Trên thực tế, các doanh nghiệp ở các nước phát triển đã xây dựng hệ thống KTQT, cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản trị nội bộ để trợ giúp họ trong việc lập kế hoạch, tổ chức thự
Trang 1Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Lê Thị Hồng Minh
Trang 3BHYT Bảo hiểm y tế
Công ty Công ty cổ phần thủy sản và thương mại Thuận Phước, thành
Trang 42.1 Bảng tính giá thành sản phẩm đông lạnh 51
2.9 Bảng tổng hợp chi phí tại Xí nghiệp Đông lạnh 32
2.10 Bảng theo dõi tổng hợp chi phí năm 2011 tại Công ty 64
2.11 Báo cáo kết quả kinh doanh Xí nghiệp Đông lạnh 32
3.1 Bảng phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí của
3.2 Bảng dự toán biến phí đơn vị cho các mặt hàng năm
3.3 Bảng dự toán chi phí linh hoạt cho các mặt hàng năm
Trang 5DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Trang 62.2 38
Trang 7MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong nền kinh tế thị trường, với xu thế toàn cầu hóa hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải tận dụng mọi cơ hội, huy động và sử dụng tối ưu các nguồn lực bên trong cũng như bên ngoài để đứng vững, chiến thắng trong cạnh tranh và không ngừng phát triển nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận Mọi doanh nghiệp luôn phải tối ưu hoá hoạt động, không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh trên cơ sở chiến lược, sách lược quản trị DN đúng đắn
Trên thực tế, các doanh nghiệp ở các nước phát triển đã xây dựng hệ thống KTQT, cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản trị nội bộ để trợ giúp họ trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch và kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch, từ đó có những quyết định đúng đắn trong hoạt động sản xuất kinh doanh Còn ở nước ta trước những năm 1990, với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các đơn vị không phải chịu sức ép cạnh tranh nên không thấy nhu cầu cần phải có hệ thống KTQT Cùng với sự đổi mới nền kinh tế sang cơ chế thị trường, khái niệm về KTQT và KTQT trị chi phí xuất hiện tại nước ta từ đầu những năm 1990 Đến ngày 12 tháng 6 năm
2006, Bộ Tài Chính đã ban hành Thông tư số 53/2006 TT-BTC về việc
“hướng dẫn áp dụng KTQT trong doanh nghiệp'', nhưng việc triển khai, áp
dụng cụ thể vào từng loại hình doanh nghiệp vẫn còn rất nhiều hạn chế
Hiện nay, tại Công ty cổ phần thủy sản và thương mại Thuận Phước,
Đà Nẵng, công tác tổ chức kế toán quản trị chi phí còn chưa được quan tâm đúng mức, chưa thực sự là công cụ cung cấp thông tin giúp cho nhà quản trị xem xét, phân tích, làm cơ sở ra các quyết định Điều này có ảnh hưởng đáng
kể tới chất lượng và hiệu quả của các quyết định quản trị và là một trong các
Trang 8nguyên nhân làm cho sức cạnh tranh của Công ty còn hạn chế khi tham gia thị trường nội điạ cũng như thị trường thế giới.
Nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin có chất lượng cao, chính xác, kịp thời, dễ hiểu, dễ sử dụng cho các nhà quản trị tại Công ty cổ phần
thủy sản và thương mại Thuận Phước, thành phố Đà Nẵng, vấn đề “Tổ chức
kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần thủy sản và thương mại Thuận
Phước, thành phố Đà Nẵng” thực sự là vấn đề cấp thiết cần đựơc sớm
nghiên cứu và đưa vào thực hiện
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận của KTQT chi phí đối với loại hình sản xuất kinh doanh trong việc phục vụ công tác quản trị doanh nghiệp
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng tổ chức KTQT chi phí tại Công ty
cổ phần thuỷ sản và thương mại Thuận Phước, thành phố Đà Nẵng để tìm ra những vấn đề còn hạn chế trong công tác KTQT
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện KTQT chi phí nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị chi phí tại Công ty
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về
KTQT chi phí và hoàn thiện KTQT chi phí ở một Công ty có nhiều đặc thù:
Công ty cổ phần thuỷ sản và thương mại Thuận Phước, thành phố Đà Nẵng.
- Phạm vi nghên cứu: Do thời gian có hạn, luận văn chỉ nghiên cứu
các vấn đề thuộc tổ chức KTQT phí tại Công ty cổ phần thủy sản và thương
mại Thuận Phước, thành phố Đà Nẵng ở lĩnh vực sản xuất, chế biến hàng
thủy sản; không nghiên cứu các lĩnh vực như : gia công hàng thủy sản và một số lĩnh vực khác tại công ty
Trang 94 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, các phương pháp cụ thể được sử dụng bao gồm: Phương pháp hệ thống hoá, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, tiếp cận thu thập thông tin… nhằm khái quát lý luận, tổng kết thực tiễn ; để từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện thực tiễn
5 KẾT CẤU LUẬN VĂN
Với đề tài “ Tổ chức kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần thuỷ
sản và thương mại Thuận Phước, thành phố Đà Nẵng”, ngoài phần mở
đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu, từ viết tắt và phụ lục, Luận văn có kết cấu 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí và tổ chức kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp.
- Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ
phần thuỷ sản và thương mại Thuận Phước, thành phố Đà Nẵng.
- Chương 3: Một số ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần thuỷ sản và thương mại Thuận Phước, thành phố Đà Nẵng.
6 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Nhằm giúp các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh tổ chức tốt công tác KTQT, ngày 12/6/2006, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 53/2006/TT-BTC Thông tư nêu rõ nguyên tắc tổ chức thông tin KTQT không bắt buộc phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán và có thể thực hiện theo những quy định nội bộ của DN nhằm xây dựng hệ thống thông tin quản lý thích hợp theo yêu cầu cụ thể của DN DN có quyền quyết định việc vận dụng các chứng từ kế toán, tổ chức hệ thống sổ kế toán, vận dụng và chi tiết hóa các tài khoản kế toán, thiết kế các mẫu báo cáo KTQT cần thiết để phục vụ cho
Trang 10KTQT; được sử dụng mọi thông tin, số liệu của kế toán tài chính để phối hợp và phục vụ cho KTQT.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đến vấn đề
này như : giáo trình “Kế toán quản trị” của GS.TS Trương Bá Thanh, Phạm
Văn Dược, Bùi Xuân Trường, Đoàn Xuân Tiên đã nghiên cứu bản chất, nội dung và vận dụng KTQT trong điều kiện ở Việt Nam Các giáo trình được biên soạn trên cơ sở tham khảo nhiều tài liệu KTQT ở các nước có nền kinh tế phát triển; đồng thời, kết hợp những quy định trong thông tư hướng dẫn KTQT ở Việt Nam Các vấn đề về KTQT được đề cập là : công tác xây dựng dự toán bộ phận và dự toán tổng thể trong DN; tập hợp, hạch toán chi phí, tính giá thành theo nhiều phương pháp; phân tích biến động chi phí để tìm ra các nguyên nhân chênh lệch nhằm cung cấp thông tin cho việc điều hành, quản trị DN; cung cấp các thông tin thích hợp cho việc ra các quyết định; phân tích mối quan hệ chi phí – sản lượng - lợi nhuận (CVP); tổ chức
bộ máy KTQT
Ngay từ những năm 1990 đến nay, một số DN đã và đang vận dụng KTQT chi phí vào đơn vị mình Tuy nhiên, vẫn còn một số DN chưa thấy được tầm quan trong của KTQT chi phí đối với công tác quản lý DN Do đó, KTQT chi phí luôn là vấn đề mới mẻ đối với các DN Việt Nam Đó cũng là
lý do mà nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu về lý luận cũng như vận dụng vào thực tế công tác KTQT chi phí trong các DN sản xuất kinh doanh ở Việt Nam với nhiều góc độ khác nhau như : Tác giả Phạm Quang (năm 2002)
nghiên cứu về “Phương hướng xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị
và tổ chức vận dụng vào các doanh nghiệp Việt Nam”, tác giả Trần Văn
Dung (năm 2002) nghiên cứu về “Tổ chức kế toán quản trị và giá thành
trong doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam”, tác giả Lê Đức Toàn (năm 2002)
Trang 11nghiên cứu về “ Kế toán quản trị và phân tích chi phí sản xuất trong ngành
sản xuất công nghiệp ở Việt Nam”
Có một số công trình nghiên cứu ứng dụng kế toán quản trị trong các
ngành cụ thể, như tác giả Phạm Thị Kim Vân (năm 2002) nghiên cứu về “Tổ
chức kế toán quản trị chi phí và kết quả kinh doanh ở các doanh nghiệp kinh doanh du lịch”, tác giả Nguyễn Văn Bảo (năm 2002) với luận án “Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính và kế toán quản trị trong doanh nghiệp nhà nước về xây dựng”
Tuy đã có một số tác giả nghiên cứu về KTQT, nhưng về mặt pháp lý, KTQT chỉ được định nghĩa chính thức trong Luật kế toán ban hành ngày 17/06/2003, đây là lần đầu tiên KTQT được chính thức thừa nhận Mặc dù ra đời khá muộn so với các nước có nền kinh tế phát triển, nhưng KTQT ở Việt Nam lại có cơ sở tiếp cận và ứng dụng các kỹ thuật đã được áp dụng thành công ở các nước phát triển
Đề tài nghiên cứu KTQT cũng đã được nhiều học viên cao học, nghiên cứu sinh chọn nghiên cứu như: tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga (năm
2004) nghiên cứu “Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị trong các doanh
nghiệp dầu khí Việt Nam”, tác giả Dương Thị Mai Hà Trâm (năm 2004)
nghiên cứu “Xây dựng hệ thống kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Dệt
Việt Nam”, tác giả Nguyễn Thanh Quí (năm 2004) nghiên cứu “Xây dựng hệ thống thông tin kinh tế phục vụ quản trị doanh nghiệp kinh doanh bưu chính viễn thông” Trong các công trình này, các tác giả đã hệ thống các nội dung
cơ bản của kế toán quản trị và đề xuất phương hướng ứng dụng kế toán quản trị vào các ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của các đề tài Tác giả
Phạm Thị Thủy (2007) với luận án “ Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi
phí trong các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam”, trong công trình
này tác giả đã xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí cho các doanh
Trang 12nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam, đó là tăng cường kiểm soát chi phí thông qua việc phân loại chi phí, lập dự toán chi phí, phân tích biến động chi phí, xác định qui mô hợp lý cho từng lô sản xuất Tác giả Ngô Thị Hường
(2010) nghiên cứu về “Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí ở Công
ty Cổ phần bia Phú Minh”
Tất cả các nghiên cứu này đã khái quát được các vấn đề lý luận chung
về KTQT chi phí, thấy được tầm quan trọng của KTQT chi phí trong việc cung cấp thông tin về chi phí cho nhà quản trị DN Các tác giả cũng nêu rõ nội dung của KTQT chi phí như phân loại chi phí, lập dự toán chi phí, lập các báo cáo, phân tích chi phí để làm cơ sở kiểm tra đánh giá chi phí
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về công tác tổ chức kế toán quản trị chi phí áp dụng tại Công ty cổ phần thủy sản và thương mại Thuận Phước, Đà Nẵng Trên cơ sở kế thừa những lý luận về KTQT nói chung và
tổ chức KTQT chi phí nói riêng, cũng như nghiên cứu thực trạng tổ chức KTQT chi phí tại Công ty; tác giả đưa ra những giải pháp hoàn thiện tổ chức
kế toán quản trị chi phí gắn liền với việc tăng cường quản trị doanh nghiệp tại Công ty, phù hợp với tình hình thực tế của công ty trên các nội dung : phân loại chi phí theo yêu cầu KTQT, công tác lập dự toán chi phí, kiểm tra, kiểm soát chi phí và phân tích các thông tin chi phí phục vụ cho quá trình ra quyết định của nhà quản trị, hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí Qua các nội dung nghiên cứu này sẽ giúp cho công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty được hoàn thiện hơn
Trang 13CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ VÀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN VỀ KTQT
1.1.1 Khái niệm và bản chất của KTQT
a Khái niệm
Kế toán quản trị là bộ phận của hệ thống kế toán nhằm thu thập, xử
lý, truyền đạt các thông tin về tình hình tài sản, tình hình sử dụng các nguồn lực cho hoạt động kinh doanh phục vụ cho công tác quản trị của doanh nghiệp
Theo Hiệp hội kế toán Mỹ định nghĩa : “Kế toán quản trị là quá trình
định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban quản trị để lập kế hoạch, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một DN, đảm bảo việc
sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này”.
Ở Việt Nam, quan điểm về TQT được thể hiện tại Luật kế toán số
03/2003/QH11 ngày 17 tháng 6 năm 2003 như sau: ”Kế toán quản trị là việc
thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu quản trị
và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” [ 7, tr 5-7 ].
Việc áp dụng KTQT tại Việt Nam được hướng dẫn tại Thông tư số 53/2006/TT-BTC ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn áp dụng KTQT trong doanh nghiệp
b Bản chất
KTQT được lập ra nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản lý tại DN thông qua các báo cáo nội bộ và tham gia vào công tác quản trị tại DN : từ khâu lập kế hoạch đến điều hành, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định
Trang 14KTQT chủ yếu phục vụ các nhà quản lý để ra quyết định nên không nhất thiết phải tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán Thông tin, hình thức của các báo cáo KTQT luôn thay đổi, tuỳ thuộc vào dạng quyết định và ý muốn chủ quan của nhà quản lý.
Các thông tin của KTQT phản ánh những sự kiện đã, đang và sắp xảy ra; những chứng từ kế toán là không bắt buộc đối với KTQT Do đó, thông tin KTQT mang tính linh hoạt, kịp thời và không chỉ thể hiện dưới hình thái giá trị mà còn dưới hình thái hiện vật hoặc các hình thái phi tiền tệ khác
Về chế độ báo cáo : KTQT buộc phải cung cấp thông tin thường xuyên, liên tục vào bất kỳ thời điểm nào tuỳ thuộc vào yêu cầu của nhà quản
lý : đột xuất, hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng…
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của KTQT
* Cung cấp thông tin cho việc lập dự toán
Dự toán chi phí sản xuất thường được thể hiện dưới dạng các dự toán
Đó là sự liên kết các mục tiêu lại với nhau và chỉ rõ cách thức huy động và
sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đó Dự toán là công việc quan trong trong việc lập kế hoạch kinh doanh Dự toán là nội dung quan trọng trong chức năng quản trị Để xây dựng được dự toán một cách sát thực, khoa học, có tính khả thi cao thì các thông tin kế toán quản trị là một nguồn thông tin vô cùng quan trọng
Trang 15* Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện
Quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các nguồn lực để đạt tới mục tiêu đã định của doanh nghiệp Trong quá trình điều hành sản xuất, nhà quản trị phải nắm chắc tình hình sử dụng các nguồn lực và có các quyết định điều chỉnh nhằm đạt tới mục tiêu với hiệu quả cao, quá trình này thông tin KTT là kênh vô cùng quan trọng và là nhu cầu không thể thiếu được của các nhà quản trị
* Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát
Kiểm soát là chức năng quan trọng của công tác quản trị Phương pháp được áp dụng thường là phương pháp so sánh, các thông tin thực hiện sản xuất kinh doanh được so sánh với các chỉ tiêu kế hoạch, số liệu của dự toán, từ đó nhận diện và tìm ra nguyên nhân sự chênh lệch để có giải pháp điều chỉnh KTQT cung cấp thông tin dưới dạng có thể so sánh được, các cấp quản trị có thể dễ dàng kiểm tra, đối chiếu để có các quyết định kịp thời, chính xác nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
* Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định
Ra quyết định không phải là chức năng riêng biệt của quản trị, nó là sự kết hợp của cả quá trình lập dự toán, tổ chức thực hiện và kiểm soát Để cung cấp thông tin cho việc ra quyết định, kế toán quản trị sử dụng các phương pháp phân tích thích hợp, chọn lọc thông tin cần thiết, rồi trình bày theo những tiêu thức nhất định, dễ hiểu, tiến hành các kỹ thuật phân tích trong các tình huống khác nhau và cung cấp cho nhà quản trị
b Nhiệm vụ
Nhiệm vụ cơ bản của KTQT là cung cấp thông tin tài chính cho các nhà quản trị Do vậy, các doanh nghiệp cần thiết phải tổ chức được hệ thống KTQT để thiết lập dự toán ngân sách, chi phí, dự toán tiêu thụ sản phẩm, dự toán doanh thu và KQKD cho từng công đoạn SX, từng thời kỳ hoạt động
Trang 161.1.3 Đối tượng và phương pháp KTQT
a Đối tượng
KTQT là một bộ phận của của kế toán, tập trung vào việc xem xét quá trình vận động của tài sản trong quá trình tạo ra giá trị của DN Như vậy, đối tượng của KTQT là chi phí trong mối quan hệ đến việc hình thành giá trị
Chi phí có thể được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng việc xem xét chi phí trong mối quan hệ với khối lượng hay mức độ hoạt động và với lợi nhuận được xem là đối tượng chủ yếu của KTQT
- Ngoài ra, phương pháp KTQT còn thường dùng theo cách ước đoán,
mô phỏng, gần đúng, dự báo xu hướng, biến động đánh giá trên cơ sở xác xuất trong doanh nghiệp và môi trường xung quanh
1.2 KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP
1.2.1 Khái niệm chi phí và KTQT chi phí
Chi phí có thể được hiểu là giá trị của một nguồn lực bị tiêu dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức để đạt được mục đích nào đó Bản chất của chi phí là phải mất đi để đổi lấy một kết quả Kết quả có thể
Trang 17dưới dạng vật chất như sản phẩm, tiền hoặc không có dạng vật chất như kiến thức, dịch vụ được phục vụ…
Trong KTQT, chi phí được phân loại và sử dụng theo nhiều tiêu thức khác nhau nhằm cung cấp những thông tin phù hợp với nhu cầu đa dạng trong các thời điểm khác nhau của quản lý nội bộ DN
KTQT chi phí là một bộ phận của KTQT chuyên thực hiện xử lý và cung cấp các thông tin về chi phí nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng quản trị Đối với những người quản lý thì các chi phí là mối quan tâm hàng đầu, bởi vì lợi nhuận thu được nhiều hay ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của những chi phí đã chi ra Do đó, vấn đề đặt ra là làm sao kiểm soát được các khoản chi phí Nhận diện, phân tích các hoạt động sinh ra chi phí là mấu chốt để có thể quản lý chi phí, từ đó có những quyết định đúng đắn trong hoạt động SXKD của DN
1.2.2 Phân loại chi phí
a Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
* Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất bao gồm ba khoản mục: Chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung
Chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao
gồm các loại nguyên liệu và vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm
Chi phí nhân công trực tiếp: Khoản mục chi phí này bào gồm tiền
lương và những khoản trích theo lương phải trả cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm
Chi phí sản xuất chung: Là các chi phí phục vụ và quản lý quá trình
sản xuất sản phẩm phát sinh trong phạm vi các phân xưởng Khoản mục chi phí này bao gồm: chi phí vật liệu phục vụ quá trinh sản xuất hoặc quản lý
Trang 18sản xuất, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí khấu hao, sửa chữa và bảo trì máy móc thiết bị, nhà xưởng, chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ SX và quản lý ở phân xưởng,
* Chi phí ngoài sản xuất
Đây là các chi phí phát sinh ngoài quá trình SX sản phẩm liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung toàn
DN Thuộc loại chi phí này gồm: chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN
Chi phí bán hàng: bao gồm các chi phí phát sinh phục vụ cho khâu
tiêu thụ sản phẩm Có thể kể đến các chi phí như : chi phí vận chuyển, bốc
dỡ thành phẩm giao cho khách hàng, chi phí bao bì, khấu hao phương tiện vận chuyển, tiền lương nhân viên bán hàng, hoa hồng bán hàng, chi phí tiếp thị, quảng cáo
Chi phí quản lý doanh nghiệp: là tất cả các chi phí phục vụ cho công
tác tổ chức và quản lý quá trình sản xuất kinh doanh nói chung trong phạm
vi toàn DN Bao gồm các chi phí như: chi phí văn phòng, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý doanh nghiệp, khấu hao tài sản
cố định phục vụ cho quản lý DN, các chi phí dịch vụ mua ngoài khác, …
Cách phân loại này giúp nhà quản trị xác định rõ vai trò, chức năng hoạt động của chi phí trong quá trình hoạt động SXKD ở doanh nghiệp, đồng thời cung cấp thông tin có hệ thống cho việc lập báo cáo tài chính
b Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí: Xét theo cách ứng
xử, chi phí của DN được chia thành ba loại: Chi phí khả biến, chi phí bất biến và chi phí hỗn hợp
Chi phí khả biến (Biến phí) : là các chi phí có sự thay đổi tỉ lệ với các
mức độ hoạt động [10, tr 44 - 45] Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có các hoạt động xảy ra Tổng số chi phí khả biến sẽ tăng (hoặc giảm) tương ứng
Trang 19với sự tăng (hoặc giảm) của mức độ hoạt động, chi phí khả biến tính theo đơn vị của mức độ hoạt động thì không thay đổi.
Chi phí bất biến (Định phí): là những chi phí không có sự thay đổi
theo các mức độ hoạt động đạt được Vì tổng số chi phí bất biến là không thay đổi cho nên, khi mức độ hoạt động tăng thì chi phí bất biến tính theo đơn vị các mức độ hoạt động sẽ giảm và ngược lại Trong các DN sản xuất, các loại chi phí bất biến thường gặp là : chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí tiền
lương nhân viên quản lý, chi phí quảng cáo, …
Chi phí hỗn hợp: là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm cả
yếu tố chi phí khả biến và chi phí bất biến [ 10, tr 52 - 53] Ở một mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phí hỗn hợp mang đặc điểm của chi phí bất biến
và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phí hỗn hợp sẽ biến đổi chi phí như đặc điểm của chi phí khả biến Trong các DN sản xuất chi phí hỗn hợp cũng chiếm một tỉ lệ khá cao trong các loại chi phí, chẳng hạn như : chi phí điện thoại, chi phí bảo trì máy móc, thiết bị Nhằm phục vụ cho việc lập dự toán, phân tích và kiểm soát chi phí cần xác định chi phí hỗn hợp thành biến phí
và định phí Có 3 phương pháp để xác định như sau : phương pháp cực đại, cực tiểu; phương pháp đồ thị phân tán và phương pháp bình phương bé nhất
c Các cách phân loại chi phí trong kiểm tra và ra quyết định
* Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được : Một
khoản chi phí được xem là chi phí có thể kiểm soát được hoặc là chi phí không kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó là tùy thuộc vào khả năng cấp quản lý này có thể ra các quyết định để chi phối, tác động đến khoản chi phí đó hay là không Như vậy, nói đến khía cạnh quản lý chi phí bao giờ cũng gắn liền với một cấp quản lý nhất định: khoản chi phí mà ở một cấp quản lý nào đó có quyền ra quyết định để chi phối nó thì được gọi là chi phí kiểm soát được, nếu ngược lại thì gọi là chi phí không kiểm soát được
Trang 20* Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp: Trong các DN sản xuất, các
khoản chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến quá trình SX sản phẩm hoặc thực hiện các đơn đặt hàng, do vậy có thể tính trực tiếp cho từng loại sản phẩm hay từng đơn đặt hàng và được gọi là chi phí trực tiếp Ngược lại, các khoản chi phí phát sinh cho mục đích phục vụ và quản lý chung liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ nhiều loại sản phẩm, nhiều đơn đặt hàng cần được tiến hành phân bổ cho các đối tượng sử dụng chi phí theo các tiêu thức phân bổ phù hợp được gọi là chi phí gián tiếp
* Chi phí lặn: Khái niệm chi phí lặn chỉ nảy sinh khi ta xem xét các
chi phí gắn liền với các phương án hành động liên quan ra quyết định lựa chọn Chi phí lặn được xem như là khoản chi phí không thể tránh được cho
dù người quản lý quyết định lựa chọn thực hiện theo phương án nào Chính
vì vậy, chi phí lặn là loại chi phí không thích hợp cho việc xem xét, ra quyết định của người quản lý
* Chi phí chênh lệch: Tương tự như chi phí lặn, chi phí chênh lệch
(còn được gọi là chi phí khác biệt) cũng chỉ xuất hiện khi so sánh chi phí gắn liền với các phương án trong quyết định lựa chọn phương án tối ưu Chi phí chênh lệch được hiểu là phần giá trị khác nhau của các loại chi phí của một phương án so với một phương án khác Người quản lý đưa ra các quyết định lựa chọn các phương án trên cơ sở phân tích bộ phận chi phí chênh lệch này nên chi phí chênh lệch là dạng thông tin thích hợp cho việc ra quyết đinh
* Chi phí cơ hội: Chi phí cơ hội là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi
khi lựa chọn thực hiện phương án này thay cho phương án khác Chi phí cơ hội là một yếu tố đòi hỏi luôn phải được tính đến trong mọi quyết định của quản lý Để đảm bảo chất lượng của các quyết định, việc hình dung và dự đoán hết tất cả các phương án hành động có thể có liên quan đến tình huống cần ra quyết định là quan trọng hàng đầu Có như vậy, phương án hành động
Trang 21được lựa chọn mới thực sự là tốt nhất khi so sánh với các khoản lợi ích mất
đi của tất cả các phương án bị loại bỏ
1.2.3 Nội dung KTQT chi phí trong doanh nghiệp
a Xây dựng định mức chi phí
Định mức chi phí là chi phí dự tính để sản xuất một sản phẩm hay thực hiện một dịch vụ cho khách hàng Định mức là cơ sở để DN lập dự toán hoạt động vì muốn lập dự toán chi phí nguyên vật liệu phải có định mức nguyên vật liệu, chi phí nhân công phải có định mức số giờ công giúp cho các nhà quản lý kiểm soát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vì chi phí định mức là tiêu chuẩn, cơ sở để đánh giá, góp phần thông tin kịp thời cho các nhà quản lý ra quyết định như : định giá bán sản phẩm, chấp nhận hay từ chối một đơn đặt hàng, phân tích khả năng sinh lời Đồng thời, gắn liền trách nhiệm của công nhân đối với việc sử dụng nguyên vật liệu sao cho tiết kiệm
* Lập dự toán chi phí sản xuất : nhằm xác định toàn bộ chi phí để SX
một khối lượng sản phẩm đã được xác định trước Chi phí này bao gồm 3 khoản mục là : chi phí NVLTT, chi phí NCTT và chi phí SXC
- Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: cần xác định rõ:
+ Định mức tiêu hao nguyên vật liệu để sản xuất một sản phẩm
+ Đơn giá xuất nguyên vật liệu (cần biết doanh nghiệp sử dụng phương pháp tính giá hàng tồn kho nào : phương pháp LIFO, FIFO, giá đích danh hay đơn giá bình quân)
Trang 22+ Mức độ dự trữ nguyên vật liệu trực tiếp vào cuối kỳ dự toán trên cơ
sở lý thuyết quản trị hàng tồn kho
- Dự toán cung cấp nguyên vật liệu: được lập cho từng loại nguyên
vật liệu cần thiết để thực hiện quá trình sản xuất trên cơ sở số nguyên vật liệu dự toán cần thiết sử dụng và chính sách dự trữ tồn kho của DN
Số tiền cần thiết phải chuẩn bị để mua nguyên vật liệu được tính toán dựa trên việc dự báo đơn giá mua nguyên vật liệu và dự toán mua NVLTT được xây dựng Đơn giá nguyên vật liệu là giá thanh toán với nhà cung cấp
- Dự toán chi phí nhân công trực tiếp: được xây dựng từ dự toán khối
lượng SX, nhằm duy trì lực lượng lao động vừa đủ để đáp ứng yêu cầu sản xuất, tránh tình trạng lãng phí trong sử dụng lao động Để lập dự toán chi phí NCTT, DNcần xây dựng: định mức lao động để sản xuất sản phẩm tiền công cho từng giờ lao động hoặc từng sản phẩm nếu DN trả lương theo sản phẩm
- Dự toán chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung bao gồm cả
yếu tố chi phí biến đổi và chi phí cố định, nên dự toán chi phí SXC phải tính đến cách ứng xử chi phí để xây dựng mức phí dự toán hợp lý trong kỳ Có thể phân biệt biến phí và định phí sản xuất chung trong việc lập dự toán
Biến phí SXC có thể được xây dựng theo từng yếu tố chi phí cho một đơn vị hoạt động (chi phí vật liệu gián tiếp, chi phí NCTT…) Khi dự toán biến phí này, người ta thường xác lập biến phí cho từng đơn vị hoạt động
Dự toán định phí SXC cần thiết phải phân biệt định phí bắt buộc và định phí tuỳ ý Định phí bắt buộc, trên cơ sở định phí cả năm chia đều cho 4 quý (nếu là dự toán quý) hoặc chia đều cho 12 tháng (nếu là dự toán tháng) Định phí tuỳ ý phải căn cứ vào kế hoạch của nhà quản trị trong kỳ dự toán
Dự toán định phí hàng năm có thể được lập dựa vào mức độ tăng, giảm liên quan đến việc trang bị, đầu tư mới ở DN
Trang 23* Dự toán chi phí bán hàng : nhằm phản ánh các chi phí liên quan đến
việc tiêu thụ sản phẩm dự tính của kỳ sau Dự toán này nhằm mục đích tính trước và tập hợp các phương tiện chủ yếu trong quá trình bán hàng Dự toán này gồm dự toán biến phí bán hàng, định phí bán hàng
* Dự toán chi phí quản lý DN : Dự toán chi phí quản lý DN thường
phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức của DN Chi phí này liên quan đến toàn bộ
DN Việc lập dự toán biến phí quản lý DN thường dựa vào biến phí quản lý đơn vị nhân với sản lượng tiêu thụ dự kiến Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp gồm dự toán biến phí quản lý DN và định phí quản lý DN
* Dự toán chi phí tài chính: Để lập dự toán chi phí tài chính cần quan
tâm đến chi phí lãi vay Cơ sở để lập dự toán chi phí lãi vay là số tiền cần vay dài hạn và ngắn hạn trong mỗi kỳ lập dự toán cũng như lãi suất vay phải trả cho từng khoản vay
c Tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm
* Đối tượng tập hợp chi phí
Đối tượng tập hợp chi phí là phạm vi được xác định trước để tập hợp chi phí Xác định giới hạn các bộ phận chịu chi phí hoặc các đối tượng chịu chi phí là cơ sở cho việc tính giá thành
Xác định đối tượng tập hợp chi phí là khâu rất quan trọng trong toàn bộ
tổ chức công tác KTQT chi phí và tính giá thành sản phẩm, dịch vụ Khi xác định đối tượng tập hợp chi phí, kế toán phải dựa trên các yếu tố sau:
- Phân cấp quản lý và yêu cầu quản lý đối với các bộ phận của tổ chức
- Quy trình cung cấp dịch vụ trong doanh nghiệp
- Đơn vị tính giá thành áp dụng trong doanh nghiệp
Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí là cơ sở, tiền đề quan trọng để kiểm soát quá trình chi phí, tăng cường trách nhiệm vật chất đối với các bộ
Trang 24phận, đồng thời cung cấp số liệu cần thiết cho việc tính các chỉ tiêu giá thành theo yêu cầu quản trị DN.
* Đối tượng tính giá thành
Đối tượng tính giá thành là các sản phẩm, công việc, dịch vụ hoàn thành trong kỳ cần tính tổng giá thành và giá thành đơn vị Việc xác định đối tượng tính giá thành ở từng DN cụ thể cũng phải dựa vào rất nhiều nhân tố: đặc điểm dịch vụ, các yêu cầu quản lý và cung cấp thông tin cho việc ra quyết định, khả năng và trình độ quản lý, hạch toán
* Tập hợp chi phí
- Tập hợp chi phí NVLTT : Chi phí NVLTT trong dịch vụ là chi phí thực phẩm, nhiên liệu và được tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng liên quan Chi phí định mức, chi phí kế hoạch… là các tiêu thức phân bổ thường
sử dụng trong trường hợp phân bổ gián tiếp
- Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp: là các chi phí lương phải trả cho công nhân trực tiếp tạo ra dịch vụ cho khách hàng Đây là chi phí trực tiếp nên được tính vào từng đối tượng chịu chi phí liên quan Trường hợp chi phí NCTT có liên quan đến nhiều đối tượng thì tập hợp chung và phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí theo các tiêu thức phù hợp: doanh thu thực tế, giờ công lao động
- Tập hợp chi phí SXC: là chi phí cần thiết cho quá trình sản xuất sản phẩm dịch vụ: tiền lương phải trả và các khoản trích theo lương của nhân viên, bảo trì, sửa chữa; chi phí điện, nước phục vụ công tác chế biến, sửa chữa; khấu hao nhà xưởng, phương tiện sửa chữa; chi phí vật tư, phụ tùng thay thế, bảo hiểm tài sản Nếu DN chỉ tiến hành sản xuất một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định thì chi phí SXC này là chi phí trực tiếp và được kết chuyển trực tiếp cho loại sản phẩm, dịch vụ đó
Công việc tập hợp chi phí là cơ sở để KTQT có thể tính giá thành theo
Trang 25những yêu cầu khác nhau của quản lý Kế toán sử dụng các TK 621, TK 622,
TK 627 chi tiết theo từng đối tượng tập hợp
* Tính giá thành
- Tính giá thành theo phương pháp tính giá trực tiếp: Phương pháp
tính giá trực tiếp là phương pháp mà các chi phí biến đổi liên quan đến SX
dịch vụ được tính vào giá thành dịch vụ hoàn thành Nhưng các chi phí SXC
cố định không tính vào giá thành dịch vụ hoàn thành
= + +
Chi phí dịch vụ khi phát sinh thì phân loại theo cách ứng xử chi phí, các chi phí SX biến đổi sẽ tập hợp theo từng đối tượng tập hợp chi phí Phần định phí SXC sẽ tập hợp riêng để phục vụ các yêu cầu khác trong KTQT vì chi phí này hầu như ít thay đổi khi có sự thay đổi quy mô đầu tư Đến cuối
kỳ, kế toán tách chi phí thành biến phí và định phí Tổng hợp toàn bộ biến phí đó để tính giá thành dịch vụ trên cơ sở đó để lập báo cáo giá thành dịch
vụ theo khoản mục:
Giá thành đơn Tổng biến phí dịch vụ
vị dịch vụ = Sản lượng tương đương hoàn thành trong kỳ
Cách xác định giá thành này được tính toán đơn giản, nhanh chóng là
cơ sở xác định điểm hòa vốn và cung cấp số liệu cho các nhà quản lý ra quyết định ngắn hạn
- Tính giá thành theo phương pháp toàn bộ
Giá thành dịch vụ theo phương pháp này thì dựa trên toàn bộ các chi phí liên quan đến khối lượng dịch vụ hoàn thành trong kỳ Cụ thể là chi phí NVLTT, chi phí NCTT và chi phí SXC Trên phương diện kế toán quản trị phương pháp này được xem là cách tính đầy đủ các chi phí sản xuất làm cơ
Giá thành dịch vụ
hoàn thành
Chí phí NVLTT
Chi phí NCTT
Biến phí SXC
Trang 26sở định giá bán sản phẩm, đánh giá hiệu quả nội bộ, kiểm soát chi phí theo từng trung tâm chi phí và ra quyết định Nhưng phương pháp này không đáp ứng nhu cầu thông tin về chi phí của đơn vị khi các tình huống quy mô sản xuất, quy trình công nghệ, chất lượng dịch vụ, sản phẩm khác nhau; có sự cạnh tranh về giá trong việc tìm kiếm thị trường dẫn đến chi phí đơn vị kết quả từng mặt hàng sẽ không chính xác Công thức tính giá thành dịch vụ theo phương pháp tính giá toàn bộ:
= + + + +
Phương pháp tính giá toàn bộ gồm có hai hệ thống tính giá thành dịch vụ:
- Tính giá thành sản phẩm giản đơn, dịch vụ: phương pháp này được thực hiện đối với trường hợp hoạt động cung cấp dịch vụ của đơn vị đơn giản Đối tượng tập hợp chi phí SX phù hợp với đối tượng tính giá thành, chi phí sản xuất được tập hợp cho toàn bộ hoạt động cung cấp dịch vụ, đối tượng tính giá thành là khối lượng sản phẩm hoàn thành của quá trình sản xuất đó
- Căn cứ vào số liệu chi phí sản xuất đã tập hợp được, giá thành sản xuất của sản phẩm dịch vụ được tính theo công thức sau:
Tổng giá Chi phí Chi phí Chi phí Thành = sản xuất + sản xuất - sản xuất
SP DDĐK PS trong kỳ CK Giá thành Tổng giá thành sản phẩm
Đơn vị =
sản phẩm Sản lượng sản phẩm sản xuất
- Tính giá thành theo công việc (đơn đặt hàng): Trên thực tế nhiều đơn
vị sản xuất có thể tiến hành sản xuất đồng thời nhiều công việc khác nhau
Giá thành
dịch vụ hoàn
thành
Chi phí NVLTT
Chi phí NCTT
Chi phí SXC
Trang 27theo yêu cầu của từng đơn đặt hàng nên có thể phát sinh những chi phí chung cho nhiều đơn đặt hàng khác nhau Do vậy, để tập hợp chi phí sản xuất theo từng đơn đặt hàng cần quan tâm đến tính trực tiếp hay gián tiếp chi phí
Khi sản xuất sản phẩm theo đơn đặt hàng, bộ phận kế toán mở phiếu kế toán theo dõi chi phí theo từng đơn đặt hàng, từng công việc Phiếu chi phí công việc được lập khi phòng kế toán nhận được thông báo và lệnh sản xuất được phát ra cho công việc đó Lệnh sản xuất chỉ được phát ra khi có đơn đặt hàng của khách hàng Mỗi đơn đặt hàng được lập một phiếu chi phí theo công việc (đơn đặt hàng), thực chất là sổ kế toán chi tiết để tập hợp toàn bộ chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC tham gia vào sản xuất sản phẩm phục vụ cho việc tổng hợp các chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng và được lưu trữ khi đang sản xuất sản phẩm Đến cuối tháng, sản phẩm hoàn thành thì toàn bộ chi phí tập hợp trên phiếu chi phí công việc là tổng giá thành sản phẩm Còn những sản phẩm chưa hoàn thành thì toàn bộ chi phí tập hợp trên phiếu chi phí sẽ là giá trị sản phẩm dở dang
Tổng giá thành sản phẩm
Giá thành đơn vị sản phẩm =
Số lượng sản phẩm sản xuất Trường hợp sản phẩm trong từng đơn hàng có nhiều kích cỡ khác nhau thì có thể quy đổi các loại sản phẩm trong đơn hàng thành sản phẩm chuẩn
để tính giá Khi đó: Tổng giá thành sản phẩm i Giá thành đơn vị sản phẩm quy đổi =
Số lượng sản phẩm quy đổi Giá thành đơn vị sản phẩm i = Giá thành đơn vị sản phẩm quy đổi x Hệ số quy đổi
- Tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động (phương pháp ABC)
Trang 28Bước l: Nhận diện các chi phí trực tiếp Chi phí trực tiếp trong các
DN sản xuất thường bao gồm: chi phí NVLTT và chi phí NCTT Trong mỗi hoạt động, các chi phí này có thể nhận diện ngay khi phát sinh chi phí và được tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng tính giá thành
Bước 2: Nhận diện các hoạt động Nhận diện các hoạt động là yêu cầu cốt lõi của phương pháp ABC, theo đó kế toán quản trị phải phát hiện các hoạt động có yếu tố cơ bản làm phát sinh chi phí Yếu tố cơ bản đó thường gọi là nguồn sinh phí Tùy thuộc vào đặc điểm tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ mà mỗi DN có các hoạt động khác nhau Có những hoạt động thường gặp như: hoạt động khởi động máy ở phân xưởng, hoạt động kiểm tra chất lượng sản phẩm, hoạt động đặt hàng, hoạt động vận chuyển thành phẩm Chi phí phát sinh ở các hoạt động thực chất là chi phí chung, không thể tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng tính giá thành Các chi phí này liên quan đến nhiều đối tượng tính giá thành cho nên cần tập hợp theo từng hoạt động, sau đó mới tiến hành phân bổ
Bước 3: Chọn tiêu thức phân bổ Sau khi các chi phí gián tiếp được tập hợp theo từng nhóm hoạt động thì sẽ tiến hành lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí của từng nhóm hoạt động cho các đối tượng tính giá Đây là một bước quan trọng, trực tiếp tác động đến giá thành sản phẩm sản xuất của doanh nghiệp, vì nếu tiêu thức phân bổ không phù hợp dẫn đến chi phí gián tiếp phân bổ cho các sản phẩm sẽ bị sai lệch
Bước 4: Tính toán mức phân bổ Dựa trên cơ sở các nhóm hoạt động, chi phí gián tiếp được tập hợp cho từng nhóm sản phẩm và kế toán tiến hành tính toán tỉ lệ phân bổ Nếu hoạt động liên quan đến sản xuất một sản phẩm hoặc dịch vụ thì toàn bộ chi phí được kết chuyến cho sản phẩm hoặc dịch vụ
đó Nếu một hoạt động được sử dụng cho sản xuất nhiều loại sản phẩm hoặc
Trang 29dịch vụ thì chi phí được phân bổ cho mỗi loại sản phẩm (dịch vụ), dựa trên mức độ tiêu dùng hoạt động của từng loại sản phẩm (dịch vụ).
Bước 5: Tổng hợp tất cả các chi phí để tính giá thành sản phẩm
d Kiểm soát chi phí
Kiểm soát thực hiện dự toán chi phí nhằm phân tích sự tăng, giảm giữa số liệu kế hoạch, dự toán và số liệu thực hiện trong kỳ Từ đó, so sánh kết quả đạt được với mục tiêu đã đề ra Để thực hiện được điều này, các nhà quản trị DN cần những thông tin do KTQT chi phí cung cấp thông qua các báo cáo dưới dạng so sánh (báo cáo thực hiện định mức vật tư, báo cáo chi phí của các bộ phận, báo cáo kết quả sản xuất )
- Kiểm soát chi phí sản xuất
+ Kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trực tiếp : Chi phí NVLTT bao
gồm các chi phí nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ hao phí cho từng quá trình sản xuất Biến động của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể được kiểm tra, đánh giá gắn liền với các nhân tố giá và lượng có liên quan
Biến động về giá : là chênh lệch giữa giá NVLTT thực tế với giá NVLTT theo dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định
Ảnh hưởng biến động về giá có thể là âm hoặc dương Nếu ảnh hưởng là âm chứng tỏ giá vật liệu thực tế thấp hơn giá vật liệu dự toán Tình hình này được đánh giá tốt nếu chất lượng đảm bảo Ngược lại, ảnh hưởng dương thể hiện giá vật liệu tăng so với dự toán và sẽ làm tăng tổng chi phí
SX của DN
Biến động về lượng: là chênh lệch giữa lượng NVLTT thực tế với lượng NVLTT theo dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Nếu biến động về lượng là kết quả dương thể hiện lượng vật liệu sử dụng tiết kiệm so với dự toán và ngược lại Ngoài ra, khi tìm hiểu nguyên nhân của
Trang 30biến động về lượng cũng cần xét đến các nguyên nhân khách quan như : thiên tai, hoả hoạn, mất điện…
+ Kiểm soát chi phí nhân công trực tiếp : bao gồm chi phí lương và
các khoản trích theo lương tính vào chi phí như : BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ của công nhân trực tiếp vận hành từng quá trình SX Biến động của chi phí NCTT gắn liền với các nhân tố giá và lượng có liên quan
Nhân tố giá : là chênh lệch giữa giá giờ công lao động trực tiếp thực tế với dự toán để SX ra lượng sản phẩm nhất định Nếu ảnh hưởng tăng (giảm) giá là thể hiện sự lãng phí hoặc tiết kiệm chi phí NCTT Nhân tố giá tăng hay giảm được đánh giá là tốt hay không tốt phải căn cứ vào chất lượng công nhân tức là trình độ và năng lực làm việc của công nhân Nếu giá giảm so với dự toán nhưng chất lượng vẫn đảm bảo thì sự biến động đó là tốt và ngược lại
Nhân tố lượng : là chênh lệch giữa số giờ lao động trực tiếp thực tế với dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định
+ Kiểm soát chi phí sản xuất chung: Chi phí SXC biến động là do sự
biến động của biến phí SXC và biến động của định phí SXC
Biến phí sản xuất chung : thường thay đổi theo sự biến thiên của mức
độ hoạt động sản xuất của DN như : chi phí vật tư gián tiếp, tiền lương bộ phận quản lý trả theo sản phẩm gián tiếp, chi phí năng lượng thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất
Định phí sản xuất chung : là các khoản chi phí phục vụ và quản lý sản
xuất, thường không thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động trong phạm vi phù hợp Ví dụ như : tiền lương bộ phận quản lý phân xưởng trả theo thời gian, chi phí bảo hiểm, tiền thuê mặt bằng, khấu hao TSCĐ…
Kiểm soát định phí SXC nhằm đánh giá việc sử dụng năng lực TSCĐ
Trang 31* Kiểm soát chi phí chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN :
Tương tự kiểm soát chi phí sản xuất chung, biến động của chi phí bán hàng và chi phí QLDN là do biến động của cả biến phí và định phí
- Đối với biến phí bán hàng và biến phí quản lý DN : để công tác kiểm
tra, đánh giá thực sự có ý nghĩa thì công tác này cần tiến hành theo từng khoản mục chi phí cụ thể, theo từng nơi phát sinh chi phí Cũng như các chi phí khác, biến phí bán hàng và quản lý DN cũng được phân tích thành nhân
tố giá và nhân tố lượng
- Đối với định phí bán hàng và định phí quản lý DN : Kiểm tra, đánh giá các yếu tố này nhằm đánh giá năng lực sử dụng tài sản cố định và năng lực quản lý trong quá trình bán hàng và hoạt động quản lý nói chung Kỹ thuật phân tích định phí bán hàng và quản lý DN cũng tương tự như kỹ thuật
áp dụng đối với định phí sản xuất chung
* Kiểm soát chi phí tài chính : Nội dung hoạt động này cũng tương tự
hoạt động kiểm soát chi phí bán hàng và quản lý DN, do vậy phải xem xét đến các nhân tố ảnh hưởng đến biến phí tài chính và định phí tài chính Các kết luận này sẽ làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách tài chính cũng như điều chỉnh trong hoạt động tài chính của DN
e Thông tin kế toán quản trị với việc ra quyết định
Phân tích mối quan hệ chi phí – sản lượng – lợi nhuận ( phân tích CVP ) là một kỹ thuật được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của những thay đổi về chi phí, giá bán và sản lượng đối với lợi nhuận của DN
Thông qua nghiệp vụ phân tích mối quan hệ này, các nhà quản trị có cơ
sở cho việc đưa ra các quyết định quản trị ngắn hạn như có nên tiếp tục hoạt động kinh doanh, có nên chấp nhận một đơn hàng cung cấp dịch vụ hay không Việc phân tích này dựa trên việc cơ sở phân chia chi phí thành chi phí biến đổi và chi phí cố định và xác định chi phí sản xuất theo phương
Trang 32pháp trực tiếp.
Số dư đảm phí = doanh thu - biến phí
Số dư đảm phí biểu hiện mối quan hệ cơ bản của chi phí - khối lượng - lợi nhuận Nó biểu hiện những gì còn lại của doanh thu sau khi trừ đi chi phí biến đổi đã bỏ ra để tạo nên doanh thu đó
- Mức số dư đảm phí: Là chênh lệch giữa tổng doanh thu với tổng mức số dư đảm phí (hoặc chênh lệch giữa giá bán với số dư đảm phí một đơn vị sản phẩm)
- Tỷ lệ số dư đảm phí: Là mối quan hệ giữa tổng mức số dư đảm phí với tổng doanh thu, hoặc mối quan hệ giữa biến phí với đơn giá bán được thể hiện bằng tỷ lệ %
- Phân tích điểm hoà vốn: Điểm hoà vốn là điểm tại đó doanh thu đủ
bù đắp cho chi phí hoạt động kinh doanh đã bỏ ra trong điều kiện giá sản phẩm đựơc thị trường chấp nhận
Khi phân tích điểm hòa vốn các nhà quản trị tìm ra mối liên hệ của nhiều yếu tố tác động tới lợi nhuận, cho phép xác định vào thời điểm nào trong kỳ kinh doanh, ở mức sản xuất và tiệu thụ là bao nhiêu DN sẽ đạt được điểm hòa vốn, từ đó có các quyết định điều chỉnh trong điều hành SXKD nhằm đạt hiệu quả cao
Thông qua việc phân tích điểm hòa vốn, các nhà quản trị xác định được ranh giới giữa mức doanh thu tạo ra lợi nhuận và doanh thu không tạo
ra lợi nhuận, xác định được lượng sản phẩm hoặc doanh thu cần thiết để đạt được lợi tức mong muốn
Như vậy, phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận cung cấp thông tin cho nhà quản trị có những quyết định tốt hơn trong việc lựa chon kết cấu sản phẩm, mức sản lượng sản xuất để đạt mức lợi nhuận mong muốn trong những điều kiện giới hạn như : sự ổn định về cơ cấu các mặt
Trang 33hàng sản xuất, giá bán sản phẩm và định phí không thay đổi Mô hình phân tích thông tin thích hợp này sẽ hỗ trợ cho nhà quản trị trong việc phân tích và lựa chọn các thông tin thích hợp cho việc ra các quyết định kinh doanh.
Quá trình ra quyết định là việc lựa chọn từ nhiều phương án khác nhau, mỗi phương án được xem xét bao gồm rất nhiều thông tin của kế toán, trong đó thông tin về chi phí luôn là yếu tố chính mà các doanh nghiệp cần xem xét để lựa chọn sao cho phù hợp trong các quyết định ngắn hạn Các quyết định của nhà quản trị đựơc đưa ra bao gồm : quyết định chấp nhận hay
từ chối một đơn đặt hàng sản xuất, quyết định nên sản xuất hay thuê ngoài gia công, quyết định tiếp tục chế biến hay nên bán ngay bán thành phẩm, quyết định đầu tư thiết bị mới hay duy trì thiết bị cũ…
Để lựa chọn các phương án tối ưu trong quá trình kinh doanh, nhà quản trị cần một lượng lớn thông tin về chi phí của mỗi phương án do KTQT chi phí cung cấp Do đó, đòi hỏi thông tin được cung cấp phải là thông tin thích hợp và có giá trị Quá trình phân tích thông tin chi phí thích hợp bao gồm các bước :
- Tập hợp chi phí liên quan đến mỗi phương án
- Loại bỏ các chi phí chìm là những chi phí luôn tồn tại ở những phương án kinh doanh
- Loại bỏ các chi phí như nhau ở các phương án
- Những khoản chi phí còn lại là thông tin chi phí thích hợp cho việc lựa chọn các phương án
Thông tin chi phí thích hợp sẽ khác nhau khi so sánh, lựa chọn các phương án kinh doanh khác nhau ở những điều kiện và môi trường kinh doanh khác nhau Tuỳ theo mục đích mà kế toán sử dụng thông tin chi phí thích hợp với việc ra quyết định Điều này đòi hỏi KTQT chi phí phải phân
Trang 34loại và nhận diện các chi phí một cách đúng đắn khi phân tích thông tin chi phí thích hợp.
f Tổ chức bộ máy thực hiện KTQT chi phí
Để có thể tiến hành được các phương pháp, kỹ thuật của KTQT chi phí nhằm cung cấp kịp thời, đầy đủ các thông tin theo yêu cầu của nhà quản trị DN về tình hình chi phí của từng bộ phận; cung cấp kịp thời đầy đủ các thông tin thực hiện, chênh lệch giữa dự toán và kết quả thực hiện; phục vụ cho việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, điều hành và ra quyết định giúp nhà quản trị thực hiện tốt chức năng của mình
Việc tổ chức bộ máy KTQT chi phí của DN phải phù hợp với đặc điểm hoạt động, quy mô đầu tư và địa bàn tổ chức sản xuất, kinh doanh của
DN, phù hợp với mức độ phân cấp quản trị kinh tế, tài chính của DN Bộ máy kế toán phải gọn nhẹ, khoa học, hợp lý và hiệu quả cao trong việc cung cấp thông tin cho bộ máy lãnh đạo của DN Căn cứ vào điều kiện cụ thể của mình, các DN có thể tổ chức kế toán theo một trong các mô hình sau:
Mô hình kết hợp: Là mô hình gắn kết hệ thống KTQT chi phí với hệ
thống kế toán theo từng phần hành kế toán chi phí: Kế toán chi phí sản xuất,
kế toán bán hàng… Kế toán viên theo phần hành kế toán nào sẽ thực hiện cả KTTC và KTQT chi phí Ngoài ra, DN cần bố trí người thực hiện các nội dung KTQT chung khác Mô hình này sẽ tiết kiệm chi phí tổ chức vận hành
bộ máy kế toán nhưng hiệu quả không cao vì KTQT, KTQT chi phí và KTTC tuân thủ những nguyên tắc khác nhau
Mô hình tách biệt: Là mô hình tổ chức hệ thống KTQT chi phí riêng
biệt với hệ thống KTTC trong phòng KTTC của DN Mô hình này áp dụng phù hợp với các DN có quy mô lớn Với mô hình này KTQT chi phí sẽ phát huy được tối đa vai trò chức năng của mình, tuy nhiên DN sẽ phải trả rất nhiều chi phí để vận hành mô hình này
Trang 35Mô hình hỗn hợp: Là mô hình kết hợp giữa hai mô hình nêu trên,
trong đó tổ chức bộ phận KTQT chi phí giá thành riêng, còn các nội dung khác thì theo mô hình kết hợp Mô hình hỗn hợp có tính linh hoạt và khả năng cung cấp thông tin cao, nhưng DN cũng phải đầu tư tương đối lớn để tổ chức vận hành bộ máy và tổ chức thực hiện công tác kế toán
+ Về bố trí nhân sự KTQT chi phí:
Dù lựa chọn mô hình nào, để bộ máy KTQT chi phí vận hành hiệu quả, công tác lựa chọn, sắp xếp nhân sự thực hiện các phần việc của mình có vai trò quan trọng Một trong những cách thức phổ biến để tổ chức bộ máy KTQT là tổ chức theo chức năng của hệ thống KTQT chi phí
Có thể bố trí những nhân viên KTQT chi phí riêng hoặc kiêm nhiệm những phần công việc của kế toán chung tùy theo mô hình tổ chức KTQT chi phí của DN Trong đó bộ phận dự toán sẽ tiến hành thu thập thông tin, phối hợp với các bộ phận khác trong DN xây dựng các dự toán kinh doanh cho các kế hoạch hoạt động của DN Bộ phận phân tích sẽ đánh giá các kết quả hoạt động thực tế so với dự toán, phân tích tìm ra nguyên nhân chênh lệch nếu có, đồng thời đánh giá trách nhiệm của các bộ phận liên quan trong việc sử dụng chi phí Bộ phận tư vấn dự án sẽ thu thập những thông tin phù hợp để hỗ trợ, tư vấn các nhà quản trị quyết định lựa chọn và thực hiện dự án của DN
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tóm lại, KTQT chi phí là bộ phận của hệ thống KTQT nhằm cung cấp các thông tin về chi phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị các yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát hoạt động và ra các quyết định hợp lý KTQT chi phí cung cấp thông tin cho các nhà quản trị DN trong quá trình thực hiện các chức năng quản lý
Trong chương này tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận về KTQT chi phí trong doanh nghiệp sản xuất Trước hết, trình bày khái quát KTQT chi phí, xác định vai trò KTQT chi phí, tiếp đó là phân tích những nội dung chủ yếu của KTQT chi phí, bao gồm: phân loại chi phí, lập dự toán chi phí, tập hợp chi phí, tính giá thành sản phẩm, kiểm soát chi phí và cuối cùng là ra quyết định kinh doanh Đây là cơ sở lý luận làm tiền đề cho việc phân tích
thực trạng KTQT chi phí ở Công ty cổ phần thuỷ sản và thương mại Thuận
Phước, thành phố Đà Nẵng, từ đó tìm ra giải pháp tổ chức KTQT chi phí tại
Công ty hoàn thiện hơn
Trang 37CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN
QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THUỶ SẢN
VÀ THƯƠNG MẠI THUẬN PHƯỚC,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN VÀ THƯƠNG MẠI THUẬN PHƯỚC, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1.1 Giới thiệu chung về Công ty
Công ty cổ phần Thuỷ sản và Thương mại Thuận Phước, thành phố Đà Nẵng được thành lập từ việc cổ phần hóa Công ty Thủy sản và Thương mại Thuận Phước, thành phố Đà Nẵng, chính thức đi vào hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh công ty cổ phần số 3203001489, do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đà Nẵng cấp lần đầu ngày 29/6/2007 Tổng vốn điều lệ của Công ty là: 72.039.950.000 VNĐ
Hoạt động kinh doanh chính của Công ty theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh gần nhất là: sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng thuỷ sản đông lạnh xuất khẩu; Cung cấp, lắp đặt thiết bị trong lĩnh vực công nghiệp điện lạnh và công nghiệp thực phẩm; Kinh doanh bất động sản, chủ sử dụng hoặc
đi thuê; Sản xuất và xuất khẩu các mặt hành nông sản thực phẩm và thực
Trang 38phẩm công nghệ Kinh doanh thương mại tổng hợp Dịch vụ hậu cần nghề
cá Sản xuất bia, rượu, nước giải khát các loại
Tuy nhiên thực tế hoạt động kinh doanh chính của Công ty hiện nay là tập trung sản xuất chế biến và xuất khẩu các mặt hàng thủy sản đông lạnh
2.1.2 Quá trình hình thành
Giai đoạn từ năm 1987 đến năm 1997: Công ty Cổ phần Thuỷ sản và
Thương mại Thuận Phước, thành phố Đà Nẵng, trước đây là Xí nghiệp đông lạnh 32, được thành lập năm 1987 với vốn điều lệ ban đầu 17.000.000 đồng cùng với một số thiết bị cũ, lạc hậu đã đến thời kỳ thanh lý và 200m2 nhà xưởng cấp 4 không thể tiếp tục đưa vào sản xuất Đứng trước tình hình khó khăn lúc bấy giờ, Công ty đã tự tìm hướng đi riêng cho mình bằng cách vận dụng cơ chế thích hợp như ứng vật tư, hàng hoá, vận động ngư dân bán nguyên liệu, kinh doanh thương mại tổng hợp, mua bán vàng, ngoại tệ nhờ
đó, từng bước vượt qua khó khăn, dần dần có vốn để duy trì sản xuất
Trong thời kỳ từ năm 1988 đến năm 1992, trước nhu cầu mở rộng và phát triển sản xuất nhằm sản xuất ra nhiều sản phẩm với chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu mở rộng thị trường, Công ty tiến hành đầu tư mua sắm thêm các thiết bị: đầu tư mua 02 xe lạnh, tủ đông công suất 1,5tấn/mẻ, xây dựng mở rộng nhà xưởng thêm 2.000m2, với tổng vốn đầu tư 4,7 tỷ đồng
Sau gần một năm xây dựng, năm 1993, phân xưởng bắt đầu đi vào hoạt động và cũng trong thời điểm này nhờ chính sách đầu tư, mở cửa của đất nước, lần đầu tiên Công ty được phép xuất khẩu trực tiếp ra nước ngoài tạo điều kiện từng bước giữ vững thị trường, từ chỗ giá trị ngoại tệ đạt 1,5 triệu USD năm 1992 tăng lên gần 3 triệu USD năm 1993
Ngày 15 tháng 11 năm 1994, Công ty cổ phần Thuỷ sản và Thương mại Thuận Phước, Đà Nẵng ra đời với số vốn kinh doanh 14,3 tỷ đồng Kể từ khi
Trang 39thành lập, nhịp độ phát triển liên tục tăng từ chỗ 3 triệu USD năm 1993 đến năm 1997 giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 7,2 triệu USD.
Giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2008 : Do yêu cầu phát triển sản xuất
và đòi hỏi ngày cao của thị trường, năm 1999, Công ty lập dự án đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu với tổng mức đầu tư 12 tỷ đồng
để xây dựng 01 nhà xưởng với diện tích 1.000m2, 01 kho lạnh 200 tấn và lắp đặt một số thiết bị sản xuất các mặt hàng cao cấp như: tủ đông gió, máy phát điện, hệ thống đông IQF…Sau khi dự án hoàn thành và đưa vào sản xuất, hiệu quả mang lại khả quan, từ chỗ đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu 7,17 triệu USD thì đến năm 2000 giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 13,44 triệu USD.Mặc dù Công ty đã đầu tư 12 tỷ để nâng cao chất lượng sản phẩm nhưng vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường, năm 2001, Công ty tiếp tục lập dự án đầu tư mở rộng và nâng cao năng lực xuất khẩu với công suất 1.200 tấn sản phẩm/năm với tổng mức dầu tư 27 tỷ đồng và đưa vào sử dụng nâng tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2002 lên 15,67 triệu USD
Năm 2003, tình hình sản xuất kinh doanh có sự thay đổi lớn về quy mô,
đó là việc thực hiện chủ trương của UBND thành phố Đà Nẵng cho sáp nhập Công ty Bia Đà Nẵng vào Công ty Thuỷ sản và Thương mại Thuận Phước
để hình thành một Công ty có tầm cỡ trong lĩnh vực chế biến xuất khẩu, đồng thời cũng chuẩn bị cho việc di dời nhà máy vào khu công nghiệp Để đảm bảo cho việc sản xuất liên tục, Công ty tiến hành lập dự án đầu tư xây dựng nhà máy chế biến thuỷ sản đông lạnh xuất khẩu với công suất thiết kế 6.500 tấn sản phẩm/năm với tổng mức đầu tư dự án 188 tỷ đồng và đưa vào
sử dụng từ năm 2007 Sau khi đưa nhà máy vào hoạt động đã phát huy hiệu quả, từ chỗ giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 15,67 triệu USD năm 2002 thì đến năm 2008 giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt được 31,6 triệu USD
Trang 40Giai đoạn từ năm 2009 đến nay: Thực hiện kế hoạch phát triển nhằm
nâng cao sản lượng chế biến xuất khẩu đem lại lợi nhuận và doanh thu cao trong những năm kế tiếp, thực hiện một số mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra trong
kế hoạch xây dựng và phát triển của Công ty theo Nghị quyết của Đại hội Cổ đông và Hội đồng Quản trị, năm 2009, Công ty tiến hành đầu tư xây dựng mới Xí nghiệp đông lạnh 32 với tổng số vốn 20 tỷ đồng nâng tổng công suất nhà máy chế biến lên 8.000 tấn sản phẩm/năm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong và ngoài nước Do tốc độ tăng trưởng ngày càng tăng, bên cạnh đó nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thủy sản của công ty ngày càng lớn nên trong năm 2010, Công ty tiếp tục lập dự án nâng cao năng lực chế biến xuất khẩu với tổng vốn đầu tư 19 tỷ đồng nâng tổng công suất của nhà máy lên 10.000 tấn sản phẩm/năm
Hiện nay, ngoài các phòng ban chức năng, Công ty có 02 đơn vị thành viên và 01 công ty con gồm: Xí nghiệp Thủy sản và Thực phẩm, Xí nghiệp Đông lạnh 32, Công ty TNHH MTV Thủy sản An
2.1.3 Cơ cấu tổ chức Công ty
Hội đồng quản trị
Ban kiểm soát
Ban Giám đốc
Phòng Kinh doanh
Phòng Tài chính-
Kế toán
Phòng KTCN -QLCLĐại hội cổ đông
Xí nghiệp Thủy
sản và Thực
phẩm
Xí nghiệp Đông lạnh 32
Công ty TNHH MTV Thủy sản
An