang 23càng tốt hơn vấn đề dân sinh Các chính sách, đường lối của Đảng phải vì an sinh của dân: Nếu dân đói, dân rét… Đảng có lỗi
V ề kế sách lâu dài để thực hiện dân sinh, theo Hồ Chí Minh là phải thực
hành tiết kiệm, chống lãng phí, tích cực tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế Theo Hồ Chí Minh, trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, việc tập trung mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm là vô cùng cần thiết Các tư liệu sản xuất cơ bản của xã hội, như ruộng đất, hầm mỏ, nhà máy,… phải thuộc quyền sở hữu của toàn dân Nền kinh tế phải phát triển theo hướng công nghiệp hóa, đi lên sản xuất lớn có khả năng tạo ra năng suất cao nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng cao của nhân dân
Do sớm nhận thức được vai trò của vấn đề dân sinh trong đấu tranh giành độc lập cũng như trong xây dựng đất nước nên Hồ Chí Minh đã hết sức chú trọng thực hiện nhiều chủ trương, chính sách liên quan đến vấn dân sinh, nhất là hệ thống chính sách xã hội nhân đạo mang bản chất nhân văn của chủ nghĩa xã hội
Được sinh ra và nuôi dưỡng bởi một đất nước, một dân tộc có truyền thống hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, có nền văn hóa nhân bản, mang giá trị truyền thống và đượm bản sắc dân tộc, có khát vọng cháy bỏng về một cuộc sống tốt đẹp, Người ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc từ nỗi đau đời, thương người, không cam chịu áp bức, bất công, từ những suy nghĩ mang tính nhân đạo, nhân văn coi con người sinh ra ai cũng có quyền sống, quyền bình đẳng, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc Mục tiêu không bao giờ thay đổi ở Người là giải phóng dân tộc, giải phóng con người, đem lại cho dân tộc quyền tự do, bình đẳng trong phát triển, làm cho đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, sống trong niềm vui hạnh
Trang 24phúc Người nhiều lần khẳng định, ở Người chỉ có một mục đích duy nhất –
đó là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, cho hạnh phúc của nhân dân
Xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo yêu nước, bản thân Hồ Chí Minh cũng đã từng theo học đạo Nho từ nhỏ, tư tưởng nhân nghĩa của đạo Nho đã in đậm dấu ấn trong tâm khảm của Người, trở thành một bộ phận cấu thành quan điểm dân sinh, triết lý nhân sinh, chủ nghĩa nhân đạo và tư tưởng nhân văn ở Người Song, khác với nhiều nhà Nho đương thời, với thực tiễn cuộc sống đầy biến động mà Người từng trải qua trong những năm tháng tìm kiếm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, bằng thực tiễn hoạt động cách mạng, với một trí tuệ anh minh và tầm nhìn xa, trông rộng, Người đã sớm khắc phục, chế ngự tính hẹp hòi, thiển cận của cái nhìn dân tộc để đi đến một quan niệm mới về tình hữu ái giai cấp, hướng tới những giá trị nhân văn phổ quát
Thấu hiểu hơn ai hết những giáo lý của đạo Phật, những chủ trương “từ
bi, hỉ xả, cứu khổ, cứu nạn”, “cứu nhân độ thế”, song với Hồ Chí Minh, những giáo lý đó, những chủ trương ấy chỉ được coi là hữu ích khi chúng được sử dụng vào mục đích dân sinh, an sinh xã hội, “cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn” và nhất là vào mục tiêu giải phóng dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc, “đưa giống nòi ra khỏi khổ ải nô lệ”
Hồ Chí Minh cũng biết đến những ước mơ, khát vọng vươn tới một xã hội cao đẹp mà ở đó, con người được phát triển toàn diện và ngày một trở nên hoàn thiện với cuộc sống ấm no, hạnh phúc ở đạo Thiên Chúa, biết đến chủ trương cứu vớt chúng sinh của Chúa Giêsu Song, với Người, khát vọng đó, chủ trương ấy trước hết phải vì những người bị áp bức, vì những dân tộc bị đè nén,
vì hòa bình và công lý, phải nhằm mục đích cứu loài người khỏi ách nô lệ, đưa loài người đến hạnh phúc, bình đẳng, bác ái, tự do và nhất là đem lại an ninh cho cuộc sống của mỗi con người, an sinh cho đời sống cả cộng đồng xã hội
Trang 25Hồ Chí Minh còn biết đến Tôn Dật Tiên (Tôn Trung Sơn) và tỏ lòng ngưỡng mộ nhà dân chủ cách mạng Trung Quốc nổi tiếng này bởi ý tưởng độc lập, tự do, hạnh phúc của ông, bởi chủ nghĩa “tam dân” - dân tộc, dân quyền và dân sinh - mà ông đã đưa ra với tư cách cương lĩnh chính trị nhằm mục tiêu độc lập dân tộc, thành lập nền cộng hòa và thủ tiêu tình trạng bất bình đẳng xã hội Người đã tìm thấy nhiều điểm tương đồng về tư tưởng, tìm
ra “những điều thích hợp với nước ta” trong chủ nghĩa “tam dân” của Tôn Dật Tiên để thực hiện quan điểm dân sinh, triết lý nhân sinh của Người trong những điều kiện lịch sử - cụ thể ở Việt Nam
Hồ Chí Minh cũng đã biết đến những giá trị đích thực trong tư tưởng nhân văn phương Tây - đó là tự do, dân chủ, tiến bộ Lấy những nội dung cốt lõi trong tư tưởng nhân văn phương Tây, chắt lọc những giá trị đích thực của
nó, khi trịnh trọng tuyên bố khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
Người đã đưa vào các nội dung tinh túy trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ, trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng
Dân chủ Tư sản Pháp 1789 - 1794 để khẳng định: “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung
sướng và quyền tự do”; rằng “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền
l ợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi Đó là những lẽ
phải không ai chối cãi được” [40, tr 1] Cũng ở đây, cùng với khẳng định này, Người còn nhấn mạnh “quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” với tư cách “những quyền không ai có thể xâm phạm được” của mỗi người và của mọi người Điều khẳng định này, sự nhấn mạnh này, có thể nói, đã thể hiện rõ quan điểm dân sinh, triết lý nhân sinh Hồ Chí Minh Nhận thức rõ những giá trị đích thực trong tư tưởng nhân văn phương Tây, Hồ Chí Minh cũng sớm nhận ra những hạn chế ở nền tự do, dân chủ của
nó, thấy rõ mặt trái của quyền con người trong chế độ tư bản chủ nghĩa Với
Trang 26nhận thức đó, Người cho rằng, con đường đến với tự do, dân chủ thực sự, đến với sự thực hiện an ninh cho cuộc sống của mỗi con người, an sinh cho đời sống của cả cộng đồng xã hội chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản, cách mạng giải phóng – giải phóng con người, giải phóng xã hội Bởi lẽ, chỉ khi con người và xã hội thực sự được giải phóng thì an ninh cho cuộc sống của mỗi con người mới được đảm bảo, an sinh cho đời sống của cả cộng đồng xã hội mới được thực hiện và thực hiện một cách bền vững
Từ những nhận thức sâu sắc ấy về tư tưởng nhân văn trong các nền văn hóa Đông - Tây, từ đạo lý truyền thống của người Việt Nam, cộng với một trí tuệ anh minh, tầm nhìn xa, trông rộng, lòng yêu nước, thương dân, Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm thấy ở đây cái “cẩm nang thần kỳ” cho con đường giải phóng dân tộc, giải phóng con người và xây dựng chế
độ xã hội mới - chế độ xã hội vì cuộc sống đích thực của con người, vì an ninh con người và an sinh xã hội Người tiếp thu ở chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng nhân đạo nhất về CON NGƯỜI với chữ viết hoa - tư tưởng vì cuộc sống hiện thực của con người, cuộc sống mà ở đó, an ninh con người của con người được đảm bảo và do vậy, an sinh xã hội của cả cộng đồng xã hội được thực hiện bền vững; tư tưởng vì tự do, dân chủ, hạnh phúc và tiến bộ thực sự cho mỗi con người và cho tất cả mọi người
Hồ Chí Minh đón nhận ở chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng nhân văn sâu sắc nhất, chủ nghĩa nhân đạo cao cả nhất không phải theo lối “tầm chương trích cú”, áp dụng nguyên xi, rập khuôn giáo điều Người lấy ở đó cái nội dung cốt yếu nhất trong thế giới quan duy vật, phương pháp luận biện chứng, khoa học, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa và coi đó là ánh sáng kỳ diệu,
“ngọn đuốc soi đường cho quốc dân đi”, cho chính tư tưởng và hành động của mình nhằm thực hiện quan điểm dân sinh, triết lý nhân sinh mà Người đã hình thành, thực thi chủ nghĩa nhân đạo, tư tưởng nhân văn để mang lại an ninh
Trang 27con người cho nhân dân mình, an sinh xã hội cho đất nước mình, quê hương mình, Tổ quốc mình Với tư tưởng hiện thực đó, quan điểm dân sinh và triết
lý nhân sinh ở Hồ Chí Minh đã trở thành quan điểm, triết lý vì cuộc sống ngày một cao đẹp cho mỗi con người và cho cả cộng đồng xã hội mà hành động, vì an ninh con người, vì an sinh xã hội mà hành động Theo Người, con người không thể mưu cầu hạnh phúc bằng cách ngồi yên trông đợi sự ban phát từ đâu đó ở bên ngoài, mà phải bắt tay hành động, tiến hành hoạt động thực tiễn để tự mình giành lấy hạnh phúc cho mình, cho mọi người Chỉ có hành động, hoạt động thực tiễn, con người mới có thể cải tạo được thế giới, cải tạo và thực hiện tiến bộ xã hội, cải tạo, phát triển và hoàn thiện chính bản thân mình, thực hiện được mục đích, ước mơ và lý tưởng của mình Với Người, chủ nghĩa nhân đạo, tư tưởng nhân văn phải được thể hiện thành hành động thiết thực, thành hoạt động thực tiễn cách mạng theo quan điểm dân sinh, triết lý nhân sinh hành động Bởi lẽ, theo Người, thực hành là nền tảng của lý luận và lý luận lại phụng sự thực hành Chỉ có thực hành mới là tiêu chuẩn
của sự thật “Chỉ có thực hành mới là mực thước đúng nhất cho sự hiểu biết
của người về thế giới Chỉ do quá trình thực hành (quá trình sản xuất vật chất,
giai cấp đấu tranh, khoa học thực nghiệm), người ta mới đạt được kết quả đã
dự tính trong tư tưởng, và lúc đó sự hiểu biết mới được chứng thực” [42, tr
248 - 249]
Biến quan điểm dân sinh, triết lý nhân sinh thành hành động, thành thực tiễn cách mạng, trong suốt cuộc đời đấu tranh cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã tiến hành đấu tranh không mệt mỏi, cống hiến không tiếc sức mình cho độc lập dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân Ngay cả khi phải từ biệt thế giới này theo quy luật sinh tồn, Người vẫn lấy làm tiếc vì không còn được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa Suốt đời phục vụ, mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân, nhưng với bản thân Người, Người không hề đòi hỏi
Trang 28bất cứ điều gì cho riêng mình Không chỉ thế, với quan điểm dân sinh, triết lý nhân sinh đã trở thành phương châm sống “sống ở đời và làm người” theo nghĩa yêu nước, thương dân, thương nhân loại bị đau khổ, áp bức, trước khi qua đời, Người vẫn không quên căn dặn Đảng và Chính phủ phải lấy “công
việc đối với con người” làm công việc hàng đầu, coi đó là công việc “đầu
tiên” cần phải làm, nhất thiết phải làm, ra sức mà làm
Quan ni ệm dân sinh của Hồ Chí Minh biểu hiện cụ thể như sau: Đối với
nh ững người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của họ trong sự
nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, Đảng và Chính phủ phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn, phải mở những lớp dạy nghề thích hợp cho họ để họ có được hành trang cần thiết bước vào cuộc sống
tự lập, tự lực cánh sinh Đối với những người đã anh dũng hy sinh, mỗi địa
phương cần xây dựng vườn hoặc bia kỷ niệm để mãi mãi ghi nhớ công lao của họ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta Khi gia đình, người thân của họ thiếu sức lao động, gặp khó khăn, chính quyền địa phương cần phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, “quyết không để họ bị đói
rét” Đối với những người còn trẻ, có nhiều cống hiến trong các lực lượng vũ
trang và thanh niên xung phong, Đảng và Chính phủ cần chọn một số người
ưu tú nhất để đào tạo họ thành những người lao động có trình độ chuyên môn,
kỹ thuật giỏi, có tư tưởng, lập trường cách mạng vững vàng và lấy đó làm đội
quân chủ lực trong công cuộc xây dựng xã hội mới Đối với phụ nữ, Đảng và
Chính phủ cần phải có kế hoạch bồi dưỡng, cất nhắc, giúp họ tiến bộ, trở
thành những người lãnh đạo và đem lại quyền bình đẳng thực sự cho họ Đối
v ới những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, Đảng và Chính phủ cần kết hợp
giáo dục với sử dụng luật pháp để cải tạo, giúp đỡ họ trở thành những người lao động lương thiện Đối với nông dân, Đảng và Chính phủ cần có kế hoạch thực hiện miễn thuế nông nghiệp một năm cho họ để “đồng bào hỉ hả, mát dạ,
Trang 29mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất” [44, tr 503]
Có thể nói, đó là một chính sách xã hội chu đáo, toàn diện đối với con người mà trước lúc đi xa, Hồ Chí Minh đã đề xuất và yêu cầu Đảng, Chính phủ “cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân” [44, tr 505] mà thực hiện nhằm mang lại an ninh cho cuộc sống của mỗi con người, an sinh cho đời sống của cả cộng đồng xã hội Nếu không xuất phát từ quan điểm dân sinh, triết lý nhân sinh sâu sắc, thấm đượm tư tưởng nhân đạo và tính nhân văn, Người đã không thể đề xuất được một chính sách xã hội chu đáo, toàn diện đến như vậy đối với con người Chính sách xã hội này càng cho thấy tư tưởng vì con người của Người là hết sức toàn diện
Với Hồ Chí Minh, cái quý giá nhất không chỉ là con người - “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân” [43, tr 276], mà còn là độc lập và tự do -
“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” [44, tr.108] Với Người, độc lập và tự
do không chỉ là cái quý giá nhất, mà còn là chân lý - cái chân lý mà cả nhân loại đều hướng tới Độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân là khát vọng suốt đời của Người Chính tư tưởng độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân này đã cấu thành quan điểm dân sinh, triết lý nhân sinh, tạo nên bản chất cao quý trong chủ nghĩa nhân đạo, tư tưởng nhân văn của Người; trở thành ngọn cờ đấu tranh, mục tiêu suốt đời hy sinh cống hiến,
lý tưởng suốt đời phấn đấu của Người Và, với Người, để dân tộc được độc lập, mọi người dân được tự do, hạnh phúc, không có con đường nào khác ngoài con đường giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, bởi đó là cái tiên quyết đem đến cuộc sống ấm no, hạnh phúc, dân chủ và tiến bộ cho dân tộc và nhân dân Việt Nam Xuất phát từ quan niệm đó, Người cho rằng, mục tiêu số một khi đất nước đang chìm đắm trong ách nô lệ là giải phóng dân tộc; còn khi đất nước đã được độc lập, nhân dân đã được tự do thì mục
Trang 30tiêu hàng đầu, nhiệm vụ trung tâm là xây dựng chủ nghĩa xã hội
Xây dựng chủ nghĩa xã hội, với Hồ Chí Minh, không chỉ gắn liền với độc lập dân tộc, là con đường, cách thức để giữ vững độc lập dân tộc, mà còn
là con đường, cách thức để thực hiện dân sinh, an sinh xã hội Bởi lẽ, chủ nghĩa xã hội, trong quan niệm của Người, là chế độ xã hội trước hết làm cho nhân dân lao động có công ăn việc làm ổn định, “Làm cho người nghèo thì đủ
ăn Người đủ ăn thì khá giàu Người khá giàu thì giàu thêm” [41, tr 65] nghĩa
là mọi người ai cũng có được cuộc sống ngày một đầy đủ, ấm no và hạnh phúc Và, đó là một xã hội mới, công bằng, nhân đạo và tốt đẹp, có mục tiêu
cụ thể là dân giầu, nước mạnh, xã hội văn minh, con người hạnh phúc Mục tiêu nhân văn đó được Người nói một cách đơn giản và dễ hiểu là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, trước hết là cho quần chúng nhân dân lao động Với quan niệm như vậy về chủ nghĩa xã hội, Người đã khẳng định: “Điều quan trọng bậc nhất trong kế hoạch kinh tế của
chúng ta hiện nay là nhằm cải thiện đời sống của nhân dân” [43, tr 157]; và
“Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” [44, tr, 498]
Khẳng định đó càng cho thấy rõ, trong quan niệm của Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội trước hết phải là xã hội vì con người, đem lại cho con người bản chất Người đích thực; và ở đó, không chỉ dân sinh, mà cả an sinh xã hội được thực hiện và đảm bảo bền vững Chỉ với một quan điểm dân sinh, một triết lý nhân sinh hành động, thấm đượm chủ nghĩa nhân đạo cao cả và tư tưởng nhân văn sâu sắc, Người mới có được quan niệm như vậy về chủ nghĩa xã hội, về mục tiêu nhân đạo, nhân văn của chủ nghĩa xã hội Và, chính quan điểm dân sinh, triết lý nhân sinh đó đã tạo nên ở Người niềm tin tất thắng vào thắng lợi cuối cùng của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam chúng ta Với quan điểm dân sinh và triết lý nhân sinh đó, trước khi trở về cõi
Trang 31vĩnh hằng, Người vẫn tin rằng, chỉ cần còn non, còn nước, còn người thì công cuộc xây dựng xã hội mới - một “cuộc chiến đấu khổng lồ” chống lại “những
gì đã cũ kỹ, hư hỏng” để tạo ra “những cái mới mẻ, tốt tươi”, dù “rất to lớn, nặng nề, và phức tạp”, song thắng lợi là điều chắc chắn [44, tr 505]
Niềm tin vững chắc đó ở Hồ Chí Minh, chắc chắn là đã được hình thành
từ quan điểm dân sinh, triết lý nhân sinh thấm đượm chủ nghĩa nhân đạo và tư tưởng nhân văn mà Người đã dày công vun đắp trong suốt cuộc đời hoạt động
và đấu tranh cách mạng - quan điểm dân sinh, triết lý nhân sinh hành động: động viên, tổ chức và giáo dục toàn dân hành động, dựa vào dân mà hành động và vì dân mà hành động
Sau gần ba mươi năm đổi mới đất nước trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh với những thành công rất đáng
tự hào, nhất là trước những biến động khó lường của cuộc khủng hoảng tài chính, năng lượng, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, an toàn thực phẩm đang có xu hướng lan rộng và những thách thức nghiêm trọng cho ổn định và phát triển kinh tế của hầu hết các nước trên thế giới và khi vấn đề giữ vững ổn định tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, vấn đề dân sinh, an sinh xã hội, đảm bảo đời sống cho người lao động đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta, việc chúng ta cùng nhau nhắc lại quan điểm dân sinh và triết lý nhân sinh Hồ Chí Minh, là việc hết sức có ý nghĩa thiết thực và bổ ích Hơn thế nữa, giờ đây, việc nhắc lại quan niệm dân sinh và triết lý nhân sinh Hồ Chí Minh với tư cách quan điểm, triết lý gắn kết chủ nghĩa nhân đạo cao cả với tư tưởng nhân văn sâu sắc, gắn kết độc lập dân tộc với chủ nghĩa
xã hội, lấy thực tiễn làm điểm xuất phát, lấy việc quan tâm đến đời sống con người, giải phóng và phát triển con người làm mục tiêu không chỉ có ý nghĩa thiết thực và bổ ích, mà còn là điều cần thiết để góp phần khẳng định tư tưởng
Hồ Chí Minh đã, đang và mãi mãi là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân
Trang 32tộc ta trên con đường đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh, con người được giải phóng, được phát triển, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc bền vững
Quan niệm của Hồ Chí Minh về dân sinh có ý nghĩa làm rõ thêm một số vấn đề lý luận liên quan đến:
Đời sống con người, nhất là quyền được sống, quyền được mưu cầu hạnh phúc, quyền được học hành (quyền con người)
Chính sách chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, trí tuệ và thể chất cho nhân dân
Quyền làm chủ xã hội của nhân dân
Quan niệm đó có ý nghĩa thực tiễn: là cơ sở để Đảng ta vận dụng, đề ra các chính sách xã hội phù hợp với thực tiễn xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới Quan niệm của Hồ Chí Minh về dân sinh là thực chất, cốt lõi cho
chính sách an sinh xã h ội của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
1.2 VẤN ĐỀ AN SINH XÃ HỘI
1.2.1 Khái niệm an sinh xã hội
ASXH là một trong những nhu cầu tất yếu trong cuộc sống con người Cùng với an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh sinh thái,…ASXH đang đóng một vai trò quan trọng làm ổn định đời sống của mọi người trong xã hội Mục đích của ASXH là cung cấp sự bảo vệ cần thiết cho mọi người, đặc biệt
là người lao động và gia đình họ trước mối đe dọa giảm hoặc mất nguồn thu nhập từ các nguy cơ thất nghiệp, tai nạn lao động, ốm đau, tuổi già và các nguy cơ khác
Lịch sử phát triển ASXH cho thấy nhu cầu được bảo đảm xã hội nảy sinh
từ khi xuất hiện xã hội loài người Các hoạt động trợ giúp người gặp rủi ro, người gặp khó khăn đã có từ xa xưa với tính chất tự phát, tự nguyện của các thành viên trong cộng đồng Trong bất kỳ xã hội nào, do những nguyên nhân
Trang 33khác nhau luôn tồn tại những cá nhân không tìm được cho mình nguồn vật chất để đảm bảo cuộc sống bình thường Cùng với sự phát triển xã hội loài người Sự hình thành nhà nước, tôn giáo đã hình thành các hoạt động giúp đỡ những người khó khăn trong xã hội Không chỉ phát triển về quy mô, ASXH còn phát triển cả về hình thức và đối tượng, phụ thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa, tài chính và khả năng tổ chức quản lý của một nhà nước nhất định
- Khái ni ệm về An sinh xã hội:
Trong thực tiễn, do sự đa dạng về nội dung, phương thức và góc độ tiếp cận nên hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về ASXH
- Theo Ngân hàng Thế giới (WB): ASXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập
- Theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): ASXH là hình thức bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một
số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong, cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em
- Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA) coi ASXH là thành tố của hệ thống chính sách công liên quan đến sự bảo đảm an toàn cho tất cả các thành viên
xã hội chứ không chỉ có công nhân Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm sóc sức khoẻ thông qua bảo hiểm y tế; hệ thống bảo hiểm xã hội, chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ giúp xã hội
Trong Hiến chương Đại Tây Dương, ASXH được hiểu theo nghĩa rất
Trang 34rộng, đó là sự bảo đảm thực hiện quyền con người sống trong hòa bình, được
tự do làm ăn cư trú, di chuyển, phát triển chính kiến trong khuôn khổ của pháp luật, được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật, được học tập, làm việc, nghỉ ngơi, có nhà ở, được chăm sóc y tế và bảo đảm thu nhập để có thể thỏa mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, thai sản, ốm đau, tuổi già,…
Nhiều học giả nước ngoài đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về ASXH Theo Compton thì “An sinh xã hội là một thiết chế, bao gồm các chính sách và luật pháp; thực thi bởi các tổ chức tự nguyện hay cả nhà nước, thông qua đó một mức độ tối thiểu được xác định về dịch vụ xã hội, tiền và các quyền lợi khác; được phân phối cho các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội
mà họ không nhận được từ gia đình hay thị trường; và nhằm mục đích phòng ngừa, giảm nhẹ hay đóng góp vào việc giải quyết các vấn đề xã hội để cải tiến
sự an sinh của cá nhân, nhóm và cộng đồng một cách trực tiếp”
Theo J Romanyshyn: ASXH gồm các biện pháp và quá trình liên quan đến việc giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, sự phát triển tài nguyên, nhân lực và cải tiến chất lượng sống Điều này bao gồm các dịch vụ xã hội cho cá nhân, gia đình và cả những nỗ lực củng cố và cải tiến các thiết chế xã hội
Ở Việt Nam, mặc dù ASXH là một lĩnh vực còn nhiều mới mẻ nhưng cũng đã dành được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu về vấn đề này
Theo GS Hoàng Chí Bảo:
ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho phát triển con người và xã hội ASXH là những đảm bảo cho con người tồn tại (sống) như một con người và phát triển các sức
Trang 35mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách [24]
Theo PGS.TS Nguyễn Hải Hữu thì "An sinh xã hội là một hệ thống các
cơ chế, chính sách, biện pháp của Nhà nước và xã hội nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho họ có nguy cơ suy giảm, mất nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khách quan rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ và cung cấp các dịch vụ sức khoẻ cho cộng đồng, thông qua hệ thống mạng lưới về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ giúp xã hội" [23, tr 19]
GS TS Mai Ngọc Cường lại cho rằng, để thấy hết được bản chất, chúng
ta phải tiếp cận ASXH theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái niệm này + Theo nghĩa rộng: “An sinh xã hội là sự đảm bảo thực hiện các quyền
để con người được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội” [5, tr 21] + Theo nghĩa hẹp: “An sinh xã hội là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch hoạ” [5, tr, 22]
Sau khi thực hiện chính sách đổi mới, khái niệm ASXH lần đầu tiên được chính thức đề cập đến trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX:
Khẩn trương mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội Sớm xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm đối với người lao động thất nghiệp [9]
Thực hiện các chính sách xã hội bảo đảm an toàn cuộc sống mọi thành viên cộng đồng, bao gồm bảo hiểm xã hội đối với người lao động thuộc các
Trang 36thành phần kinh tế, cứu trợ xã hội, những người gặp rủi ro, bất hạnh
Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội và vận động toàn dân tham gia các hoạt động đến ơn đap nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với các lão thành cách mạng, những người có công với nước, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh và cha mẹ, vợ con liệt sĩ, người được hưởng chính sách xã hội….[13] Đến nay thuật ngữ ASXH được sử dụng phổ biến trong các văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước và trên các phương tiện thông tin đại chúng
"Chiến lược ASXH giai đoạn 2011 – 2020” ghi nhận: “An sinh xã hội là
sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế” [22] Trong bài "Đảm bảo ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội
là một nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020” Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng "an sinh xã hội và pháp lệnh xã hội là hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân" [7, tr 3]
T ừ những quan điểm trên, trong nội dung luận văn này chúng tôi cho
r ằng: An sinh xã hội là những can thiệp của Nhà nước và xã hội bằng các
bi ện pháp kinh tế để hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành
viên trong c ộng đồng do bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng
th ời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con
- Bản chất và ý nghĩa của vấn đề dân sinh, An sinh xã hội
Theo từ điển tiếng Việt thì dân sinh là đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung Theo chúng tôi, dân sinh là các yếu tố đảm bảo cuộc
Trang 37sống thực tại thường xuyên của con người trong xã hội về kinh tế, văn hóa, chính trị,… ở một xã hội nhất định Như vậy khi nói đến dân sinh hay ASXH theo chúng tôi thực chất là nói đến những vấn đề nhằm đảm bảo đời sống cho nhân dân Mà các chính sách ASXH là những điều kiện cơ bản của Nhà nước
nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm
an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội do đó nó vừa
có tính kinh t ế, vừa có tính xã hội và nhân đạo sâu sắc Như vậy, có thể nói,
bản chất sâu xa của ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội với phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng, nhằm tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội
và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc
Có thể thấy rõ bản chất của an sinh xã hội từ những khía cạnh sau:
Th ứ nhất, ASXH là biểu hiện rõ rệt của quyền con người Để thấy rõ
bản chất của an sinh xã hội, cần hiểu rõ mục tiêu của nó Mục tiêu của an sinh xã hội là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho tất cả mọi thành viên của cộng đồng trong những “rủi ro xã hội” Để tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp, an sinh xã hội dựa trên nguyên tắc san sẻ trách nhiệm và thực hiện công bằng xã hội, được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương thức và các biện pháp khác nhau Như vậy, có thể thấy rõ bản chất của an sinh xã hội là nhằm che chắn, bảo vệ cho các thànhviên của xã hội trước mọi “biến cố xã hội” bất lợi
Th ứ hai, ASXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp ASXH tạo cho
những người bất hạnh, những người kém may mắn hơn những người bình thường khác có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những “biến cố”, những “rủi ro xã hội”, có cơ hội để phát triển, hoà nhập vào cộng đồng An sinh xã hội kích thích tính tích cực xã hội trong mỗi con người, kể cả những người giàu và người nghèo; người may mắn và người
Trang 38kém may mắn, giúp họ hướng tới những chuẩn mực của Chân – Thiện – Mỹ Nhờ đó, một mặt có thể chống thói ỷ lại vào xã hội; mặt khác, có thể chống lại được tư tưởng mạnh ai nấy lo, “đèn nhà ai nhà ấy rạng”… Đồng thời, giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, góp phần tạo nên một cuộc sống công bằng, bình yên
Th ứ ba, ASXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tương
thân tương ái của cộng đồng Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng
là một trong những nhân tố để ổn định và phát triển xã hội Sự san sẻ trong cộng đồng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, bảo đảm cho một xã hội phát triển lành mạnh An sinh xã hội thực hiện một phần công bằng và tiến bộ xã hội thông qua công
cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng, được thực hiện theo hai chiều ngang và dọc Nhờ đó, an sinh xã hội góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội
1.2.2 Các bộ phận và vai trò của an sinh xã hội
Về mặt cấu trúc, trên giác độ khái quát nhất, an sinh xã hội gồm những
bộ phận cơ bản là: Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm y tế (BHYT), cứu trợ xã hội (Bảo trợ xã hội), ưu đãi xã hội…
Bảo hiểm xã hội: là bộ phận lớn nhất trong hệ thống an sinh xã hội Có
thể nói, không có BHXH thì không thể có một nền an sinh xã hội vững mạnh Theo nghĩa hẹp, cụ thể, có thể hiểu BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần bảo đảm an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội BHXH hiện nay là “Cột trụ” quan trọng nhất của ASXH Việt Nam được xây
Trang 39dựng hai loại hình: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện Quỹ BHXH bắt buộc được hình thành trên cơ sở có sự đóng góp của 3 bên: Người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước; việc quản lý quỹ này do Nhà nước đảm nhiệm
Các chế độ nằm trong hệ thống BHXH hiện hành bao gồm: Trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp hưu trí và trợ cấp tự tử tuất
Bảo hiểm y tế (BHYT):Là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh
vực chăm sóc sức khỏe cho những đối tượng tham gia bảo hiểm, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật BHYT
BHYT Việt Nam cũng là chế độ do Nhà nước tổ chức thực hiện theo nguyên tắc “có đóng, có hưởng” và “tương trợ”, không vì mục đích lợi nhuận giống như BHXH
Cứu trợ xã hội (bảo trợ xã hội): Là những chế độ chính sách nhằm trợ
giúp cho những người gặp rủi ro trong cuộc sống như bị thiên tai, hỏa hoạn, người bị ảnh hưởng chất độc trong chiến tranh, người tàn tật, người già không nơi nương tựa, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hoặc những trường hợp rủi ro khác Nguồn tài chính thực hiện chế độ này có thể do ngân sách nhà nước đảm bảo hoặc cũng có thể được hình thành từ sự đóng góp của nhân dân trong các hoạt động quyên góp từ thiện
Ưu đãi xã hôi: Là một trong những đặc điểm riêng biệt trong hệ thống
ASXH ở nước ta do lịch sử, do yêu cầu của nhiệm vụ chính trị Nội dung chủ yếu của chế độ này là trợ cấp cho những người có công với cách mạng Nguồn chi trả trợ cấp chủ yếu được Nhà nước đảm bảo, ngoài ra cũng có thể
sử dụng từ nguồn đóng góp của các cơ quan, tổ chức và nhân dân
Trợ giúp xã hội; là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và
Trang 40các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự
lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng và xã hội bằng tiền hoặc bằng các điều kiện và phương tiện thích hợp để đối tượng được giúp đỡ có thể phát huy khả năng
tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng
Trợ cấp gia đình: Trong hệ thống ASXH của nhiều nước quy định chế
độ BHXH dựa trên những nhu cầu đặc biệt và có những chi phí bổ sung gắn với gia đình Những phương pháp áp dụng bao gồm việc sử dụng cơ cấu thuế để gắn với trách nhiệm gia đình Người không có con phải nộp thuế cao hơn những người có con; người ít con phải nộp thuế nhiều hơn người đông con…
Các quỹ tiết kiệm xã hội: Trong hệ thống ASXH của nhiều nước có tổ
chức các quỹ tiết kiệm dựa trên đóng góp cá nhân Những đóng góp được tích tụ dùng để chi trả cho các thành viên khi sự cố xảy ra Đóng góp và khoản sinh lời được chi trả một lần theo những quy định Từng cá nhân nhận khoản đóng góp của mình và khoản sinh lời, không chia sẻ rủi ro cho người khác…
Các dịch vụ xã hội được tài trợ bằng nguồn vốn công cộng: Ở nhiều
nước, đặc biệt là ở các nước phát triển, trong hệ thống an sinh xã hội có nhiều dạng dịch vụ xã hội, được tài trợ bằng nguồn vốn công cộng (ngân sách Nhà nước), bao gồm: Trợ cấp cơ bản cho mọi cư dân, hoặc tất cả những người đã từng làm việc trong một khoảng thời gian nhất định; trợ cấp này không liên quan đến tài sản trước đó của người thụ hưởng; các chế độ được chi trả từ ngân sách Nhà nước
Dịch vụ xã hội khác: Quy định thêm về ASXH dưới các hình thức