1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Tư tưởng giải thoát trong hệ thống triết học phi chính thống của Ấn Độ cổ đại

102 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, xu hướng trội của các hệ thống triết học - tôn giáo Ấn Độ đều tập trung lý giải và thực hành những vấn đề nhân sinh quan dưới góc độ tâm linh tôn giáo nhằm đạt tới sự "giải thoát

Trang 1

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ HỮU ÁI

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Đà Nẵng, tháng … năm 2015

Tác giả luận văn

Dương Thị Dung

Trang 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục đề tài 3

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG TRIẾT HỌC PHI CHÍNH THỐNG CỦA ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 7

1.1.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH 7

1.1.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên 7

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 9

1.1.3 Tiền đề khoa học và văn hóa 14

1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG TRIẾT HỌC PHI CHÍNH THỐNG ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 17

CHƯƠNG 2 TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT TRONG CÁC TRƯỜNG PHÁI PHI CHÍNH THỐNG Ở ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 24

2.1.GIẢI THOÁT VÀ VAI TRÒ CỦA GIẢI THOÁT 24

2.1.1 Khái niệm giải thoát 24

2.1.2 Vai trò của giải thoát 25

2.2.NHỮNGNỘI DUNG CƠ BẢN VỀ GIẢI THOÁT CỦA CÁC TRƯỜNG PHÁI 46

2.2.1 Trường phái Lokayata 46

2.2.2 Trường phái Jaina 50

2.2.3 Trường phái Phật giáo 58

Trang 5

ĐỜI SỐNG AN LÀNH CỦA NHÂN DÂN 71

3.1.CÁC GIẢI PHÁP 71

3.1.1 Nhóm các giải pháp lý luận 71

3.1.2 Nhóm giải pháp thực tiễn 76

3.2 CÁC KIẾN NGHỊ 85

KẾT LUẬN 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ấn Độ là một trong những trung tâm văn hóa và tư tưởng lớn của Phương Đông cổ đại Là một vương quốc của tâm linh, nên Triết học Ấn Độ chịu ảnh hưởng của những tư tưởng tôn giáo Chính vì vậy, giữa triết học và tôn giáo rất khó phân biệt Tư tưởng triết học ẩn giấu sau các lễ nghi huyền bí, chân lý thể hiện qua bộ kinh Veda, Upanishad Tuy nhiên, tôn giáo của Ấn Độ

cổ đại có xu hướng "hướng nội" chứ không phải "hướng ngoại" như tôn giáo phương Tây Vì vậy, xu hướng trội của các hệ thống triết học - tôn giáo Ấn

Độ đều tập trung lý giải và thực hành những vấn đề nhân sinh quan dưới góc

độ tâm linh tôn giáo nhằm đạt tới sự "giải thoát" tức là đạt tới sự đồng nhất tinh thần cá nhân với tinh thần vũ trụ Sự phát triển của triết học Ấn Độ là sự đấu tranh giữa các trường phái và suy cho cùng nó phản ánh nhu cầu của đời sống xã hội trong đó tôn giáo là trung tâm

Có thể nói rằng tư tưởng giải thoát trong hệ thống triết học phi chính thống là một đặc điểm nổi trội và có giá trị trong xã hội lúc bấy giờ Con người sinh ra ai cũng muốn có một cuộc sống hạnh phúc, no đủ về vật chất, thoải mái về tinh thần Tuy nhiên, trong thực tế con người lại gặp không ít khó khăn, đau khổ về thể xác hoặc tinh thần Và để thoát kh i khổ đau, nhiều người đã tìm đến sự giải thoát Triết học phi chính thống của Ấn Độ cổ đại đã hướng con người vào sự giải thoát n i khổ bằng con đường thực nghiệm tâm linh, tức là v n mở chính thế giới nội tâm của con người Ở Ấn Độ, người ta vẫn tin rằng con người có thể nhận biết được tâm lý siêu hình bằng thực nghiệm trực tiếp, thực nghiệm bản thân Có lẽ vậy mà tư tưởng giải thoát đã chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của xã hội bấy giờ

Trong điều kiện hiện nay việc tìm hiểu những giá trị trong quá khứ sẽ

là cần thiết nhằm phát huy giá trị tích cực, tạo nền tảng để xây dựng cuộc

Trang 7

sống hiện tại Những giá trị tích cực đó sẽ giúp chúng ta giải quyết những vấn

đề bất cập, thoát ly được khổ đau, xóa vô minh và nhìn nhận lại bản ngã của chính mình để xây dựng cuộc sống hiện tại hạnh phúc và tốt đẹp

Vì vậy, việc nghiên cứu tư tưởng giải thoát trong hệ thống triết học phi chính thống của Ấn Độ cổ đại là hết sức cần thiết Trên cơ sở đó chúng ta hiểu rõ hơn, sâu sắc hơn về tư tưởng giải thoát, từ đó có cách nhìn, cách đánh giá đúng đắn khách quan nhằm tìm kiếm các giải pháp thích hợp, hạn chế giá trị tiêu cực, phát huy các giá trị tích cực của nó

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi chọn nội dung “Tư tưởng

giải thoát trong hệ thống triết học phi chính thống của Ấn Độ cổ đại” làm đề

tài luận văn của mình

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu

Trên cơ sở phân tích và khẳng định tư tưởng giải thoát trong các trường phái triết học phi chính thống, luận văn xây dựng các giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích cực, hạn chế yếu tố tiêu cực của các trường phái phi chính thống trong triết học Ấn Độ cổ đại để xây dựng đời sống tinh thần lành mạnh của con người Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ

- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Ấn Độ cổ đại

- Phân tích, làm rõ những tư tưởng giải thoát trong hệ thống triết học phi chính thống của Ấn Độ cổ đại

- Xây dựng hệ thống các giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích cực

và hạn chế mặt tiêu cực của các tư tưởng giải thoát trong hệ thống triết học phi chính thống của Ấn Độ cổ đại đối với đời sống tinh thần của người Việt Nam

Trang 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Những nội dung cơ bản về tư tưởng giải thoát trong hệ thống triết học phi chính thống của Ấn Độ cổ đại

- Đối tượng khảo sát: các trường phái Lokayata, Jaina, Phật giáo

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung chủ về tư tưởng giải thoát trong hệ thống triết học phi chính thống

của Ấn Độ cổ đại

4 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Các nguyên tắc được vận dụng trong luận văn: nguyên tắc khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể, nguyên tắc về sự thống nhất giữa cái trừu tượng và cái cụ thể, nguyên tắc thống nhất giữa lôgic

và lịch sử, sự kết hợp giữa cái phổ biến và cái đặc thù…

- Các phương pháp cụ thể được sử dụng trong luận văn là: phân tích, so sánh, tổng hợp để trình bày nội dung

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có 3 chương (6 tiết)

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ cổ đại là một đề tài được nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu, khảo sát Đến nay, có một số công

trình nghiên cứu, ở nhiều góc độ khác nhau đề cập đến đề tài này

Bài viết “Vấn đề giải thoát trong triết học tôn giáo Ấn Độ cổ đại” trên

tạp chí Triết học, số 1 năm 1997 của Doãn Chính đã khẳng định: trong triết lý đạo đức nhân sinh mang tính nhân bản sâu sắc của triết học tôn giáo Ấn Độ

Trang 9

cổ đại, tư tưởng giải thoát được coi là một trong những vấn đề nổi bật của triết

lý nhân sinh Giải thoát luôn là mục đích, là nhiệm vụ tối cao của các trường

phái triết học tôn giáo Ấn Độ cổ đại Trong bài viết, tác giả đã lý giải “giải

thoát” ở nhiều trường phái khác nhau của triết học tôn giáo Ấn Độ cổ đại

Đồng thời, tác giả cũng nêu nên nguyên nhân của giải thoát là bắt nguồn từ

n i khổ của con người Bài viết có nhiều ý nghĩa trong việc hiểu được tư tưởng giải thoát nhưng lại chưa đi sâu vào tư tưởng giải thoát của một trường phái tiêu biểu của triết học Ấn Độ cổ đại

Trong cuốn “Chân lý thuyết minh: Giải thoát kiếp làm người đau khổ để

trở thành đấng siêu nhân (Phật – Thánh – Tiên)” của Nguyễn Văn Lương

(1966), Nhà xuất bản Sài Gòn Trong tác phẩm tác giả đề cập đến việc làm thế nào để trở thành Phật – Thánh – Tiên thông qua giải thoát Tác giả chủ yếu bàn

về giải thoát trên khía cạnh tôn giáo trong Phật giáo cũng như Thiên Chúa giáo

Tác phẩm mới được xuất bản năm 2010 mang tên “Giải thoát luận

Phật giáo” của tác giả Nguyễn Thị Toan đã đi sâu luận giải tư tưởng xuyên

suốt triết học Phật giáo: giải thoát Từ việc nghiên cứu quan niệm giải thoát trong Phật giáo làm tiền đề để tác giả nghiên cứu quan niệm về giải thoát trong Phật giáo Việt Nam và ảnh hưởng của nó đối với đời sống người Việt Nam trong lịch sử Và sau đó ứng dụng vào Việt Nam đương đại là ảnh hưởng của quan niệm về giải thoát trong Phật giáo đối với đời sống người Việt Nam hiện nay

Thông qua những nghiên cứu, bài viết trên có thể thấy sự phong phú trong việc nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của tư tưởng giải thoát của các trường phái thuộc hệ thống triết học phi chính thống Vấn đề giải thoát không phải là vấn đề mới, cũng đã được nghiên cứu nhiều tuy nhiên chưa có

đề tài nào nghiên cứu về tư tưởng giải thoát trong hệ thống triết học phi chính

thống của Ấn Độ cổ đại

Trang 10

Trong cuốn “Phật giáo triết học” của tác giả Phan Văn Hùm, viết năm

1953 Tác phẩm nghiên cứu Phật giáo dưới góc độ triết học Tác phẩm bao

gồm những nội dung sau: Một là, lịch sử phát triển của Phật giáo (quá trình ra đời, người sáng lập ra Phật giáo…) hai là, về triết học nguyên thủy Phật giáo,

ba là, triết học của Phật giáo khi Phật nhập diệt, bốn là, triết học Phật giáo

khi Phật qua đời

Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày cơ bản về những vấn đề trong triết học Khi đề cập vấn đề này tác giả đã có nhiều nghiên cứu đặc sắc về Phật giáo Tuy nhiên, tác phẩm vẫn chưa đề cập một cách khái quát, đầy đủ

về tư tưởng giải thoát trong Phật giáo Các luận điểm được đề cập trong tác phẩm chưa phân tích một cách kĩ lưỡng

Tác giả Nguyễn Tài Thư viết bài “Phật giáo và thế giới quan người

Việt trong lịch sử” trên tạp chí Triết học, số 2 năm 1986 Ở đây, tác giả đã

quan tâm đến các vấn đề như: Phật giáo là một tôn giáo và tư tưởng của Phật giáo gắn chặt với lịch sử tư tưởng dân tộc được xem như là một nhu cầu tinh thần của người Việt Ngoài ra, còn khẳng định giá trị và hạn chế của Phật giáo trong phương pháp tư duy của người Việt

Trên tạp chí Triết học số 4 năm 1992, Nguyễn Tài Thư với bài viết

“Phật giáo và sự hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện nay” Trong

bài viết này, Nguyễn Tài Thư đã làm rõ hai vấn đề chính: Thứ nhất, tác giả

nêu bật những n t nhân cách con người Việt Nam hiện nay mang dấu ấn Phật

giáo Thứ hai, tác giả cho người đọc thấy được những giá trị của Phật giáo

trước nhu cầu phát triển của đời sống tinh thần

Như vậy, hai bài viết khác nhau Nguyễn Tài Thư đã nghiên cứu ảnh

hưởng của Phật giáo với hai khía cạnh khác nhau Bài viết “Phật giáo và sự

hình thành nhân cách con người” là sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với nhân

cách và sự hình thành nhân cách con người Bài viết thứ hai ông lại tìm hiểu

Trang 11

về thế giới quan người Việt trong lịch sử bị ảnh hưởng của Phật giáo như thế nào

Tiếp theo, đến năm 1998 bài viết “Ảnh hưởng của Phật giáo đối với tư

duy của người Việt trong lịch sử” của tác giả Lê Hữu Tuấn trên tạp chí Triết

học Bài viết phân tích những ảnh hưởng của Phật giáo đối với tư duy của người Việt Trong bài viết này tác giả đã phân tích phương pháp tư duy của người Việt, từ đó rút ra đặc điểm tư duy người Việt trong lịch sử

Cũng trên tạp chí Triết học, tác giả Nguyễn Thị Toan có bài viết “Về

khái niệm niết bàn trong Phật giáo”, số 3, năm 2006 Trong bài viết này , tác

giả phân tích khái niệm niết bàn trong Phật giáo và so sánh, phân biệt khái

niệm niết bàn trong Phật giáo Tiểu thừa và Phật giáo Đại thừa

Có thể nói, những công trình nghiên cứu trên đã tập hợp được nhiều tư liệu và trình bày một cách tương đối có hệ thống các nội dung cơ bản về tư tưởng giải thoát của Ấn Độ cổ đại ở những góc độ khác nhau Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào xuất bản và công bố trùng với hướng tiếp cận

và nội dung đề tài “Tư tưởng giải thoát trong hệ thống triết học phi chính

thống của Ấn Độ cổ đại ” Điểm mới của đề tài ở ch , tìm hiểu nội dung tư

tưởng giải thoát trong hệ thống triết học phi chính thống và nêu ra các giải pháp phát huy giá trị tích cực của tư tưởng giải thoát trong hệ thống triết học phi chính thống Ấn Độ cổ đại

Trang 12

CHƯƠNG 1

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA

HỆ THỐNG TRIẾT HỌC PHI CHÍNH THỐNG

CỦA ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH

1.1.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên

Là một quốc gia thuộc Nam Á, Ấn Độ là một đất nước vô cùng phong phú đa dạng, hội đủ mọi sắc thái về điều kiện tự nhiên Đó là một bán đảo hình tam giác tưởng chừng như một khối thống nhất đơn giản về địa hình, khí hậu nhưng đi sâu vào tìm hiểu mới thấy được sự đa dạng và phức tạp của điều kiện tự nhiên Ấn Độ là một tiểu lục địa vừa cách biệt với bên ngoài vừa chia cắt ở bên trong Bán đảo hình tam giác này mặc dù nằm ở châu Á nhưng lại bị ngăn cách với châu lục này bởi dãy núi cao nhất thế giới – Himalaya Dãy núi ẩn chứa biết bao câu chuyện huyền thoại linh thiêng Những chướng ngại do tự nhiên mang lại đã khiến cho Ấn Độ trở thành một khu vực tương đối riêng biệt, ít quan tâm đến thế giới bên ngoài Tuy nhiên, đây lại là một yếu tố giúp cho đất nước này bảo tồn được bản sắc văn hóa của mình – những yếu tố văn hóa truyền thống cổ xưa nhất thế giới

Bên cạnh những sự tích, những bí ẩn về dãy núi Hymalaya, Ấn Độ còn

có những cánh rừng bạt ngàn, bí ẩn không k m Ẩn dưới những bóng rợp của cây rừng là những vị tu sĩ khổ hạnh Họ rời b cuộc sống gia đình trần tục để ngồi dưới gốc cây thiền định suy tư về vũ trụ bao la này So với sự rộng lớn của cây rừng, với sự bao la của vũ trụ, họ cảm thấy con người chỉ là những sinh vật nh b , phù du; họ cảm thấy thế giới thì vô hạn, mà vì sao con người lại hữu hạn, đối mặt với n i đau khổ trầm luân, họ muốn tìm kiếm sự giải thoát kh i cuộc sống này, muốn tách cái Atman hòa nhập vào Brahman đạt đến niềm vui bất diệt giải thoát kh i sự luân hồi Chính sự nương tựa vào

Trang 13

nhau của thiên nhiên như vậy đã dạy cho người Ấn có một cách sống hòa hợp với thiên nhiên, con người và thiên nhiên là một, chứ không phải con người là trung tâm của vũ trụ, chinh phục thiên nhiên

Từ dãy núi Hymalaya, hai dòng sông Ấn và sông Hằng tuôn chảy xuống đồng bằng như dòng sữa mẹ ngọt ngào nuôi lớn người dân Ấn Độ bằng nguồn phù sa dồi dào Đất nước có tên Ấn Độ cũng bắt nguồn từ dòng sông

Ấn, nó chảy về phía Tây, đổ ra vịnh Bengal chia làm 5 nhánh Đi xuống phía Nam là cao nguyên Dekkan rộng lớn với ngọn núi đông Gat và tây Gat chạy dọc hai bờ đông và tây của bán đảo Ấn Độ Nhưng thiên nhiên nơi đây khô cằn nên không thuận tiện cho việc sinh sống Chính vì thế mà miền Nam Ấn

k m phát triển hơn miền Bắc Ấn Núi cao, biển rộng, sông dài đã tạo thành tính đa dạng, phức tạp của văn hóa Ấn đồng thời in dấu khá đậm n t trong nền văn hóa, đặc biệt là tôn giáo

Vị trí địa lý là một yếu tố tạo nên tính chất vô cùng đa dạng của khí hậu

Ấn Độ Nơi đây hội đủ tất cả những yếu tố thời tiết khắc nghiệt nhất Từ cực nam Ấn Độ đến vùng hạ lưu sống Ấn, sông Hằng khí hậu rất nóng Ngược lại, cực bắc Ấn Độ giáp chân núi Hymalaya lại rất lạnh, vào mùa đông có tuyết rơi Ở vùng Tây Bắc có sa mạc Thar rộng lớn quanh năm hầu như không mưa

Vì thế, vào mùa hè Ấn Độ có nhiệt độ rất cao, thời tiết rất nóng Nhưng đến tháng 6 những trận mưa to k o dài khiến mặt đất như một đầm lầy rộng lớn, nước mưa có thể làm ngập tràn bờ các dòng sông gây nên những cơn lũ kinh hoàng nhất Sự mạnh mẽ, sức mạnh vĩ đại của tự nhiên đã gây nên tâm lý tự

ti, thấy mình nh b trước thiên nhiên, bất lực trước những hiện tượng thiên nhiên nên chỉ còn cách ngồi suy tư về n i khổ cuộc đời

Chính hoàn cảnh tự nhiên đó làm cho Ấn Độ đa dạng và phức tạp với rừng rậm hoang sơ, có nguồn động vật phong phú, quý hiếm, đồi núi bao phủ

và hoang mạc khô cằn Với vị trí địa lý tương đối biệt lập so với thế giới xung

Trang 14

quanh do bị ngăn cách bởi đồi núi hiểm trở, đại dương mênh mông, văn minh

Ấn Độ có những bước thăng trầm của nó Điều kiện này bảo đảm cho việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc nhưng cũng đồng thời làm cho xã hội Ấn trì trệ không phát triển, vì thế mà tạo điều kiện thuận lợi cho tôn giáo phát triển

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Có thể nói rằng chính trị, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng giải thoát của hệ thống triết học phi chính thống Ấn Độ cổ đại Xã hội

Ấn Độ không có quan hệ phong kiến giống như kiểu ở Hy – La, cũng không

có quan hệ phong kiến giống như ở các nước Tây Âu Ở Ấn Độ, nô lệ chưa bao giờ là lực lượng sản xuất chủ yếu, họ chưa bao giờ trở thành nông nô như

ở Tây Âu phong kiến Ấn Độ cổ đại thuộc loại hình chế độ nô lệ gia trưởng điển hình kiểu phương Đông

Đặc điểm rõ n t nhất của Ấn Độ thời kỳ này là xã hội phân biệt đẳng cấp vô cùng sâu sắc Sở dĩ chế độ phân biệt đẳng cấp được hình thành là do sự

di cư của người Arya khoảng 1500 đến 1000 năm trước công nguyên vào Ấn

Độ, khi đến đây họ đã chiếm đoạt đất đai và đặt sự thống trị người bản địa Đravidian Đồng thời người Aryan cũng đưa ra các luật lệ, các quy tắc để phân biệt vai trò, địa vị của con người trong xã hội và từ đó chế độ phân biệt đẳng cấp xuất hiện

Sự phân chia đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ đã làm cho kết cấu xã hội ở đây khá phức tạp Xã hội Ấn Độ được phân chia thành bốn đẳng cấp:

Bràhman Đó là đẳng cấp tăng lữ, lễ sư Bàlamôn chuyên lo việc tôn giáo, truyền bá kinh Veda Họ là những người thâu tóm quyền lực trong lĩnh vực văn hóa và tôn giáo

Ksatriya Là đẳng cấp vương công, quý tộc, vua chúa, tướng lĩnh, võ sĩ chuyên sử dụng vũ khí để bảo vệ chính quyền

Vai‟sya Đẳng cấp thương nhân, điền chủ và thường dân Arya hay

Trang 15

những người bình dân tự do Tuy họ không có đặc quyền đặc lợi trong xã hội, phải nộp sưu thuế phục vụ lớp người bóc lột thuộc hai tầng lớp trên nhưng họ vẫn có thân phận tự do

K‟sudra Là những cùng dân và nô lệ Họ làm những công việc như đánh cá, săn bắn và những việc nặng nhọc khác nhưng ở vào địa vị thấp k m nhất, không được pháp luật bảo hộ, không được tham gia vào các hoạt động tôn giáo

Chế độ phân biệt đẳng cấp ở Ấn Độ được coi là bất biến với những luật

lệ hà khắc và vô cùng khắt khe Giữa các đẳng cấp trên và nhất là giữa ba đẳng cấp trên với đẳng cấp K‟sudra có sự cách biệt rất nghiêm ngặt Người ở đẳng cấp dưới có nghĩa vụ buộc phải tôn kính những người ở đẳng cấp trên một cách tuyệt đối Trong xã hội, người thuộc đẳng cấp dưới không được quyền kết hôn với những người thuộc những đẳng cấp trên Tuy nhiên, người đàn ông thuộc đẳng cấp trên có quyền lấy người ở đẳng cấp dưới làm vợ, ngược lại nếu người đàn ông đẳng cấp dưới dám lấy một phụ nữ thuộc đẳng

cấp trên thì con cái của họ sẽ bị xếp vào những người “ngoài đẳng cấp” là Paria và Chanđala Những người “ngoài đẳng cấp” còn bao gồm những

người vi phạm tín ngưỡng bị khai trừ kh i đẳng cấp của mình, những người làm đồ tể, thợ thuộc da, nhân công mai táng Những người đó sẽ có số phận rất thê thảm, không được tiếp xúc với con người, bị xã hội khinh bỉ, xa lánh

Như vậy, xuất phát từ chính xã hội phân biệt đẳng cấp ấy, từ sự thống trị khắc nghiệt của những tầng lớp trên và sự cùng cực của các tầng lớp dưới trong xã hội Ấn Độ, tất yếu sẽ dẫn đến những mâu thuẫn sâu sắc giữa một bên

là sự kìm cặp của xã hội và khát khao bình đẳng, công bằng và tự do của người dân Ấn Các trường phái triết học phi chính thống xuất hiện đã đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân, nó phản ánh n i đau khổ của con người, chống lại chế độ phân biệt đẳng cấp và sự áp bức, bất công chống lại giáo lý

Trang 16

truyền thống của kinh Veda và đạo Bàlamôn Đặc biệt các trường phái triết

học phi chính thống đã đưa đến cho con người sự “giải thoát” trong lúc đang

bế tắc với cuộc đời

Về mặt kinh tế, trong bất cứ một xã hội nào, kinh tế là yếu tố vô cùng quan trọng, là yếu tố quyết định sự phát triển xã hội cũng như tư tưởng của xã hội đó Tư tưởng giải thoát của các trường phái triết học phi chính thống cũng bắt nguồn từ tồn tại xã hội, từ đặc điểm kinh tế Ấn Độ đương thời Như đã nói

ở trên, với môi trường tự nhiên đó quy định nền sản xuất của Ấn Độ cổ đại là nền sản xuất nông nghiệp Giống nhiều quốc gia châu Á khác, Ấn Độ với hai đồng bằng lớn là đồng bằng sông Ấn và sông Hằng thuận lợi cho nông nghiệp phát triển Bên cạnh đó gắn liền với nông nghiệp là kinh tế thủ công, tiểu thủ công nghiệp gia đình, tự cấp tự túc nên quy mô nh lẻ, công cụ lao động thô sơ Thời kỳ này việc sử dụng đồ sắt làm công cụ lao động đã trở thành phổ biến Nông nghiệp đã phát triển cao Người Ấn Độ cổ đã biết mở mang công trình thuỷ lợi, trên cơ sở đó tiến hành khai khẩn đất đai, mở rộng diện tích canh tác, trồng các loại ngũ cốc mới Nghề thủ công cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể, nó tách ra kh i nông nghiệp ở một số vùng kinh tế phát triển Những người thợ thủ công đã tụ tập thành những tổ chức đặc biệt kiểu như phường hội

Đặc trưng nổi bật của nền kinh tế Ấn Độ thời kỳ này đó là sự xuất hiện sớm và tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn Đó là một hình thức sản xuất vật chất mang tính cộng đồng kiểu công xã nguyên thủy và chế

độ quốc hữu về ruộng đất được thiết lập trên cơ sở của nền sản xuất công xã

Với đặc điểm trên cho thấy nền kinh tế Ấn Độ cổ đại phát triển rất trì trệ chủ yếu là nông nghiệp và bị chi phối nhiều bởi công xã nông thôn Công

xã nông thôn là một hình thức công xã ở giai đoạn quá độ từ xã hội nguyên thủy chuyển sang xã hội có giai cấp Khi nghiên cứu về nền kinh tế Ấn Độ

Trang 17

thời kỳ này Mác gọi đó là “phương thức sản xuất châu Á”, do biểu hiện các

yếu tố của kinh tế Ấn Độ không rõ ràng, không cụ thể nên vấn đề này vẫn con nhiều tranh luận

Sự phát triển của nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp đã đạt tới một trình độ nhất định Thành phố được xây dựng bằng gạch nung, theo một quy hoạch thống nhất, có đường phố rộng rãi, thẳng tắp, có chợ búa, cửa hiệu, có giếng nước và hệ thống thoát nước, có những bể tắm lớn Thành phố được chia thành hai khu, khu "dưới thấp" và "khu trên cao", cách biệt nhau về quy mô nhà cửa và số lượng của cải, chứng t xã hội thời kỳ này đã xuất hiện sự phân chia kẻ giàu và người nghèo rõ rệt

Về công nghệ, có nghề dệt bông len, nghề đúc đồng, điêu khắc, nghề làm nữ trang, nghề làm gốm sứ tráng men đạt tới trình độ tinh xảo

Thời kỳ này cũng đã có chữ viết, được thấy trên các quả ấn bằng đồng hay đất nung Tôn giáo cũng đã xuất hiện biểu hiện qua các hình nổi điêu khắc trên các quả ấn

Thời kỳ Veda (khoảng từ thế kỷ XV đến thế kỷ VII tr.CN) Vào khoảng thế kỷ XV, các bộ lạc du mục của người Arya từ Trung Á xâm nhập vào Ấn

Độ, đem theo những phong tục, tập quán, tín ngưỡng và bắt người bản xứ làm nô lệ Đây là thời kỳ hình thành các quốc gia chiếm hữu nô lệ đầu tiên của người Arya trên lưu vực sông Hằng và sông Ấn

Đặc trưng của nền kinh tế nông nghiệp thời kỳ này là kinh tế tiểu nông kết hợp chặt chẽ với thủ công nghiệp gia đình nên tính chất tự cấp tự túc là nổi bật và quan hệ trao đổi giữa các công xã rất yếu ớt Đó cũng là nguyên nhân làm xã hội Ấn Độ phát triển rất chậm chạp và trì trệ

Về mặt xã hội, thời kỳ này đã xuất hiện chế độ đẳng cấp góp phần quy định cơ cấu xã hội và ảnh hưởng đến hình thái tư tưởng Ấn Độ cổ đại Đó là chế độ xã hội dựa trên sự phân biệt về chủng tộc, màu da, dòng dõi, nghề

Trang 18

nghiệp, tôn giáo, quan hệ giao tiếp, tục cấm kỵ hôn nhân được hình thành trong thời kỳ người Arya chinh phục, thống trị người Dravida, cũng như trong

cả quá trình phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc giữa quý tộc và thường dân Arya

Xã hội Ấn Độ cổ không chỉ bị đè nặng bởi n i khổ do quan hệ bất công

và sự bóc lột hà khắc của giai cấp quí tộc chủ nô đối với giai cấp nô lệ và những kẻ tôi tớ, mà còn bị bóp nghẹt bởi chế độ phân biệt chủng tính, màu da, sắc tộc, còn gọi là chế độ đẳng cấp hết sức nghiệt ngã gây nên Chế độ đẳng cấp không chỉ góp phần qui định cơ cấu, trật tự xã hội Ấn Độ mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến nội dung và tính chất của các quan điểm triết lý tôn giáo

Ấn Độ cổ đại

Theo thánh điển của Bà La Môn và theo bộ luật Manu, người ta đã phân chia xã hội Ấn Độ ra thành rất nhiều chủng tính Nhưng có thể qui thành bốn chủng tính lớn và đó cũng là 4 đẳng cấp chính của xã hội Ấn Độ:

Bàlamôn (Brahmana) gồm những giáo sĩ, những người giữ quyền thống trị tinh thần, phụ trách về lễ nghi, cúng bái Họ tự nhận mình là hạng cao thượng, sinh từ l miệng phạm thiên (Brahmana) hay phạm thiên cầm vương lãnh đạo tinh thần dân tộc, nên có quyền ưu tiên được tôn kính, và an hưởng cuộc đời sung sướng nhất

Sát đế lợi (Kshatriya) là hàng vua chúa quí phái, tự cho mình sinh ra từ cánh tay phạm thiên, thay mặt phạm thiên nắm giữ quyền hành thống trị dân chúng

Vệ xá (Vaishya) là những hàng thương gia chủ điền và dân tự do tin mình sinh ra từ bắp chân phạm thiên và phạm thiên có nhiệm vụ đảm đương

về kinh tế trong nước (mua bán, trồng trọt, thu huệ lợi cho quốc gia)

Thu đà la (Shudra) là những người lao động bao gồm đa số tiện dân và

nô lệ tin mình sinh ra từ gót chân phạm thiên nên thủ phận làm khổ sai suốt

Trang 19

đời cho giai cấp trên

Ngoài bốn đẳng cấp trong xã hội còn có một hạng người nữa là hạng hà tiện nhất là giống Ba-tia-a (Pariahs) giống dân tộc mọi rợ, bị coi như sống loài

lề xã hội loài người, bị các giai cấp trên đối xử như thú vật, vô cùng khổ nhục tăm tối

Thời kỳ Veda cũng là thời kỳ hình thành các tôn giáo lớn mà tư tưởng

và tín ngưỡng của nó ảnh hưởng đậm n t tới đời sống tinh thần xã hội Ấn Độ

cổ đại, như kinh Rig - Veda, đạo Bàlamôn, sau đó là đạo Phật, Đạo Jaina

Thời kỳ từ thế kỷ VI đến thế kỷ I tr CN là thời kỳ mà các quốc gia chiếm hữu nô lệ đã thực sự phát triển, thường xuyên thôn tính lẫn nhau dẫn đến sự hình thành các quốc gia lớn, các vương triều thống nhất ở Ấn Độ như Magadha , Maurya Trong thời kỳ này nền kinh tế, xã hội và văn hóa Ấn Độ

có những bước phát triển tiến bộ vượt bậc Mặc dù nền kinh tế tự nhiên vẫn chiếm ưu thế, nhưng thương nghiệp, buôn bán cũng phát triển hình thành một tầng lớp mới trong cơ cấu giai cấp xã hội Ấn Độ - tầng lớp thương nhân và thợ thủ công Tiền kim loại xuất hiện, nhiều thành phố trở thành trung tâm công thương nghiệp quan trọng Nhiều con đường thương mại thủy bộ nối liền các thành thị với nhau và thông từ Ấn Độ qua Trung Hoa, Ai Cập và

miền Trung Á dần dần xuất hiện

1.1.3 Tiền đề khoa học và văn hóa

Ngay từ thời Veda, thiên văn học Ấn Độ đã bắt đầu xuất hiện Người

Ấn Độ cổ đã biết sáng tạo ra lịch pháp, ph ng đoán trái đất hình cầu và tự quay quanh trục của nó Cuối thế kỷ V tr.CN, người Ấn Độ đã giải thích được hiện tượng nhật thực và nguyệt thực

Về toán học, Người Ấn Độ thời cổ đại chính là chủ nhân của hệ thống chữ số mà ngày nay ta quen gọi là số Arập Đóng góp lớn nhất của họ là đặt

ra số không, nhờ vậy mọi biến đổi toán học trở thành đơn giản, ngắn gọn hẳn

Trang 20

lên (Người Tây Âu đã từ b số La Mã mà sử dụng số Arập trong toán học.)

Họ đã tính được căn bậc 2 và căn bậc 3; đã có hiểu biết về cấp số, đã biết về quan hệ giữa 3 cạnh trong một tam giác, họ đã phát minh ra chữ số thập phân, tính được trị số pi, biết được những định luật cơ bản về quan hệ giữa cạnh và đường huyền của một tam giác vuông

Nền y học Ấn Độ có từ rất sớm Ngay trong kinh Veda, người ta đã tìm thấy nhiều tên cây làm thuốc và nhiều phương pháp trị bệnh đơn giản Vào thế kỷ V tr.CN, Shursada đã viết sách trình bày thuật chữa bệnh ngoại khoa, phương pháp dưỡng sinh, tiêu độc

Về Vật lí, người Ấn Độ cổ đại cũng đã có thuyết nguyên tử Thế kỉ

5 tr.CN, có một nhà thông thái ở Ấn Độ đã viết: "trái đất, do trọng lực của bản thân đã hút tất cả các vật về phía nó"

Trong nghệ thuật Ấn Độ là nơi có nền nghệ thuật tạo hình phát triển rực

rỡ, ảnh hưởng tới nhiều nước Đông Nam Á Nghệ thuật Ấn Độ cổ đại hầu hết đều phục vụ một tôn giáo nhất định, do yêu cầu của tôn giáo đó mà thể hiện

Có thể chia ra ba dòng nghệ thuật: Ấn Độ giáo, Phật giáo, Hồi giáo Có rất nhiều chùa tháp Phật giáo, nhưng đáng kể đầu tiên là dãy chùa hang Ajanta ở miền trung Ấn Độ Đây là dãy chùa được đục vào vách núi, có tới 29 gian chùa, các gian chùa thường hình vuông và nhiều gian m i cạnh tới 20m Trên vách hang có những bức tượng Phật và nhiều bích hoạ rất đẹp

Các công trình kiến trúc Ấn Độ giáo được xây dựng nhiều nơi trên đất

Ấn Độ và được xây dựng nhiều vào khoảng thế kỉ 7 - 11 Tiêu biểu cho các công trình Ấn Độ giáo là cụm đền tháp Khajuraho ở Trung Ấn, gồm tất cả 85 đền xen giữa những hồ nước và những cánh đồng

Những công trình kiến trúc Hồi giáo nổi bật ở Ấn Độ là tháp Mina, được xây dựng vào khoảng thế kỉ 13 và lăng Taj Mahan được xây dựng vào khoảng thế kỉ 17 Ấn Độ là nơi có phong cách kiến trúc độc đáo, tinh tế, đặc

Trang 21

biệt là lối xây dựng chùa chiền, tháp Phật theo kiểu hình tháp vừa có ý nghĩa triết học, tôn giáo, vừa biểu hiện ý chí, vương quyền

Về chữ viết và văn học, thời đại Harappa - Môhenjô Đarô, ở miền Bắc

Ấn đã xuất hiện một loại chữ cổ mà ngày nay người ta còn lưu giữ được khoảng 3.000 con dấu có khắc những kí hiệu đồ họa

Thế kỉ VII tr CN, ở đây đã xuất hiện chữ Brami, ngày nay còn khoảng

30 bảng đá có khắc loại chữ này Trên cơ sở chữ Brami, thế kỉ V tr CN ở Ấn

Độ lại xuất hiện chữ Sanskrit, đây là cơ sở của nhiều loại chữ viết ở Ấn

Độ và Đông Nam Á sau này

Hai tác phẩm văn học nổi bật thời cổ đại là Mahabharata và Ramayana Mahabharata là bản trường ca gồm 220.000 câu thơ Bản trường ca này nói về một cuộc chiến tranh giữa các con cháu Bharata Bản trường Mahabharata có thể coi là một bộ "bách khoa toàn thư" phản ánh mọi mặt về đời sống xã hội

Ấn Độ thời đó Ramayana là một bộ sử thi dài 48.000 câu thơ, mô tả một cuộc tình giữa chàng hoàng tử Rama và công chúa Xita (con của nữ thần mẹ đất) Thiên tình sử này ảnh hưởng tới văn học dân gian một số nước Đông Nam Á Riêmkê ở Campuchia, Riêmkhiêm ở Thái Lan chắc chắn có ảnh hưởng từ Ramayana

Thời cổ đại ở Ấn Độ còn có tâp ngụ ngôn chứa đựng rất nhiều tư tưởng được gặp lại trong ngụ ngôn của một số dân tộc thuộc hệ ngôn ngữ Ấn - Âu.

Tất cả những đặc điểm lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội cùng với sự phát triển rực rỡ của văn hóa, khoa học Ấn Độ cổ đại là những tiền đề lý luận

và thực tiễn phong phú làm nảy sinh và phát triển những tư tưởng triết học của Ấn Độ cổ đại

Trang 22

1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG TRIẾT HỌC PHI CHÍNH THỐNG

ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

Ấn Độ là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại Triết học Ấn Độ suy cho cùng là sự phản ánh xã hội Ấn Độ cổ đại – xã hội rất coi trọng và đề cao tôn giáo Triết học Ấn Độ ra đời và phát triển cũng như các nền triết học khác đều dựa trên những cơ sở nhất định Trong đó đặc điểm chung của các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại là vấn đề tìm ra biện pháp

để giải thoát ra kh i cuộc sống hạn chế và đau khổ Có thể khai thác những đặc điểm cơ bản của các trường phái triết học phi chính thống đó là:

Thứ nhất, các trường phái triết học phi chính thống, tuy cùng có những

điểm chung như không tin có thượng đế, nghi ngờ và phủ nhận quyền uy của kinh Veda, phê phán giáo lý Bàlamôn, đả kích chế độ phân biệt đẳng cấp trong xã hội, nhưng giữa họ lại có sự khác biệt nhau trong cả quan điểm về thế giới cũng như quan điểm về nhân sinh Nếu như trường phái Lokayata luôn thể hiện một cách nhất quán rõ ràng và triệt để thế giới quan duy vật, vô thần trong lập trường tư tưởng và tính chất triết học của mình, chỉ thừa nhận bốn yếu tố cơ bản đầu tiên cấu thành nên vạn vật gồm: đất, nước, lửa, không

khí, gọi là "từ đại", phủ nhận thượng đế, đả phá quan niệm về "sự bất tử của

linh hồn" đề cao chủ nghĩa hiện thực, thì trường phái triết học Jaina lại là một

hệ thống triết học mang tính chất nhị nguyên, có nhiều hướng ngã về chủ nghĩa duy tâm Nó chỉ thừa nhận hai bản nguyên cấu tạo nên thế giới vạn vật,

đó là Jva (linh hồn, tinh thần) và adjiva (gồm tất cả những gì không phải là tinh thần hay linh hồn) Đặc biệt họ cho nguyên tử của các yếu tố: đất, nước, lửa, khí là giống nhau, chúng kết hợp với nhau tạo ra các sự vật phong phú đa dạng khác nhau

Thứ hai, khác với các trường phái triết học chính thống, bởi vì triết học

chính thống họ chỉ cần thừa nhận những nguyên lý căn bản của xã hội Ấn Độ

Trang 23

chính thống, chấp nhận quyền uy của kinh Veda, Upanishad, biện hộ cho giáo

lý đạo Bàlamôn, bảo vệ cho chế độ phân biệt đẳng cấp, rồi họ có thể tự do phát triển tư tưởng của họ theo các hình thức và khuynh hướng khác nhau tuỳ

ý thích Cả sáu phái đó khác nhau nhưng đều đồng nhất về một số nguyên tắc

cơ bản của tư tưởng Ấn Độ như: 1 Các kinh Veda là do mặc khải; 2 Để tìm

sự thật và đặt chân lý thì ph p lý luận không chắc chắn bằng ph p trực giác;

3 Mục đích của trí thức và triết học không phải để thống trị thế giới mà là để thoát ly kh i thế giới; 4 Suy tư là để tự giải thoát kh i khổ não, dục vọng và chính dục vọng không được thoả mãn là nguyên nhân của đau khổ Điều đó nói lên tính phức tạp trong quá trình phát triển của tư tưởng triết học tôn giáo

Ấn Độ cổ đại

Phản ánh hiện thực xã hội, triết học tôn giáo Ấn Độ thời kỳ này còn diễn ra quá trình đấu tranh gay gắt giữa các trường phái triết học duy vật vô thần, hay "những người theo thuyết hư vô", "bọn hoài nghi" với môn phái triết học duy tâm tôn giáo, đặc biệt là triết lý Veda, Upanishad, và giáo lý đạo Bàlamôn, nhằm phủ nhận quan điểm suy tôn thượng đế, phạm thiên hay "tinh thần sáng tạo ưu trụ tối cao" Brahman, chống lại những quan điểm về sự bất

tử linh hồn và sự siêu thoát của linh hồn con người, sang thế giới bên kia" nào

đó

Tiêu biểu cho phong trào chống chủ nghĩa duy tâm tôn giáo thời đó là các giáo phái nổi tiếng "lục sư ngoại đạo", mà trường phái duy vật vô thần triệt để Lokayata là tiêu biểu nhất

Có thể nói triết học phi chính thống của Ấn Độ cổ đại phát triển rất phong phú nhưng không mang tính cách mạng; các nhà triết học thường kế tục mà không gạt b hệ thống triết học có trước, không đặt cho mình nhiệm

vụ phải sáng tạo ra một hệ thống triết học mới Điều đó phản ánh sự trì trệ của

xã hội Ấn Độ cổ đại

Trang 24

Thứ ba, triết học phi chính thống của Ấn Độ cổ đại gắn bó chặt chẽ với

tôn giáo, trên cơ sở tín ngưỡng tôn giáo hình thành nên các hệ thống triết học

- tôn giáo Sự tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn và chế độ quốc hữu hóa ruộng đất là hai đặc điểm lớn nhất, chi phối và ảnh hưởng tới toàn bộ các mặt lịch sử của Ấn Độ, nhất là ảnh hưởng đến sự phát của văn hóa và triết học Trên cơ sở “phương thức sản xuất châu Á”, xã hội Ấn Độ được kết cấu với ba nhóm cơ bản: nhóm (thực chất là quan hệ gia đình, dòng họ), cộng đồng tự trị làng – xã và bang (tiểu quốc) với chế độ đẳng cấp ngặt nghèo X t trong điều kiện tồn tại xã hội như vậy thì triết học của Ấn Độ gắn chặt với vấn đề tôn giáo và tâm linh cũng là yếu tố khách quan

Triết học phi chính thống của Ấn Độ không chỉ nảy sinh từ những cơ

sở nêu trên mà còn gắn với các thành tựu của khoa học, kỹ thuật và văn hóa của Ấn Độ Tuy nhiên, do các điều kiện về tự nhiên, về con người, về xã hội,

về kinh tế, chính trị, văn hóa và tôn giáo, tâm linh nên triết học phi chính thống Ấn Độ đã có những đặc điểm đặc trưng riêng

Triết học phi chính thống của Ấn Độ cổ đại có nguồn gốc từ rất xa xưa

và đến thế kỷ thứ VIII – thế kỷ VI tr.CN, nó được tập trung trong Upanishad, sau đó nó phát triển rất mạnh mẽ và được phân ra làm nhiều trường phái, khuynh hướng vừa đấu tranh vừa bổ sung cho nhau tạo nên bức tranh nhiều màu sắc rực rỡ

Thứ tư, triết học phi chính thống của Ấn Độ cổ đại quan tâm đến nhiều

vấn đề, nhưng vấn đề chủ yếu là vấn đề con người, đặc biệt là vấn đề giải

thoát Đặc điểm đặc biệt trong triết học phi chính thống của Ấn Độ cổ đại nó

phân con người thành những yếu tố cấu thành, trong đó cái tâm có ý nghĩa quyết định, từ đó hướng chủ yếu của nó là đi sâu nghiên cứu, phân tích cái tâm của con người Triết học phi chính thống của Ấn Độ cổ đại cho rằng muốn hiểu được thế giới thế giới trước hết phải hiểu mình đã và khi đã hiểu

Trang 25

mình thì hiểu tất cả vì bản thể vũ trụ có trong m i con người

Mục đích của triết học phi chính thống của Ấn Độ cổ đại là để đạt đến

sự giải thoát Với mục đích giải thoát nên m i trường phái triết học phi chính thống Ấn Độ cổ đại là những con đường khác nhau để đi đến giải thoát Như vậy, triết học phi chính thống của Ấn Độ cổ đại giống như ngón tay chỉ mặt trăng, như con đò để đưa lữ khách qua sông Do đó, triết học phi chính thống của Ấn Độ cổ đại là triết lý sống, nó gắn liền với tôn giáo, tâm linh, là triết học của tôn giáo

Nếu như nhận thức trong triết học phương Tây nhìn chung bắt đầu từ học h i, tích lũy kiến thức và đi theo con đường từ đơn giản đến phức tạp, từ hiện tượng đến bản chất, từ cảm tính đến lý tính thì nhận thức trong triết học

Ấn Độ lại bắt đầu từ luân lý đạo đức (thanh lọc thân tâm), sau đó để tập trung

tư tưởng (định), rồi mới đến tuệ

Như vậy, trong triết học Ấn Độ, nhận thức gắn liền với đạo đức Trong nhận thức, triết học Ấn Độ lại đề cao việc tự nhận thức, tự hiểu Điều này quy định tính chất trực nhận, trực giác trong triết học Ấn Độ Từ đó, một lôgic k o theo là công cụ, phương tiện nhận thức trong triết học Ấn Độ lại nghiêng về

ẩn dụ hình ảnh; trong khi đó, công cụ nhận thức của triết học phương Tây lại chủ yếu là khái niệm

Thứ năm, triết học Ấn Độ vừa mang tính thống nhất, vừa mang tính đa

dạng Thống nhất ở ch dù trực tiếp hay gián tiếp nó đều bị chi phối bởi quan niệm đồng nhất thể của Upanishad; hầu hết các trường phái đều hướng đến giải thoát; một số nguyên lý chung có ở nhiều trường phái Đa dạng ở ch triết học Ấn Độ chia thành nhiều khuynh hướng, nhiều nhánh nh ; trừ chủ nghĩa duy vật, m i trường phái là những con đường khác nhau để đi đến giải thoát; nhiều vấn đề khác nhau được đặt ra ở những trường phái khác nhau

Trong thời kỳ này toàn bộ hệ thống triết học Ấn Độ được chia thành 9

Trang 26

trường phái: Sáu trường phái “chính thống” là: Veda, Mimansa, Samkhya, Yoga, Vaisesika, Nyaya Ba trường phái “không chính thống” là: Lokayata, Jaina, Buddha (Phậtgiáo)

Sự phát triển của triết học Ấn Độ là sự đấu tranh giữa các trường phái

và suy cho cùng nó phản ánh nhu cầu của đời sống xã hội trong đó tôn giáo là trung tâm điểm Mặt khác, sự phát triển của triết học Ấn Độ chủ yếu đi theo hướng tuần tự thay đổi về lượng, tức những nguyên lý nền tảng đã được đặt ra

từ thời cổ xưa, về sau chỉ phát triển, bổ sung, hoàn thiện

Biện chứng trong triết học Ấn Độ mang tính chất ngây thơ, duy tâm; sự phát triển đi theo vòng tròn, tuần hoàn Điều này do công xã nông thôn biệt lập, kh p kín ở Ấn Độ quy định Khác với triết học Trung Quốc, tư duy trong triết học Ấn Độ không trọng cái cụ thể, hữu hạn; họ muốn vượt cái này để đi đến cái tuyệt đối

Khác với tư duy của người phương Tây là hướng ra bên ngoài, thiên về nghiên cứu thế giới vật chất bên ngoài, đặc điểm nổi bật trong tư duy người

Ấn Độ là tư duy hướng nội

Người Ấn Độ có tư duy hướng nội xuất phát từ vị trí địa lý, địa hình, môi trường tự nhiên của đất nước Ấn Độ Sự bao bọc bởi những dãy núi lớn khiến cho Ấn Độ gần như cô lập với thế giới bên ngoài Văn hóa, tư tưởng của các vùng, các quốc gia lân cận cũng khó lòng vượt qua để xâm nhập vào

Ấn Độ Thiên nhiên khắc nghiệt nhưng người Ấn vẫn tìm cách hòa đồng với

tự nhiên hơn là chinh phục để làm chủ tự nhiên

Với tính cách của người phương Tây, coi trọng sự hướng ngoại ra thế giới bên ngoài vì thế mà triết học phương Tây luôn bàn đến vấn đề mới quan

hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy, mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên Triết học Trung Quốc lại quan tâm đến mối quan hệ giữa con người với con người nghĩa là con người trong xã hội Nhưng vấn đề

Trang 27

cơ bản của triết học Ấn Độ là mối quan hệ giữa con người với chính mình Người Ấn Độ luôn nhìn vào chính chiều sâu tâm thức của mình để tìm ra cái giá trị đích thực của con người, hướng vào chính mình để giải thoát cho mình

Cũng bởi vì tư duy hướng nội, hướng vào tâm hồn con người mà Ấn

Độ đã được hình thành như một xứ sở của tâm linh và tôn giáo Ở Ấn Độ đến bất cứ đâu người ta cũng đều nhận thấy sự linh thiêng, trầm mặc Nếu muốn tìm hiểu các tư tưởng triết học Ấn Độ phải bắt nguồn từ trong các tôn giáo bởi nơi đây tôn giáo và triết học gắn liền với nhau, hòa quyện với nhau Điển hình như Phật giáo ra đời với tư cách là một tôn giáo nhưng lại chứa đựng nhiều tư tưởng triết học, nhiều quan niệm về nhân sinh, về vũ trụ

Thứ sáu, tư duy hướng nội của người Ấn Độ là điểm khởi nguồn cho

việc đề cao con người, đề cao nội tâm con người, đề cao giải thoát trong tâm linh mà trong nhiều tôn giáo – triết học Ấn Độ đều bàn tới

Cũng bởi vì quan niệm con người là vô cùng nh b trước vũ trụ bao

la mà người dân Ấn Độ có cái nhìn hướng đến cái tuyệt đối, phổ quát coi nhẹ cái cá biệt, cái cụ thể Đó chính là tư duy mang tính phổ quát của người

Ấn Độ

Đối với người Ấn, cái cá nhân không được chú trọng, không được đề cao mà người Ấn lại coi trọng cái phổ quát, cái lớn lao Bởi thế, giải thoát trong triết học Ấn Độ là việc Atman – linh hồn cá thể trở về đồng nhất với Brahman – đấng sáng tạo Cái phổ quát là cái vô hình ở đằng sau những sự vật, hiện tượng cụ thể Sự vật thường biến chỉ là ảo ảnh còn cái vô hình tĩnh tại ấy mới đích thực là chân bản của thế giới Trong Phật giáo, đó là Chân như, Phật tính của con người

Người dân Ấn Độ vì không quan tâm đến cái chi tiết nên họ cũng gần như loại b cái cá thể, chi tiết trong cuộc sống Do vậy, bất cứ cái cá biệt nào trong cuộc sống người Ấn cũng không có thời gian chính xác thể hiện quá

Trang 28

trình hình thành, phát sinh, phát triển của nó Trong tư duy người Ấn, những cái cụ thể chỉ được biết thời gian một cách chung chung, không chính xác như

ở phương Tây – nơi rất coi trọng sự chi tiết, cụ thể

Người Ấn chỉ quan tâm và đặc biệt coi trọng những sức mạnh vô hình,

sự tồn tại của thần linh và tâm linh của con người Quan niệm về giải thoát trong Phật giáo còn là sự kế thừa có chắt lọc và phát triển những tinh hoa của tư tưởng tôn giáo – triết học Ấn Độ truyền thống

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Những đặc điểm cơ bản trên của hệ thống triết học phi chính thống Ấn

Độ cổ đại là do điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Ấn Độ cổ đại quy định Do các điều kiện về tự nhiên, về con người, xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa và tôn giáo, tâm linh, mà triết học phi chính thống của Ấn Độ đã trải qua nhiều bước thăng trầm, tạo nên n t đặc sắc mang bản chất riêng

Nhìn chung, tư duy của các trường phái triết học phi chính thống đã góp phần tạo nên n t tư duy riêng, lối sống nhân văn của người Việt Có thể nói, sức sống của Phật giáo phần nào cũng chính là sự cân bằng, điều hòa, chuyển giao giữa Phật giáo bác học với Phật giáo dân gian qua các phép tu luyện nội quán và đạo lý nhân văn của dân tộc Việt Cho đến nay, tư tưởng giải thoát của các trường phái triết học phi chính thống Ấn Độ cổ đại vẫn phát huy một số giá trị độc đáo có tính nhân văn cao

Trang 29

CHƯƠNG 2

TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT TRONG CÁC TRƯỜNG PHÁI

PHI CHÍNH THỐNG Ở ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 2.1 GIẢI THOÁT VÀ VAI TRÒ CỦA GIẢI THOÁT

2.1.1 Khái niệm giải thoát

Về tư tưởng giải thoát, không phải chỉ có các trường phái triết học phi chính thống Ấn Độ cổ đại mới nói đến vấn đề này mà hầu hết các tôn giáo đều có đề cập đến tư tưởng giải thoát con người, phải chăng chỉ khác nhau về

tên gọi Trong đạo Cơ Đốc sử dụng từ “cứu rỗi” để chỉ sự giải thoát con

người kh i sự đam mê của thể xác, lầm l i của linh hồn để đi về với Thiên

Chúa còn Phật giáo sử dụng từ “giải thoát” để đưa con người rũ b mọi n i

khổ đau nơi trần thế

Theo tiếng Phạn, giải thoát là moksha, mukti Theo các kinh sách triết

học và tôn giáo cổ Ấn Độ, từ “giải thoát” có rất nhiều nghĩa, người ta có thể

xem xét nó qua các mặt khác nhau như trạng thái, mục đích, phương tiện và

kết quả Bên cạnh đó “giải thoát” cũng có thể xem x t nó ở bản thể luận hay

mặt nhận thức luận, mặt triết học, mặt tâm lý cũng như mặt đạo đức, tôn giáo

Trong cuốn Từ điển Phật học Hán – Việt khi bàn đến “giải thoát” có viết: “Giải thoát có nghĩa là lìa bỏ mọi trói buộc mà được tự tại Cởi bỏ sự

trói buộc của nghiệp, thoát ra khỏi khổ quả của tam giới Còn là tên khác của Niết bàn, bởi vì dùng Niết bàn để lìa bỏ sự trói buộc Còn chỉ tên gọi khác của Thiền định như tam giải thoát, bất tư nghị giải thoát Thoát ràng buộc và được tự tại là đức tính của Thiền định” [Từ điển Phật học Hán – Việt, tập 2,

tr.495]

Hay trong Phật học từ điển, tác giả Đoàn Trung Còn cũng nói về “giải

thoát” như sau: “Giải là lìa khỏi sự trói buộc, được tự tại, mở những dây trói buộc của nghiệp lầm (hoặc nghiệp) Thoát là ra ngoài quả khổ tam giới (dục

Trang 30

giới, sắc giới, vô sắc giới)…Giải thoát tức là Niết bàn, nó là thể Niết bàn, vì lìa tất cả sự trói buộc Như sự giải thoát khỏi ngũ uẩn, từ sắc giải thoát tới thức giải thoát, kêu là năm thứ Niết bàn” [Phật học từ điển, tập 1, tr.597]

Trong nhiều cuốn sách “giải thoát” được dùng đồng nghĩa với “giác

ngộ” Tuy nhiên “giải thoát” và “giác ngộ” không phải đồng nhất hoàn toàn

Vì vậy, cần hiểu rõ khái niệm giác ngộ là sự thức tỉnh toàn diện về dòng vận hành của duyên khởi trong đời sống con người bao gồm cả tâm lý và vật lý

Do năng lực thức tỉnh toàn diện này mà con người có thể vượt qua những phiền não và kiến lập đời sống an lạc, hạnh phúc cho chính mình Năng lực thức tỉnh được chia làm các cấp độ khác nhau từ thấp đến cao

Một đời người tu hành chưa hẳn đã tạo được cho mình một năng lực thức tỉnh toàn diện nghĩa là giác ngộ chân lý tuyệt đối vì nó còn phụ thuộc

vào dòng nghiệp lực trong nhiều đời m i người Khái niệm “giải thoát” trong

hệ thống triết học phi chính thống nó bao hàm nhiều cấp độ khác nhau, từ việc nh đến việc lớn Khi nào con người vượt ra kh i những ràng buộc của các phiền não như tham, sân, si…trong đời sống của chính mình thì khi đó con người được giải thoát Cho đến khi nào tâm thức của con người hoàn toàn không còn bị chi phối bởi các phiền não thì con người sẽ thực sự đạt tới giải thoát

Thế nhưng, để đạt tới giải thoát tối hậu đòi h i con người phải loại b tận gốc rễ các phiền não trong tâm thức của chính con người một cách hoàn toàn và triệt để, vì chính các phiền não là nguyên nhân của sinh tử luân hồi

2.1.2 Vai trò của giải thoát

a Đối với đạo đức

Tư tưởng giải thoát của cả ba trường phái Lokayata, Jaina, Phật giáo đều có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của nhân dân ta, m i trường phái có một mức độ ảnh hưởng khác nhau, trong đó tư tưởng giải thoát của Phật giáo

Trang 31

có vai trò quan trọng, nó là một bộ phận quan trọng cấu thành nền văn hóa dân tộc, chính vì vậy, việc củng cố và phát huy vai trò của Phật giáo có một ý nghĩa lớn đối với cuộc vận động “toàn dân xây dựng đời sống văn hóa” hiện nay Vì rằng, đối với tất cả người dân Việt Nam, dù có theo Phật giáo hay không đều ít nhiều hiểu tư tưởng triết lý nhà Phật, bởi vì đó là một phần truyền thống của cha ông Nếu muốn nghiên cứu văn hóa Việt Nam mà không nghiên cứu Phật giáo và tư tưởng giải thoát của Phật giáo thì sẽ không hiểu hết được bản chất của các nền văn hóa ấy

Sự ảnh hưởng của tư tưởng giải thoát đến đời sống tinh thần của con người Việt Nam được thể hiện khá rõ nét ở lĩnh vực đạo đức Chính vì có nhiều điểm tương đồng nên ngay từ khi được truyền bá vào Việt Nam đã được người Việt tiếp nhận một cách tự nhiên dễ dàng Đó là sự sẵn sàng hy sinh cho đạo lý, hướng tới sự hòa hợp toàn vũ trụ Mọi người tìm thấy hạnh phúc khi được khai sáng cái tâm bằng các hoạt động phụng sự xã hội, phụng

sự dân tộc và mọi người Tư tưởng giải thoát có ảnh hưởng sâu đậm đến đạo đức của nhân dân Việt Nam và đã thích nghi với mọi biến đổi của xã hội để đứng vững trong lòng người dân

Nếp sống của con người Việt Nam nghiêng về nội tâm, hướng nội Ngày nay, sau khi đã trải qua nhiều mất mát, hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, người dân Việt Nam rất nhạy cảm trước mọi niềm vui n i buồn của mọi người, sẵn sàng chia sẻ, đồng cam cộng khổ với những người xung quanh Dân gian ta có câu "hàng xóm láng giềng những khi tắt lửa tối đèn có nhau" có ý muốn nói tới sự đùm bọc, quan tâm chu đáo, chia sẻ lẫn nhau khi gặp khó khăn Đây là một nghĩa cử cao đẹp của con người Việt Nam Cái nghĩa cử ấy, ngoài yếu tố truyền thống, phải chăng cũng

có ảnh hưởng từ giáo lý nhân sinh quan Phật giáo? Bởi vậy, trong việc giải quyết các mối quan hệ xã hội, người Việt Nam đề cao và lấy cái tâm làm gốc,

Trang 32

thiên về tình cảm Cho đến hiện nay, đối với nhiều gia đình người Việt Nam thì mười điều tâm niệm và mười bốn điều răn của Phật được xem là những giá trị đạo đức và được họ treo ở những nơi trang trọng nhất với ý muốn luôn nhắc nhở những thành viên trong gia đình phải sống theo những điều Đức Phật đã dạy

Phật giáo với triết lý nhân sinh sâu sắc có ảnh hưởng và góp phần đắc lực trong việc tạo nên nhân cách con người Việt Nam, hình thành và phát triển nhân sinh quan, đạo đức trong nhân dân ta Triết lý ấy còn giáo dục con người phấn đấu tu dưỡng để hoàn thiện mình, làm lành, lánh ác; thấy được cuộc sống của mình do chính mình làm chủ, vì vậy không chờ đợi ở một thế lực nào khác mà bản thân phải gắng sức luyện rèn để trở thành người tốt, có ích cho xã hội Nó còn giáo dục con người sống biết hy sinh lợi ích, yêu thương mọi người, thương người như thể thương thân Với quan niệm Phật tại tâm, nên tu Phật là tu dưỡng đạo đức trong lòng của m i cá nhân Vì vậy, đạo đức Phật giáo dễ đi vào lòng người

Ngày nay, trong điều kiện kinh tế thị trường thì ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo đến đạo đức đã có sự biến đổi Trong cơ chế mới, con người cầu mong một cuộc sống tốt đẹp, đầy đủ thì phải cầu may trong cuộc cạnh tranh để trở thành người chiến thắng, đây là nguyên nhân làm cho nhiều người tìm đến với tư tưởng giải thoát Người thì đi theo tư tưởng giải thoát của trường phái Lokayata, người theo trường phái Jaina, người theo Phật, theo Thần với nhu cầu tâm linh của con người trong cơ chế thị trường, họ cầu xin Thần linh, đức Phật phù hộ độ trì để có được cuộc sống tốt đẹp, đầy đủ thậm chí họ cầu xin cả những điều ngược trái với giáo lý

Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay, ảnh hưởng của các trường phái triết học Ấn Độ, đặc biệt là tư tưởng giải thoát vẫn có nhiều ý nghĩa tích cực làm hạn chế tác động của mặt trái kinh tế thị trường, ngăn

Trang 33

chặn sự suy thoái đạo đức, lối sống trong xã hội

Sự tham gia của các giáo phái, đặc biệt là Phật giáo vào đời sống xã hội

ngày càng thiết thực và đa dạng hơn Hoạt động của các giáo phái đã tham gia tích cực vào các phong trào xã hội, nổi bật trong những năm vừa qua là hoạt động từ thiện của Phật giáo Việc làm từ thiện của Phật giáo là một n t đẹp trong xã hội, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường với mặt trái của nó đã

xô đẩy không ít người đến với chủ nghĩa thực dụng, với lối sống vị kỷ

Những hoạt động từ thiện của Phật giáo là những n t đẹp trong xã hội, nhất là khi nền kinh tế thị trường với mặt trái của nó đã xô đẩy không ít người đến với lối sống vị kỷ Hiện nay, công tác từ thiện của Phật giáo rất đa dạng, bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như: Chăm sóc người già cô đơn không nơi nương tựa, chăm sóc trẻ em mồ côi, lang thang cơ nhỡ, trẻ em tàn tật; chăm sóc, ủng hộ bệnh nhân nghèo; chăm lo cho người nghèo; hoặc những nạn nhân do thiên tai, lũ lụt; nạn nhân chiến tranh, nạn nhân chất độc màu da cam và những nạn nhân của cơ chế thị trường

Ngày nay, nhu cầu tâm linh của các tín đồ lại càng phong phú hơn bao giờ hết, các nơi thờ cúng cũng đã đáp ứng được nhu cầu ngày một cao của các tín đồ Nhiệm vụ của các tăng ni là th a mãn nhu cầu tâm linh của các tín đồ ngày càng nhiều Các nơi thờ cúng đó còn làm nhiều việc mà trước đây không phải là công việc của họ như: bói toán, xem thẻ, sóc thẻ Có thể nói, hình thức phục vụ tâm linh đã t rõ vai trò đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của các tín đồ Tất cả điều đó cũng đã nói lên biểu hiện sự tác động của cơ chế thị trường tới hành vi đạo đức của tăng ni và tín đồ, qua đó một lần nữa lại khẳng định ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo, Lokayata, Jaina đến đạo đức của con người Việt Nam Tuy vậy, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa

xã hội, ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo vẫn có ý nghĩa tích cực, đạo lý từ

bi, tinh thần hiếu nghĩa, hiếu sinh đó ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắc trong

Trang 34

tâm hồn người Việt Còn trong cơ chế kinh tế mới này, ảnh hưởng của các trường phái mà nhất là đạo đức Phật giáo vẫn góp phần để làm lành mạnh con người, làm hạn chế tác động mặt trái của cơ chế kinh tế ấy, hạn chế, ngăn chặn sự suy thoái đạo đức trong xã hội, hướng thiện cho con người, nếu chúng ta biết khai thác những giá trị tích cực của nó

b Về tư duy

Lokayata, Jaina, Phật giáo, đều là những tôn giáo, nhưng yếu tố tôn giáo và triết học luôn hoà quyện vào nhau làm cơ sở luận chứng cho nhau Trong đó yếu tố giải thoát của triết học Phật giáo đã có ảnh hưởng lớn tới tư duy của người Việt Nam

Tiếp thu triết học Ấn Độ tư duy người Việt Nam có thêm một số khái niệm và phạm trù nói nên bản thể luận là những vấn đề cơ bản của triết học Trong thế giới quan phức hợp nhiều thành phần của người Việt Nam thì Phật giáo là có ý nghĩa nhiều nhất Hơn tất cả các học thuyết khác của phương Đông, Phật giáo chú ý đến mặt phát triển tự nhiên của con người, đó là sinh, lão, bệnh ,tử Bốn chặng đó của cuộc đời đã nói lên sự phát triển tất yếu của con người mà nếu ai đó nhận thức được sẽ không sợ hãi trước sự thay đổi của cuộc đời thậm chí sống lạc quan bình thản trước cái chết Nhiều nhà sư trong thời kỳ Lý – Trần đã có quan niệm như thế Phật giáo đã đề cập đến vấn đề ngũ uẩn: sắc ,thụ, tưởng ,hành, thức là những vấn đề có ý thức luận sâu xa Tuy đối tượng đó là tâm và tính chất là duy tâm, nhưng trong các yếu tố ngũ uẩn chứa đựng một quá trình nhận thức hợp lý; Từ sự vật khách quan(Sắc),Con người cảm thụ được(Thụ), Suy nghĩ(Tưởng), Rồi đem thực hiện (Hành), và cuối cùng là biết (Thức)

Các trường phái triết học Ấn Độ đã đưa vào hệ tư tưởng Việt Nam những quan niệm biện chứng, nhìn sự vật trong sự vận động biến đổi liên tục không có gì là trụ lại mãi, không có ai là tồn tại mãi Tuy nhận thức đó chỉ

Trang 35

nhìn thấy cái biến đổi mà không nhìn thấy cái ổn định tương đối, chỉ thấy được cái vận động mà không thấy được các hình thức vận động sẽ đi đến chiều hướng bi quan buông xuôi, nhưng mặt khác nhận thức được như vậy là cũng có chiều sâu, là thấy được phương diện cơ bản của sự phát triển sự vật

Tuy vậy, các trường phái triết học Ấn Độ cũng có cũng có những hạn chế, ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến tư duy của người Việt Nam chúng ta Chẳng hạn như Phật giáo chỉ thấy cá nhân con người mà không thấy tính cộng đồng xã hội của con người, chỉ thấy con người nói chung mà không thấy con người của giai cấp đối kháng, không thừa nhận đấu tranh giai cấp trong xã hội,

do đó không thấy được nguyên nhân khổ ải của con người, không thấy được sự cần thiết phải chống áp bức, bóc lột vì thế quan niệm từ bi bác ái trong một số trường hợp, bất lợi cho đấu tranh giải phóng giai cấp, chống áp bức

Cùng với xã hội loài người, thực tiễn xã hội Việt Nam đang vận động biến đổi từng ngày, từng giờ k o theo đó là ý thức xã hội trong đó có ý thức tôn giáo cũng biến đổi cho phù hợp Theo thời gian, trình độ dân trí, trạng thái tình cảm, quan niệm đạo đức, văn hóa, lối sống của các tín đồ trong các giáo phái cũng thay đổi Nhiều điều mà trước đây họ thực hiện, thì ngày nay không được chấp nhận cũng là điều dễ hiểu

Trong lịch sử, Phật giáo Việt Nam có lúc thịnh, suy, nhưng luôn luôn đi cùng dân tộc, gắn bó với đất nước Trong quá trình lịch sử của mình, Phật giáo Việt Nam đã có nhiều biến đổi thích ứng với phong tục, tập quán, hoàn cảnh xã hội của con người Việt Nam, góp phần làm nên bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam Hiện nay, công cuộc đổi đã đem lại sự biến đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong đó đáng chú ý là sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường đã góp phần làm nên những thành tựu quan trọng về kinh tế, k o theo sự chuyển biến tích cực về chính trị, văn hóa, xã hội Tuy nhiên, mặt trái kinh tế thị trường cũng

Trang 36

là nguyên nhân của nhiều hiện tượng tiêu cực đối với đời sống xã hội Tồn tại với tính cách là một những hình thái ý thức xã hội, Phật giáo Việt Nam có sự biến đổi đáng kể để thích ứng với thực tiễn của đất nước Nhiều vị chức sắc trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã nhận thấy sự cần thiết phải thích ứng với tình hình mới của thời đại Những hoạt động từ thiện, từ bi của Phật giáo

là những n t đẹp trong xã hội nhất là khi nền kinh tế thị trường với mặt trái của nó đã đưa một số người đến với chủ nghĩa cá nhân

Hạn chế lớn nhất của tư tưởng giải thoát đối với tư duy của người Việt Nam là quan điểm duy tâm về các quan niệm xã hội Quan điểm này không hướng cuộc sống của con người vào cuộc sống hiện thực mà lại hướng vào luân hồi, nghiệp báo, vào lực lượng siêu nhiên để mong được phù hộ, độ trì Khi tư duy như vậy thì không cần khám phá tìm tòi, sáng tạo và hành động Trong các trường phái có ảnh hưởng đến Việt Nam thì tư tưởng Phật giáo đã hoà quyện thành một yếu tố tinh thần dân tộc Phật giáo đã hướng tới cái đẹp, cái thiện và mang tinh thần yêu nước Tính chân, thiện, mĩ được thể hiện khá

rõ trong hệ thống các tư tưởng Phật giáo

c.Về lối sống

Các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại nói chung, Trường phái Lokayata, Jaina và Phật giáo nói riêng đều có ảnh hưởng sâu rộng đến nếp nghĩ nếp đối với đông đảo quần chúng nhân dân

Niềm tin vào luật nhân quả khiến cho các tín đồ Phật tử tin vào tứ diệu

đế một cách tự nguyện, cho rằng cuộc đời con người là bể khổ trầm luân Vì vậy, họ vào chùa tu hành, sinh sống để xa lánh cuộc sống trần tục nơi thế gian đầy dục vọng và cám d Lẽ sống của con người Việt Nam còn là việc lễ Phật cầu an, thờ cúng tổ tiên vào ngày rằm, mùng một Những ngày này không chỉ còn riêng của sinh hoạt Phật giáo mà đã trở thành đại lễ của đông đảo quần chúng nhân dân

Trang 37

Ảnh hưởng nhân sinh quan của các trường phái triết học Ấn Độ đến lối sống của người Việt Nam còn được biểu hiện qua các phong tục tập quán trong các đám tang: có nhà sư mặc áo cà sa, là sự thể hiện pháp lực của nhà Phật xua đuổi tà ma, có các vãi đi cầu kinh để dẫn vong hồn về nơi yên nghỉ Nhà chùa vẫn là điểm tựa cho linh hồn người chết được siêu thoát

Ảnh hưởng của tư tưởng giải thoát đến lối sống của người Việt Nam hiện nay còn được biểu hiện qua các phong tục tập quán trong các đám tang:

Có nhà sư mặc áo cà sa, là sự thể hiện pháp lực của nhà Phật xua đuổi tà ma,

có các vãi đi cầu kinh để dẫn vong hồn về nơi yên nghỉ Rồi sau đó là lễ cúng cầu siêu nhà chùa vẫn là điểm tựa cho linh hồn người chết được siêu thoát… Tất cả điều đó đã nói lên biểu hiện sự tác động của kinh tế thị trường tới hành vi đạo đức của Tăng Ni và tín đồ, qua đó một lần nữa cho thấy ảnh hưởng của các trường phái triết học Ấn Độ, đặc biệt là Phật giáo đến đời sống tinh thần của con người Việt Nam có nhiều biểu hiện khác so với thời kỳ nước ta thực hiện cơ chế tập trung quan liêu bao cấp

Trong cuộc sống có những người được giải thoát kh i thói hư tật xấu

Có người lại được giải thoát kh i những vọng tưởng mơ hồ Có khi một người giải thoát kh i ý thức để thể nhập vô thức Dù cho người đó được giải thoát ở mức độ thấp hay mức độ cao, bản thân họ vẫn có lợi ích và mọi người chung quanh cũng có lợi ích lây Chỉ cần một người b được một số thói quen nóng nảy, ích kỷ, trở nên hiền lành vị tha thì những người chung quanh cũng thở phào nhẹ nhõm Đó là chưa nói đến người giải thoát hẳn đã ngã chấp, chứng đạt Bản Thể, hoàn toàn vô ngã, từ đây tất cả mọi bóng dáng ích kỷ đều biến mất, chỉ còn tâm đại từ đại bi bao trùm mọi yêu thương Lúc đó họ dấn thân vào cuộc đời để làm lợi ích cho mọi người mà không còn ngần ngại, không còn sợ khó sợ khổ Họ thường xuyên yêu cả người tốt lẫn người xấu, họ bình thản trước vinh quang cũng như trước nghịch cảnh

Trang 38

Không bao giờ có hành vi từ thiện hoàn hảo nếu một người chưa thoát được ngã chấp Có thể họ cũng tích cực hoạt động từ thiện, nhưng vì còn ngã chấp, họ vẫn còn ấp ủ một ước mơ thầm kín cho tự kỷ Có thể đó là một danh tiếng, một sự đền bù, hoặc một sự ban ơn của thần linh Bản ngã luôn luôn đòi

h i một quyền lợi trở lại cho chính nó Đôi khi với lý luận tinh tế, người ta cũng chứng t hành vi từ thiện của mình là vô vụ lợi, là lòng vị tha bác ái Nhưng một khi ngã chấp chưa hết, hành vi đó vẫn dấu diếm một sự lừa gạt của bản ngã Bản ngã lừa gạt chúng ta trong từng giờ phút mặc dù nó được che đậy rất kỹ bằng nhiều chiêu bài tốt đẹp bên ngoài Nó tương tự như câu chuyện sau này Một viên chức nhà nước phê chuẩn cho ph p thực hiện thi công một nhà hát cao cấp với lý do để phục vụ sinh hoạt văn hóa vui chơi cho nhân dân

Cũng vậy, nếu x t thật kỹ động cơ thật sự của việc làm từ thiện, đôi khi chúng ta giật mình vì rõ ràng bản ngã vẫn mĩm cười ngạo nghễ Nó vẫn có một cái lợi gì đó Tuy nhiên, chúng ta không thể đòi h i ai cũng phải diệt sạch chấp ngã rồi mới làm việc từ thiện, vì x t cho cùng, việc làm từ thiện và việc trừ diệt ngã chấp h trợ lẫn cho nhau Nhờ biết diệt trừ chấp ngã, việc làm từ thiện sẽ hoàn hảo hơn và ngược lại, nhờ việc làm từ thiện mà chấp ngã mau chóng được trừ diệt hơn Chỉ có những người thiên lệch một chiều mới là đáng trách Hoặc họ chỉ biết nói là diệt trừ ngã chấp mà không bao giờ chịu làm lợi ích cho ai Hoặc họ chỉ biết làm việc từ thiện mà không bao giờ biết quay lại để diệt trừ chấp ngã

Nhiều người lầm tưởng rằng giải thoát là coi như vắng mặt kh i trần thế này Họ không thể cảm nhận được rằng Bản Thể Tuyệt Đối là sự cảm ứng tuyệt đối với tất cả mọi người, với tất cả vạn hữu Bậc giải thoát đã chan hòa

đễ trở thành tất cả mọi người, thường xuyên cảm ứng và ấp ủ mọi người trong lòng từ bi vô hạn của mình Tuy nhiên không phải vì thương yêu mọi người

Trang 39

mà bậc giải thoát trở thành một vị thần linh chuyên đáp ứng những nhu cầu vị

kỷ của mọi người

Luật Nghiệp Báo vẫn là chân lý tối hậu chi phối tất cả, con người phải thực sự là thượng đế của chính mình trong việc tạo cho mình một đời sống tốt đẹp bằng cách tu tạo phước và đức Không ai có thể đem lại cho mình hạnh phúc ngoài chính mình Chỉ có chính mình bằng cách tạo ra nhiều nghiệp phước, bằng cách đem niềm vui đến cho mọi người, mới làm cho mình trở lên

an vui hạnh lạc Sự thương yêu và gia hộ của bậc giải thoát chỉ có tính cách

h trợ mà thôi, vai trò trách nhiệm chính vẫn thuộc về trách nhiệm của mọi người

Sự đóng góp và giúp đỡ những cảnh đời khó khăn, hoạn nạn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam chính là xuất phát từ tư tưởng đại từ đại đức, từ bi, cứu khổ, cứu nạn của đạo Phật, đã góp phần xoa dịu những n i đau cho quần chúng nhân dân mắc phải nơi trần thế, tạo điều kiện để họ hòa nhập vào cộng đồng, xây dựng xã hội ngày càng công bằng, bình đẳng và văn minh hơn

Chính những hoạt động xã hội mang đậm tính nhân đạo đã góp phần giảm bớt tính chất thần bí, làm cho Phật giáo không xa lánh với cuộc sống đời thường, gần gũi với nhân dân Xu hướng thế tục hóa của Phật giáo một mặt thúc đẩy các tín đồ gắn liền, không thoát ly công cuộc đổi mới của đất nước, mặt khác giúp họ nhận rõ hơn nghĩa vụ, trách nhiệm của người công dân đối với đất nước, đối với dân tộc Bên cạnh các hoạt động tôn giáo, các tín đồ Phật tử phải chăm lo công việc đời thường, làm theo lẽ đời, theo phương châm Đạo pháp – Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội Chính xu hướng thế tục hóa

sẽ đem lại nhiều cơ hội cho Phật giáo để mở rộng ảnh hưởng của mình trong quần chúng nhân dân

Có thể nói tư tưởng giải thoát nhìn chung vẫn phát huy được mặt tích cực và nó vẫn đang hòa nhập với nền đạo đức, văn hóa hiện đại của dân tộc

Trang 40

Việt Nam, tạo nên cốt cách và dáng dấp của con người Việt Nam Điều này cũng trùng hợp với khẳng định của Giáo sư Hoàng Như Mai: Những điều đạo Phật dạy đều nhân bản (nếu hiểu rõ, hiểu đúng), và phù hợp hoàn toàn với những yêu cầu giáo dục đào tạo con người của nước ta và thế giới hiện nay… Thiết nghĩ nếu những giới luật của đạo Phật mà được thấm nhuần một phần nào vào nhân loại thì xã hội sẽ giảm đi biết bao nhiêu tội ác và cuộc sống sẽ lương thiện thuận hòa hơn thế này nhiều

Tuy nhiên, trong bối cảnh mới Lokayata và Jaina cũng như Phật giáo

đã có sự cải biến, đổi mới cả về giáo lý, lễ nghi để thích nghi với hoàn cảnh mới, điều kiện mới Sự biến đổi ảnh hưởng đó diễn ra ở cả hai chiều trái ngược nhau Một mặt, sự biến đổi đó diễn ra theo chiều hướng tích cực, đó là

xu hướng đạo gắn với đời, việc tu tập của người tín đồ không xa lánh trần tục, không thoát ly sự nghiệp đổi mới của đất nước, người tín đồ ngoài việc lo hành đạo còn phải thực hiện tốt trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân

Mặt khác, trong xu hướng nhập thế, cũng nảy sinh không ít hiện tượng tiêu cực như một số người lợi dụng chính sách tự do tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước, vô tình hay hữu ý tiếp tay cho các thế lực thù địch ở bên ngoài có những hành vi gây rối, âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Điều đó đòi h i Đảng

và Nhà nước là phải tìm ra các giải pháp để phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế và đẩy lùi ảnh hưởng tiêu cực mà sự biến đổi nhân sinh quan của nhân sinh quan trong các giáo phái của Ấn Độ gây ra Trên cơ sở nắm vững nội dung nguyên lý cơ bản của giáo phái để phát huy những giá trị của nó trong đời sống xã hội, góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Ngày nay, khi đất nước đã có sự đổi mới, nền kinh tế thị trường đang

Ngày đăng: 26/11/2017, 02:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w