Xuất phát từ tình hình kinh doanh và nhu cầu thực tế, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đăk Lăk” nhằm đưa
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Chiến Thắng
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 3
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng 3
1.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế 3
1.1.3 Phân loại tín dụng ngân hàng 5
1.2 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 6
1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng 6
1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng 8
1.2.2.1 Rủi ro giao dịch (Transaction risk) 8
1.2.2.2 Rủi ro danh mục (Porfolio risk) 8
1.2.3 Tác động của rủi ro tín dụng 8
1.2.4 Các biểu hiện nhận dạng của rủi ro tín dụng ngân hàng 10
1.2.4.1 Hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng 10
1.2.4.2 Báo cáo tài chính của khách hàng 10
1.2.4.3 Biểu hiện về mặt pháp luật 11
1.2.4.4 Biểu hiện trong quan hệ với ngân hàng 11
1.2.4.5 Biểu hiện nhận dạng khác 12
1.2.5 Các nhân tố tác động đến rủi ro tín dụng 12
1.2.5.1 Các nhân tố từ phía khách hàng 12
1.2.5.2 Các nhân tố từ phía ngân hàng 14
1.2.5.3 Các nhân tố khác 17
1.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 18
1.3.1 Mục đích quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng 18
1.3.2 Nguyên tắc trong quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng 19
Trang 31.3.3 Nội dung về quản trị rủi ro tín dụng 19
1.3.3.1 Nhận diện rủi ro tín dụng 19
1.3.3.2 Đo lường rủi ro tín dụng 24
1.3.3.3 Kiểm soát rủi ro tín dụng 30
1.3.3.4 Tài trợ rủi ro tín dụng 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐĂK LĂK 38
2.1 GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH ĐĂK LĂK 38
2.1.1 Quá trình phát triển 38
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 39
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh tại BIDV Đăk Lăk 40
2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn: 41
2.1.3.3 Hoạt động khác 44
2.2 TÌNH HÌNH RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN TỈNH ĐĂK LĂK 45
2.2.1 Tình hình rủi ro tín dụng tại BIDV Đăk Lăk 45
2.2.1.1 Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu phân theo ngành kinh tế 45
2.2.1.2 Nợ xấu phân theo thành phần kinh tế: 46
2.2.1.3 Nợ xấu phân theo tài sản bảo đảm: 47
2.2.1.4 Rủi ro tín dụng từ các yếu tố khác 48
2.2.2 Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng: 48
2.2.2.1 Rủi ro do các nguyên nhân từ phía khách hàng vay 48
2.2.2.2 Rủi ro do các nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay 49
2.2.2.3 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khác: 52
Trang 42.3 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN TỈNH ĐĂK LĂK 54
2.3.1 Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Đăk Lăk: 54
2.3.1.1 Thực trạng nhận diện rủi ro tín dụng: 54
2.3.1.2 Thực trạng đo lường rủi ro tín dụng 56
2.3.1.3 Thực trạng kiểm soát rủi ro tín dụng 67
2.3.1.4 Thực trạng tài trợ rủi ro tín dụng 79
2.3.2 Một số hạn chế trong công tác quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Đăk Lăk 84
2.3.2.1 Chưa có giới hạn cho vay cụ thể đối với từng ngành nghề/lĩnh vực đầu tư. 84
2.3.2.2 Hạn chế thông tin trong việc ra quyết định cấp tín dụng và xử lý nợ 84
2.3.2.3 Khả năng phân tích ngành, mặt hàng, lĩnh vực còn yếu 85
2.3.2.4 Cấp tín dụng có biêu hiện lạm dụng tài sản thế chấp, chưa thực hiện đánh giá lại tài sản bảo đảm cho các khoản tín dụng một cách thường xuyên 85
2.3.2.6 Thông tin đầu vào cung cấp cho việc xếp hạng tín dụng còn hạn chế 87
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN – CHI NHÁNH ĐĂK LĂK 88
3.1 QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGẦN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 88
3.1.1 Quan điểm quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam: 88
3.1.2 Định hướng quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 89
3.2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG: 90
3.2.1 Xây dựng hệ thống thông tin khách hàng 91
Trang 53.2.2 Xây dựng bảng thống kê các dấu hiệu nhận diện rủi ro tín dụng 92
3.2.3 Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng 93
3.2.4 Xây dựng cơ cấu tín dụng và đa dạng danh mục tín dụng 93
3.2.5 Tăng cường giám sát danh mục tín dụng 94
3.2.6 Hoàn thiện chính sách tín dụng, quy trình cấp tín dụng 95
3.2.7 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài sản bảo đảm tiền vay 96
3.2.7.1 Hoàn thiện kỹ thuật thẩm định và đề xuất biện pháp quản lý TSĐB 96
3.2.7.2 Các biện pháp hỗ trợ 99
3.2.8 Hoàn thiện mô hình tổ chức cấp tín dụng và xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng 100
3.2.9 Tăng cường kiểm tra, kiểm soát nội bộ 101
3.2.10 Thực hiện tốt việc phân loại nợ và sử dụng quỹ dự phòng để tài trợ rủi ro tín dụng 102
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ: 103
3.3.1 Kiến nghị đối với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 103
3.3.1.1 Tăng cường việc cung cấp thông tin của bộ phận quản lý rủi ro thị trường 103
3.3.1.2 Tăng cường hệ thống thông tin nội bộ 104
3.3.1.3 Phòng ngừa rủi ro tín dụng thông qua việc mở rộng các nghiệp vụ phát sinh, nghiệp vụ chứng khoán hóa bảng tổng kết tài sản 104
3.3.1.4 Các kiến nghị khác đối với BIDV 105
3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 105
3.3.2.1 Hoàn thiện các văn bản chế độ 105
3.3.2.2 Tăng cường hoạt động của tâm thông tin tín dụng (CIC) 106
3.3.2.3 Kiểm toán để xác định nợ xấu cửa hệ thống Ngân hàng Việt Nam 106
3.3.2.4 Tăng cường và nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, kiểm soát 106
3.3.3 Kiến nghị với Chính phủ, Nhà nước 107
Trang 63.3.3.1 Hoạch định chính sách 107
3.3.3.2 Thay đổi cơ chế pháp lý cho Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng (DATC) 108
3.3.3.3 Xử lý tài sản đảm bảo 109
3.3.3.4 Các kiến nghị khác với Chính phủ 109
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu
bảng
2.4 Kết quả hoạt động dịch vụ theo từng dòng sản phẩm 44
2.5 Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu theo ngành kinh tế các năm
2.10 Kết quả trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng 74
2.11 Quỹ dự phòng, sử dụng quỹ DPRR tín dụng của BIDV Đăk Lăk 75
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
2.1 Chênh lệch Thu – Chi sau trích DPRR qua các năm 41
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chủ yếu, mang lại nguồn thu nhập lớn cho các ngân hàng thương mại Việt Nam Tuy nhiên, hoạt động tín dụng là hoạt động luôn chứa đựng nhiều rủi ro và tổn thất tín dụng là tổn thất lớn nhất đối với hoạt động của ngân hàng Rủi ro tín dụng luôn song hành với hoạt động tín dụng, không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro tín dụng mà phải quản trị rủi ro tín dụng một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận diện, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro tín dụng đối với hoạt động của ngân hàng
Những năm qua Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đăk Lăk (BIDV Đăk Lăk) đã đóng góp không nhỏ cho sự phát triển lĩnh vực tài chính - ngân hàng của tỉnh Đăk Lăk nói riêng và nền kinh tế nói chung, đồng thời đã đạt được một số kết quả nhất định về quản trị rủi ro tín dụng Song, trong môi trường kinh doanh đầy biến động, rủi ro tín dụng cũng ngày càng trở nên đa dạng hơn về hình thức, phức tạp hơn về mức độ, và luôn có khả năng xảy ra BIDV Đăk Lăk sẽ khó đảm bảo an toàn và hiệu quả cao trong hoạt động tín dụng nếu không thường xuyên tăng cường quản trị rủi ro tín dụng
Xuất phát từ tình hình kinh doanh và nhu cầu thực tế, tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đăk Lăk” nhằm đưa ra các giải pháp,
kiến nghị phù hợp trong công tác quản trị rủi ro tín dụng, góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững của BIDV Đăk Lăk nói riêng và BIDV nói chung
2 Mục đích nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng
Trang 10trong ngân hàng thương mại
- Phân tích thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Đăk Lăk
- Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Đăk Lăk và đề xuất những kiến nghị đối với các bộ, ngành liên quan
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quản trị rủi ro tín dụng và các giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Đăk Lăk
- Phạm vi nghiên cứu: Lý luận chung về quản trị rủi ro tín dụng và thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV Đăk Lăk
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài: Phương pháp thống kê phân
tích, tổng hợp và so sánh các tài liệu thu thập được tại BIDV Đăk Lăk
5 Cấu trúc của luận văn: Gồm 3 phần:
Chương 1: Tổng quan về quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng thuơng mại Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đăk Lăk
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản trị rủi
ro tín dụng tại BIDV Đăk Lăk
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Về khái niệm, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị
từ người sở hữu sang người sử dụng, để sau một thời gian nhất định, người sử dụng phải hoàn trả cho người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu Phần chênh lệch gọi là lợi tức tín dụng
Khoản lợi tức gọi là giá bán quyền sử dụng tiền tệ, khoản lợi tức này thường là rất nhỏ so với giá trị khoản cho vay, nên sự bù đắp khi rủi ro xảy ra
là quá nhỏ Từ đó có thể thấy rằng, quan hệ tín dụng buộc phải có lòng tin, trong nhiều trường hợp, vì thiếu lòng tin nên người ta phải tăng cường và gia
cố bằng các “quyền truy đòi” bằng tài sản (thế chấp) hay bằng pháp lý (bảo lãnh) Thiếu lòng tin, quan hệ tín dụng có thể không phát sinh Theo Điều 04 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2011 của Việt Nam “Cấp tín dụng là việc
Tổ chức tín dụng thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”
Qua khái niệm về tín dụng và những điều phân tích trên, ta thấy rằng, tín dụng ngân hàng có ba đặc trưng cơ bản, đó là: lòng tin, tính thời hạn và tính hoàn trả
1.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và thể nhân dưới hình thức tiền tệ Do tín
Trang 12dụng ngân hàng có quan hệ mật thiết với các thành phần kinh tế, nên nó có vai trò đặc biệt trong nền kinh tế Đó là:
- Là một trong những phương tiện thúc đẩy kinh tế phát triển và tăng trưởng
+ Tín dụng ngân hàng có thể đáp ứng đầy đủ các nhu cầu về vốn mà không bị hạn chế bởi quy mô, thời hạn, phương hướng vận động, do vậy nó kích thích và mở rộng sản xuất, thúc đẩy quá trình cạnh tranh, từ đó mở rộng được thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ
+ Tín dụng ngân hàng còn tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển, đầu tư cho các ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển và tăng trưởng
- Một trong những công cụ của chính sách tiền tệ quốc gia: Ngân hàng Trung Ương sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ thông qua hệ thống NHTM, với hoạt động kinh doanh chủ yếu là tín dụng nhằm điều tiết, ổn định cung cầu và lưu thông tiền tệ, chống lạm phát thông qua các công cụ như: lãi suất, tái chiết khấu, hạn mức tín dụng, dự trữ bắt buộc
- Góp phần củng cố và tăng cường chế độ hạch toán kinh tế cho các doanh nghiệp
Bằng chính sách và những biện pháp tín dụng, tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung kịp thời cho hoạt động kinh doanh của DN thuộc các lĩnh vực sản xuất, lưu thông và dịch vụ
Như vậy, việc sử dụng vốn vay của NH vừa đáp ứng được nhu cầu vốn
bị thiếu hụt trong kinh doanh, vừa ý thức cho DN về trách nhiệm của mình trong quá trình sử dụng vốn Từ đó giúp cho DN có những lựa chọn, quyết định của mình trong việc sử dụng nguồn vốn vay NH để mở rộng hay thu hẹp quy mô kinh doanh hiện có
DN sử dụng vốn vay, khi đến hạn phải trả vốn kèm theo lãi vay cho NH,
Trang 13điều đó buộc các DN phải cân nhắc kỹ lưỡng khi sử dụng vốn sao cho mang lại hiệu quả cao nhất
- Tạo điều kiện phát triển quan hệ kinh tế giữa quốc gia với quốc tế
Sự phát triển của nền kinh tế mỗi quốc gia đều gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế quốc tế Vì vậy, tín dụng ngân hàng không chỉ bó hẹp phạm vi hoạt động trong mỗi quốc gia, mà còn phát triển mạnh mẽ ra nước ngoài Nó thúc đẩy quan hệ ngoại thương, giao lưu kinh tế và cạnh tranh quốc tế, do đó tạo điều kiện phát triển quan hệ kinh tế của mỗi quốc gia với quốc tế
1.1.3 Phân loại tín dụng ngân hàng
- Căn cứ vào thời hạn cho vay:
+ Cho vay ngắn hạn: có thời hạn dưới 01 năm và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các DN và các nhu cầu chỉ tiêu ngắn hạn của cá nhân
+ Cho vay trung hạn: Thời hạn từ 01 năm đến 05 năm, chủ yếu dùng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các công trình mới có quy mô nhỏ, thời gian thu hồi vốn nhanh
+ Cho vay dài hạn: có thời hạn trên 05 năm Loại tín dụng dài hạn chủ yếu để đáp ứng nhu cầu vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến hoặc đổi mới thiết
bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các công trình mới có quy mô lớn và thời gian thu hồi vốn lâu hơn
- Căn cứ vào mục đích tín dụng:
+ Tín dụng bất động sản là loại tín dụng tài trợ cho các mục đích về bất động sản:
* Tín dụng ngắn hạn cho xây dựng và mở rộng đất đai
* Tín dụng dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, căn hộ, cơ sở dịch vụ, trang trại và các mục đích mua bất động sản khác
Trang 14+ Tín dụng công thương nghiệp: là các khoản tín dụng cấp cho các doanh nghiệp để trang trải các chi phí như mua hàng hóa, nguyên vật liệu, trả thuế và chi trả lương
+ Tín dụng nông nghiệp: là các khoản tín dụng cấp cho các hoạt động nông nghiệp, nhằm trợ giúp cho các hoạt động trồng trọt, thu hoạch và chăn nuôi gia súc
+ Tín dụng cá nhân: là các khoản tín dụng cấp cho cá nhân để mua sắm hàng hóa tiêu dùng đắt tiền như xe hơi, nhà di động, trang thiết bị trong nhà + Tín dụng cho các tổ chức tài chính: là các khoản tín dụng cấp cho các ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác + Cho thuê tài chính: là việc NH mua các trang thiết bị, máy móc và cho thuê lại
+ Tín dụng khác: bao gồm các loại tín dụng khác chưa được phân loại ở trên
- Căn cứ vào bảo đảm tín dụng:
+ Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay
+ Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác
1.2 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định, người sử dụng phải hoàn trả cho người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu Do đó, yếu tố thời gian đã xen lẫn vào và cũng vì có sự xen lẫn đó cho nên có sự bất trắc, rủi ro xảy ra
Trang 15Về khái niệm, thì rủi ro tín dụng là việc xuất hiện các biến cố xấu không mong đợi gây mất mát, thiệt hại vốn, tài sản trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng Có nghĩa là khả năng khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng cấp cho họ Cụ thể, các NH
sẽ gặp rủi ro tín dụng khi không nhận lại được cả gốc và lãi của khoản vay đầy đủ và đúng hạn
Biểu hiện ra bên ngoài của rủi ro tín dụng là khối lượng nợ xấu Tại Việt Nam, theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của NHNN thì “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)”, cụ thể nhóm 3 trở xuống gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày
Còn theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê – Liên hợp quốc thì “về
cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên
90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi nhờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”
Như vậy, nợ xấu về cơ bản cũng được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ bị nghi ngờ Đây được coi là định nghĩa của chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) đang được áp dụng phổ biến trên thế giới
Những thước đo rủi ro tín dụng này cho thấy rủi ro ở độ rộng với những tầng nấc khác nhau Do đó vấn đề không phải là con số nợ xấu chiếm trong tổng dư nợ cao hay thấp, mà nợ xấu được định lượng ở độ rộng hay hẹp Dù
áp dụng phương pháp nào, tính chính xác của các kết quả phụ thuộc rất nhiều vào việc liệ NH có thực sự nghiêm túc nhìn nhận rủi ro tín dụng hay không và chính sách quản trị rủi ro có nhằm mục tiêu tạo nên tính minh bạch trong xác
Trang 16định rủi ro hay không
1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng
1.2.2.1 Rủi ro giao dịch (Transaction risk): Rủi ro giao dịch là một
hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế
trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay đánh giá khách hàng
- Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng để ra quyết định cho vay
- Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, liên quan đến tài sản đảm bảo
- Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề
1.2.2.2 Rủi ro danh mục (Porfolio risk): Rủi ro danh mục là một
hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những nguyên nhân khách quan từ nền kinh tế, môi trường, ngành nghề nên khó có thể giảm thiểu rủi ro và rủi ro do những nguyên nhân chủ quan gây nên có thể giảm
thiểu nhờ đa dạng hóa cho vay để phân tán rủi ro [1, tr 143-144-145]
- Rủi ro nội tại (Intrinsic risk): Xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế
- Rủi ro tập trung (Concentration risk): NH tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều DN hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định
1.2.3 Tác động của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng xảy ra sẽ gây tác hại không những cho bản thân NH, mà còn có thể gây tác hại nghiêm trọng và không thể lường trước đối với chính người đi vay và đối với cả nền kinh tế
Trang 17- Đối với NHTM: Mức thiệt hại do rủi ro tín dụng gây ra trong phạm vi
NH có thể tự bù đắp được, thì nó cũng gây ra hậu quả là làm giảm số vốn hoạt động của NHTM, giảm lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng và làm giảm hiệu quả kinh doanh của NHTM Nếu mức thiệt hại do rủi ro tín dụng gây ra vượt quá khả năng tự bù đắp của bản thân NH, thì có thể đẩy NH tới chỗ phá sản
- Đối với người đi vay: Nguyên nhân chính của rủi ro tín dụng ngân hàng, chủ yếu là người đi vay không có khả năng hoàn trả đầy đủ khoản vay,
do xuất phát từ các rủi ro trong chính hoạt động kinh doanh của người vay Với tình hình tài chính không lành mạnh, kèm theo đó là các khoản nợ quá hạn, người vay đã tự đánh mất nguồn tài trợ các ngân hàng – nơi cung ứng vốn chủ yếu Thiếu vốn, các DN phải bó tay nhìn các cơ hội kinh doanh trôi qua Mặt khác, các tài sản bảo đảm cho khoản vay có thể bị tịch thu hoặc phát mãi để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, người vay sẽ phải đối mặt với nguy cơ phá sản
- Đối với nền kinh tế: NHTM cấp tín dụng cho khách hàng luôn vì mục đích cung cấp thêm vốn đầu tư cần thiết cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất và lưu thông hàng hóa, tạo thêm nhiều sản phẩm mới cho xã hội, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người sử dụng vốn vay Đồng thời, tăng tích lũy cho nền kinh tế
Khi rủi ro tín dụng xảy ra, đây là minh chứng rõ ràng về việc khách hàng vay đã không thực hiện được hiệu quả đầu tư như đã đặt ra khi nhận vốn tín dụng từ NHTM Do đó làm thiệt hại rất lớn đến nền kinh tế
Các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực và trên thế giới đã minh chứng rằng các ngân hàng lớn sụp đổ thì hậu quả của nó không giới hạn trong phạm vi một quốc gia, mà còn mang tính quốc tế
Tóm lại, tác hại của rủi ro tín dụng là rất lớn và phạm vi rất rộng Do đó,
Trang 18việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng là vấn đề được đặt biệt quan tâm không chỉ trong phạm vi các ngân hàng, mà cả trong nền kinh tế Một cách khác, việc quản trị rủi ro tín dụng nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong các ngân hàng là vô cùng quan trọng
1.2.4 Các biểu hiện nhận dạng của rủi ro tín dụng ngân hàng
Khi cấp tín dụng cho khách hàng, NH luôn mong muốn khách hàng sử dụng vốn vay có hiệu quả và hoàn trả đầy đủ vốn và lãi đúng kỳ hạn theo những quy định đã cam kết trong hợp đồng tín dụng Nhưng hoạt động kinh doanh có nhiều bất trắc, NH không thể chắc chắn rằng mình sẽ thu hồi đầy đủ gốc và lãi của khoản vay và trong thực tế có nhiều biểu hiện ám chỉ khó khăn
về tài chính của người đi vay
1.2.4.1 Hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng
Các dấu hiệu nhận biết bao gồm: Thị trường cung cấp đầu vào của DN
có vấn đề, làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường của
DN Thị trường tiêu thụ sản phẩm bão hòa, hoặc bị thu hẹp DN mở rộng hoạt động kinh doanh vào các lĩnh vực có độ rủi ro cao, muốn mở rộng điều hành kinh doanh quá nhanh và quá tin vào lượng mua bán hàng hóa tăng sẽ giải quyết được tất cả những vấn đề của DN
Các dấu hiệu khác là: DN luôn có những quyết định tức thì và vội vã trong hoạt động kinh doanh, DN thực hiện mua bán trước khi thu xếp tài chính, có sự gia tăng bất thường của hàng tồn kho
Một số chỉ tiêu phản ánh độ hoàn hảo trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: (i) vòng quay vốn lưu động; (II) vòng quay hàng tồn kho; (iii) vòng quay các khoản phải thu; (iv) hiệu suất sử dụng tài sản cố định
1.2.4.2 Báo cáo tài chính của khách hàng
Thu nhập không thường xuyên, không ổn định, cơ cấu vốn không hợp lý,
hệ số vòng quay vốn lưu động đạt thấp, cơ cấu chi phí không hợp lý, lưu
Trang 19chuyển tiền tệ không tích cực Những chỉ tiêu quan trọng của báo cáo tài chính thông qua các tỷ lệ
- Đánh giá cơ cấu của tài sản: (i) tiền tệ/tổng tài sản; (ii) các khoản phải thu/Tổng tài sản; (iii) Hàng tồn kho/tổng tài sản; (iv) giá trị hàng tồn kho/tổng tài sản; (v) giá trị còn lại của TSCĐ/tổng tài sản
- Đánh giá cơ cấu của nguồn vốn: (i) các khoản phải trả/tổng nguồn vốn; (ii) nợ ngắn hạn/tônggr nguồn vốn; (iii) tổng các khoản nợ ngắn hạn/tổng nguồn vốn; (iv) các khoản phải trả khác/tổng nguồn vốn; (v) vốn chủ sở hữu/tổng nguồn vốn
- Đánh giá cơ cấu trong tổng doanh thu: (i) chi phí bán hàng/doanh thu; (ii) tổng lợi nhuận/doanh thu; (iii) chi phí lao động/doanh thu; (iv) chi phí bán hàng, hành chính, khác/doanh thu; (iv) chi phí khấu hao/doanh thu; (v) chi phí lãi vay/doanh thu; (vi) thu nhập trước thuế/doanh thu
Về mặt tổ chức: sự thay đổi về nhân sự trong ban lãnh đạo của DN, cơ cấu nhân sự DN không hợp lý, các khó khăn về lao động, chủ DN ốm kéo dài hay chết
1.2.4.3 Biểu hiện về mặt pháp luật
DN đứng trước các vụ kiện về nghĩa vụ tài chính, có các vụ án liên quan đến DN hoặc người điều hành DN, cơ chế, pháp luật điều chỉnh liên quan đến lĩnh vực kinh doanh của DN theo hướng bất lợi, DN bị thanh tra, kiểm tra bất thường và có những kết luận về việc vi phạm pháp luật
1.2.4.4 Biểu hiện trong quan hệ với ngân hàng
Nhận biết các dấu hiệu này dựa trên các hành động như: trì hoãn nộp các báo cáo tài chính, lưỡng lự khi cho phép cán bộ tín dụng đi thăm cơ sở sản xuất kinh doanh, có biểu hiện thiếu thiện chí trong mối quan hệ tin cậy, hợp tác với NH, sử dụng vốn sai mục đích, số dư tiền gửi giảm sút, khách hàng có
ý xin hoãn nợ hoặc khất nợ, hoàn trả nợ vay NH chậm hoặc quá kỳ hạn,
Trang 20không đầy đủ như cam kết, không cung cấp được các thông tin mà NH yêu cầu, dọa sẽ cắt đức quan hệ để chuyển sang NH khác
1.2.4.5 Biểu hiện nhận dạng khác
Bao gồm: Dư luận không tốt về DN, những ước tính quá chủ quan về khả năng sinh lợi và nguồn ngân quỹ của DN; có thái độ thù địch đối với các chủ nợ khác và bị chủ nợ xem là không có thái độ nghiêm túc trong việc thanh toán; sự xuất hiện của các chủ nợ dấu mặt; sự biến mất hay xuống giá của tài sản đảm bảo tiền vay; các ảnh hưởng của thảm họa thiên tai; đối với cá nhân, đó là các biểu hiện về tình trạng hôn nhân, việc làm, thu nhập, sức khỏe có liên quan đến việc hoàn trả khoản vay
Các dấu hiệu trên đây thể hiện các khó khăn về tài chính của khách hàng vay, các dấu hiệu này xuất hiện là xuất hiện khả năng khách hàng khó hoàn trả khoản vay đầy đủ và đúng hạn Vì vậy, chúng là cơ sở để NH tìm biện pháp điều chỉnh và ngăn ngừa kịp thời, tránh dẫn đến những khoản nợ xấu có thể dẫn tới các rủi ro tín dụng
1.2.5 Các nhân tố tác động đến rủi ro tín dụng
1.2.5.1 Các nhân tố từ phía khách hàng
Nguyên nhân từ phía khách hàng là một trong những nguyên nhân chính
và cổ điển nhất gây ra rủi ro tín dụng Nguyên nhân từ phía khách hàng bao gồm:
- Rủi ro trong hoạt động kinh doanh
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của DN sẽ xảy ra nếu việc tính toán triển khai dự án đầu tư sản xuất kinh doanh của DN thiếu khoa học, không được thực hiện kỹ càng và chính xác Tuy nhiên, cho dù phương án/dự án sản xuất kinh doanh của người đi vay đã được tính toán một cách chi tiết, khoa học và bám sát thực tế, thì việc đầu tư vẫn luôn chưa đựng khả năng xảy ra rủi
ro do những thay đổi bất ngờ, ngoài ý muốn và bất khả kháng, tác động đến
Trang 21các điều kiện sản xuất kinh doanh, làm phát sinh rủi ro cho DN và ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ cho NH
* Các DN phải gánh chịu rủi ro do sự biến động thị trường cung cấp dẫn đến khó khăn trong trả nợ ngân hàng
+ Thứ nhất, đó là giá cả nguyên vật liệu biến động làm tăng giá thành, làm giảm tổng lợi nhuận, kéo theo khả năng thu hồi vốn bị chậm, khó khăn trong trả nợ NH
+ Thứ hai, thiếu nguyên vật liệu phù hợp với dây chuyền công nghệ dẫn đến phải sử dụng các nguyên vật liệu khác thay thế Muốn khắc phục buộc phải thông qua các khâu gia công chế biến trước khi đưa vào sản xuất, hoặc phải tiến hành cải tạo dây chuyền sản xuất, làm chi phí sản xuất tăng và tiến
độ sản xuất bị chậm, ảnh hưởng hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN
* Các DN phải chịu thiệt hại trên thị trường tiêu thụ
+ Khối lượng sản phẩm sản xuất ra không phù hợp với nhu cầu tiêu dùng thực tế trên thị trường dẫn đến hàng hóa bị ứ đọng, làm DN không thu hồi vốn đúng thời hạn
+ Chất lượng sản phẩm sản xuất ra không đáp ứng được nhu cầu thị trường, phải bán hàng hóa thấp hơn giá thành Ngoài ra, DN phải tốn kém thêm chi phí quảng cáo, bảo hành, quà tặng hay những chi phí nâng cao chất lượng sản phẩm để bù đắp cho khoản hàng hóa tiêu thụ chậm
* Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, không đảm bảo độ an toàn trong sử dụng vốn, gây lãng phí, thậm chí mất vốn Khả năng trả nợ của DN đối với NH gặp khó khăn, gây chậm trễ, hoặc không thể trả được nợ
- Năng lực tài chính của doanh nghiệp, khả năng thanh toán yếu kém Các nguồn thu của DN rất hạn chế, nhưng khối lượng các khoản nợ đến hạn quá lớn (như các khoản nợ ngân sách, nợ người bán, nợ ngân hàng ) Cơ
Trang 22cấu về vốn đầu tư của DN không hợp lý, quy mô hoàn toàn không có khả năng mở rộng, nhưng giá trị TSCĐ tăng lên rất nhanh
- Xuất phát từ ý muốn chủ quan của người vay
Việc không trả nợ đúng hạn cũng có thể xuất phát từ ý định chủ quan của người đi vay không muốn trả nợ (có khả năng, nhưng không thực hiện), loại nguyên nhân gây ra nợ quá hạn này được xếp vào loại nguyên nhân rủi ro về
tư cách đạo đức của người đi vay, đây là nguyên nhân khá quan trọng trong việc gây ra nợ xấu, rủi ro tín dụng cho NH
1.2.5.2 Các nhân tố từ phía ngân hàng
- Hoạch định chính sách cho vay của ngân hàng không phù hợp
Việc thiếu một chính sách cho vay rõ ràng, hoặc không phù hợp với thực trạng nền kinh tế sẽ gây ra rủi ro tín dụng cho chính NH Chính sách cho vay phải được hiểu theo nghĩa đầy đủ, bao gồm các định hướng chung tròn việc cho vay, chế độ tín dụng ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, các quy định về đảm bảo cho vay, về loại khách hàng mà NH quan tâm, ngành nghề được ưu tiên, quy trình cho vay được xét duyệt cụ thể
Chính sách cho vay của NH là một định hướng mang tính chiến lược nên khi chính sách cho vay đồng bộ, thống nhất và đầy đủ sẽ xác định phương hướng đúng đắn cho cán bộ khách hàng khi thực hiện nhiệm vụ của mình, nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng
Ngược lại, một chính sách tín dụng không đầy đủ, đúng đắn và không thống nhất sẽ tạo ra định hướng lệch lạc cho hoạt động tín dụng, dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng, tạo ra kẻ hở cho người sử dụng vốn, không đem lại hiệu quả kinh tế, dẫn đến nợ quá hạn, cũng từ đây sẽ phát sinh rủi ro tín dụng
- Tổ chức thực hiện chính sách, quy trình cho vay thiếu sót
Trang 23* Khâu đề xuất tín dụng chưa thực hiện một cách chuyên sâu, các báo cáo đề xuất cấp tín dụng được lập hời hợt, thiếu thông tin cần thiết do phương thức thu thập không phù hợp với điều kiện của từng khách hàng
* Khâu thẩm định rủi ro còn nhiều thiếu sót
+ Sự chủ quan trong quá trình kiểm tra tính tuân thủ theo quy trình của
hồ sơ chứng từ dẫn đến những thiếu sót nghiêm trọng, dẫn đến có những rủi
ro pháp lý không phát hiện được như chưa chú ý mục tiêu của các khoản vay, tính toán không chính xác hiệu quả đầu tư dự án xin vay, dẫn đến các quyết định sai lầm trong việc cấp tín dụng
+ Công tác kiểm tra tính phù hợp của món vay đối với chính sách rủi ro tín dụng hiện hành bị bỏ sót Thiếu thông tin tín dụng, hoặc thông tin tín dụng không chính xác, kịp thời Chưa có danh sách phân loại DN, chưa có sự phân tích, đánh giá DN một cách khách quan đúng đắn
+ Việc đánh giá, xếp hạng tín dụng khách hàng còn mang tính chủ quan
cá nhân, không phản ảnh sự nhìn nhận đa chiều và chính xác Thiếu một cơ cấu theo dõi, quản lý rủi ro, thiếu hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng thuộc các ngành nghề, sản phẩm địa phương khác nhau để phân tán rủi
ro, chưa đủ các tiêu thức đo lường rủi ro, độ rủi ro tối đa cho phép chấp nhận đối với từng khách hàng, nhóm khách hàng thuộc các ngành khác nhau
+ Chưa đánh giá đúng mức về giá trị khoản vay, về người đi vay hoặc do chủ quan tin tưởng vào khách hàng quen của mình, coi nhẹ khâu kiểm tra về tình hình tài chính, khả năng thanh toán hiện tại và tương lai, nguồn trả nợ + Cán bộ tín dụng không được đào tạo đầy đủ, không am hiểu về ngành kinh doanh mà mình đang tài trợ, trong khi NH không có đủ các số liệu thống
kê, các chỉ tiêu để phân tích, so sánh, đánh giá vai trò vị trí của DN trong ngành, khả năng thị trường hiện tại và tương lai, chu kỳ, vòng đời sản phẩm
Trang 24dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của dự án xin vay, hoặc đôi khi do chính cán bộ tín dụng có vấn đề
* Khâu phê duyệt tín dụng thực hiện máy móc, thiếu tính linh hoạt: + Thẩm quyền phê duyệt chưa hợp lý, hạn mức phê duyệt của từng cấp phê duyệt cao sẽ tác động trong quá trình ra quyết định cấp tín dụng
+ Quá quan tâm, tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm, mà coi nhẹ công tác phòng ngừa rủi ro, việc kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực thi
dự án xin vay, không nắm vững tình hình sử dụng tiền vay của khách hàng, không có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời khi có các dấu hiệu xấu của khoản vay có thể dẫn tới nợ quá hạn
+ Quá lạc quan tin tưởng vào dự án đầu tư, vào các khoản cho vay và chạy theo dư nợ càng nhiều càng tốt, chú trọng không đúng mức đến chất lượng tín dụng
- Chưa chú trọng đến khâu kiểm tra, kiểm soát trong quy trình tín dụng + Không chú ý đến việc kiểm tra sử dụng vốn vay vì không có kế hoạch
cụ thể, phương thức kiểm tra không phù hợp, thiếu các giấy tờ làm căn cứ đưa
ra kết luận việc sử dụng vốn vay Hoặc có làm nhưng mang tính đối phó, không được thực hiện thường xuyên và nghiêm túc
+ Công tác kiểm tra tài sản bảo đảm nợ vay theo định kỳ, tối thiểu là 01 năm, thậm chí việc đánh giá lại các tài sản là máy móc thiết bị trước sự biến động của công nghệ chưa được quan tâm đúng mức
+ Công tác kiểm tra, giám sát vốn vay để có những thông tin cập nhật về tình hình sử dụng vốn của khách hàng đôi khi còn bỏ ngõ, chỉ quan tâm khi thấy phát sinh nợ có vấn đề
- Chưa phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp có dấu hiệu rủi ro + Việc thiếu thông tin cập nhật, đã làm cho việc phát hiện rủi ro chậm trễ, không kịp thời đưa ra các giải pháp phù hợp để ứng phó
Trang 25+ Khi có dấu hiệu rủi ro những việc chậm chạp trong quá trình xử lý làm cho tình hình khoản nợ vay càng thêm xấu đi
1.2.5.3 Các nhân tố khác
- Rủi ro do ảnh hưởng từ kinh tế thế giới và trong nước
Nền kinh tế trong nước đang ở trong tình trạng suy thoái, sản xuất bị đình đốn, thu nhập của mọi thành viên trong xã hội giảm, ảnh hưởng của nó làm khả năng trả nợ NH rất thấp, số lượng các khoản nợ quá hạn tăng lên, NH cũng chịu chung các khó khăn của DN trong nền kinh tế
Nền kinh tế có hiện tượng lạm phát tăng vọt, giá trị đồng tiền giảm sút làm ảnh hưởng tới khả năng thu hồi công nợ của NH
Rủi ro trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh do các nguyên nhân bất khả kháng thường thuộc về thiên nhiên, thiên tai, địch họa gây ra các biến động xấu ngoài dự kiến trong mối quan hệ tín dụng của NH và các khách hàng của mình, làm gia tăng các khoản nợ quá hạn
- Do nhân tố chính sách
Đây là một nguyên nhân gây ra rủi ro trong kinh doanh tín dụng NH trong trường hợp có sự thay đổi về chính trị, điều chỉnh chính sách, chế độ, luật pháp của Nhà nước, hoặc thay đổi địa giới hành chính các địa phương, sự sát nhập hay tách ra của các bộ, ngành trong nền kinh tế Những sự thay đổi
và điều chỉnh đó là cần thiết trong quá trình phát triển của quốc gia, nhưng tùy nơi, tùy lúc sẽ tác động đến quan hệ tín dụng giữa NH với khách hàng
- Do nhân tố quốc gia
Trong trường hợp NH đầu tư tín dụng sang một quốc gia khá, hoặc đầu
tư cho một DN nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ quốc gia mình, hoặc cho vay, bảo lãnh đối với DN trong nước trong quan hệ với quốc gia khác để tiếp nhận vốn, thiết bị, công nghệ thì NH phải quan tâm đến rủi ro tín dụng trong quá trình đầu tư cho các khách hàng của mỗi quốc gia Bởi vì các yếu tố kinh
Trang 26tế - chính trị - xã hội của mỗi quốc gia đó sẽ có những ảnh hưởng nhất định đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà NH đang đầu tư tín dụng
- Do nhân tố môi trường
Môi trường pháp lý hoạt động tín dụng của NH nói riền và của các DN nói chung trong nền kinh tế là một nhân tố rất quan trọng, ảnh hưởng tới khả năng phát sinh nợ quá hạn Hệ thống luật pháp quốc gia với các bộ luật và văn bản dưới luật chưa được đầy đủ, đồng bộ, hợp lý sẽ không đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các hoạt động kinh tế, là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới rủi ro trong sản xuất kinh doanh của các DN, gây nên các khoản
nợ quá hạn cho NH
Mặt khác, NH khi xem xét cho vay phải chú ý tới mối liên hệ xem dự án khoản vay ảnh hưởng đến môi trường như thế nào, tài sản thế chấp và môi trường tác động qua lại lẫn nhau ra sao, người xin vay có thực hiện tốt việc bảo vệ môi trường hay không, điều này sẽ mang lại cho DN những tổn thất không nhỏ trong kinh doanh, trong các trường hợp nghiêm trọng, DN có thể
bị đóng cửa, hoặc phá sản do không chịu đựng nổi chi phí đền bù
1.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
1.3.1 Mục đích quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng
- Bảo vệ ngân hàng trước những thất bại/tổn thất không dự tính trước
Do không lường và tránh được tất cả thất bại/tổn thất trong kinh doanh tín dụng, NHTM phải tự xây dựng và thực hiện các chính sách về quản trị rủi ro tín dụng với mục đích tự bảo vệ mình trước các thất bại/tổn thất trong quá trình hoạt động kinh doanh tín dụng
- Bảo đảm mức độ rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải gánh chịu không vượt quá khả năng về vốn và tài chính của ngân hàng
Trang 27Rủi ro tín dụng luôn được giám sát chặt chẽ với các tiêu chí đo lường, cảnh báo theo các mức độ khác nhau để đảm bảo rằng rủi ro tín dụng được kiểm soát và không vượt quá khả năng về vốn và tài chính của ngân hàng
- Bảo đảm không ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và tồn tại của ngân hàng
Hiệu quả kinh doanh tín dụng của NHTM tùy thuộc vào năng lực quản trị rủi ro tín dụng Do đó, mục đích của quản trị rủi ro hoạt động kinh doanh tín dụng của NHTM phải đảm bảo rằng nếu có xảy ra rủi ro tín dụng cũng phải tuân thủ nguyên tắc không được ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và tồn tại của ngân hàng
1.3.2 Nguyên tắc trong quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng
- Chấp nhận rủi ro tín dụng một cách chủ động và có ý thức: do rủi ro tín dụng tồn tại khách quan trong quá trình hoạt động kinh doanh tín dụng, nên phải chấp nhận một chủ động để có các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi
ro tín dụng
- Phân tích độc lập bộ phận phát sinh rủi ro tín dụng và bộ phận giám dát, kiểm tra rủi ro tín dụng: để đảm bảo sự khách quan giữa cấp tín dụng và kiểm soát rủi ro
- Công khai: mọi nhân viên ngân hàng đều phải biết về rủi ro tín dụng và khuyến khích phát hiện rủi ro tín dụng
- Chủ động thực hiện quản trị rủi ro tín dụng trước khi rủi ro tín dụng xảy ra: đây là nguyên tắc chủ động phòng ngừa và hạn chế rủi ro, vì việc chấp nhận rủi ro tín dụng là chủ động và có ý thức với mục đích nhằm giảm thiếu hóa các rủi ro tín dụng
1.3.3 Nội dung về quản trị rủi ro tín dụng
1.3.3.1 Nhận diện rủi ro tín dụng
Trang 28Để quản trị rủi ro tín dụng trước hết phải nhận diện rủi ro Nhận diện rủi
ro tín dụng là quá trình xác định liên tục và có hệ thống trong hoạt động kinh doanh tín dụng của ngân hàng Nhận diện rủi ro tín dụng bao gồm các công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động tín dụng và toàn bộ hoạt động tín dụng của ngân hàng, nhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉ những loại rủi ro đã và đang xảy ra, mà còn dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện đối với ngân hàng, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp Để nhận diện rủi ro, nhà quản trị phải lập được bảng liệt kê tất cả các dấu hiệu rủi ro đã, đang và có thể xuất hiện đối với ngân hàng bằng phương pháp: Lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra, phân tích các tài liệu, thông tin về khách hàng, về phương án hoặc dự án vay vốn, báo cáo tài chính, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng; phương pháp lưu đồ; thanh tra hiện trường; phân tích các hợp đồng; làm việc với các cơ quan quản lý Nhà nước có liên
quan [1, tr 139]
Nhận diện rủi ro qua các dấu hiệu sẽ giúp ngân hàng có những giải pháp tối ưu để xử lý kịp thời; là khâu quan trọng, quyết định đến việc thực hiện mục tiêu quản trị rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng Tuy nhiên, việc nhận diện rủi ro rất phức tạp, các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng rất đa dạng Do vậy, ngân hàng cần xây dựng một bảng liệt kê các dấu hiệu nhận biết rủi ro điển hình để hỗ trợ cho hoạt động quản trị rủi ro tín dụng, cụ thể một số nhóm dấu hiệu sau:
- Các dấu hiệu từ phía khách hàng
+ Trì hoãn hoặc gây khó khăn đối với Ngân hàng trong quá trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà không có sự giải thích minh bạch, thuyết phục
Trang 29+ Chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các báo cáo tài chính, báo cáo tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh theo yêu cầu mà không có sự giải thích minh bạch, thuyết phục
+ Mức độ vay thường xuyên gia tăng, nhu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến
+ Có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ các quy định, vi phạm pháp luật trong quá trình quan hệ tín dụng
+ Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản bị giảm sút so với định giá khi cấp tín dụng
+ Có dấu hiệu tìm kiếm sự tài trợ nguồn vốn từ nhiều nguồn khác, đặc biệt từ đối thủ cạnh tranh của Ngân hàng
+ Có dấu hiệu sử dụng nhiều các khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động đầu tư dài hạn; chấp nhận sử dụng các nguồn vốn vay với giá cao, vô điều kiện
+ Đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc thiếu các căn cứ thuyết phục mang tính khách quan về việc cơ cấu lại nợ
+ Sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng; xuất hiện những thay đổi bất thường ngoài dự kiến và không giải thích được trong tốc độ và tổng mức lưu chuyển tiền gửi thanh toán của khách hàng
+ Chậm thanh toán các khoản lãi khi đến hạn; thanh toán các khoản nợ gốc không đầy đủ, đúng hạn
+ Có dấu hiệu cho thấy khách hàng trông chờ các nguồn thu nhập bất thường để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán
+ Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng không có khả năng hoàn trả hoặc khách hàng không muốn trả nợ hoặc do việc tiêu thụ hàng hóa, thu hồi công nợ chậm hơn dự tính
Trang 30+ Mối quan hệ không bình thường giữa ngân hàng và khách hàng: Sự chậm trể, thất hẹn, hoặc trốn tránh làm việc với ngân hàng cũng là dấu hiệu cho thấy khách hàng đang có vấn đề, có thể khó khăn trong sản xuất kinh doanh, tài chính suy giảm Ngân hàng cần tăng cường thu thập thông tin, theo dõi, giám sát chặt chẽ để đối phó kịp thời
+ Dự trử vật tư, hành hóa tăng cao; ứ đọng lâu ngày, khả năng quay vòng thấp; chất lượng hàng hóa dịch vụ giảm sút; giá bán hàng hóa giảm bất thường
+ Thay đổi thường xuyên tổ chức của ban điều hành; sự thay đổi bất thường về tổ chức; thay đổi người quản lý cấp cao như cách chức, từ chức, chuyển công tác; người lao động thiếu việc làm, sa thải nhân công, bán tài sản,… Đây là những dấu hiệu rõ nét cho thấy những khó khăn của khách hàng, có thể ảnh hưởng xấu đến việc trả nợ ngân hàng
+ Trình độ, năng lực quản trị, điều hành yếu kém của khách hàng; hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục thua lỗ là dấu hiệu ảnh hưởng lớn đến rủi ro tín dụng
+ Đối tác của người vay gặp rủi ro như phá sản hoặc bị truy tố: Nếu đối tác của người vay gặp rủi ro thì nguy cơ rủi ro dây chuyền có thể xảy ra và ảnh hưởng khả năng trả nợ vay ngân hàng
+ Những thay đổi từ chính sách của Nhà nước, đặc biệt là tác động của các chính sách thuế, xuất nhập khẩu; thay đổi các chính sách tỷ giá, lãi suất; thay đổi công nghệ, kỹ thuật sản xuất, thị hiếu tiêu dùng, nhà cung ứng hoặc khách hàng lớn; thêm đối thủ cạnh tranh tác động bất lợi đến chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của khách hàng
- Các dấu hiệu từ phía ngân hàng
+ Chính sách tín dụng không hợp lý, không phù hợp với đặc điểm nội tại và tính đặc thù của từng ngân hàng, không phát huy được thế mạnh của
Trang 31ngân hàng dẫn đến hoạt động tín dụng chứa đựng nhiều rủi ro, ảnh hưởng lớn
và lâu dài đến việc phát triển bền vững, sự tồn tại của ngân hàng Chẳng hạn như một số dấu hiệu sau:
Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt quá khả năng và năng lực kiểm soát cũng như nguồn vốn của ngân hàng
Xây dựng giới hạn tín dụng cho từng ngành, từng lĩnh vực, từng sản phẩm tín dụng không phù hợp, tập trung lớn vốn tín dụng cho một số ngành ngành, một số lĩnh vực, một số sản phẩm tín dụng, một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng có liên quan,…
Xây dựng mô hình tổ chức cấp tín dụng không chặt chẽ, không phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận tham gia trong quá trình cấp tín dụng và quản lý tín dụng,…
+ Xây dựng quy trình cấp tín dụng thiếu cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế, phòng ngừa rủi ro; xác định trách nhiệm của từng khâu, từng bước trong quy trình cấp tín dụng không rõ ràng, chồng chéo,…
+ Không tuân thủ quy trình cấp tín dụng như: Không đảm bảo nguyên tắc và điều kiện vay vốn; công tác kiểm tra trước, trong và sau khi cấp tín dụng không kịp thời, không hiệu quả
+ Sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng; cấp tín dụng dựa trên các cam kết không chắc chắn và thiếu tính bảo đảm
+ Cho vay dựa trên các sự kiện bất thường có thể xảy ra, chẳng hạn như sáp nhập, thay đổi địa vị pháp lý; cung cấp tín dụng với khối lượng lớn cho các khách hàng không thuộc phân đoạn thị trường tối ưu của Ngân hàng
+ Hồ sơ tín dụng không đầy đủ, thiếu sự tuân thủ hay tuân thủ không đầy đủ các quy định hiện hành về phê duyệt tín dụng; soạn thảo các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng mật mờ, không rõ ràng
Trang 32+ Có khuynh hướng cạnh tranh không lành mạnh như: Giảm điều kiện, thủ tục cấp tín dụng; giảm thấp lãi suất cho vay, phí dịch vụ quá mức bình thường hay thực hiện chiến lược “giữ chân” khách hàng bằng các khoản tín dụng mới để họ không quan hệ với các tổ chức tín dụng khác mặc dù biết rõ các khoản tín dụng sẽ cấp tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao
1.3.3.2 Đo lường rủi ro tín dụng
- Xác định giới hạn rủi ro tín dụng
Giới hạn rủi ro tín dụng là biên độ cao nhất về khả năng tổn thất có thể xảy ra mà ngân hàng chấp nhận được để đảm bảo hoạt động tín dụng hiệu quả, hoạt động của ngân hàng ngày càng phát triển Trong kế hoạch, định hướng hoạt động tín dụng, các ngân hàng thương mại xây dựng giới hạn rủi ro tín dụng phù hợp để đảm bảo mục tiêu phát triển của mỗi ngân hàng trong từng thời kỳ Giới hạn rủi ro tín dụng được xây dựng trên cơ sở thực trạng hoạt động của từng ngân hàng, khả năng tài chính và mục tiêu lợi nhuận kế hoạch của mỗi ngân hàng
Tùy theo từng thời kỳ, từng quốc gia, các ngân hàng thương mại sử dụng các chỉ tiêu để quản lý chất lượng hoạt động tín dụng như:
+ Tỷ lệ nợ quá hạn:
Tổng dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100%
Tổng dư nợ + Tỷ lệ nợ xấu:
Tổng dư nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu = x 100%
Tổng dư nợ
Trang 33Ở Việt Nam, quy định nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Điều 6 hoặc Điều 7 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Vốn chủ sở hữu cộng dự phòng rủi ro + Khả năng bù đắp rủi ro =
Tổng dư nợ xấu
- Phân tích, đo lường rủi ro tín dụng:
Phân tích, đo lường rủi ro tín dụng là việc ngân hàng xây dựng mô hình thích hợp để lượng hóa mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng Từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một khách hàng, cũng như trích lập quỹ dự phòng để tài trợ cho rủi ro tín dụng Để đo lường rủi ro, ngân hàng cần thu thập số liệu, thông tin và phân tích, đánh giá rủi ro Trên cơ sở kết quả thu thập được, lập ma trận đo lường rủi ro [1, tr 115-146]
Để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng đối với ngân hàng, người ta sử dụng cả hai tiêu chí: Tần suất xuất hiện của rủi ro và biên độ của rủi ro (mức
độ nghiêm trọng của tổn thất) Trong đó, tiêu chí biên độ của rủi ro tín dụng đóng vai trò quyết định
Phân tích, đo lường rủi ro tín dụng giúp ngân hàng ra quyết định cấp tín dụng cho khách hàng; định kỳ hoặc đột xuất đánh giá lại rủi ro tín dụng cho toàn bộ danh mục tín dụng; cho phép ngân hàng lường trước được những dấu hiệu mà khoản cấp tín dụng có chất lượng xấu đi để có biện pháp đối phó kịp thời Việc đánh giá, đo lường rủi ro tín dụng giúp ngân hàng ước lượng được mức tổn thất có thể xảy ra để phân loại tín dụng làm cơ sở trích lập dự phòng
Có hai phương pháp cơ bản để phân tích, đo lường rủi ro tín dụng, đó là: Phương pháp định tính và phương pháp định lượng Hai phương pháp này không loại trừ nhau mà hỗ trợ lẫn nhau để phân tích, đo lường rủi ro tín dụng
Trang 34Do vậy, ngân hàng có thể sử dụng một trong hai phương pháp hoặc sử dụng
cả hai phương pháp để đánh giá, đo lường rủi ro tín dụng
+ Phương pháp định tính là phương pháp mà ngân hàng tiến hành thu thập thông tin, phân tích thông tin, đo lường rủi ro tín dụng khách hàng vay
về các mặt: Năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo quy định của từng quốc gia; nhu cầu vốn vay; khả năng tài chính đảm bảo trả nợ vay ngân hàng; các biện pháp đảm bảo nghĩa vụ trả nợ;…
+ Phương pháp định lượng là phương pháp mà ngân hàng xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng thông qua việc chấm điểm hai nhóm chỉ tiêu: Nhóm các chỉ tiêu phi tài chính, nhóm các chỉ tiêu tài chính và tỷ trọng từng nhóm chỉ tiêu thể hiện mức độ quan trọng của từng nhóm chỉ tiêu Kết quả xếp hạng tín dụng cho phép ngân hàng phân khách hàng vay vốn ra thành nhiều nhóm khách hàng khác nhau có mức đội rủi ro khác nhau Tương ứng đối với mỗi nhóm khách hàng, ngân hàng áp dụng các chính sách khách hàng khác nhau và giám sát khoản vay phù hợp với mức độ rủi ro được đo lường cho từng nhóm khách hàng
Một số mô hình áp dụng phổ biến hiện nay để đo lường rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại như [1, tr 146-147-148]:
Mô hình thứ nhất: Mô hình phân tích cổ điển
Đây là mô hình ngân hàng tiến hành nghiên cứu, phân tích hồ sơ đề nghị cấp tín dụng Đó là, mô hình chất lượng 6C (Character, Capacity, Cash, Collateral, Condition, Control)
Tư cách của khách hàng (Character): Ngân hàng phải làm rõ mục đích đề nghị cấp tín dụng của khách hàng, mục đích đó có phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng hay không, có phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của khách hàng hay không Đồng thời, xem xét về lịch sử quan hệ tín dụng đối với khách hàng cũ, còn đối với khách hàng mới thì cần thu thập
Trang 35thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như: Trung tâm thông tin tín dụng, trung tâm phòng ngừa rủi ro, cơ quan thông tin đại chúng, từ ngân hàng khác,
Năng lực của khách hàng (Capacity): Tùy theo quy định pháp luật của các quốc qia, đòi hỏi khách hàng phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự
Thu nhập của khách hàng (Cash): Trước hết phải xác định được nguồn trả nợ của khách hàng như: Luồn tiền từ thu nhập bán hàng hay thu nhập, nguồn thu từ bán thanh lý tài sản hoặc nguồn thu từ phát hành chứng khoán,
Bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và là nguồn thu thứ hai để trả nợ cho ngân hàng
Các điều kiện (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng theo từng thời kỳ cụ thể của mỗi ngân hàng
Kiểm soát (Control): Tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi của luật pháp có liên quan và quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng xấu đến khách hàng hay không, nhu cầu tín dụng của khách hàng có đáp ứng được các tiêu chuẩn của ngân hàng hay không
Mô hình thứ hai: Mô hình xếp hạng tín dụng của Moody và của
Standard & Poor's
Đây là phương pháp đo lường rủi ro tín dụng hiện đại, đòi hỏi ngân hàng phải có phần mềm quản lý tập trung Khách hàng đề nghị cấp tín dụng
sẽ được chấm điểm dựa trên các yếu tố tài chính và phi tài chính như: Tình hình tài chính, năng lực sản xuất kinh doanh, hiệu quả dự án hoặc phương án vay vốn, mối quan hệ với ngân hàng và các đối tác Việc xếp hạng này được thực hiện bởi một số dịch vụ xếp hạng tư nhân, trong đó có Moody và Standard & Poor's là những dịch vụ tốt nhất
Trang 36Đối với Moody xếp hạng cao nhất từ Aaa, nhưng Standard & Poor's thì cao nhất là AAA Việc xếp hạng giảm dần từ Aaa của Moody và AAA của Standard & Poor's, sau đó thấp dần để phản ánh rủi ro không được hoàn vốn cao Trong đó, chứng khoán (khoản cho vay) bốn loại đầu được xem như loại chứng khoán (khoản cho vay) mà ngân hàng nên đầu tư, còn các loại chứng khoán (khoản cho vay) bên dưới được xếp hạng thấp hơn thì ngân hàng không đầu tư (không cho vay) Nhưng thực tế vì phải xem xét mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa rủi
ro và lợi nhuận, nên những chứng khoán (khoản cho vay) tuy được xếp hạng thấp (rủi ro không hoàn vốn cao) nhưng lại có lợi nhuận cao, nên đôi lúc ngân hàng vẫn chấp nhận đầu tư vào các loại chứng khoán (cho vay) này
Bảng mô hình xếp hạng của Moody
Ba Chất lượng trung bình, mang yếu tố đầu cơ
B Chất lượng dưới trung bình Caa Chất lượng kém
Ca Mang tính đầu cơ, dễ vỡ nợ Moody
C Chất lượng kém nhất, triển vọng xấu
Bảng mô hình xếp hạng của Standard & Poor's
BB Chất lượng trung bình, mang yếu tố đầu cơ
B Chất lượng dưới trung bình
Trang 37Mô hình thứ ba: Mô hình điểm số Z ( Z - Credit scoring model)
Đây là mô hình do E.I Altman dùng để đo điểm tín dụng đối với các khách hàng vay vốn Đại lượng Z dùng để làm thước đo tổng hợp phân loại rủi ro tín dụng đối với người đi vay và phụ thuộc vào: Trị số các chỉ số tài chính của người vay; tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ Từ đó Altman đã xây dựng mô hình tính điểm như sau:
Z = 1,2 X1 + 1,4 X2 + 3,3 X3 + 0,6 X4 + 1,0 X5 Trong đó:
Vốn lưu động X1 =
Tổng tài sản
Lãi chưa phân phối X2 =
Tổng tài sản Lợi nhuận trước thuế và lãi X3 =
Tổng tài sản Giá trị thị trường của tổng vốn chủ sở hữu X4 =
Tổng tài sản Thu nhập
X5 =
Tổng tài sản Trị số Z càng cao thì hệ số xác suất vỡ nợ của người đi vay càng thấp Ngược lại, khi trị số Z thấp hoặc là một số âm thì đó là căn cứ xếp khách hàng
Trang 38vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao Theo mô hình cho điểm Z của Altman, bất
cứ công ty nào có điểm số thấp hơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao
1.3.3.3 Kiểm soát rủi ro tín dụng
Công việc trọng tâm của công tác quản trị rủi ro tín dụng là kiểm soát rủi ro tín dụng Kiểm soát rủi ro tín dụng tín dụng là sử dụng các biện pháp, các kỹ thuật, các công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể xảy ra đối với ngân hàng Có các biện pháp kiểm soát rủi ro như: Các biện pháp né tránh rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu tổn thất, chuyển giao rủi ro, đa dạng hóa rủi ro, quản trị thông tin [1, tr 140], Để kiểm soát rủi ro tín dụng, cần thực hiện các giải pháp sau:
- Xây dựng và thực thi các chính sách, công cụ để kiểm soát rủi ro tín dụng
+ Chính sách tín dụng: Chính sách tín dụng phản ảnh cương lĩnh cấp tín dụng của một ngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ ngân hàng, tăng cường chuyên môn hóa trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng [4, tr 101] Nội dung của chính sách tín dụng định hướng đến các vấn đề cơ bản như: Định hướng tín dụng về giới hạn tăng trưởng tín dụng trong từng giai đoạn, giới hạn tín dụng cho từng ngành, từng lĩnh vực, từng sản phấm cấp tín dụng, định giá tín dụng, tài sản đảm bảo, phê duyệt cấp tín dụng, hệ thống định hạng rủi ro tín dụng, quản lý tín dụng, quản
lý danh mục cho vay, chính sách khách hàng
Do vậy, để đảm bảo hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại phát triển đúng định hướng, đạt được mục tiêu an toàn, hiệu quả, tăng trưởng bền vững và kiểm soát được rủi ro tín dụng thì mỗi ngân hàng thương mại phải
Trang 39xây dựng được một chính sách tín dụng nhất quán, hợp lý và phù hợp với đặc điểm của ngân hàng mình
+ Quy trình tín dụng: Hoạt động tín dụng là hoạt động đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của Ngân hàng thương mại Việt Nam, hoạt động cấp tín dụng ngày càng được mở rộng, sản phẩm cấp tín dụng ngày càng đa dạng, phong phú hơn, môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt Tuy nhiên, cùng với quá trình đó, hoạt động tín dụng ngày càng chứa đựng, tiềm ẩn nhiều rủi ro Vì vậy, cần phải có các biện pháp để kiểm soát và hạn chế rủi ro Một trong những biện pháp đó là thiết lập một quy trình cấp tín dụng chặt chẽ để hướng dẫn nhân viên ngân hàng và các bộ phận có liên quan thực thi việc cấp tín dụng đạt hiệu quả cao nhất và kiểm soát rủi ro đạt hiệu quả
Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc cấp tín dụng Trong đó, xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình
tự nhất định kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cho đến khi tất toán khoản cấp tín dụng Đây là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn mang tính chất liên hoàn, theo một trật tự nhất định, đồng thời có quan hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau [2, tr 42]
Việc xây dựng quy trình cấp tín dụng hợp lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động quản trị rủi ro tín dụng, nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao doanh lợi cho ngân hàng Về khía cạnh quản trị, việc xây dựng quy trình cấp tín dụng hợp lý sẽ có tác dụng sau [2, tr 45-46]:
Làm cơ sở cho việc xây dựng một mô hình thích hợp tại ngân hàng Trong đó nhiệm vụ của các phòng, ban, bộ phận chức năng được xác định rõ ràng các công việc liên quan đến hoạt động cấp tín dụng, từ đó làm cơ sở cho phân công trách nhiệm ở từng vị trí Hơn nữa, với mục tiêu này công tác quản trị nhân sự tại ngân hàng sẽ được điều chỉnh kịp thời, hợp lý và hiệu quả nhất
Thiết lập hồ sơ, thủ tục cấp tín dụng phù hợp với quy định của pháp
Trang 40luật và đảm bảo mục tiêu an toàn trong kinh doanh tín dụng
Là một văn bản bắt buộc thực hiện trong nội bộ một ngân hàng, hướng dẫn thực hiện thống nhất nghiệp vụ cấp tín dụng tại ngân hàng Nhờ đó
mà các nhân viên ngân hàng biết được trách nhiệm của mình phải thực hiện ở
vị trí công tác của mình, mối quan hệ với những đồng nghiệp khác, từ đó có thái độ đúng mức trong công việc
Là cơ sở để kiểm soát tiến trình cấp tín dụng và điều chỉnh chính sách tín dụng cho phù hợp với thực tiễn Thông qua việc kiểm soát thực hiện quy trình cấp tín dụng, nhà quản trị ngân hàng xác định được những khâu, những công việc cần điều chỉnh, cũng như hướng đào tạo và bố trí cán bộ để
từ đó kiểm soát rủi ro trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng
+ Xây dựng cơ cấu tổ chức hoạt động tín dụng và cơ cấu quản lý giám sát rủi ro tín dụng của ngân hàng: Đây là nội dung quan trọng của quản lý rủi
ro tín dụng, cơ cấu này xây dựng theo nguyên tắc: Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân có liên quan trong quá trình cấp tín dụng và quản lý, giám sát rủi ro tín dụng
+ Thực hiện đúng các quy định của pháp luật về cấp tín dụng và bảo đảm tiền vay; xem xét và quyết định việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản hoặc không có bảo đảm bằng tài sản, cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay, tránh các vướng mắc khi xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi
nợ vay Đặc biệt chú trọng thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng, không để nợ xấu gia tăng
+ Xây dựng hệ thống kiểm tra, kiểm soát tín dụng: Hệ thống này sẽ kiểm tra việc tuân thủ các cơ chế, quy chế, quy trình nghiệp vụ và các quy định của pháp luật trong hoạt động tín dụng nhằm phát hiện ra những sai sót trong quá trình cấp tín dụng, từ đó có thể giúp ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra
Bộ phận kiểm tra, kiểm soát tín dụng phải được xây dựng độc lập với bộ phận