1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần thép Thái Bình Dương.

133 134 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 2,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

x DANH MỤC CÁC CÔNG THỨC 1.2 Sản lượng hoàn thành tương đương bình quân gia quyền 18 1.3 Sản lượng hoàn thành tương đương nhập trước - xuất trước 18 1.4 Sản lượng hoàn thành tương đương

Trang 1

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong đề tài là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả đề tài

Huỳnh Quốc Nam

Trang 2

ii

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4

6 Kết cấu của đề tài 4

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 9

1.1 VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM ĐỐI VỚI QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT 9

1.2 PHÂN LOẠI CHI PHÍ SẢN XUẤT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 10

1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế 10

1.2.2 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động 10

1.2.3 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí 11

1.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM VÀ ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG 15

1.3.1 Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp toàn bộ 15

1.3.2 Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp trực tiếp 20

1.3.3 Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp chi phí mục tiêu 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THÉP THÁI BÌNH DƯƠNG 30

Trang 3

iii 2.1 ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ

CỦA CÔNG TY 30

2.1.1 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty 30

2.1.2 Tổ chức quản lý của Công ty 34

2.2 ĐẶC ĐIỂM QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở CÔNG TY 35

2.2.1 Đặc điểm quản trị chi phí sản xuất ở Công ty 35

2.2.2 Vai trò của công tác giá thành sản phẩm ở Công ty 36

2.3 TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY 38

2.3.1 Khái quát về cơ cấu sản phẩm của Công ty 38

2.3.2 Phân loại chi phí sản xuất phục vụ công tác tính giá thành 38

2.3.3 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở Công ty 40

2.3.4 Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất ở Công ty 42

2.3.5 Đánh giá sản phẩm dở dang ở Công ty 52

2.3.6 Đối tượng và kỳ tính giá thành sản phẩm ở Công ty 52

2.3.7 Tính giá thành sản phẩm ở Công ty 53

2.3.8 Báo cáo giá thành sản phẩm ở Công ty 60

2.4 ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÔNG TÁC TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY 62

2.4.1 Ưu điểm 62

2.4.2 Tồn tại 63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66

CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THÉP THÁI BÌNH DƯƠNG 67

3.1 GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC CÁC TỒN TẠI TRONG CÔNG TÁC TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY 67

Trang 4

iv

3.2 ĐỀ XUẤT VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH MỤC

TIÊU 77

3.2.1 Đặt vấn đề 77

3.2.2 Mục tiêu của giải pháp 78

3.2.3 Vận dụng phương pháp tính giá thành mục tiêu ở Công ty 78

3.2.4 Kết quả thực hiện giải pháp 88

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 90

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 5

CPNCTT Chi phí nhân công trực tiếp

CPNVLTT Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

CPQLDN Chi phí quản lý doanh nghiệp

CPSXC Chi phí sản xuất chung

SLHTTĐ Sản lượng hoàn thành tương đương

Trang 6

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

2.1 Định mức tiêu hao nguyên vật liệu sản xuất phôi thép 43

2.2 Tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp - Phôi thép 44

2.3 Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp - Phôi thép 45

2.4 Tập hợp chi phí sản xuất chung - Phôi thép 45

2.5 Định mức tiêu hao nguyên vật liệu sản xuất thép cuộn 46

2.6 Tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp-Thép cuộn 47

2.7 Tổng hợp chi phí nhân công trực tiếp-Thép cuộn 47

2.8 Tổng hợp chi phí sản xuất chung-Thép cuộn 47

2.10 Phân bổ chi phí tiền lương cho các phân xưởng 49

2.11 Tổng hợp chi phí sản xuất chung-PX Cơ khí 50

2.12 Phân bổ chi phí sản xuất chung cho các phân xưởng 51

2.13 Hệ số phân bổ chi phí sản xuất nhóm sản phẩm phôi thép 54

2.14 Phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp-Phôi thép 55

2.15 Phân bổ chi phí nhân công trực tiếp-Phôi thép 55

2.16 Phân bổ chi phí sản xuất chung-Phôi thép 56

Trang 7

vii

2.18 Hệ số phân bổ chi phí sản xuất nhóm sản phẩm thép cuộn 57

2.19 Phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp-Thép cuộn 57

2.20 Phân bổ chi phí nhân công trực tiếp-Thép cuộn 57

2.21 Phân bổ chi phí sản xuất chung-Thép cuộn 58

Trang 8

viii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Số hiệu

1.5 Dòng chi phí trong hệ thống tính giá thành theo quá trình

sản xuất

16

1.6 Trình tự tập hợp chi phí trong hệ thống tính giá thành theo

1.8 Chi phí mục tiêu và các giai đoạn sản xuất sản phẩm 25

1.9 Phương pháp chi phí mục tiêu ở Toyota được trình bày bởi

2.3 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty 34

2.4 Mẫu báo cáo tổng hợp chi phí phát sinh ở phân xưởng 60

Trang 9

ix

3.2 Mẫu bảng hệ số sắt phế liệu và phế liệu thu hồi 69

3.3 Mẫu sổ nhật ký lao động của bộ phận phụ trợ 72

3.5 Mẫu báo cáo khoản mục chi phí của các bộ phận 74

3.6 Mẫu báo cáo tỷ trọng chi phí của các sản phẩm 74

3.8 Mẫu báo cáo khối lượng nguyên liệu phân xưởng luyện 76

3.10 Mẫu báo cáo tình hình thực hiện giá thành mục tiêu 86

3.11 Mẫu báo cáo tình hình biến động định mức chi phí 86

3.12 Mẫu báo cáo tình hình biến động định mức tỷ trọng chi phí 87

Trang 10

x

DANH MỤC CÁC CÔNG THỨC

1.2 Sản lượng hoàn thành tương đương bình quân gia quyền 18

1.3 Sản lượng hoàn thành tương đương nhập trước - xuất trước 18

1.4 Sản lượng hoàn thành tương đương nhập trước - xuất trước 19

1.5 Tính giá thành với SLHTTĐ bình quân gia quyền 20

1.6 Tính giá thành với SLHTTĐ nhập trước-xuất trước 20

1.8 Tính giá thành theo phương pháp trực tiếp 21

1.9 Tính giá thành theo phương pháp chi phí mục tiêu 23

Trang 11

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thị trường bất động sản ảm đạm trong hai năm gần đây, nhu cầu xây dựng giảm mạnh Bên cạnh đó, đòi hỏi của khách hàng ngày càng khắt khe về chất lượng, giá cả, mẫu mã, tính năng của vật liệu xây dựng Đó là áp lực, là khó khăn khách quan mà các công ty hoạt động trong ngành sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng đang phải đối mặt Vì vậy, nâng cao chất lượng, tính năng, của sản phẩm là điều kiện cần trong cạnh tranh, hạ giá thành sản phẩm có thể xem là điều kiện đủ Hạ giá thành sản phẩm, đó là một trong những lời giải của bài toán: tồn tại, có lợi nhuận và tái sản xuất trong bối cảnh hiện nay Giá thành sản phẩm chính là thước đo mức tiêu hao chi phí sản xuất cần phải bù đắp sau mỗi kỳ sản xuất Tiết kiệm chi phí sản xuất trở thành nhiệm

vụ cấp bách để đạt mục tiêu hạ giá thành sản phẩm Vì vậy, công tác tổ chức

và giám sát việc thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm là rất quan trọng, giúp cho công tác quản trị chi phí sản xuất hữu hiệu hơn và giúp đạt được mục tiêu hạ giá thành sản phẩm Giá thành sản phẩm còn giúp ích cho nhà quản trị trong trường hợp xem xét các quyết định mở rộng quy mô sản xuất hay sản xuất một sản phẩm mới trong bối cảnh sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường hiện nay Có thể khẳng định, giá thành sản phẩm là yếu tố được xem xét đầu tiên trong cạnh tranh

Trước đây, trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng đã có rất nhiều tác giả thực hiện nghiên cứu đề tài về hoàn thiện công tác tính giá thành sản phẩm Phần lớn các tác giả, sau khi nhận diện các tồn tại qua nghiên cứu thực trạng tại công ty đều vận dụng cơ sở lý luận để đề xuất các phương án, giải pháp truyền thống nên chưa trả giải quyết trọn vẹn việc hạ giá thành sản phẩm Riêng tại Công ty cổ phần thép Thái Bình Dương thì chưa có nghiên cứu nào

về chủ đề này

Trang 12

2 Qua tìm hiểu thực tế tại công ty cho thấy công tác kế toán tính giá thành sản phẩm còn bộc lộ những hạn chế, thiếu sót, bất cập như

- Công ty đã có sự đánh đồng về mặt giá trị giữa phế liệu tham gia từ đầu vào quá trình sản xuất và xỉ (kết quả sản xuất của phân xưởng luyện), phế liệu đầu mẫu (kết quả sản xuất của phân xưởng cán) Nguyên nhân là do Công ty chưa có quy trình kiểm soát số lượng phế liệu đưa vào lò nấu, chỉ ước tính số lượng phế liệu sử dụng cho sản xuất theo định mức tiêu hao sắt phế liệu Dẫn đến việc tính giá thành sản phẩm chưa hợp lý

- Công ty chưa tách biệt chi phí phát sinh chung cho sản xuất và kinh doanh trong việc sử dụng máy móc thiết bị phụ trợ mà xem toàn bộ loại chi phí này phục vụ cho hoạt động sản xuất Điều này dẫn đến phản ánh chưa đúng chi phí sản xuất, từ đó tính giá thành sản phẩm chưa hợp lý

- Đối với đặc thù của sản phẩm thép, hàm lượng kỹ thuật là một tiêu chí gắn liền với sự hao phí nguồn lực sản xuất cấu thành nên sản phẩm Tuy nhiên, sự khó khăn trong đánh giá, phân loại sản phẩm, dẫn đến Công ty đánh đồng các sản phẩm khi xây dựng hệ số phân bổ chi phí sản xuất từng sản phẩm trong nhóm sản phẩm mặc dù các sản phẩm có cơ cấu nguyên liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu động lực, chất phụ gia khác nhau (ví dụ: phôi thép BCT3, BCT5), dẫn đến việc tính giá thành sản phẩm chưa hợp lý

- Phương pháp tính giá thành mà Công ty đang áp dụng chưa phục vụ quản trị chi phí hiệu quả để đạt được lợi nhuận mục tiêu, chưa quan tâm đến nhận diện những cơ hội để cải tiến trong các giai đoạn sản xuất dựa trên các điều kiện sản xuất hiện có để cắt giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm

Nhận thấy những bất cập trên, việc thực hiện đề tài này nhằm hoàn thiện công tác tính giá thành ở Công ty, qua đó giúp cho công tác quản trị chi phí sản xuất ở công ty hữu hiệu hơn

Trang 13

3

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nhằm đạt được hai mục tiêu sau

- Tìm hiểu và nhận diện những bất cập trong công tác tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ Phần Thép Thái Bình Dương;

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác kế toán tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ Phần Thép Thái Bình Dương

Để đạt được các mc tiêu này, đề tài cn tr li các câu hi nghiên cu sau đây

- Thực trạng về công tác tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ Phần Thép Thái Bình Dương?

- Cần phải làm gì để hoàn thiện công tác tính giá thành sản phẩm tại Công

ty Cổ Phần Thép Thái Bình Dương?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về công tác kế toán tính giá thành sản phẩm của công ty sản xuất Cụ thể đề tài nghiên cứu công tác kế toán tính giá thành sản phẩm phôi thép và thép cuộn tại Công ty Cổ Phần Thép Thái Bình Dương Số liệu thu thập phục vụ cho phân tích, đánh giá là số liệu ở tháng 12/2012

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài vận dụng cách tiếp cận mô tả, giải thích, suy luận logic để đánh giá thực trạng công tác tính giá thành sản phẩm tại công ty

Phương pháp quan sát, khám phá được vận dụng nhằm tìm hiểu thực trạng công tác tính giá thành sản phẩm ở công ty Phương pháp giải thích được vận dụng để giải thích hiện tượng quan sát được, dựa vào cơ sở lý thuyết có liên quan Qua đó giúp đánh giá những ưu điểm, bất cập về công tác tính giá thành sản phẩm ở công ty

Thông tin, số liệu thu thập là nguồn thông tin có liên quan đến công tác tính

Trang 14

4 giá thành sản phẩm, từ quy trình sản xuất, tổ chức sản xuất đến công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Các số liệu về chi phí, giá thành sản phẩm được thu thập từ sổ kế toán chi tiết, tổng hợp của công ty được trích xuất cơ sở dữ liệu từ phần mềm kế toán

Phương pháp suy luận được vận dụng nhằm đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tính giá thành sản phẩm ở công ty Việc suy diễn dựa vào

cơ sở lý thuyết về tính giá thành sản phẩm, đối chiếu với thực trạng tính giá thành sản phẩm tại công ty

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu sẽ giúp hình thành kỹ thuật tính giá thành sản phẩm nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho công tác quản trị chi phí sản xuất ở công

ty Kết quả nghiên cứu này cũng có thể nhân rộng để áp dụng cho các công ty khác hoạt động trong cùng lĩnh vực

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài có kết cấu gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về tính giá thành sản phẩm trong doanh

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Vật liệu xây dựng là yếu tố đầu vào của ngành xây dựng, một nhân tố của cơ sở hạ tầng và không thể thiếu trong quá trình thực hiện mục tiêu hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, công tác kế toán tính giá thành sản phẩm tại các công ty sản xuất vật liệu xây dựng nói riêng cũng như mọi lĩnh vực sản xuất nói chung được nhiều tác giả

Trang 15

5 quan tâm nghiên cứu Đối với chủ đề này, không chỉ trong đề tài mà còn nhiều tạp chí kế toán, bài viết chuyên ngành cũng đã đề cập đến

Đối với đề tài, nhiều tác giả đã tập trung nghiên cứu tính giá thành sản phẩm thép, loại vật tư xây dựng chiếm tỷ trọng chi phí lớn trong giá thành công trình xây dựng Hầu hết trong các nghiên cứu đều tập trung trong ba nội dung bao gồm: cơ sở lý thuyết về tính giá thành sản phẩm đối với loại hình công ty sản xuất, thực trạng công tác tính giá thành sản phẩm tại công ty rồi nhận diện các khuyết điểm, hạn chế còn tồn tại để đưa ra các đề xuất hoàn thiện công tác kế toán tính giá thành sản phẩm phù hợp với mỗi công ty

Đầu tiên có thể kể đến nghiên cứu hoàn thiện công tác tính giá thành sản phẩm của tác giả Nguyễn Thị Lan (2010) tại nhà máy cán thép Thái Nguyên[5] Trong nghiên cứu, mục tiêu của tác giả là tập trung phân tích, đánh giá thực trạng công tác tính giá thành sản phẩm tại công ty bằng phương pháp quan sát, khám phá, giải thích Qua đó, đã chỉ ra được sự thiếu hợp lý khi áp dụng phương pháp bình quân gia quyền để tính giá xuất kho vật tư trong khi phôi thép trong nước và phôi thép nhập khẩu có thời điểm chênh lệch 8 triệu đồng/tấn, dẫn đến ghi nhận chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chưa hợp lý, làm sai lệch giá thành sản phẩm Từ đó, tác giả đề xuất các biện pháp tính giá xuất vật tư xuất kho theo phương pháp thực tế đích danh để giúp hoàn thiện công tác tính giá thành sản phẩm tại công ty

Tiếp theo cũng trong lĩnh vực này, nghiên cứu của Trần Bích Thủy (2010) tại Công ty Liên doanh sản xuất thép Việt-Úc[8] với mục tiêu đánh giá thực trạng công tác tính giá thành sản phẩm Qua nghiên cứu với nguồn dữ liệu thứ cấp “Luận chứng kinh tế kỹ thuật” tiếp cận được do công ty cung cấp

và đối chiếu với thực tế sản xuất thông qua phương pháp quan sát, khám phá Tác giả nhận thấy đã có sự “cào bằng” chi phí sản xuất cho tất cả các chủng loại thép trong khi định mức tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu cho mỗi chủng

Trang 16

6 loại thép là khác nhau Từ đó, tác giả vận dụng phương pháp suy diễn đề xuất phân nhóm chủng loại thép để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất nhằm hoàn thiện công tác tính giá thành sản phẩm tại công ty

Đối với các loại vật tư xây dựng khác, có thể kể đến nghiên cứu hoàn thiện công tác tính giá thành sản phẩm tại Công ty Xi măng Hải Phòng của Nguyễn Hải Yến (2011)[9] Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã đạt được mục tiêu thông qua đánh giá thực trạng tính giá thành sản phẩm bằng cách vận dụng phương pháp quan sát, khám phá, giải thích Bên cạnh việc nhận thấy các ưu điểm, tác giả đã chỉ ra sự bất cập trong phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang dẫn đến việc tính giá thành sản phẩm chưa hợp lý Bằng phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua quan sát nhân viên trực tiếp sản xuất, tác giả đã đi sâu nghiên cứu đặc thù của sản phẩm dở dang của quy trình sản xuất xi măng Đây là cơ sở thực tiễn để tác giả đề xuất giải pháp xây dựng hệ số đối với từng loại sản phẩm dở dang trên dây chuyền sản xuất giúp hoàn thiện công tác kế toán tính giá thành sản phẩm

Đối với các lĩnh vực sản xuất khác, có thể kể đến nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Phương (2004) về đề tài “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm” tại Công ty Cổ Phần Bánh kẹo Hải Hà[7] Trong nghiên cứu của mình, bằng phương pháp quan sát, khám phá thực tiễn sản xuất, tác giả đã phân tích sâu sắc sự khác biệt giữa thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty so với cơ sở lý luận Qua

đó, tác giả dùng phương pháp giải thích để chỉ ra sự bất cập trong việc lựa chọn tiêu thức để phân bổ chi phí sản xuất cũng như chưa nhận diện đúng vai trò của hoạt động sản xuất phụ trợ trong việc tính giá thành sản phẩm Cuối cùng, tác giả vận dụng phương pháp suy diễn dựa trên cơ sở lý luận kết hợp với điều kiện sản xuất thực tế của công ty để đề xuất giải pháp tách biệt hoạt động sản xuất phụ trợ và tính giá thành riêng cho bộ phận này giúp hoàn thiện

Trang 17

7 công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Ngoài các đề tài được đề cập trên, còn có nhiều tạp chí kế toán đã trình bày quan điểm xoay quanh vấn đề giá thành sản phẩm Trong đó có bài viết được đăng trên tạp chí kế toán của tác giả Quang Khải (2006) với đề tài “ Chi phí biên ” Nội dung của bài viết mang lại một cái nhìn mới khi đặt ra và trả lời câu hỏi “Việc mở rộng quy mô sản xuất và thay đổi cấu trúc tài sản cố định có ảnh hưởng như thế nào đối giá thành sản phẩm?” Từ đó có thể cung cấp kiến thức hữu ích cho các nhà quản trị công ty để có định hướng sản xuất

và nhận diện sự ảnh hưởng của các yếu tố được đề cập trong bài viết đến giá thành sản phẩm

Hầu hết các nghiên cứu của các tác giả trước đây đã đi sâu vào việc phân tích thực trạng rồi nhận diện các khuyết điểm còn tồn tại trong công tác kế toán tính giá thành sản phẩm trong những công ty sản xuất vật liệu xây dựng Các tác giả đi trước cũng đã đề xuất các giải pháp để hoàn thiện kế toán tính giá thành sản phẩm Tuy nhiên phần lớn các giải pháp này dựa trên cơ sở lý luận của kế toán truyền thống nên chưa giải quyết trọn vẹn các yêu cầu trong công tác quản trị chi phí sản xuất và giám sát việc thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm

Thực tiễn, cho thấy kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm theo các phương pháp truyền thống đã bộc lộ những hạn chế trước sự phát triển mạnh

mẽ của khoa học công nghệ, của môi trường kinh tế, tổ chức sản xuất và quản

lý và yêu cầu quản trị ngày càng cao Vì vậy sự phát triển của kế toán chi phí

từ phương pháp truyền thống thành những phương pháp hiện đại, được biết là phương pháp chi phí mục tiêu (target costing)[4], phương pháp chi phí theo hoạt động (Activity Based Costing, viết tắt là ABC) là một tất yếu khách quan Nhiều bài viết chuyên ngành đã đề cập, giới thiệu các phương pháp tính giá thành mới Trong đó, bài viết PGS.TS Trương Bá Thanh, Trường Đại học

Trang 18

8 Kinh tế, Đại học Đà Nẵng với bài viết kế toán chi phí theo phương pháp “Chi phí mục tiêu” Qua bài viết, tác giả giới thiệu mô hình phương pháp chi phí mục tiêu và nêu ra tính ưu việt của phương pháp này Theo tác giả, phương pháp này cung cấp một công cụ quản trị hữu hiệu chi phí sản xuất nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận trong chu kỳ sống của sản phẩm Bài viết này, là gợi

ý một hướng tiếp cận hiện đại trong công tác tính giá thành sản phẩm

Vì vậy, góp phần tiếp tục hoàn thiện vào chủ đề nghiên cứu này, tác giả tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện công tác kế toán tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ Phần Thép Thái Bình Dương với cách tiếp cận mới khi vận dụng phương pháp tính giá thành sản phẩm theo phương pháp chi phí mục tiêu

Trang 19

9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍNH GIÁ THÀNH

SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

1.1 VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM ĐỐI VỚI QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT

Quản trị chi phí sản xuất là nhu cầu bức thiết trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Để công tác quản trị chi phí sản xuất phát huy hiệu quả cao nhất thì vai trò của thông tin kế toán chi phí sản xuất và

giá thành sản phẩm là rất quan trọng và hữu ích

Vậy kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cung cấp những thông tin gì phục vụ quản trị chi phí sản xuất? Đây là một câu hỏi rất rộng nhưng tựu chung kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phải cung cấp cho nhà quản trị các thông tin sau: cần nguồn lực gì để sản xuất, sản xuất ra sản phẩm gì và mức hao phí để làm ra sản phẩm đó là bao nhiêu?, … Để từ đó phục vụ việc hoạch định, tổ chức, kiểm soát, đánh giá

và ra quyết định Theo tác giả Trương Bá Thanh [2, tr.13-27], "hệ thống thông tin kế toán là một hệ thống quản lý doanh nghiệp Nó bao gồm: hệ thống quyết định, hệ thống tác nghiệp và hệ thống thông tin, trong đó hệ thống thông tin thực hiện mối liên hệ giữa hệ thống tác nghiệp và hệ thống quyết định, đảm bảo chúng vận hành một cách thuận tiện để đạt được các mục tiêu đề ra"

Đối với quản trị chi phí sản xuất thông tin kế toán nói chung và thông tin về chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm nói riêng giúp

- Phân tích cách ứng xử của chi phí;

- Lập dự toán và truyền đạt thông tin;

- Kiểm tra, đánh giá;

- Hỗ trợ ra quyết định

Trang 20

10

1.2 PHÂN LOẠI CHI PHÍ SẢN XUẤT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế

Theo cách phân loại này thì những chi phí sản xuất trong công ty có chung tính chất kinh tế sẽ được xếp chung vào một yếu tố chi phí, không kể chi phí đó chi ra ở đâu và dùng vào mục đích gì (trực tiếp sản xuất hay phục

vụ quản lý) Có 5 loại nội dung chi phí dưới đây

1 Chi phí nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên liệu, vật liệu, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ,

2 Chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ chi phí trả cho người lao động (thường xuyên hay tạm thời) về tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp, trợ cấp có tính chất lương, …

3 Chi phí khấu hao TSCĐ: bao gồm chi phí khấu hao toàn bộ TSCĐ của công ty dùng trong sản xuất kinh doanh trong kỳ báo cáo;

4 Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm các chi phí về nhận cung cấp dịch vụ từ các đơn vị khác để phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh;

5 Chi phí khác bằng tiền: bao gồm các chi phí không thuộc các loại trên như chi phí tiếp khách, hội nghị, quảng cáo,

Cách phân loại này giúp cho nhà quản trị biết được trong quá trình sản xuất kinh doanh cần chi dùng những chi phí gì để lập, kiểm tra và phân

tích dự toán chi phí sản xuất [3, tr.11]

1.2.2 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động

Theo tác giả Trương Bá Thanh [2, tr.40-41], cách phân loại này các chi phí được chia thành chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất Đề tài này chỉ

đề cập đến các chi phí sản xuất

Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất được phân chia thành những khoản mục chi phí theo chức năng Những chi phí có chung công dụng được

Trang 21

3 Chi phí sản xuất chung: là những chi phí phát sinh trên phạm vi phân xưởng như tiền lương, phụ cấp phải trả cho nhân viên phân xưởng; chi phí công cụ, dụng cụ xuất dùng cho phân xưởng, bộ phận sản xuất; khấu hao TSCĐ thuộc phân xưởng, bộ phận sản xuất; các chi phí dịch vụ, lao vụ mua ngoài và chi phí khác thuộc phạm vi phân xưởng

Cách phân loại này phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm theo phương pháp toàn bộ Cách phân loại này có tác dụng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo khoản mục, tính toán chính xác giá thành thực tế của sản phẩm, xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau đến giá thành sản phẩm, từ đó phục vụ cho công tác phân tích và giám sát việc thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm

1.2.3 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí

Theo tác giả Trương Bá Thanh [2, tr.45-54], xét theo cách ứng xử, chi phí sản xuất được chia thành: chi phí khả biến, chi phí bất biến và chi phí hỗn hợp

a Chi phí khả biến: là các chi phí, xét về lý thuyết, có sự thay đổi tỷ lệ

với các mức độ hoạt động Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có các hoạt động xảy ra Tổng số chi phí khả biến sẽ tăng (hoặc giảm) tương ứng với tăng (hoặc giảm) của mức độ hoạt động nhưng chi phí khả biến tính theo đơn vị của mức độ hoạt động thì không thay đổi Trong các công ty sản xuất, chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, thể hiện rõ nhất đặc trưng loại chi phí này

Trang 22

a: Giá trị chi phí khả biến tính theo 1 đơn vị hoạt động

x: Biến số thể hiện mức độ hoạt động đạt được Trong thực tế, không phải tất cả các chi phí khả biến đều có cách ứng

xử giống nhau theo mức độ hoạt động Xét theo các thức ứng xử khác

nhau đó, chi phí khả biến được chia thành: chi phí khả biến thực thụ và

chi phí khả biến cấp bậc

Chi phí khả biến thực thụ là các chi phí khả biến có sự biến đổi tỷ lệ với mức độ hoạt động Đa số các chi phí khả biến thường thuộc loại này,

ví dụ như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Chi phí khả biến cấp bậc là các chi phí khả biến không có sự biến động liên tục theo sự thay đổi liên tục của mức độ hoạt động Các chi phí này chỉ biến đổi khi các hoạt động đã có sự biến đổi và đạt đến một mức

độ cụ thể nào đó Ví dụ: chi phí tiền lương của công nhân bảo trì dây chuyền sản xuất

Y (Biến phí)

y = ax

x (Mức độ hoạt động)

0

Trang 23

13

Đồ thị biểu diễn sự biến thiên của chi phí khả biến (y) theo mức độ hoạt động như Hình 1.2

Hình 1.2: Đồ thị biểu diễn chi phí khả biến cấp bậc

Tuy nhiên, trong thực tế, có rất nhiều loại chi phí khả biến không có mối quan hệ tuyến tính mà biến đổi theo các đường cong phức tạp, người ta xác định các "phạm phi phù hợp" để nhận dạng cách biến đổi của chúng theo dạng tuyến tính Phạm vi phù hợp là một khoảng giới hạn của các hoạt động mà trong khoảng đó, quan hệ giữa chi phí biến đổi với mức độ hoạt động có thể quy về dạng tuyến tính Khi phạm vi phù hợp được xác định càng nhỏ thì đường biểu diễn chi phí khả biến càng tiến dần về dạng đường thẳng, do vậy mức độ tuyến tính càng cao

Hình 1.3: Dạng phi tuyến và phạm phi phù hợp

Trang 24

14

b Chi phí bất biến: là những chi phí, xét về lý thuyết, không có sự thay

đổi theo các mức độ hoạt động Vì tổng số chi phí bất biến là không thay đổi, cho nên khi mức độ hoạt động tăng thì chi phí bất biến tính theo đơn vị các

mức độ hoạt động sẽ giảm và ngược lại

Nếu ta gọi b là tổng số chi phí bất biến thì đường biểu diễn chi phí bất biến là một đường thẳng có dạng y = b như Hình 1.4

Hình 1.4: Đồ thị biểu diễn chi phí bất biến

Trong các công ty sản xuất, chi phí bất biến thường gặp là chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí tiền lương nhân viên quản lý,

Xét ở khía cạnh quản lý, chi phí bất biến được chia thành: chi phí bất

biến bắt buộc và chi phí bất biến không bắt buộc

Chi phí bất biến bắt buộc là các chi phí phát sinh nhằm tạo ra các năng lực hoạt động cơ bản của công ty Ví dụ: chi phí khấu hao TSCĐ,

Chi phí bất biến không bắt buộc gồm chi phi quảng cáo, chi phí nghiên cứu phát triển,

c Chi phí hỗn hợp

Chi phí hỗn hợp là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm cả yếu

tố chi phí khả biến và chi phí bất biến Ở một mức độ nào đó, chi phí hỗn hợp mang đặc điểm của chi phí bất biến, khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phí hỗn hợp sẽ biến đổi và mang đặc điểm của chi phí khả biến như chi phí điện thoại, chi phí bảo trì máy móc thiết bị, …

Trang 25

15

Cách phân loại này phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm theo phương pháp trực tiếp Bên cạnh đó còn giúp cho nhà quản trị nhận diện

được mối quan hệ giữa chi phí sản xuất-giá thành đơn vị của sản phẩm với

mức độ, phạm vi hoạt động và năng lực hoạt động tối đa các tài nguyên của công ty Điều này đặc biệt có ý nghĩa cho việc ra quyết định trong trường hợp

xem xét mở rộng quy mô sản xuất hoặc sản xuất một sản phẩm mới,

KIỆN ÁP DỤNG

1.3.1 Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp toàn bộ

Theo tác giả Trương Bá Thanh [2, tr.79-80], tính giá thành sản phẩm theo phương pháp toàn bộ là phương pháp mà toàn toàn bộ các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm được tính vào giá thành của sản phẩm hoàn thành Phương pháp này dựa trên nguyên tắc sản phẩm của quá trình sản xuất là sự kết hợp lao động với các loại tư liệu sản xuất để biến nguyên liệu thành sản phẩm Vì vậy, giá thành của sản phẩm tạo ra từ quá trình sản xuất phải dựa trên toàn bộ các chi phí để sản xuất ra sản phẩm đó Với phương pháp tính giá thành sản phẩm toàn bộ, giá thành sản phẩm hoàn thành bao gồm 3 loại chi phí: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung Cơ sở để tính các khoản mục chi phí sản xuất này vào giá thành được chuẩn mực kế toán về hàng tồn kho chấp nhận như là một nguyên tắc khi xác định giá gốc của thành phẩm ở công ty sản xuất

 Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp toàn bộ giúp

- Tính đầy đủ các chi phí sản xuất, đảm bảo tính chính xác giá thành sản phẩm, giúp kiểm soát chi phí sản xuất theo từng trung tâm chi phí;

- Tính giá tạm tính để ra quyết định chấp nhận hay từ chối đơn đặt hàng hoặc giá định mức để lập kế hoạch

Trang 26

16 Phương pháp tính giá toàn bộ gồm hai hệ thống tính giá thành sản phẩm: hệ thống tính giá thành theo công việc và hệ thống tính giá thành theo quá trình sản xuất Đề tài chỉ đề cập hệ thống tính giá thành theo quá trình sản xuất

a Điều kiện áp dụng

Hệ thống tính giá thành này phổ biến áp dụng ở các công ty hoạt động trong những ngành sản xuất có tính lặp lại, sản phẩm tượng tự nhau với số lượng lớn như sản xuất giày, hóa chất, … Quy trình sản xuất sản phẩm chia ra nhiều giai đoạn sản xuất nối tiếp nhau Mỗi giai đoạn sản xuất tạo ra một loại bán thành phẩm, chuyển sang giai đoạn kế tiếp để sản xuất cho đến giai đoạn cuối cùng hoàn thành sản phẩm [2, tr.94]

b Nội dung hệ thống phương pháp tính giá thành sản phẩm theo quá trình sản xuất

Xác định đối tượng tập hợp chi phí và tính giá thành

Đặc điểm của quy trình sản xuất trải qua nhiều giai đoạn chế biến nối tiếp dẫn đến dòng chi phí cũng vận động liên tục tương ứng với dòng vật chất như Hình 1.5

Hình 1.5: Dòng chi phí trong h thng tính giá thành theo quá trình sn xut

Trang 27

17 Với sự vận động của chi phí gắn liền với hoạt động sản xuất theo từng giai đoạn sản xuất cụ thể, nên đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thích hợp là từng giai đoạn sản xuất Phù hợp với đặc điểm đó, đối tượng tính giá thành là bán thành phẩm hoàn thành ở từng giai đoạn sản xuất và thành phẩm ở giai đoạn sản xuất cuối cùng Do hoạt động sản xuất diễn ra liên tục trong điều kiện sản xuất số lượng lớn nên kỳ tính giá thành thường là cuối kỳ kế toán (tháng, quý, năm) [2, tr.94-95]

Nguyên tắc tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất

Với đối tượng tập hợp chi phí trình bày ở trên, các chi phí sản xuất trực tiếp phát sinh ở giai đoạn sản xuất nào được tập hợp theo giai đoạn sản xuất

đó Các chi phí phát sinh chung được hạch toán theo phân xưởng, sau đó phân

bổ cho từng giai đoạn sản xuất với tiêu thức phù hợp [2, tr.95-96]

Công thức 1.1: Sản lượng hoàn thành tương đương

Vì mỗi loại chi phí đã phát sinh cho SPDD với mức độ không như nhau nên khi tính SLHTTĐ phải tính từng khoản mục chi phí phát sinh, lưu ý xem xét Sản lượng hoàn thành tương đương = Sản lượng sản xuất x Mức độ hoàn thành

Trang 28

18 CPNVLTT bỏ ngay từ đầu quá trình sản xuất, hay phát sinh liên tục hay là phát sinh nhất định ở những công đoạn nào trong quy trình sản xuất Xác định SLHTTĐ cần phải lưu ý: dòng chi phí có gắn liền với dòng vật chất của quá trình sản xuất hay không? Từ đó, hình thành nên hai phương pháp tính SLHTTĐ: phương pháp bình quân gia quyền và phương pháp nhập trước - xuất trước

 Theo phương pháp bình quân gia quyền: SLHTTĐ chỉ xét đến số

lượng SPDD cuối kỳ khi quy đổi Số lượng SPDD đầu kỳ coi như đã hoàn thành trong kỳ sản xuất theo dòng vật chất của quá trình sản xuất, được tính với Công thức 1.2

Công thức 1.2: Sản lượng hoàn thành tương đương bình quân gia quyền

 Theo phương pháp nhập trước - xuất trước: thì SPDD đầu kỳ sẽ

tiếp tục chế biến và hoàn thành trước; những sản phẩm mới bắt đầu sản xuất trong kỳ sẽ hoàn thành sau và một phần có thể là những SPDD cuối kỳ Phương pháp này tuân thủ theo dòng vật chất của quá trình sản xuất với Công thức 1.3

Công thức 1.3: Sản lượng hoàn thành tương đương nhập trước-xuất trước

Qua phương trình trên, SLHTTĐ trong kỳ gồm 3 loại

- Sản phẩm dở dang đầu kỳ được tiếp tục chế biến và hoàn thành;

- Sản phẩm mới bắt đầu sản xuất trong kỳ và đã hoàn thành;

Số lượng hoàn thành trong kỳ

Sản lượng

dở dang cuối kỳ

Trang 29

19

Từ đó, sản lượng tương đương trong kỳ được tính với Công thức 1.4

Công thức 1.4: Sản lượng hoàn thành tương đương nhập trước-xuất trước

Phương pháp tính giá thành

Trình tự tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có thể biểu diễn qua sơ đồ như Hình 1.6

Hình 1.6: Trình tự tập hợp chi phí tính giá thành theo quy trình sản xuất

Có thể thấy quá trình tính giá thành trong trường hợp này phù hợp với dòng vật chất của quá trình sản xuất Kế toán phải tính giá thành bán thành phẩm ở bước chế biến thứ nhất, để xác định giá trị bán thành phẩm từ bước 1 chuyển sang bước 2 và được xem là vật liệu chính tại bước này Quá trình tính giá thành diễn ra liên tục cho đến bước chế biến cuối cùng để tính giá thành của sản phẩm hoàn thành

Tại mỗi bước chế biến, giá thành đơn vị sản phẩm hoàn thành được tính tùy thuộc vào phương pháp tính sản lượng tương đương Nếu sản lượng tương

Sản lượng

hoàn thành

tương đương

Sản lượng dở dang đầu kỳ tiếp tục sản xuất và hoàn thành trong kỳ

Sản lượng bắt đầu sản xuất

và hoàn thành trong kỳ

Sản lượng tương đương của sản phẩm dở dang cuối kỳ

Trang 30

20

đương được tính theo phương pháp bình quân gia quyền thì cần quan tâm đến chi phí dở dang đầu kỳ để tính giá thành đơn vị theo Công thức 1.5

Công thức 1.5: Tính giá thành với SLHTTĐ bình quân gia quyền

Nếu sản lượng hoàn thành tương đương tính theo phương pháp nhập trước - xuất trước, giá thành đơn vị sản phẩm tương được theo Công thức 1.6

Công thức 1.6: Tính giá thành với SLHTTĐ nhập trước-xuất trước

Hai công thức trên được vận dụng cho từng khoản mục chi phí cụ thể, qua đó, kế toán tính được trị giá bán thành phẩm chuyển sang giai đoạn kế tiếp và giá trị sản phẩm dở dang vào cuối kỳ tại bước chế biến đó Với quy trình tính giá thành như trên luôn cân đối chi phí theo Công thức 1.7

Công thức 1.7: Tính giá thành theo quy trình sản xuất

1.3.2 Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp trực tiếp

a Điều kiện áp dụng

Doanh nghiệp sản xuất có nhà xưởng, máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất

có giá trị lớn phù hợp áp dụng tính giá thành theo phương pháp này Điển hình là các công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp nặng như sản xuất xi măng, …

Giá thành đơn vị sản phẩm

Tổng chi phí sản xuất trong kỳ

= Sản lượng tương đương trong kỳ

Chi phí sản

xuất dở dang

đầu kỳ

Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ

Giá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ

Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ

Trang 31

bộ trong quản trị chi phí sản xuất ở công ty

 Tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Xác định đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành sản phẩm Chi phí sản xuất phát sinh cần phân loại theo cách ứng xử chi phí Phần định phí sản xuất chung sẽ tập hợp riêng hoặc phân tách thành biến phí và định phí sản xuất chung trong trường hợp là chi phí hỗn hợp

Cuối kỳ, kế toán tổng hợp toàn bộ biến phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm theo Công thức 1.8

Công thức 1.8: Tính giá thành theo phương pháp trực tiếp

Công thức trên dùng làm cơ sở để lập báo cáo giá thành sản phẩm theo khoản mục chi phí

 Tính giá thành theo phương pháp trực tiếp là cơ sở

- Để phân tích mối quan hệ chi phí sản xuất-sản lượng tiêu thụ-lợi nhuận qua đó có quyết định hợp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh;

- Để lập kế hoạch được thuận lợi hơn khi hoạt động sản xuất kinh doanh

Giá thành

đơn vị sản phẩm

Tổng biến phí sản xuất

= Sản lượng hoàn thành tương đương trong kỳ

Trang 32

22

ở các mức sản lượng khác nhau;

- Để thực hiện công tác kiểm soát, đánh giá chi phí sản xuất phát sinh;

- Hỗ trợ công tác hoạch định hằng năm và ra các quyết định khác

Bên cạnh những công dụng trên, tính giá thành sản phẩm theo phương pháp trực tiếp vẫn có những hạn chế riêng [2, tr.126-127], như sau

- Việc phân loại chi phí theo cách ứng xử chỉ mang tính tương đối, dẫn đến mức độ chính xác và tin cậy của lợi nhuận theo phương pháp này không cao;

- Chỉ có các chi phí biến đổi được xem xét khi ra quyết định về định giá bán sản phẩm trong ngắn hạn Tuy nhiên, trong dài hạn cần xem xét đến cả biến phí và định phí;

- Giá trị hàng tồn kho trên Bảng cân đối kế toán sẽ nhỏ hơn so với trường hợp tính giá theo phương pháp toàn bộ

1.3.3 Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp chi phí mục tiêu

a Định nghĩa phương pháp chi phí mục tiêu

Theo tác giả Trương Bá Thanh [4, tr.2], định nghĩa về phương pháp chi phí mục tiêu như sau

“Phương pháp chi phí mục tiêu là tổng thể các phương pháp, công cụ quản trị cho phép đạt được mục tiêu chi phí và mục tiêu hoạt động ở giai đoạn thiết kế và kế hoạch hóa sản phẩm mới Phương pháp cũng cho phép cung cấp một cơ sở kiểm soát ở giai đoạn sản xuất và bảo đảm các sản phẩm này đạt được mục tiêu lợi nhuận đã được xác định phù hợp với chu kỳ sống của sản phẩm” Một điểm lưu ý trong định nghĩa này là chi phí mục tiêu liên quan đến khả năng lợi nhuận của sản phẩm gắn với chu kỳ sống sản phẩm, một cách tiếp cận khác biệt với các phương pháp truyền thống

Như vậy, định nghĩa về phương pháp chi phí mục tiêu nhấn mạnh mục tiêu cần phải đạt được với thời gian phân tích là chu kỳ sống của sản phẩm Điều này làm cho phương pháp chi phí mục tiêu khác với phương pháp chi

Trang 33

23 phí theo định mức truyền thống Từ đó chi phí mục tiêu trở thành một công cụ quản trị chi phí mà nhà hoạch định chính sách hoạt động sử dụng trong các giai đoạn thiết kế và sản xuất để cải tiến quá trình sản xuất, giảm chi phí sản xuất trong tương lai

b Giá thành mục tiêu

Giá thành mục tiêu là phương pháp tính giá thành sản phẩm được hình thành trên cơ sở chi phí mục tiêu Giá thành mục tiêu được xây dựng theo Công thức 1.9

Công thức 1.9: Giá thành sản phẩm theo phương pháp chi phí mục tiêu

c Khả năng vận dụng phương pháp tính giá thành mục tiêu

Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp chi phí mục tiêu là một trong các phương pháp trong kế toán quản trị Tính ưu việt của phương pháp này đã được thừa nhận trên thế giới vì chi phí mục tiêu là một công cụ khích lệ và tạo thuận lợi cho việc liên kết giữa các bộ phận của qui trình sản xuất sản phẩm

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, của môi trường kinh tế,

tổ chức sản xuất và quản lý trong những năm gần đây đã ảnh hưởng đáng kể các phương pháp kế toán chi phí truyền thống ở các nước trên thế giới và Việt Nam có lẽ cũng không nằm ngoài trào lưu đó mặc dù mức độ ảnh hưởng có nhiều khác biệt

Phương pháp này có vẻ hoàn toàn mới ở nước ta, nơi mà kế toán quản trị đang ở giai đoạn đầu của quá trình hình thành Tuy nhiên, việc tiếp cận kế toán quản trị trong bối cảnh mới ở nước ta không nên đi theo những phương pháp truyền thống mà phải có sự sàng lọc cần thiết và tiếp cận những phương pháp hiện đại Mặc dù môi trường kinh tế, kỹ thuật, công nghệ và tổ chức quản lý ở nước ta có sự cách biệt lớn so với các nước phát triển Tuy nhiên, khả năng vận dụng phương pháp này trong các công ty có áp dụng qui trình Giá thành mục tiêu = Chi phí mục tiêu - Chi phí BH&QLDN - Chi phí lãi vay

Trang 34

24 công nghệ và tổ chức sản xuất tiên tiến, nhất là các công ty liên doanh và có vốn đầu tư nước ngoài là hoàn toàn có thể Phương pháp này có phạm vi áp dụng rộng lớn cho mọi loại hình công ty, mọi lĩnh vực sản xuất Do đó, hứa hẹn sẽ được áp dụng rộng rãi trong thời gian đến [4, tr.1-2]

d Mô hình phương pháp chi phí mục tiêu

Cũng theo tác giả Trương Bá Thanh [4, tr.2-4], mặc dù các nguyên tắc của phương pháp chi phí mục tiêu được trình bày theo lý thuyết tương đối giống nhau nhưng các mô hình đưa ra của phương pháp này có một vài khác biệt như hình 1.7; 1.8; 1.9

Hình 1.7: Quản trị chi phí sản xuất theo Sakurai

Khái niệm Kaizen có thể được hiểu như là sự xem xét cải tiến không ngừng chi phí nhằm duy trì liên tục tỷ lệ chi phí/lợi nhuận ở mức tốt nhất Kaizen costing quan tâm đến nhận diện những cơ hội để cải tiến chi phí trong giai đoạn chế tạo

Chi phí ước tính

Chi phí mục tiêu

Giai đoạn phác họa/giảm chi phí sản xuất

Cải tiến quá trình phác thảo SX và công nghệ

Chi phí mục tiêu

Chi phí trần (giới

hạn trên)

Kaizen chi phí kế hoạch

Cải tiến các phương pháp sản xuất

1

2

3

Trang 35

25

Hình 1.8: Chi phí mục tiêu và các giai đoạn sản xuất sản phẩm

Trang 36

Giai đoạn sản xuất

Giảm chi phí không ngừng (cost kaizen)

Hình 1.9: Phương pháp chi phí mc tiêu Toyota được trình bày bi Sakurai

Phương pháp chi phí mục tiêu được bắt đầu bằng việc ước tính giá bán của sản phẩm Giá bán ước tính dựa vào công dụng và thuộc tính của sản phẩm, các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Trên cơ sở lợi nhuận mong đợi, công ty phải xác định chi phí sản xuất và tiêu thụ có thể chấp nhận để tiến hành sản xuất sản phẩm Chi phí mục tiêu được xác lập dựa vào chi phí có thể chấp nhận và chi phí ước tính theo các điều kiện sản xuất hiện có của công ty Mỗi giai đoạn phát triển sản phẩm sẽ được đánh giá nhằm đạt được mục tiêu chi phí đã xác định Việc đánh giá này dựa trên phân tích giá trị nhằm đánh giá việc thiết kế sản phẩm và nhận diện các cơ hội có thể cải tiến giá trị của sản phẩm

e Quy trình thực hiện phương pháp chi phí mục tiêu

Cũng theo tác giả Trương Bá Thanh [4, tr.4-5], để tổ chức sản xuất sản phẩm đạt được giá thành mục tiêu cần trải qua 3 giai đoạn Cụ thể

 Giai đoạn 1: Xác định chi phí mục tiêu theo các bộ phận của sản phẩm

Chi phí mục tiêu phải được xác định theo từng bộ phận cấu thành sản phẩm Việc xác định chi phí cho các thành phần này phải dựa vào mức độ

Trang 37

27

quan trọng khác nhau về vai trò của các thành phần đối với sản phẩm, và từ

đó xác định tỷ lệ chi phí của từng thành phần trong tổng số chi phí của sản phẩm theo tỷ lệ thuận với mức độ quan trọng của nó

 Giai đoạn 2: Tổ chức thực hiện các mục tiêu chi phí đã xác định

Giai đoạn đầu liên quan đến quá trình phân tích Giai đoạn thứ hai này liên quan đến tổ chức thực hiện Quá trình thực hiện chi phí sản xuất cần phải phát hiện những thành phần của sản phẩm có chi phí quá cao so với tầm quan trọng được xác định ở bước thứ nhất Quá trình sản xuất những bộ phận này phải được điều chỉnh, áp dụng các nguyên tắc và phương pháp quản lý nghiêm ngặt để giảm chi phí sản xuất Bên cạnh đó, ở giai đoạn này cũng cần phát hiện các thành phần của sản phẩm có chi phí quá thấp so với tầm quan trọng của nó Việc sản xuất các thành phần này cũng được điều chỉnh cho phù hợp với tầm quan trọng của nó trong sản phẩm sản xuất

 Giai đoạn 3: Đánh giá kết quả

Thực hiện quá trình sản xuất theo phương pháp chi phí mục tiêu có thể dẫn đến một trong ba trường hợp sau:

Trường hợp 1: chi phí thực tế đạt đến chi phí trần thì cần phải dừng lại

các hoạt động ở giai đoạn hai vì sản phẩm sản xuất không mang lại lợi nhuận

Trường hợp 2: chưa đạt đến chi phí trần nhưng đạt đến chi phí mục

tiêu: trong trường hợp này, cần xem xét lại giai đoạn một và giai đoạn hai Phải xem xét kỹ quá trình phác họa sản phẩm đã hợp lý chưa hoặc xem xét lại các bước trong giai đoạn sản xuất để giảm chi phí

Trường hợp 3: chi phí thực tế nhỏ hơn chi phí mục tiêu Đây là mục

tiêu cao nhất là doanh nghệp muốn đạt được

Để từ đó, công ty

+ Kế hoạch hóa tốt hơn quá trình chế tạo sản phẩm;

+ Lựa chọn đầu tư hợp lý;

Trang 38

28 + Lựa chọn công nghệ phù hợp mang lại hiệu suất cao;

+ Vận dụng hệ thống sản suất “kịp thời” (Just-in time) để loại trừ các chi phí phát sinh do chờ đợi các yếu tố sản xuất, chờ đợi một giai đoạn nào đó hoặc do dự trữ quá cao;

+ Xây dựng hệ thống quản trị chất lượng tổng thể để tránh lãng phí chi phí

T ính giá thành theo phương pháp chi phí mục tiêu nhằm [4, tr.4-5]

- Giúp nhà quản trị xác định được tỷ trọng chi phí sản xuất theo từng

bộ phận cấu thành sản phẩm; phân tích quá trình sản xuất để điều chỉnh cho phù hợp tỷ trọng chi phí sản xuất của từng bộ phận cấu thành sản phẩm so với tỷ lệ mức độ quan trọng của bộ phận đó nhằm tăng giá trị của sản phẩm

đồng thời đạt mục tiêu cắt giảm, tiết kiệm chi phí sản xuất.

- Một công cụ quản trị chi phí mà nhà hoạch định chính sách hoạt động

sử dụng trong các giai đoạn thiết kế và sản xuất để cải tiến quá trình sản xuất, giảm chi phí sản xuất trong tương lai.

- Nhắc nhở nhà quản trị luôn xem xét cải tiến không ngừng chi phí nhằm duy trì liên tục tỷ lệ chi phí/lợi nhuận ở mức tốt nhất và quan tâm đến nhận diện những cơ hội để cải tiến chi phí sản xuất và giá trị sản phẩm trong giai đoạn chế tạo sản phẩm.

Trang 39

29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trước tình hình kinh tế rất ảm đạm trong giai đoạn Tồn tại và phát triển

là yêu cầu bức thiết của công ty Từ đó, đòi hỏi công ty phải hoạt động với hiệu quả cao nhất với mức chi phí thấp nhất Trong đó, chi phí sản xuất để tạo nên giá thành sản phẩm đóng vai trò then chốt Để thực hiện mục tiêu giảm giá thành đồng thời đảm bảo giữ nguyên hoặc tăng chất lượng, công năng của sản phẩm là một bài toán được đặt ra và cần lời giải đối với các nhà quản trị Nội dung chương 1 của đề tài tập trung trình bày những lý thuyết cơ bản

về chi phí sản xuất và các phương pháp tính giá thành sản phẩm trong công ty sản xuất như các cách phân loại chi phí sản xuất, các phương pháp tính giá thành sản phẩm và điều kiện áp dụng

Trên cơ sở đó đề tài nhận diện các ưu, khuyết điểm trong công tác tập hợp chi phí sản xuất và của các phương pháp giá thành sản phẩm Đây là những tiền đề làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng công tác tính giá thành sản phẩm cũng như định hướng nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán tính giá thành sản phẩm tại công ty

Trang 40

30

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THÉP THÁI BÌNH DƯƠNG

CỦA CÔNG TY

2.1.1 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty

a Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty

Công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất-kinh doanh vật liệu xây

dựng với quy mô sản xuất lớn trong bối cảnh đất nước đang trong giai

đoạn đang phát triển, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng dẫn tới nhu cầu lớn về vật liệu xây dựng Điều này khiến sản phẩm của Công ty cũng được sự quan tâm và bảo hộ nhiều hơn từ phía chính phủ thông qua

biện pháp tăng thuế nhập khẩu phôi thép từ 5% lên 8%, tăng thuế nhập khẩu thép xây dựng thành phẩm từ 12% lên 15% Bên cạnh đó, các tổ

chức tín dụng cũng tạo thuận lợi trong việc tiếp cận nguồn tín dụng với lãi suất ưu đãi, ưu tiên cho vay ngoại tệ nhập khẩu máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất phôi thép, sắt phế liệu và một số vật tư, nguyên liệu phục

vụ cho sản xuất Do đó, trong những năm tới, Công ty có nhiều tiềm năng phát triển và củng cố vị thế của mình trên thương trường Đặc biệt trong những giai đoạn chuyển giao và nhu cầu xây dựng, sản xuất đang ngày càng tăng Một tín hiệu khả quan nữa đối với tình hình kinh doanh của Công ty trong giai đoạn sắp tới Đó là vừa qua, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa 13, Quốc hội đã tán thành giảm các điều kiện giải ngân đối với gói tín dụng 30.000 tỷ đồng để "rã băng" thị trường bất động sản Điều này,

sẽ giúp tháo gỡ khó khăn về vốn cho những dự án bất động sản, công trình xây dựng dở dang Dẫn đến nhu cầu về vật liệu xây dựng trong thời gian sắp tới sẽ tăng cao

Ngày đăng: 26/11/2017, 02:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w