Trên cơ sở đó, có những biện pháp thích hợp để sử dụng đất đai có hiệu quả cao nhất; - Việc ban hành các chính sách, các quy định về sử dụng đất đai tạo ra một hành lang pháp lý cho việc
Trang 1p 60.31.05
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả văn
Nguyên
Trang 3MỤC LỤC
1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Mục tiêu nghiên cứu 2
3.Câu hỏi hay giả thiết nghiên cứu 2
4.Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3
5.Phương pháp nghiên cứu 3
6.Ýnghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
7.BỐ cục luận văn 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1 NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI 9
1.1 ĐẤT ĐAI 9
1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI 13
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai 13
13
15
1.3.1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó 15
1.3.2 Công tác kỹ thuật và nghiệp vụ địa chính; Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 17
1.3.3 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 19
1.3.4 Giao đất, cho thuê đất, thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất 23
1.3.5 Quản lý tài chính về đất đai 24
Trang 41.3.6 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử
dụng đất và quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai 26
1.3.7 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai; giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất 28
1.4 CÔNG CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI 29
1.4.1 Công cụ quản lý nhà nước về đất đai 29
1.4.2 Phương pháp quản lý nhà nước về đất đai 33
1.5 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG 36
1.5.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đất đai Q Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh: 36
1.5.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đất đai của thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định: 38
1.5.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đất đai tại huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng: 38
1.5.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đất đai tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam: 39
1.5.5 Bài học kinh nghiệm về quản lý nhà nước về đất đai 40
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐĂK LĂK 41
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐĂK LĂK VÀ SỞ TÀI NGUYÊN& MÔI TRƯỜNG 41
2.1.1 Giới thiệu chung về tỉnh Đăk Lăk 41
2.1.2 Giới thiệu về Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đăk Lăk 43
45
Trang 52.2.1
Đăk Lăk 45
2.2.2 Thực trạng sử dụng đất 48
2.3 T 54
2.3.1 Về tổ chức bộ máy 54
2.3.2 Triển khai thi hành Luật Đất đai 55
2.3.3 Công tác kỹ thuật và nghiệp vụ địa chính; Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 58
2.3.4 Điều tra phân hạng đất, đánh giá tiềm năng đất đai: 64
2.3.5 Công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 65
2.3.6 Công tác giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất 68
2.3.7 Quản lý tài chính về đất đai 72
2.3.8 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất và Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai 76
2.3.9 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất 79
2.4 NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ HẠN CHẾ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TẠI TỈNH ĐĂK LĂK 80
2.4.1 Đánh giá chung về những kết quả đạt được 80
2.4.2 Hạn chế yếu kém 86
2.4.3 Nguyên nhân tồn tại quản lý nhà nước về đất đai 100
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI Ở TỈNH ĐĂK LĂK 107
Trang 6Ở TỈNH ĐĂK LĂK 107
3.1.1 Định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đăk Lăk 107
3.1.2 Tiềm năng đất đai 117
3.1.3 Dự báo nhu cầu sử dụng đất đến năm 2020 118
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI CỦA CHÍNH QUYỀN TỈNH ĐĂK LĂK 119
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện công cụ và phương pháp quản lý nhà nước về đất đai của cơ quan quản lý cấp tỉnh 119
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai của tỉnh Đăk Lăk 120
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 125
1.Kết luận 125
2 Kiến nghị 126
129
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 8
Số hiệu Tên biểu đồ, mô hình Trang
2.8 Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Đăk Lăk năm 2013 142
2.13 Thống kê, kiểm kê diện tích đất theo mục đích đƣợc giao,
đƣợc thuê đƣợc chuyển mục đích nhƣng chƣa thực hiện
146
2.14 Quan hệ cung - cầu, giá cả của đất đai 148
Trang 91
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những chiến lược phát triển của mỗi quốc gia là thực hiện tốt chính sách về quản lý các nguồn tài nguyên Trong đó, tài nguyên đất giữ vai trò nền tảng của mọi ngành sản xuất Ngày nay, cùng với sự gia tăng về quy
mô dân số và quá trình đô thị hoá nhanh chóng, công tác quản lý đất đai lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
Quản lý nhà nước (QLNN) về đất đai tốt hay xấu có tác động rất lớn đến nhiều lĩnh vực, nhiều mặt của kinh tế - xã hội (KT- XH), nhất là trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường, như: việc thu hút đầu tư (phụ thuộc vào các quy định của nhà nước quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư, giá đất, tiến
độ giải phóng mặt bằng, thủ tục hành chính…); sự ổn định chính trị - xã hội (liên quan đến thu nhập, việc làm của người nông dân, tình hình khiếu kiện, tranh chấp đất đai…) Vì vậy, làm tốt công tác QLNN về đất đai có ý nghĩa hết sức quan trọng
Trong thời kỳ đổi mới vừa qua, Việt Nam đã có nhiều thay đổi trong QLNN về đất đai Luật Đất đai ban hành lần đầu tiên năm 1987, đến nay đã qua 2 lần sửa đổi (1998, 2001) và 2 lần ban hành luật mới (1993, 2003) Tuy nhiên, đến nay, tình hình diễn biến quan hệ về đất đai xuất hiện những vấn đề mới và phức tạp, về lý luận cũng như thực tiễn của công tác QLNN về đất đai vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới của cơ chế thị trường
Vì vậy, việc nghiên cứu thực tiễn quá trình thi hành luật để từ đó có những đề xuất sửa đổi bổ sung theo hướng phù hợp hơn với những yêu cầu mới là hết sức cần thiết
Công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk trong những năm vừa qua mặc dù đạt được nhiều hiệu quả nhưng cũng có những mặt hạn chế Trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk vẫn còn tình trạng đa số diện tích đất
Trang 102
trung chủ yếu tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa do các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ hoặc đồng bào di cư đến ngoài kế hoạch không đến đăng ký hoặc không làm thủ tục ghi nợ tiền sử dụng đất nhận (GCN) Diện tích đất thu hồi sau khi rà soát, giải thể của các nông, lâm trường đã được bàn giao về cho địa phương quản lý nhưng vẫn chưa có kinh phí để đo đạc lập bản đồ địa chính, tổ chức kê khai đăng ký và cấp GCN QSDĐ
Trên địa bàn tỉnh vẫn còn có tình trạng cán bộ địa chính cấp xã chưa quan tâm đúng mức đến công tác cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính Do đó đã dẫn đến tình trạng hồ sơ địa chính một số nơi chưa được chỉnh lý biến động kịp thời, thông tin đối với một số thửa đất chưa được phản ánh đầy đủ
Để đánh giá công tác QLNN về đất đai trong quá trình phát triển KT-XH
và đô thị hoá của tỉnh Đăk Lăk giai đoạn từ 2005 đến năm 2013, cần nghiên cứu thực trạng của nó để thấy được những kết quả đạt được, những mặt còn tồn tại trong công tác QLNN về đất đai của tỉnh, từ đó đưa ra những biện pháp khắc phục phù hợp nhằm khai thác sử dụng nguồn lực đất đai có hiệu quả hơn Đó là những nội dung cần được nghiên cứu và đây cũng là những vấn đề mang tính cấp thiết hiện
2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản QLNN về đất đai
- Phân tích thực trạng QLNN về đất đai tại địa bàn tỉnh Đăk Lăk
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để công tác QLNN về đất đai tốt hơn góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh Đăk Lăk
3 Câu hỏi hay giả thiết nghiên cứu
- Thực trạng công tác quản lý đất đai tại tỉnh Đăk Lăk trong giai đoạn
từ 2005 - 2013 như thế nào?
Trang 114 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng: Luận văn chủ yếu nghiên cứu các nội dung và công cụ sử dụng trong QLNN về đất đai (theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, 2013), ngoài ra có đánh giá tình hình sử dụng một số loại đất để làm rõ hơn về nhiệm vụ quản lý và một số nội dung khác ảnh hưởng đến công tác quản lý
- Phạm vi: Chỉ nghiên cứu trong địa bàn tỉnh Đăk Lăk, thời gian kể từ khi thực hiện Luật Đất đai (sửa đổi) năm 1993 đến nay, trong đó tập trung vào thời kỳ 2005- 2013; một số số liệu minh hoạ, đánh giá, so sánh có thể lấy ở phạm vi vùng hoặc toàn quốc, trong hoặc ngoài các mốc thời gian trên
5 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài việc sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, quá trình nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp điều tra thực tế, thống kê, so sánh, phân tích, đánh giá
g tin qua sách báo, thư viện; (ii) số liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp điều tra
Các phương pháp thu thập tài liệu, thông tin, được sử dụng trong nghiên cứu:
- Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó
- Tổng hợp các nguồn số liệu thông qua các báo cáo, tổng kết của các sở, ban, ngành của tỉnh Đăk Lăk
Trang 126 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt lý luận: hệ thống hoá những đặc trƣng cơ bản QLNN về đất đai của cơ quan quản lý tỉnh Đăk Lăk, làm rõ các quan hệ trong quản lý và SDĐ trên địa bàn tỉnh Phân tích và luận bàn về mặt lý luận và thực tiễn vai trò QLNN về đất đai của cơ quan quản lý, xây dựng và đánh giá QLNN về đất đai của các cơ quan quản lý bằng hệ thống chỉ tiêu đánh giá
Về mặt thực tiễn: ngoài những đề xuất, kiến nghị, biện pháp quản lý thích hợp nhằm hoàn thiện QLNN về đất đai, góp phần thúc đẩy phát triển KT- XH trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk Luận án còn đƣa ra những lý luận và kiến nghị, đề xuất có thể sử dụng chung cho QLNN về đất đai của tỉnh Đăk Lăk cũng nhƣ làm tƣ liệu tham khảo và giảng dạy
Trang 135
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Theo những thông tin tra cứu từ thư viện Quốc gia và các nguồn thông tin khác, tính đến thời điểm nghiên cứu mà tác giả tiếp cận cho thấy: lĩnh vực QLNN về đất đai, trên thế giới đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, có
giá trị khoa học cao như: “Chính sách về đất đai” (Land policy Reforms)
(2003) [32] và “Chính sách của địa phương và sự khuyến khích đầu tư” (Local land use policy and investment incentives) (2004) [33] của Ngân hàng Thế giới, là những nghiên cứu đưa ra chính sách quản lý đất đai, cảnh báo về những quy định, phương thức quản lý và của chính quyền địa phương có thể làm ảnh hưởng đến tốc độ và kiểu mẫu phát triển đô thị, cũng như sức ép của các quy định pháp luật đối với các nhà hoạch định chính sách có thể làm thay đổi những tác động được mong đợi trong quản lý
và (SDĐ) như thế nào? “Những chính sách đất đai cho phát triển
và xoá giảm đói nghèo” (Land policies for growth and poverty reduction) (2004) [34], của Ngân hàng thế giới là công trình nghiên cứu về mối liên hệ giữa chính sách QLNN về đất đai, khuynh hướng SDĐ ảnh hưởng đến phát triển và nghèo đói của các nước đang phát triển, các giải pháp khuyến nghị nhằm xóa giảm đói nghèo, thúc đẩy phát triển bền vững Ngoài ra còn một số công trình khác nhưng mức độ nghiên cứu hạn chế hơn những công trình đã
Trang 146
+ Người sử dụng đất sẽ đầu tư vào đất đai gia tăng nếu các quyền của
họ về đất đai được chia nhỏ và tăng lên, cũng như tính “linh động” của đất đai trong thị trường bất động sản tăng;
+ Việc cải thiện hệ thống thông tin cho đất đai là việc phải làm thường xuyên, ngay cả các quốc gia có thị trường đất đai phát triển cũng phải trả giá cho việc thiếu thông tin;
+ Bất động sản hiện đang có ảnh hưởng lớn nhất đến chính sách tiền tệ, tuy nhiên nhiều ngân hàng phải thừa nhận rằng mình không hề biết điều gì xảy ra;
+ Thị trường đất đai đòi hỏi phải được kiểm tra, kiểm soát thường xuyên, chặt chẽ để thậm chí chỉ là bắt đầu hiểu được các quá trình vận hành của nó; mô hình xây dựng thị trường bất động sản phức hợp của Wallece và Williamson đưa ra năm 2005 là: đăng ký đất đai, định giá đất đai, năng lực nhận thức (cam kết, sự tham gia, minh bạch, tính sáng tạo, tư duy trừu tượng)
và các dịch vụ tài chính, sự phối hợp giữa các cơ quan QLNN Sự phối hợp giữa Nhà nước và tư nhân trong cần phải nhịp nhàng
Các chính sách quản lý đất đai, xây dựng phát triển công trình, đô thị, tín dụng tài chính đều được phát huy nhằm tối đa việc phát triển thị trường bất động sản Nhà nước chỉ tác động vào các hoạt động mang tính vĩ mô, còn các hoạt động kinh doanh, đầu tư khác do khu vực tư nhân đảm nhiệm Hệ thống thông tin đất đai hiện đại, tin cậy và thuận lợi cho người quản lý và sử dụng Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch được tiến hành có sự tham gia phối hợp của nhiều phía Cần có sự phối hợp của các cơ quan tư pháp như: Tòa án, Viện kiểm sát trong quản lý đất đai, trong kiểm tra thực thi luật, các quyết định quản lý của cơ quan hành pháp tại địa phương…
Nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước đối với QLNN về đất đai
ở Việt Nam, trước tiên có thể kể đến các công trình nghiên cứu ở cấp Luận án
Trang 157
Tiến sỹ như: Luận án Tiến sỹ kinh tế của Trần Thế Ngọc (1997) "Chiến lược QLĐĐ thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010" nghiên cứu chủ yếu nay và hướng phát triển quản lý và SDĐ cho những năm tiếp theo [19]; Luận án tiến
sỹ luật học của Nguyễn Quang Tuyến (2003) "Địa vị pháp lý người SDĐ trong các giao dịch dân sự, thương mại về đất đai" nghiên cứu về các quy định của pháp luật, địa vị của người SDĐ, ảnh hưởng đến các giao dịch về đất đai cũng như việc quản lý và thúc đẩy sự phát triển thị trường bất động sản và hoàn thiện pháp luật đất đai [20] Ngoài ra còn có đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước của PGS- Tiến sỹ Phạm Hữu Nghị (2000), Viện nghiên cứu địa chính- Tổng cục Địa chính: "Những quy định về chuyển quyền SDĐ" [21]; Một số đề tài khoa học cấp Bộ do Viện nghiên cứu địa chính thực hiện; các bài báo viết về các vấn đề cụ thể như: thị trường bất động sản, công tác
GPMB), công tác cấp GCN QSDĐ Các nhà khoa học nước ngoài cũng có một số nghiên cứu đối với QLNN về đất đai của Việt Nam, tính đến thời điểm hiện nay có: Tham luận số 03, “Tác động quy trình giao dịch đất đai đối với người nghèo áp dụng phương pháp DE SOTO” (2005), nghiên cứu về các quy trình giao dịch đất đai hiện hành, ảnh hưởng đến việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng và phát triển kinh tế, đặc biệt của người nghèo của ngân hàng phát triển châu Á (ADB) [22]; Nghiên cứu của tổ chức tư vấn: “Strengthening environmental Management and Land Administration Viet Nam- Sweden comporation Program (SEMLA)”, đánh giá đối với hệ thống Luật đất đai của Việt Nam như: “Các báo cáo đánh giá hệ thống luật đất đai” (2006), đây là công trình nghiên cứu, rà soát hệ thống pháp luật đất đai hiện nay của Việt Nam, so sánh hệ thống luật hiện hành với hệ thống pháp luật đất đai của thế giới và đưa ra một số khuyến nghị hoàn thiện
hệ thống luật đất đai của Việt Nam [31]
Trang 168
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu QLNN về đất đai của các nhà khoa học trong và ngoài nước đối với QLNN về đất đai của Việt Nam đã góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận, cũng như thực tiễn QLĐĐ ở Việt Nam Các nghiên cứu, bài viết đã chỉ ra nhiều nguyên nhân tồn tại trong QLNN về đất đai
Với nền kinh tế phát triển như hiện nay, nền kinh tế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cũng từ đây những bất cập trong công tác quản
lý đất đai làm cản trở đến quá trình phát triển đất nước Những bất cập đó cũng làm lúng túng các cấp chính quyền địa phương trong việc quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai, đặc biệt là chính quyền cấp huyện
Trước những đòi hỏi phát triển KT- XH, đất đai ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong cuộc sống Do vậy, liên tục đổi mới và hoàn thiện QLNN về đất đai, nhất là của chính quyền địa phương là xu thế tất yếu trong quản lý
Do vậy, quản lý nhà nước về đất đai của các cơ quan quản lý không thể có hiệu quả, hiệu lực và tác động tốt đến đời sống, - nếu như: (i) quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền cấp huyện không được nghiên cứu và tổ chức khoa học; (ii) vai trò của người dân trong
không được xem xét, đánh giá và đặt đúng vị trí; (iii) những bài học trong quá trình quản lý không được nghiên cứu, đánh giá một cách thường xuyên,
cụ thể, từ đó, có thể đưa ra những biện pháp điều chỉnh bổ sung kịp thời
Trang 179
CHƯƠNG 1
NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI 1.1 ĐẤT ĐAI
* Khái niệm về đất đai
a Khái niệm:
Đất hiểu theo nghĩa thông thường nhất là phần mỏng nằm trên bề mặt của Trái Đất mà không bị nước bao phủ Tuy nhiên, trong các ngành khoa học
có liên quan đến đất đai như kinh tế học, thổ nhưỡng học, địa chất học v.v thì
có những khái niệm hay thuật ngữ hoàn toàn khác nhau khi nói tới đất
Trong kinh tế học, đất bao gồm tất cả các tài nguyên có nguồn gốc tự nhiên, chẳng hạn như vị trí địa lý của khu vực đất đai, các tài nguyên khoáng sản dưới lòng đất, và thậm chí các thành phần của phổ điện từ Trong kinh tế học cổ điển nó được coi là một trong các yếu tố sản xuất, các yếu tố khác là tư bản và sức lao động
b Vai trò của đất đai
C Mác đã khái quát vai trò của đất đai: “đất đai là đất mẹ, sức lao động
là cha, sản sinh ra mọi của cải vật chất”
Cùng với lao động là vốn, đất đai là một trong ba nguồn lực chính của mọi nền sản xuất ở bất kỳ chế độ xã hội nào Đất đai là điều kiện vật chất cần thiết để thực hiện mọi quá trình sản xuất, vừa là chỗ đứng, vừa là địa bàn hoạt động cho tất cả các ngành sản xuất và mọi hoạt động trong đời sống xã hội Đối với các ngành nông- lâm- thủy hải sản thì đất đai (bao gồm cả diện tích mặt nước) là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế, nó vừa là tư liệu lao động, vừa là đối tượng lao động Đất đai là chỗ đứng cho các ngành khác như
Trang 18Như vậy, việc QLNN đối với đất đai là hết sức cần thiết, vừa đảm bảo khai thác tốt tiềm năng đất đai với vai trò là một nguồn lực, lại vừa đảm bảo mục tiêu giữ gìn môi trường sống cho toàn xã hội Quản lý nhà nước đối với đất đai trong nền kinh tế thị trường góp phần hạn chế các ảnh hưởng ngoại sinh tiêu cực (ảnh hưởng xấu tới môi trường)
Đất đai là yếu tố cấu thành nên lãnh thổ của mỗi quốc gia và gắn với nó
là lịch sử của từng dân tộc Hầu hết các cuộc chiến tranh trên thế giới đều từ
lý do tranh giành đất đai và tài nguyên Vì vậy, quản lý và nắm chắc đất đai đi đôi với việc xây dựng và bảo vệ chủ quyền là mục tiêu của mọi quốc gia trên thế giới
c Đặc điểm của đất đai
- Đất đai bị giới hạn về mặt diện tích, hay nói cách khác nó bị cố định
về số lượng Theo kinh tế học, đất đai là loại hàng hóa cố định về cung (có đường cung thẳng đứng) Đây là đặc điểm quan trọng nhất của đất đai, đòi hỏi trong quá trình sử dụng, quản lý phải đảm bảo tiết kiệm, có hiệu quả, phải xe, xét kỹ lưỡng khi bố trí sử dụng các loại đất nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo tính cân bằng tương đối về cung cho các loại đất
Trang 1911
- Đất đai có vị trí cố định, không thể di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác Tính cố định của đất đai gắn liền với môi trường mà đất đai chịu sự chi phối (nguồn gốc hình thành, khí hậu sinh thái và những tác động khác của thiên nhiên) Vị trí của đất đai có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế trong quá trình khai thác sử dụng Đất đai ở gần các đô thị, các đường giao thông, các khu dân cư được khai thác sử dụng triệt để hơn ở các vùng xa xôi hẻo lánh và do
đó giá trị sử dụng lớn hơn Đặc điểm này cần được hết sức lưu ý trong định giá đất đai
- Đất đai là sản phẩm của tự nhiên nhưng lại là một tư liệu sản xuất gắn liền với hoạt động của con người Trong quá trình hoạt động sản xuất, đất đai trở thành tư liệu không thể thiếu được Tác động của con người vào đất đai thông qua hoạt động sản xuất rất đa dạng phong phú với nhiều vẻ khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp nhằm khai thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên này vì lợi ích của mình Những tác động đó có thể làm thay đổi tính chất của đất đai, từ đất hoang sơ thành đất canh tác được hoặc từ mục đích sử dụng này sang mục đích sử dụng khác Tất cả những tác động ấy của con người làm cho đất đai, từ vốn dĩ là một sản phẩm của tự nhiên, đã trở thành một sản phẩm của lao động
Con người không tạo ra được đất đai, nhưng bằng lao động của mình
mà cải thiện đất đai, là, cho đất đai từ xấu trở thành tốt hơn Đâu cũng chính
là đặc điểm có khả năng tái tạo của đất đai Độ phì nhiêu của đất đai có khả năng phục hồi và tái tạo thông qua tự nhiên hoặc do tác động của con người
Độ phì là một đặc trung về chất của đất đai, thể hiện khả năng cung cấp thức
ăn, nước cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng và phát triển Nó có ý nghĩa quyết định đối với sản xuất nông nghiệp, vì vậy việc sử dụng đất nông nghiệp phải đảm bảo nguyên tắc là không ngừng cải tạo nâng cao độ phì của đất
Trang 2012
- Tính đa dạng và phong phú của đất đai: trước hết do đặc tính tự nhiên của đất đai và phân bố cố định trên từng vùng lãnh thổ nhất định gắn liền với điều kiện hình thành đất quyết định, mặt khác, nó còn do yêu cầu và đặc điểm, mục đích sử dụng các loại đất khác nhau Một loại đất có thể sử dụng theo nhiều mục đích khác nhau Đặc điểm này của đất đai đòi hỏi quá trình quản lý, sử dụng phải biết khai thác triệt để lợi thế của mỗi loại đất một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất trên mỗi vùng lãnh thổ Để làm được điều đó phải xây dựng một quy hoạch tổng thể và chi tiết trên cả nước và từng vùng địa phương
- Các quan hệ đất đai vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội sâu sắc: Đất đai là một tài sản có giá trị kinh tế lớn, điều đó đã rõ Xét về góc độ
xã hội, quan hệ đất đai mang nhiều ý nghĩa Luật Đất đai 1993 đã ghi: “Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay” Đối với dân tộc ta, nhất là ở vùng nông thôn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế và môi trường, một thực tế không thể chối cãi là đất đai còn mang một nghĩa to lớn về mặt tinh thần Những tranh chấp đất đai ở nông thôn nhiều khi hoàn toàn không phải vì lý do kinh tế Thực tế mấy năm gần đây cho thấy tình hình
sử dụng đất cho những mục đích như đất tôn giáo, tín ngưỡng, nghĩa trang đang có những diễn biến phức tạp Tính cộng đồng làng xã cũng ảnh hưởng đến quan hệ đất đai Khi tái định cư, người dân thường yêu cầu phải di dời cả làng, đến chỗ tái định cư phải ở cùng nhau… Những đặc điểm trên không mang tính chính thống nhưng đó là một thực tế mà trong quản lý cần xem xét một cách nghiêm túc, để từ đó có những chính sách phù hợp nhằm hạn chế tiêu cực, phát huy mặt tích cực
Trang 2113
1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai
- Khái niệm quản lý: Quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một
hệ thống nào đó nhằm tật tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định
- Khái niệm QLNN về đất đai: QLNN về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lơi từ đất đai
1.2.2 Vai tr công tác quản lý nhà nước về đất đai
a Vai trò quản lý nhà nước về đất đai
- Bảo đảm sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả;
- Thông qua đánh giá, phân loại, phân hạng đất đai, Nhà nước nắm được quỹ đất tổng thể và cơ cấu từng loại đất Trên cơ sở đó, có những biện pháp thích hợp để sử dụng đất đai có hiệu quả cao nhất;
- Việc ban hành các chính sách, các quy định về sử dụng đất đai tạo ra một hành lang pháp lý cho việc sử dụng đất đai, tạo nên tính pháp lý cho việc bảo đảm lợi ích chính đáng của người sử dụng đất, đồng thời cũng bảo đảm lợi ích của Nhà nước trong việc sử dụng, khai thác quỹ đất;
- Thông qua việc giám sát, kiểm tra, quản lý và sử dụng đất đai, Nhà nước nắm bắt tình hình biến động về sử dụng từng loại đất, đối tượng sử dụng đất Từ đó, phát hiện những mặt tích cực để phát huy, điều chỉnh và giải quyết những sai phạm;
- Việc quản lý nhà nước về đất đai còn giúp Nhà nước ban hành các chính sách, quy định, thể chế; đồng thời, bổ sung, điều chỉnh những chính
Trang 2214
sách, nội dung còn thiếu, không phù hợp, chưa phù hợp với thực tế và góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống
b Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai
- Nguyên tắc thống nhất về quản lý nhà nước: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý, chính quyền thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu và quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn được quy định bởi pháp luật
- Nguyên tắc phân cấp gắn liền với các điều kiện bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ: Cơ quan địa chính ở trung ương và địa phương (cấp tỉnh và cấp huyện) chịu trách nhiệm trước Chính phủ và cơ quan chính quyền cùng cấp (UBND tỉnh và UBND cấp huyện) trong quản lý nhà nước về đất đai; Chính quyền cấp tỉnh thực hiện việc giao đất, cho thuê đất cũng như thu hồi đất của của tổ chức và có trách nhiệm hỗ trợ, phối hợp, kiểm tra chặt chẽ trong việc thực hiện nhiệm vụ của cấp huyện; chính quyền cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra, giám sát, hỗ trợ chính quyền cấp xã (phường, thị trấn) và thực hiện quyền giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn quản lý
- Nguyên tắc tập trung dân chủ: Quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền địa phương phải tuân thủ quy định của pháp luật và thực hiện quyền chủ sở hữu toàn dân về đất đai, bằng việc tạo điều kiện để người dân có thể tham gia giám sát hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền trực tiếp thông qua tổ chức Hội đồng nhân dân (HĐND) và các tổ chức chính trị- xã hội cùng cấp
- Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với địa phương và vùng lãnh thổ: Chính quyền các cấp thống nhất quản lý nhà nước về đất đai theo địa giới hành chính, điều này có nghĩa là có sự hài hoà giữa quản lý theo lãnh thổ và
Trang 2315
quản lý theo chuyên ngành và ngay cả các cơ quan trung ương đóng tại địa
bàn nào thì phải chịu sự quản lý của chính quyền nơi đó
- Nguyên tắc kế thừa và tôn trọng lịch sử: Quản lý nhà nước của chính quyền phải tuân thủ việc kế thừa các quy định của luật pháp của Nhà nước trước đây, cũng như tính lịch sử trong quản lý đất đai qua các thời kỳ của cách mạng được khẳng định bởi việc “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
1.3 NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI
Nội dung quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực thường được quy định
rõ trong các văn bản luật Đối với lĩnh vực đất đai, ngoài các văn bản luật chuyên ngành còn được quy địng tại mội số văn bản luật khác Ở đây, chúng
ta chỉ tiếp cận và phân tích những nội dung được quy định trong các văn bản pháp luật đất đai hiện hành Luật Đất đai 2013 quy định rõ 13 nội dung của công tác quản lý nhà nước về đất đai, có thể phân thành các nhóm sau:
1.3.1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó
Đây chính là quá trình nhà nước sử dụng công cụ pháp luật trong quản
lý Nhà nước dung pháp luật để thực hiện quyền cai trị của mình, bằng cách tác động vào ý chí của con người để điều chỉnh hành vi của họ
Luật pháp là công cụ cho các công cụ quản lý khác, các chính sách chế
độ của Nhà nước thực hiện có hiệu quả hơn
Như đã nêu ở trên, đất đai là một vấn đề hết sức phức tạp, vừa mang tính kinh tế lại vừa mang tính xã hội, trong quan hệ đất đai thường dễ nảy sinh
Trang 24Khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước về đất đai phải căn cứ theo thẩm quyền của mình và tuân theo các quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Khi tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai của các cấp trên, cơ quản quản lý hành chính nhà nước về đất đai cũng phải căn cứ theo thẩm quyền của mình mà tổ chức hướng dẫn cho các cấp quản lý bên dưới và các chủ thể khác tham gia quan hệ pháp luật đất đai hiểu và thực hiện các văn bản đó đạt hiệu quả cao
Sau đó, các cơ quan cấp bộ có liên quan như Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài Chính, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình ban hành các văn bản cụ thể hoá các quy định trong Luật Đất đai 2003, trong các Nghị định hướng dẫn Luật Đất đai 2003 để hướng dẫn các địa phương, các ngành khác thực hiện bằng các thông tư, thông tư liên tịch
Cuối cùng, Uỷ ban nhân dân các cấp căn cứ vào thẩm quyền của mình
cụ thể hoá các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và
sử dụng đất đai của các cấp trên cho phù hợp với địa phương mình để thực
Trang 2517
hiện Việc tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật còn phải tuyên truyền pháp luật đất đai cho người sử dụng hiểu và thực hiện đúng Khi Luật Đất đai 2003 được ban hành thay thế cho Luật Đất đai 1993, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước trong bộ máy nhà nước ngoài việc căn cứ vào chức năng, thẩm quyền của mình để ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện còn phải tổ chức tuyên truyền, tập huấn các quy định của pháp luật đất đai cho người dân trên địa bàn
Như vậy, theo tinh thần của Luật Đất đai 2003, nội dung "Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó" đã được xác định là cơ sở để thực hiện các nội dung khác và được xếp lên vị trí thứ nhất trong 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai Hơn bao giờ hết, người làm công tác quản lý nhà nước về đất đai phải ý thức
rõ được tầm quan trọng của nó Để làm tốt nội dung này đòi hỏi người cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về đất đai ngoài việc theo chức năng, thẩm quyền của mình ban hành các văn bản để cụ thể hoá và hướng dẫn thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất của các cấp trên còn phải chú trọng đến công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai đến người dân Chỉ khi nào người dân - Người chủ sử dụng đất nắm chắc được pháp luật đất đai, tức là khi sử dụng đất họ biết được họ có những quyền gì và
họ phải thực hiện những nghĩa vụ gì? Theo quy định của pháp luật đất đai họ được làm gì và họ không được làm gì? Khi đó, mới có thể tránh được các vi phạm pháp luật về đất đai do người sử dụng đất không hiếu luật mắc phải
1.3.2 Công tác kỹ thuật và nghiệp vụ địa chính; Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Công tác kỹ thuật và nghiệp vụ địa chính bao gồm: Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính;
Trang 2618
Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
a Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính
Trang 2719
1.3.3 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ pháp lý -
kỹ thuật quan trọng cho việc điều tiết các quan hệ đất đai (giao đất, cho thuê
Trang 2820
đất, thu hồi đất, chuyển quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất) Luật xác định rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc xây dựng, xét duyệt, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch này
Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được thể hiện trong Chương IV với
16 Điều của Luật Đất đai năm 2013, đã thể chế hóa đầy đủ những quan điểm
và định hướng của Nghị quyết 19 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Mặt khác đã khắc phục, giải quyết được những tồn tại, hạn chế phát sinh trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Đồng thời việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được đơn giản hóa, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất hiện nay
Theo phân tích của Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai Đào Trung Chính: Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thể hiện
rõ tại khoản 2 Điều 35 Luật Đất đai năm 2013 Đó là “Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải đảm bảo tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế-xã hội; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất cấp xã” Còn khoản 8 Điều 35 quy định “Quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt”
Những quy định nêu trên trong Luật Đất đai năm 2013 đã khẳng định được vai trò, vị trí của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho các ngành, lĩnh vực sử dụng hợp lý, hiệu quả, tránh được sự chồng chéo; khắc phục được những khó khăn, bất cập trong việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích
sử dụng đất Đây chính là căn cứ để văn bản dưới Luật quy định chi tiết trách nhiệm của UBND các cấp trong việc rà soát quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất bảo đảm phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
Trang 2921
Kế thừa Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 vẫn quy định
kỳ kế hoạch là 5 năm Tuy vậy, đối với kế hoạch sử dụng đất cấp huyện, nhằm đảm bảo tính khả thi của kế hoạch sử dụng đất, Luật Đất đai năm 2013 quy định “Kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được lập hàng năm” Việc đổi mới này cùng với đổi mới về căn cứ để giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất là kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện Mục đích khắc phục tình trạng giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất tràn lan Thường tập trung của kỳ kế hoạch sử dụng đất 5 năm và cũng chính
là đầu nhiệm kỳ như hiện nay Mặt khác tránh được tình trạng bỏ hoang hóa, gây lãng phí về tài nguyên đất
Về căn cứ và nội dung lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Điểm đổi mới đặc biệt và có tính đột phá trong nội dung lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong Luật Đất đai năm 2013 là quy định cụ thể “Nội dung kế hoạch
sử dụng đất hàng năm của cấp huyện” tại khoản 4 Điều 40 Trong đó quy định
“Xác định vị trí, diện tích đất phải thu hồi để thực hiện công trình, dự án sử dụng đất vào mục đích quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật này trong năm kế hoạch đến từng đơn vị hành chính cấp xã”
Đổi mới trong việc quy định nội dung lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện làm cơ sở thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích
sử dụng đất gắn với nhu cầu sử dụng đất trong năm của ngành, lĩnh vực, của các cấp, phù hợp với khả năng đầu tư và huy động nguồn lực, khắc phục lãng phí trong việc giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư
Việc lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được bổ sung mới trong Luật Đất đai năm 2013, quy định cụ thể tại Điều 43 như sau: “Cơ quan
có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ quan tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; hình thức, nội dung và thời gian lấy ý kiến nhân dân đối với quy hoạch, kế
Trang 30Ngoài những nội dung kế thừa Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 cũng đã bổ sung điểm mới quy định rõ quyền và nghĩa vụ người sử dụng đất trong vùng quy hoạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của họ
Cụ thể là khoản 2 Điều 49: “Trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công
bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện, thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật Trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện, thì người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch, được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm; nếu người sử dụng đất có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật”
Trang 3123
Để khắc phục những khó khăn, bất cập trong việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất tại thời điểm kết thúc kỳ quy hoạch sử dụng đất, mà quy hoạch sử dụng đất kỳ mới chưa được phê duyệt, khoản 4 Điều 49 quy định: “Khi kết thúc kỳ quy hoạch sử dụng đất mà các chỉ tiêu quy hoạch
sử dụng đất chưa thực hiện hết, thì vẫn được tiếp tục thực hiện đến khi quy hoạch sử dụng đất kỳ tiếp theo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt” Nội dung đổi mới này tạo điều kiện cho việc thực hiện các
dự án đầu tư không bị đình trệ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội
1.3.4 Giao đất, cho thuê đất, thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất
t
Trang 3224
73
Từ điều 31 đến điều 45 Luật Đất đai 2003 quy định chi tiết về việc giao
đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất và tr-ng dụng đất
1.3.5 Quản lý tài chớnh về đất đai
Trang 3325
-
Trang 34-26
-1.3.6 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người
sử dụng đất và quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai
a Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Trang 3527
n…
hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất của mình; được khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai
Ngoài ra, người sử dụng đất còn có các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Trang 3628
dụng đất đúng mục đích, đúng quy định về chế độ sử dụng đất và các quy định khác của pháp luật; đăng ký quyền sử dụng đất, làm đầy đủ thủ tục khi thực hiện các quyền của mình; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính; thực hiện các biện pháp bảo vệ đất, bảo vệ môi trường; không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có liên quan
b Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai
1.3.7 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai; giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất
Trang 3729
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét việc các quy định của pháp luật có được thực hiện theo đúng trình tự, đúng nội dung, đúng thời điểm và các điều kiện cụ thể khác hay không Qua thanh tra, kiểm tra phát hiện các sai phạm để ngăn chặn, kịp thời xử lý các vi phạm theo quy định của pháp luật, đảm bảo sự bình đẳng giữa những đối tượng sử dụng đất và các cơ
quan quản lý của Nhà nước
- Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai
- Khiếu nại là việc người sử dụng đất đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu về quyền lợi đối với quyền sử dụng đất
Tố cáo các vi phạm trong quản lý sử dụng đất là việc công dân, tổ chức tố cáo những hành vi sai phạm của người thực hiện pháp luật gây thiệt hại cho Nhà nước, xã hội Giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai nhằm điều tiết mối quan
hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất trong việc quản lý và sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện đúng Quy chế dân chủ, công khai
Trang 3830
Pháp luật là công cụ quản lý không thể thiếu được của một Nhà nước
Từ xưa đến nay, Nhà nước nào cũng luôn thực hiện quyền cai trị của mình trước hết bằng pháp luật Nhà nước dùng pháp luật tác động vào ý chí con người để điều chỉnh hành vi của con người
Pháp luật là công cụ duy trì trật tự an toàn xã hội trong lĩnh vực đất đai Trong hoạt động xã hội, vấn đề đất đai gắn chặt với lợi ích vật chất và tinh thần của mọi chủ thể sử dụng đất nên vấn đề này dễ nảy sinh nhiều mâu thuẫn Trong các mâu thuẫn đó có những vấn đề phải dùng đến pháp luật mới
xử lý được
Pháp luật là công cụ bắt buộc các tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước và các nghĩa vụ khác Trong sử dụng đất đai, nghĩa vụ nộp thuế là nghĩa vụ bắt buộc, nhưng không phải lúc nào nghĩa vụ đó cũng được thực hiện một cách đầy đủ có rất nhiều trường hợp phải dùng biện pháp cưỡng chế và bắt buộc thì nghĩa vụđó mới được thực hiện
Pháp luật là công cụ mà qua đó Nhà nước bảo đảm sự bình đẳng, công bằng giữa những người sử dụng đất Nhờ những điều khoản bắt buộc, thông qua các chính sách miễn giảm, thưởng, phạt cho phép Nhà nước thực hiện được sự bình đẳng cũng như giải quyết tết mối quan hệ về lợi ích trong lĩnh vực đất đai giữa những người sử dụng đất
Pháp luật là công cụ tạo điều kiện cho các công cụ quản lý khác, các chế độ, chính sách của Nhà nước được thực hiện có hiệu quả hơn
Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có các công cụ pháp luật liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quản
lý đất đai cụ thể như: Hiến pháp, Luật đất đai, Luật dân sự, các pháp lệnh, các nghị định, các quyết định, các thông tư, các chỉ thị, các nghị quyết của Nhà nước, của Chính phủ, của các bộ, các ngành có liên quan đến đất đai một cách
Trang 3931
trực tiếp hoặc gián tiếp và các văn bản quản lý của các cấp, các ngành ở chính quyền địa phương
b Công cụ quy hoạch, Kế hoạch sử dụng đất đai
Trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là công cụ quản lý quan trọng và là một nội dung không thể thiếu được trong công tác quản lý nhà nước về đất đai.'Vì vậy, Luật Đất đai 2003 quy định "Nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật"
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là một nội dung quan trọng trong việc quản lý và sử dụng đất, nó đảm bảo cho sự lãnh đạo, chỉ đạo một cách thống nhất trong quản lý nhà nước về đất đai Thông qua quy hoạch, kế hoạch
đã được phê duyệt, việc sử dụng các loại đất được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý Nhà nước kiểm soát được mọi diễn biến về tình hình đất đai Từ đó, ngăn chặn được việc sử dụng đất sai mục đích, lãng phí Đồng thời, thông qua quy hoạch, kế hoạch buộc các đối tượng sử dụng đất chỉ được phép sử dụng trong phạm vi ranh giới của mình Quy hoạch đất đai được lập theo vùng lãnh thổ và theo các ngành
Quy hoạch sử dụng đất đai theo vùng lãnh thổ là quy hoạch sử dụng đất đai được lập theo các cấp hành chính, gồm: quy hoạch sử dụng đất đai của cả nước, quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh, quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện, quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã
Quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành là quy hoạch sử dụng đất đai được lập theo các ngành như: quy hoạch sử dụng đất đai ngành nông nghiệp, quy hoạch sử dụng đất đai ngành công nghiệp, quý hoạch sử dụng đất đai ngành giao thông
c Công cụ tài chính
Trang 4032
Tài chính là tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của các chủ thể kinh tế -
xã hội
- Các công cụ tài chính trong quản lý đất đai
+ Thuế và lệ phí: là công cụ tài chính chủ yếu được sử dụng rộng rãi trong công tác quản lý đất đai Theo Luật Đất đai năm 2003, Nhà nước ban hành các loại thuế chủ yếu trong lĩnh vực đất đai như sau:
+ Thuế sử dụng đất: Thuế chuyển quyền sử dụng đất; Thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất (có thể có);
+ Các loại lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai như lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính
+ Giá cả: Đối với đất đai hiện nay, Nhà nước đã ban hành khung giá chung cho các loại đất cụ thể được quy định tại Nghị định số 188/20041NĐ-
CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ để làm cơ sở chung cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh làm căn cứ tính giá đất và thu thuế sử dụng đất; thu tiền khi giao đất, khi cho thuê đất, khi cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất
+ Ngân hàng: là công cụ quan trọng của quan hệ tài chính Ngoài nhiệm
vụ kinh doanh tiền tệ nói chung nó còn được hình thành để cung cấp vốn cho các công lệnh về khai hoang, cải tạo đất
- Vai trò của công cụ tài chính trong quản lý đất đai
+ Tài chính là công cụ để các đối tượng sử dụng đất đai thực hiện nghĩa
vụ và trách nhiệm của họ
+ Tài chính là công cụ mà Nhà nước thông qua nó để tác động đến các đối tượng sử dụng đất làm cho họ thấy được nghĩa vụ và trách nhiệm của họ trong việc sử dụng đất đai Các đối tượng sử dụng đất đều phải có trách nhiệm
và nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước