1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

91 431 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận Văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 96,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nước ta tồn tại lâu dài nền kinh tế tự cung tự cấp khép kín chỉ quan hệ với các nước XHCN trong những năm đầu của thập niên 80. Nền kinh tế đó đã lộ rõ, những yếu kém, trì trệ phát sinh nhiều tiêu cực. Trong khi thế giới đang đón nhận những tiến bộ to lớn của lực lượng sản xuất thì bối cảnh của Việt Nam là một cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nhà nước tiến hành phân phối mọi sản phẩm quốc dân thông qua các cửa hàng mậu dịch, chế độ tem phiếu lâu dài không còn phù hợp mà chỉ làm phiền phức cho người dân. Bên cạnh đó cơ chế xin- cho, cấp- phát làm cho mọi nguồn lực trong xã hội không có điều kiện để phát triển. Với cơ chế kinh tế lỗi thời đó, với việc bao cấp tràn lan, quản lí kinh tế kém hiệu quả thì sản xuất không đủ sản phẩm để tiêu dùng, dẫn đến không thể tích luỹ mở rộng sản xuất và đưa đến thâm hụt ngân sách là điều không tránh khỏi. Tại Đại hội Đảng VI (1986) đã mở đường cho công cuộc đổi mới đất nước dần xoá bỏ cơ chế bao cấp, chỉ huy và thừa nhận yếu tố thị trường của nền kinh tế. Đại hội VII và Đại hội VIII tiếp tục nhấn mạnh thêm đổi mới cơ chế kinh tế là một tất yếu. Đại hội IX đã đưa ra con đường phát trieern của đất nước ta đó là tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn TBCN và khẳng định nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trườn định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau 20 năm công cuộc đổi mới, đất nứoc đã “thay da đổi thịt”, phát triển khá ổn định càng chứng tỏ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Cho nên bản thân tôi cảm thấy việc nghiên cứu “xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong sự phát triển kinh tế nước ta. Vì vậy em xin chọn đề tài này để nghiên cứu.

Trang 1

Lời nói đầu

Nước ta tồn tại lâu dài nền kinh tế tự cung tự cấp khép kín chỉ quan hệ vớicác nước XHCN trong những năm đầu của thập niên 80 Nền kinh tế đó đã lộ

rõ, những yếu kém, trì trệ phát sinh nhiều tiêu cực Trong khi thế giới đang đónnhận những tiến bộ to lớn của lực lượng sản xuất thì bối cảnh của Việt Nam là

1

Trang 2

một cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nhà nước tiến hành phân phối mọi sảnphẩm quốc dân thông qua các cửa hàng mậu dịch, chế độ tem phiếu lâu dàikhông còn phù hợp mà chỉ làm phiền phức cho người dân Bên cạnh đó cơ chếxin- cho, cấp- phát làm cho mọi nguồn lực trong xã hội không có điều kiện đểphát triển Với cơ chế kinh tế lỗi thời đó, với việc bao cấp tràn lan, quản lí kinh

tế kém hiệu quả thì sản xuất không đủ sản phẩm để tiêu dùng, dẫn đến không

2

Trang 3

thể tích luỹ mở rộng sản xuất và đưa đến thâm hụt ngân sách là điều khôngtránh khỏi.

Tại Đại hội Đảng VI (1986) đã mở đường cho công cuộc đổi mới đất nướcdần xoá bỏ cơ chế bao cấp, chỉ huy và thừa nhận yếu tố thị trường của nền kinh

tế Đại hội VII và Đại hội VIII tiếp tục nhấn mạnh thêm đổi mới cơ chế kinh tế

là một tất yếu Đại hội IX đã đưa ra con đường phát trieern của đất nước ta đó

3

Trang 4

là tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn TBCN và khẳng định nền kinh tế nước ta lànền kinh tế thị trườn định hướng xã hội chủ nghĩa Sau 20 năm công cuộc đổimới, đất nứoc đã “thay da đổi thịt”, phát triển khá ổn định càng chứng tỏ sựlãnh đạo đúng đắn của Đảng Cho nên bản thân tôi cảm thấy việc nghiên cứu

“xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt

4

Trang 5

Nam”có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong sự phát triển kinh tế nước ta Vì

vậy em xin chọn đề tài này để nghiên cứu

Với những hiểu biết và kinh nghiệm cồn hạn chế, những sai sót mắc phải khithực hiện là không thể tránh khỏi , em rất mong sự đống góp ý kiến của thầygiáo và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn!!!!

5

Trang 6

I.Cơ sở lí luận của kinh tế thị trường định hướng XHCN.

1/Thế nào là kinh tế thị trường.

Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hôi đã và đang trải qua 2 hình thức sảnxuất vật chất, đó là kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá Kinh tế tự nhiên là nềnkinh tế sơ khai, sản phẩm sản xuất ra nhằm thoả mãn nhu cầu trực tiếp của sản

6

Trang 7

xuất Bước tiến của nhân loại đó là nền kinh tế hàng hoá Kinh tế hàng hoá làmột kiểu tổ chức kinh tê – xã hội, mà trong đó sản phẩm sản xuất ra là để traođổi,để bán, tức là để thoả mãn nhu cầu người mua, nhu cầu xã hội.

Kinh tế thị trường(KTTT) là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá trong

đó toàn bộ yếu tố “đầu vào”và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thịtrường,do thị trường quyết định

7

Trang 8

2/Đặc trưng của kinh tế thị trường.

Một nền KTTT nói chung có 4 đặc điểm Một là, các chủ thể có tính độc lập,

có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh Hai là , giá cả do thị trường quyếtđịnh, hệ thống thị trường được phát triển đầy đủ và có tác dụng làm cơ sở choviệc phân phối các nguồn lực kinh tế vào trong các ngành, các lĩnh vực của nềnkinh tế Ba là, nền kinh tế vận động theo quy luật vốn có của KTTT như quy

8

Trang 9

luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… Sự tác động của các quyluật đó hình thành cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế thị trường Bốn là, nếu lànền kinh tế thị trường hiện đại thì còn có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước thôngqua pháp luật kinh tế, kế hoạch hoá, các chính sách kinh tế.

3/ Tính tất yếu của việc phát triển KTTT ở Việt Nam.

9

Trang 10

Trước đổi mới nền kinh tế nước ta là nền kinh tế phát triển ở mức thấp, cơ cấukinh tế đơn giản, quản lý kinh tế theo kiểu tập trung quan liêu bao cấp Nó làmthui chột mọi nguồn lực trong xã hội đưa đến một nền kinh tế trì trệ, lạc hậu,bảo thủ,cuộc sống nhân dân khó khăn thiếu thốn Nền kinh tế ngày càng bộc lộ

rõ nhược điểm: Hạn chế sự cạnh tranh , thị trường gần như đóng băng , quan hệhàng hoá xơ cứng, tất cả đều do nhà nước phân phối theo cách “san bằng” cơ

10

Trang 11

chế quản lý theo kiểu mệnh lệnh xin - cho, tăng trưởng sản xuất chậm, không

ổn định Hậu quả là khủng hoảng kinh tế xã hội sâu sắc, giá cả hàng hoá tăngnhanh Trước thực trạng đó, Đại hội VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới,đầu tiên là đổi mới về kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, chuyển từ cơ chế kếhoạch hóa tập trung quan liêu sang cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN

11

Trang 12

Ngày xưa chúng ta cho rằng KTTT là đặc trưng của CNTB, nhưng ngày naychúng ta đã nhận thức lại Nếu như trước đây Đảng ta chỉ ra con đường đi lêncủa đất nước ta là sự phát triển quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN Từ đóchúng ta hiểu đó là bỏ qua tất cả những gì mà loài người đã đạt được dưới chế

độ TBCN Bây giờ ở Đại hội VII, VIII, IX, đặc biệt là Đại hội IX đã khẳngđịnh con đường đi lên của đất nước ta là bỏ qua chế độ TBCN, tức là bỏ qua

12

Trang 13

việc xác lập vị trí thống trị về quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng TBCN,nhưng vẫn tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà loài người đã đạt được dướichế độ TBCN Chính vì vậy mà Đảng ta đã nhận ra lối đi đúng đắn cho nềnkinh tế Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tự cấp tự túc sang nền KTTT địnhhướng XHCN.

13

Trang 14

KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN.

Hơn nữa, trong nền kinh tế nước ta, tồn tại nhiều hình thức sở hữu, đó là sởhữu toàn dân, sở hữu tập thể,sở hữu tư nhân, sở hữu hỗn hợp Do đó tồn tạinhiều chủ thể kinh tế độc lập, lợi ích riêng nên quan hệ kinh tế giưa họ chỉ có

14

Trang 15

thể thực hiện bằng quan hệ hàng hóa-tiền tệ Thành phần kinh tế nhà nước vàkinh tế tập thể, tuy cùng dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nhưngcác đơn vị kinh tế vẫn có sự khác biệt nhất định,có quyền tự chủ trong sản xuấtkinh doanh, có lợi ích riêng Mặt khác, các đơn vị kinh tế còn có sự khác nhau

về trình độ khoa học-công nghệ, về trình độ tổ chức quản lý, nên chi phí sảnxuất và hiệu quả sản xuất cũng khác nhau.Quan hệ hàng hóa-tiền tệ còn cần

15

Trang 16

thiết trong quan hệ kinh tế đối ngoại, đặc biệt trong điều kiện phân công laođộng quốc tế đang phát triển ngày càng sâu sắc, vì mỗi nước là một quốc giariêng biệt, là người chủ sở hữu đối với các hàng hóa đem ra trao đổi trên thịtrường thế giới Sự trao đổi theo nguyên tắc ngang giá Như vậy,có thể thấyKTTT nước ta tồn tại theo nguyên tắc khách quan chứ không thể theo ý muốnchủ quan mà xóa bỏ nó được.

16

Trang 17

Như vậy, phát triển kinh tế thị trường là một tất yếu kinh tế đối với nước ta,một nhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu nước ta thành nênkinh tế hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế Đó là con đườngđúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất, khai thác có hiệu quả tiềm năng củađât nước vào sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa

17

Trang 18

Thực tiễn những năm đổi mới đã chứng minh rằng, viêc chuyển sang KTTTnhiều thành phần là hoàn toàn đúng đắn Nhờ phát triển kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần, chúng ta đã bước đầu khai thác được tiềm năng trong nước và thuhút vốn, kỹ thuật, công nghệ nước ngoài, giải phóng được năng lực sản xuất,góp phần quyết định vào việc tăng trưởng kinh tế với nhịp độ khá ổn định trongthời gian qua

18

Trang 19

Do những điều kiện và trình độ phát triển riêng nên nên KTTT Việt Namngoài 4 đặc điểm chung của một nền KTTT còn mang những đăc điểm đăc thù

riêng phản ánh bản chất XHCN.Thứ nhất,về mục tiêu phát triển thị trường.Sự

phân biệt nền KTTT của nước ta so với nền KTTT khác, phải nói đến mục đíchchính trị, mục tiêu kinh tế-xã hội mà Nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn làmđịnh hướng chi phối sự phát triển nền kinh tế Mục tiêu hàng đầu của phát triển

19

Trang 20

KTTT ở nước ta là giải phóng sức sản xuất, động viên mọi nguồn lực trongnước và ngoài nước để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dưng cơ

sở vật chất kỹ thuật của CNXH, nâng cao hiệu quả kinh tế-xã hội, cải thiêntừng bước đời sống nhân dân Ở nước ta, thực hiên tư tưởng Hồ Chí Minh vàđường lối đổi mới của Đảng, lấy sản xuất gắn liền với cải thiện đời sống nhân

20

Trang 21

dân, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, khuyến khíchlàm giàu hợp pháp, gắn liền với xóa đói giảm nghèo.

Thứ hai, nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà

nước giữ vai trò chủ đạo Trong nền kinh tế nước ta tồn tại ba loại hình sớ hữu

cơ bản là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân (gồm sở hữu cá thể,

sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư nhân tư bản) Từ ba loại hình sở hữu cơ bản đó hình

21

Trang 22

thành nhiều thành phần kinh tế đó là kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế

cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốnđầu tư nước ngoài, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Các thànhphần kinh tế nói trên tồn tại một cách khách quan và là những bộ phận cần thiếtcủa nền kinh tế trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội Các đơn vị kinh tếthuộc mọi thành phần đều bình đẳng với nhau trước pháp luật, vừa hợp tác vừa

22

Trang 23

cạnh tranh với nhau để phát triển Trong nền KTTT nhiều thành phần ở nước

ta, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Tính định hướng XHCN của nềnKTTT ở nước ta đã quyết định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cơcấu kinh tế nhiều thành phần

Thứ ba, trong nền KTTT XHCN, thực hiện nhiều hình thức phân phối thu

nhập, trong đó lấy phân phối theo lao động là chủ yếu Trong thời kì quá độ lên

23

Trang 24

chủ nghĩa xã hội, nhiều chế độ sở hữu cùng tồn tại: sở hữu toàn dân, sở hữu tậpthể, sở hữu cá nhân và các hình thức sở hữu do kết quả của sự xâm nhập giữachúng Trong nền KTTT ở nước ta, tồn tại các hình thức phân phối thu nhậpsau đây: phân phối theo lao động, phân phối theo vốn hay tài sản đóng góp,phân phối theo giá trị sức lao động (nó được thực hiện trong các doanh nghiệp

tư bản tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài), phân phối thông

24

Trang 25

qua các quỹ phúc lợi tập thể và xã hội Sự khác biệt cơ bản giữa KTTT địnhhướng XHCN với KTTT tư bản chủ nghĩa là ở chỗ xác lập chế độ công hữu vàthực hiện phân phối theo lao động Phân phối theo lao động là đặc trưng bảnchất của KTTT định hướng XHCN, nó là hình thức thực hiện về mặt kinh tếcủa chế độ công hữu Vì thế phân phối theo lao động được xác định là hìnhthức phân phối chủ yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

25

Trang 26

Nước ta xây dựng KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa chứ không phảiKTTT tư bản chủ nghĩa Chúng ta lấy phát triển KTTT là phương tiện để đạtđựợc mục tiêu cơ bản xây dựng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; con người được giải phóng khỏi

áp bức bóc lột, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triểntoàn diện Vì vậy, mỗi bước tăng trưởng kinh tế ở nước ta phải gắn liền với cải

26

Trang 27

thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ và công bằng xã hội Việc phân phối thôngqua các quỹ phúc lợi xã hội và tập thể có ý nghĩa quan trọng để thực hiện mụctiêu đó

Thứ tư, cơ chế vận hành kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà

nước xã hội chủ nghĩa Nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa cũng vận độngtheo yêu cầu của những quy luật vốn có của KTTT, như quy luật cung cầu, quy

27

Trang 28

luật giá trị, quy luật cạnh tranh,… giá cả do thị trường quyết định, thị trường cóvai trò quyết định đối với việc phân phối các nguồn lực kinh tế vào các ngành,các lĩnh vực của nền kinh tế.Trong điều kiện ngày nay, hầu như tất cả các nềnkinh tế các nước trên thế giới đều có sự quản lí của Nhà nước để sửa chữa mộtmức độ nào đó “những thất bại của thị trường” Tức là cơ chế vận hành nềnkinh tế của tất cả các nước đều là cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước.

28

Trang 29

Nhưng điều khác biệt trong cơ chế vận hành nền kinh tế của nước ta là ở chỗNhà nước quản lí nền kinh tế không phải là Nhà nước tư sản, mà là Nhà nước

xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân đặt dưới sự lãnh đạo củaĐảng cộng sản Việt Nam Sự quản lí của Nhà nước xã hội chủ nghĩa nhằm sữachữa “những thất bại của thị trường” , thực hiện các mục tiêu xã hội, nhân đạo,

29

Trang 30

mà bản thân cơ chế thị trường không thể làm được, đảm bảo cho nền kinh tế thịtrường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Thứ năm, nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa cũng là nền kinh tế mở

hội nhập Đặc điểm này phản ánh sự khác biệt giữa nền KTTT định hướng xãhội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng với nền kinh tế đóng, khép kín trước

30

Trang 31

đổi mới, đồng thời phản ánh xu hướng hội nhập của nền kinh tế nước ta trongđiều kiện toàn cầu hóa kinh tế.

Do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, đang diễn ra quátrình quốc tế hóa đời sống kinh tế, sự phát triển của mỗi quốc gia trong sự phụthuộc lẫn nhau Vì vậy, mở cửa kinh tế, hội nhập vào kinh tế khu vực và thếgiới là tất yếu đối với nước ta Chỉ có như vậy mới thu hút được vốn, kĩ thuật

31

Trang 32

công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lí tiên tiến của các nước để khai tháctiềm năng và thế mạnh của nuớc ta, thực hiện phát huy nội lực, tranh thủ ngoạilực để xây dựng và phát triển KTTT hiện đại theo kiểu rút ngắn Thực hiện mởrộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hóa và đa dạng hóa cáchình thức đối ngoại.

II Thực trạng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

32

Trang 33

Do nước ta bước vào nền kinh tế thị trường khá muộn màng so với các nước

trên thế giới cho nên kinh tế thị trường ở nước ta còn ở gíai đoạn sơ khai,cácyếu tố của thị trường phát triển chưa đồng bộ

1/Trình độ phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta còn ở giai đoạn sơ khai.

33

Trang 34

Theo UNDP, Việt Nam đang ở trình độ công nghê lạc hậu 2/7 của thế giới,thiết bị máy móc lạc hậu 2-3 thế hệ (có lĩnh vực 4-5 thế hệ) Lao động thủ côngvẫn chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số lao động xã hội Do đó, năng suất, chấtlượng, hiệu quả sản xuất của nước ta còn rất thấp so với khu vực và thế giới(năng suất lao động của nước ta chỉ bằng 30% mức trung bình của thế giới).

34

Trang 35

Kết cấu hạ tầng như hệ thống đường giao thong, bến cảng, hệ thống thông tinliên lạc… còn lạc hậu, kém phát triển (mật độ đường giao thông/km bằng 1%với mức trung bình của thế giới; tốc độ truyền thông trung bình cả nước chậmhơn thế giới 30 lần) Hệ thống giao thông kém phát triển làm cho các địaphương, các vùng bị chia cắt, tách biệt nhau, do đó làm cho nhiều tiềm năng

35

Trang 36

của các địa phương không thể được khai thác, các địa phương không thểchuyên môn hóa sản xuất để phát huy thế mạnh.

Do cơ sở vật chất – kỹ thuật còn ở trình độ thấp làm cho phân công lao độngkém phát triển, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm Nền kinh tế nước ta chưathoát khỏi nền kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ Nông nghiệp vẫn sử dụngkhoảng 70% lực lượng lao động, nhưng chỉ sản xuất khoảng 26% GDP, các

36

Trang 37

ngành kinh tế công nghệ cao chiếm tỉ trọng thấp.Khả năng cạnh tranh của cácdoanh nghiệp trên thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài cònrất yếu Do cơ sở vật chất – kỹ thuật và công nghệ lạc hậu nên năng suất laođộng thấp, do đó khối lượng hàng hóa còn nghèo nàn, chất lượng hàng hóathấp, giá cả cao vì thế khả năng cạnh tranh còn yếu.

37

Trang 38

2/ Hệ thống thị trường đang trong quá trình hình thành nhưng chưa đồng bộ

Do giao thông vận tải kém phát triển nên chưa lôi cuốn được tất cả các vùngtrong nước vào một mạng lưới lưu thông hàng hóa thống nhất

Thị trường hàng hóa – dịch vụ đã hình thành, phát triển và đang mở rộng từkhi đổi mới Nhiều loại hàng hóa có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu

38

Trang 39

vực và thế giới Thị trường hàng hóa và dịch vụ đang từng bước đáp ứng đượcyêu cầu tiêu dùng và dịch vụ trong nước Tuy nhiên, thị trường này mới hìnhthành, khả năng cạnh tranh vẫn còn thấp Thị trường hàng hóa phát triển nhanh

ở khu vực thành thị và các đô thị lớn, khu vực nông thôn còn rất đơn giản Bêncạnh đó còn nhiều hiện tượng tiêu cực (hàng giả, hàng nhập lậu, hàng nháinhãn hiệu) vẫn còn làm rối loạn thị trường Tổ chức thị trường còn thiếu chặt

39

Trang 40

chẽ Thị trường dịch vụ, nhất là dịch vụ chất lượng cao (bảo hiểm, tài chính,ngân hàng, tư vấn, khoa học – công nghệ, đào tạo…) còn ở trình độ rất thấp vàchưa thực sự hội nhập quốc tế Nhiều loại hình dịch vụ công trong cơ chế thịtrường chưa được xác lập Dịch vụ y tế, giáo dục trong nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa còn lung túng, tính cạnh tranh và hội nhập khuvực và quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ còn thấp.

40

Ngày đăng: 23/07/2013, 21:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2.Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 334 – Tháng 3/2006 Khác
3.Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 333 – Tháng 2/2006 Khác
4.Tạp chí Cộng sản số 3 - tháng 2/2005 Khác
5.Tạp chí Cộng sản số 16 – Tháng 8/2005 Khác
6.Con đường dẫn tới nền KTTT.Hội tin học Việt Nam Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w