Động kinh là một bệnh đã được biết đến từ lâu nhưng vẫn là vấn đề y tế có tính thời sự luôn cần được quan tâm nghiên cứu cho mỗi quốc gia. Động kinh là một bệnh lý thường gặp, theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ động kinh chiếm 0.5-1% dân số. Tỷ lệ mắc mới mỗi năm trung bình là 50/100000 dân. Đây là một bệnh lý gặp ở mọi lứa tuổi, từ trẻ sơ sinh đến người già với các tỷ lệ mắc bệnh ở các lứa tuổi khác nhau [6], [8]. Động kinh là loại bệnh lý mạn tính của não, chiếm khoảng một phần tư trong tổng số bệnh lý thần kinh [2]. Là bệnh lý xuất phát từ tổn thương ở não nên ngoài hậu quả biểu hiện trực tiếp và rõ ràng là các cơn động kinh, động kinh còn có thể gây tổn thương các chức năng cao cấp của não trong đó có chức năng nhận thức [13]. Rối loạn nhận thức mà mức độ nặng hơn là sa sút trí tuệ là hội chứng rối loạn chức năng của vỏ não bao gồm trí nhớ, tư duy, định hướng, sự hiểu biết, tính toán, khả năng học tập, ngôn ngữ và sự phán đoán [12]. Trên Thế giới đã có nhiều nghiên cứu về rối loạn trí nhớ được công bố. Trong đó, động kinh là một trong những bệnh mà hiện nay đang được nhiều tác giả nghiên cứu những ảnh hưởng của nó đối với lĩnh vực trí nhớ của bệnh nhân [20, 21, 22]. Để đánh giá về rối loạn trí nhớ ngoài thăm khám lâm sàng chuyên khoa tâm thần kinh thì bộ câu hỏi trắc nghiệm thần kinh tâm lý của ICD10 là công cụ khách quan để đánh giá tính chất và mức độ rối loạn trí nhớ. Trong đó, bộ câu hỏi trắc nghiệm Trí nhớ được xem là một công cụ có giá trị sàng lọc ban đầu để đánh giá sơ bộ về những rối loạn trong lĩnh vực trí nhớ. Với độ nhạy và độ đặc hiệu cao, bộ câu hỏi trắc nghiệm Trí nhớ hiện nay trên thế giới đang được sử dụng rộng rãi trong vấn đề nghiên cứu sàng lọc bệnh nhân rối loạn trí nhớ nói chung và rối loạn trí nhớ trong sa sút trí tuệ nói riêng. Bộ câu hỏi trắc nghiệm trí nhớ ra đời đầu tiên từ năm 1975, với sự sửa đổi không đáng kể của nhiều tác giả, nó đã chứng tỏ giá trị và khả năng thực tiễn trong lĩnh vực nghiên cứu về trí nhớ. Ở nước ta Bộ câu hỏi trắc nghiệm trí nhớ được sử dụng để nghiên cứu sàng lọc trên các bệnh nhân Alheimer, sa sút trí tuệ do mạch máu não, sa sút trí tuệ trên bệnh nhân Parkinson [1;3; 4]. Tuy nhiên, về nghiên cứu ảnh hưởng của động kinh đến lĩnh vực trí nhớ ở Việt Nam còn rất khiêm tốn. Nhằm mục đích tìm hiểu bước đầu và đánh giá sơ bộ một số biến đổi trí nhớ tổng quát dựa vào trắc nghiệm trí nhớ trên bệnh nhân động kinh người trưởng thành. Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm về trí nhớ trên bệnh nhân động kinh người trưởng thành”. Địa điểm nghiên cứu là Viện lão khoa quốc gia và khoa thần kinh bệnh viện Bạch Mai với mục tiêu: - Mô tả một số đặc điểm về trí nhớ trên bệnh nhân động kinh người trưởng thành
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và làm luận văn, tôi luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ rất nhiều của nhà trường, bệnh viện, gia đình bạn bè và cả những bệnh nhân Nhân dịp luận văn được hoàn thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới:
Ban giám hiệu nhà trường, bộ môn Thần Kinh, Phòng đào tạo đại học trường đại học Y Hà Nội, khoa Thần Kinh bệnh viện Bạch Mai, khoa Tâm Thần Kinh viện Lão Khoa Trung Ương, ban giám đốc bệnh viện Bạch Mai và viện Lão Khoa Trung Ương đã tạo điều kiện cho tôi được học tập và hoàn thành luận văn này
Với lòng kính trọng tôi xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Văn Hướng - thạc sĩ, giảng viên bộ môn Thần Kinh, trường đại học Y Hà Nội, người thầy đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và trực tiếp hướng dẫn cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới quý Thầy,
Cô, các Anh Chị Bác Sỹ, Y tá, hộ lý khoa Thần Kinh bệnh viện Bạch Mai, khoa Tâm Thần Kinh viện Lão Khoa Trung Ương, những bệnh nhân và cả người nhà bệnh nhân đã hợp tác, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình làm
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2011
Nguyễn Thị Phương Đông
Trang 2
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 5
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7
1.1 CÁC KHÁI NIỆM TRONG NGHIÊN CỨU ĐỘNG KINH 7
1.2 KHÁI NIỆM VỀ TRÍ NHỚ 11
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 17
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NHÓM NGHIÊN CỨU: 21
3.2 ĐẶC ĐIỂM VỀ TRẮC NGHIỆM TRÍ NHỚ TRÊN BỆNH NHÂN ĐỘNG KINH NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH 23
Chương 4: BÀN LUẬN 30
4.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ NHÓM ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 30 4.2 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TRẮC NGHIỆM TRÍ NHỚ 33
KẾT LUẬN 41
PHỤ LỤC 1 45
PHỤ LỤC 2 49
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Biểu đồ 1: Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu 23
ĐẶT VẤN ĐỀ 5
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7
1.1 CÁC KHÁI NIỆM TRONG NGHIÊN CỨU ĐỘNG KINH 7
1.2 KHÁI NIỆM VỀ TRÍ NHỚ 11
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 17
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NHÓM NGHIÊN CỨU: 21
3.2 ĐẶC ĐIỂM VỀ TRẮC NGHIỆM TRÍ NHỚ TRÊN BỆNH NHÂN ĐỘNG KINH NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH 23
Chương 4: BÀN LUẬN 30
4.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ NHÓM ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 30 4.2 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TRẮC NGHIỆM TRÍ NHỚ 33
KẾT LUẬN 41
PHỤ LỤC 1 45
PHỤ LỤC 2 49
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
- ILAE : International League Against Epilepsy
- MMSE : Mini Mental State Examination
- DSM-IV : Diagnostic and Statistical manual of Mental disorders
- CERAD : Consortium to Establish a Registry for Alzheimer’s Disease
- DRS : Dementia Rating Scale
- TLE : Temporal lobe Epilepsy
- AEDs : Anti Epilepsy Drugs
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Động kinh là một bệnh đã được biết đến từ lâu nhưng vẫn là vấn đề y tế
có tính thời sự luôn cần được quan tâm nghiên cứu cho mỗi quốc gia
Động kinh là một bệnh lý thường gặp, theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ động kinh chiếm 0.5-1% dân số Tỷ lệ mắc mới mỗi năm trung bình là 50/100000 dân Đây là một bệnh lý gặp ở mọi lứa tuổi, từ trẻ sơ sinh đến người già với các tỷ lệ mắc bệnh ở các lứa tuổi khác nhau [6], [8]
Động kinh là loại bệnh lý mạn tính của não, chiếm khoảng một phần tư trong tổng số bệnh lý thần kinh [2] Là bệnh lý xuất phát từ tổn thương ở não nên ngoài hậu quả biểu hiện trực tiếp và rõ ràng là các cơn động kinh, động kinh còn có thể gây tổn thương các chức năng cao cấp của não trong đó có chức năng nhận thức [13] Rối loạn nhận thức mà mức độ nặng hơn là sa sút trí tuệ là hội chứng rối loạn chức năng của vỏ não bao gồm trí nhớ, tư duy, định hướng, sự hiểu biết, tính toán, khả năng học tập, ngôn ngữ và sự phán đoán [12]
Trên Thế giới đã có nhiều nghiên cứu về rối loạn trí nhớ được công
bố Trong đó, động kinh là một trong những bệnh mà hiện nay đang được nhiều tác giả nghiên cứu những ảnh hưởng của nó đối với lĩnh vực trí nhớ của bệnh nhân [20, 21, 22] Để đánh giá về rối loạn trí nhớ ngoài thăm khám lâm sàng chuyên khoa tâm thần kinh thì bộ câu hỏi trắc nghiệm thần kinh tâm
lý của ICD10 là công cụ khách quan để đánh giá tính chất và mức độ rối loạn trí nhớ Trong đó, bộ câu hỏi trắc nghiệm Trí nhớ được xem là một công cụ có giá trị sàng lọc ban đầu để đánh giá sơ bộ về những rối loạn trong lĩnh vực trí nhớ Với độ nhạy và độ đặc hiệu cao, bộ câu hỏi trắc nghiệm Trí nhớ hiện nay trên thế giới đang được sử dụng rộng rãi trong vấn đề nghiên
Trang 6cứu sàng lọc bệnh nhân rối loạn trí nhớ nói chung và rối loạn trí nhớ trong sa sút trí tuệ nói riêng Bộ câu hỏi trắc nghiệm trí nhớ ra đời đầu tiên từ năm
1975, với sự sửa đổi không đáng kể của nhiều tác giả, nó đã chứng tỏ giá trị
và khả năng thực tiễn trong lĩnh vực nghiên cứu về trí nhớ
Ở nước ta Bộ câu hỏi trắc nghiệm trí nhớ được sử dụng để nghiên cứu
sàng lọc trên các bệnh nhân Alheimer, sa sút trí tuệ do mạch máu não, sa sút trí tuệ trên bệnh nhân Parkinson [1;3; 4] Tuy nhiên, về nghiên cứu ảnh hưởng của động kinh đến lĩnh vực trí nhớ ở Việt Nam còn rất khiêm tốn Nhằm mục đích tìm hiểu bước đầu và đánh giá sơ bộ một số biến đổi trí nhớ tổng quát dựa vào trắc nghiệm trí nhớ trên bệnh nhân động kinh người trưởng thành Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm về trí nhớ trên bệnh nhân động kinh người trưởng thành” Địa điểm nghiên cứu là Viện lão khoa quốc gia và khoa thần kinh bệnh viện Bạch Mai với mục tiêu:
- Mô tả một số đặc điểm về trí nhớ trên bệnh nhân động kinh người
trưởng thành
Trang 7Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 CÁC KHÁI NIỆM TRONG NGHIÊN CỨU ĐỘNG KINH
Do sự hiểu biết về động kinh khác nhau tùy từng nước, phương pháp
nghiên cứu không giống nhau tùy theo từng tác giả, các khái niệm về cơn động kinh cấp tính triệu chứng và động kinh còn được áp dụng chưa đúng đắn,
điều đó dẫn đến các kết quả nghiên cứu nhiều khi rất khác nhau, thậm chí có thể trái ngược nhau Ngày nay, hai bảng phân loại theo cơn động kinh (1981)
và phân loại theo hội chứng động kinh (1989) của Liên hội Chống Động kinh Quốc tế (ILAE)[15], được sử dụng nhiều nhất trong lâm sàng động kinh Để giúp các nghiên cứu có một phương pháp thống nhất cho phép so sánh các kết quả thu được với nhau, ILAE đã đưa ra một bản hướng dẫn (1993) bao gồm các khái niệm và định nghĩa cơ bản trong nghiên cứu dịch tễ học động kinh
1.1.1 Cơn động kinh: Là “biểu hiện lâm sàng gây ra do sự phóng điện bất
thường, kịch phát và quá mức của một nhóm tế bào thần kinh ở não” Các thay đổi này bao gồm biến đổi ý thức, vận động, cảm giác, tự động, hoặc tâm trí mà người bệnh hoặc những người xung quanh cảm nhận được Các rối loạn chức năng vỏ não này có thể cấp tính và thường tạm thời (trường hợp này nhiều khi chỉ là một cơn động kinh đơn độc)
1.1.2 Động kinh: Là sự tái diễn từ hai cơn động kinh trở lên trên 24 giờ,
không phải do sốt cao và các nguyên nhân cấp tính khác như rối loạn chuyển hoá, ngừng thuốc hay rượu đột ngột gây nên
1.1.3 Phân loại động kinh
Phân loại động kinh có vai trò quan trọng không những trong thực hành lâm sàng thần kinh mà còn góp phần tạo nên sự thống nhất trong nghiên cứu
Trang 8động kinh trên toàn thế giới Hiện nay ILAE đưa ra hai cách phân loại động kinh [15] là:
- Phân loại động kinh theo cơn (1981)
- Phân loại động kinh theo hội chứng (1989)
1.1.4 Phân loại quốc tế về các cơn động kinh (1981)
1.1.4.1 Cơn động kinh toàn bộ
- Cơn vắng ý thức: đặc hiệu và không đặc hiệu
- Cơn lớn còn gọi là cơn trương lực - co giật
- Cơn giật cơ
- Cơn co giật
- Cơn mất trương lực
- Cơn trương lực
1.1.4.2 Các cơn động kinh cục bộ
- Các cơn động kinh cục bộ đơn giản: Với những dấu hiệu vận động,
cảm giác thân thể hoặc giác quan, thực vật, tâm trí
- Các cơn động kinh cục bộ phức tạp : Khởi đầu là cơn cục bộ đơn giản
tiếp theo là những rối loạn về ý thức và/hoặc các biểu hiện tự động Rối loạn
ý thức ngay lúc bắt đầu có cơn có hoặc không có động tác tự động kèm theo
- Các cơn động kinh cục bộ toàn bộ hoá thứ phát: Các cơn động kinh
cục bộ đơn giản tiến triển thành các cơn động kinh cục bộ phức tạp sau đó toàn bộ hoá thứ phát
1.1.4.3 Cơn không phân loại
Là các cơn không biểu hiện như trên hoặc kết hợp từ hai loại cơn trở lên
Trang 91.1.5 Phân loại quốc tế về hội chứng động kinh (1989)
1.1.5.1 Động kinh và các hội chứng động kinh cục bộ
- Động kinh nguyên phát liên quan đến tuổi
+ Động kinh lành tính ở trẻ nhỏ có biểu hiện kịch phát ở vùng Rolando+ Động kinh nguyên phát khi đọc
- Động kinh triệu chứng
+ Hội chứng Kojewnikow hay động kinh cục bộ liên tục
+ Các loại động kinh ở thuỳ: thuỳ thái dương, thuỳ trán, thuỳ chẩm, thuỳ đỉnh
- Động kinh căn nguyên ẩn
Khi các căn nguyên còn chưa tìm ra người ta gọi là động kinh cục bộ căn nguyên ẩn
1.1.5.2 Động kinh và các hội chứng động kinh toàn bộ
- Động kinh nguyên phát liên quan đến tuổi (từ tuổi nhỏ đến lớn)
+ Cơn co giật sơ sinh lành tính có tính chất gia đình
+ Cơn co giật sơ sinh lành tính
+ Động kinh rung giật cơ lành tính ở trẻ nhỏ
+ Động kinh cơn vắng ở trẻ nhỏ
+ Động kinh cơn vắng ở tuổi thiếu niên
+ Động kinh giật cơ ở tuổi thanh niên
+ Động kinh cơn lớn khi tỉnh giấc
+ Động kinh xuất hiện trong một số hoàn cảnh đặc biệt
Trang 10+ Các loại động kinh khác có thể được xếp vào động kinh toàn bộ, nguyên phát nhưng không nằm trong phần phân loại hội chứng này.
- Động kinh căn nguyên ẩn hay động kinh triệu chứng đặc biệt
+ Các cơn co thắt tuổi thơ (hội chứng WEST).\
+ Hội chứng Lennox-Gastaut
+ Động kinh với các cơn giật cơ đứng không vững
+ Động kinh với các cơn vắng giật cơ
- Động kinh triệu chứng
+ Động kinh không có căn nguyên đặc hiệu: bệnh não giật cơ sớm, bệnh não tuổi thơ sớm với các đợt dập tắt (hội chứng Ohtahara) và các cơn khác + Các hội chứng đặc hiệu: Các căn nguyên chuyển hoá và thoái hoá
- Động kinh không xác định được đặc điểm cục bộ hay toàn bộ
+ Phối hợp với các cơn động kinh toàn bộ và cục bộ, đặc biệt là các cơn
sơ sinh, động kinh giật cơ nặng nề, động kinh với các nhọn - sóng liên tục trong giấc ngủ chậm, động kinh kèm thất ngôn mắc phải (hội chứng Landau - Kleffner)
+ Không có đặc điểm điển hình là cục bộ hay toàn bộ
- Các hội chứng đặc biệt
+ Các cơn động kinh xảy ra không thường xuyên, liên quan đến một số tình trạng gây động kinh thoảng qua (co giật do sốt cao, cơn động kinh chỉ xảy ra khi có yếu tố nhiễm độc hoặc chuyển hoá)
+ Các cơn động kinh đơn độc, trạng thái động kinh đơn độc
Trang 111.2 KHÁI NIỆM VỀ TRÍ NHỚ
1.2.1 Định nghĩa trí nhớ
Trí nhớ là khả năng lưu giữ thông tin về môi trường bên ngoài tác động
lên cơ thể, cũng như các phản ứng xảy ra trong cơ thể và tái hiện lại các thông tin đã được lưu giữ hoặc những kinh nghiệm cũ và sử dụng chúng trong lĩnh vực ý thức hoặc tập tính
Trí nhớ liên quan tới quá trình học tập, nhờ đó mà chúng ta có được kỹ năng học tập, kỹ năng lao động và tiếp thu được các kiến thức khoa học
Vì vậy não bỏ qua những thông tin không liên quan, do ức chế quá trình dẫn truyền xung động thần kinh qua các synap tương ứng, đó là nhớ âm tính
Với các thông tin quan trọng như cảm giác đau, các kích thích gây cảm xúc dương tính….thì làm tăng hưng phấn các “đường mòn” và lưu giữ nhớ
Đó là nhớ dương tính, mà cơ chế là tăng tính hưng phấn ( còn gọi là tăng nhạy hay sự thuận hóa (facilitation)) truyền qua synap.
Trong hệ thần kinh, bộ phận quan trọng có chức năng chọn lọc thông tin
để tạo nhớ dương tính là hệ viền Hệ viền (limbic) hoạt động theo tiềm thức, quyết định thông tin nào là quan trọng thì thuận hóa, tạo nhớ dương tính, còn thông tin nào không quan trọng thì xóa đi, tạo nhớ âm tính
Trang 121.2.2.2 Nhớ nguyên phát và nhớ thứ phát
- Nhớ nguyên phát là nhớ việc ngay lúc xảy ra
- Nhớ thứ phát là hồi tưởng lại chuyện đã qua
1.2.2.3 Phân loại theo cách hình thành trí nhớ
- Trí nhớ hình tượng: Trí nhớ được hình thành trên cơ sở tiếp nhận kích
thích thông qua các giác quan Tùy theo đối tượng sử dụng giác quan nào (thị giác, thính giác, khứu giác…) để thành lập trí nhớ, sử dụng ít hay nhiều cơ quan phân tích mà hình thành được trí nhớ
Nếu sử dụng nhiều cơ quan phân tích thì dễ thành lập trí nhớ hơn
- Trí nhớ vận động: Trí nhớ vận động được hình thành trên cơ sở thực
hiện các động tác cụ thể như đánh đàn, điều khiển máy…Nhờ trí nhớ vận động mà có được các kỹ năng, kỹ xảo
- Trí nhớ cảm xúc: Trí nhớ cảm xúc được hình thành khi cơ thể bị tác
động bởi các kích thích gây ra cảm xúc như vui, buồn…Các kích thích có thể
là các sự kiện cụ thể hoặc là những câu nói, trong đó tiếng nói là một kích thích quan trọng Trí nhớ cảm xúc thường tồn tại rất lâu
- Trí nhớ ngôn ngữ- logic: Trí nhớ ngôn ngữ - logic được hình thành
thông qua các tín hiệu kích thích là những từ, những câu nói, câu viết với nội dung chứa đựng trong đó
Trí nhớ ngôn ngữ - logic chỉ có ở người và được truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác
1.2.2.4 Phân loại theo thời gian tồn tại của trí nhớ trong não
- Trí nhớ tức thời: Thời gian tồn tại trí nhớ vài giây đến vài phút ( nhớ số
điện thoại…)
- Trí nhớ ngắn hạn: Thời gian tồn tại trí nhớ vài ngày đến vài tuần
Trang 13( thuộc một số công thức hóa học phức tạp để thi…)
- Trí nhớ dài hạn: Thời gian tồn tại trí nhớ trong vài năm hoặc suốt đời
(thuộc một số hằng đẳng thức đáng nhớ, một bài ca dao…)
1.2.3 Cơ chế của trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn:
Hình 1: Giản đồ mô tả những thay đổi phân tử trong synap có thể tạo ra trí
nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn ở sên biển Aplysia.
Trí nhớ ngắn hạn liên quan với sự tuần hoàn của các luồng xung động thần kinh trong các vòng nơron Các luồng xung động này dễ bị mất do thuốc
gây mê, shock, chấn động cơ học…Cơ chế của trí nhớ ngắn hạn là làm tăng cường giải phóng chất truyền đạt thần kinh và kéo dài thời gian dẫn truyền xung động qua synap Cơ chế này không gây biến đổi cấu trúc thần kinh.
Trong quá trình hình thành trí nhớ dài hạn có sự biến đổi về cấu trúc và chức năng tại synap Nhiều giả thuyết cho rằng có sự hình thành các “chất nhớ” trong quá trình thành lập trí nhớ Có nhiều giả thuyết về cơ chế hình thành trí nhớ, dưới đây là thí nghiệm của Kandel và cộng sự (1977): Nghiên cứu trên ốc biển Aplysia và đưa ra thuyết “tăng tính hưng phấn truyền qua synap” (Hình 1), thí nghiệm này đã đặt những viên gạch móng thiết yếu cho
Trang 14việc nghiên cứu trí nhớ sau này Bước đầu Eric Kandel đã cho thấy rằng kích thích yếu có thể tạo ra một dạng trí nhớ ngắn hạn, kéo dài từ vài phút đến vài giờ Cơ chế của "trí nhớ ngắn hạn" này là những kênh ion đặc thù bị ảnh hưởng theo một kiểu nào đó khiến ion calci đi vàođầu mút dây thần kinh nhiều hơn
Hiện tượng này làm tăng lượng chất dẫn truyền giải phóng ở synap, và nhờ đó khuyếch đại phản xạ Sự thay đổi này là nhờ phosphoryl hóa một số protein kênh ion đang sử dụng cơ chế phân tử mà Paul Greengard đã mô tả Những kích thích mạnh và kéo dài hơn sẽ hình thành trí nhớ dài hạn có thể duy trì nhiều tuần Kích thích mạnh sẽ làm tăng nồng độ cAMP - một phân tử truyền tin và do đó làm tăng mức protein kinase A Những tín hiệu này sẽ tới nhân tế bào và gây thay đổi ở một số protein trong synap Việc hình thành một số dạng protein này sẽ tăng lên, trong khi việc hình thành một số dạng khác lại giảm Kết quả là hình dạng synap có thể tăng lên và nhờ đó làm tăng kéo dài chức năng của synap Ngược với trí nhớ ngắn hạn, trí nhớ dài hạn cần đến việc tạo thành những protein mới Nếu ngăn chặn việc tổng hợp những protein mới này, trí nhớ dài hạn sẽ bị ức chế, song trí nhớ ngắn hạn thì không
1.2.4 Các trắc nghiệm thần kinh - tâm lý áp dụng trong việc đánh giá trí nhớ
Hiện nay để đánh giá về trí nhớ của các nghiên cứu cũng như thực hành lâm sàng, ngoài việc thăm khám lâm sàng và cận lâm sàng trong đó các trắc nghiệm thần kinh - tâm lý đóng một vai trò quan trọng trong đánh giá trí nhớ, cho phép đánh giá, phát hiện, chẩn đoán và theo dõi tình trạng rối loạn trí nhớ Các trắc nghiệm thần kinh - tâm lý được chấp nhận như các thủ thuật chẩn đoán thần kinh (American Academy of Neurology Task Force, 1996) và là các phương tiện có độ nhạy cao trong đánh giá chức năng não và khả năng nhận thức ở người Thực tế có nhiều trắc nghiệm thần kinh - tâm lý có độ
Trang 15nhạy và độ đặc hiệu cao trong việc phát hiện rối loạn trí nhớ (Becker và cộng
sự, 1994)
Hiện nay trên thế giới trong nghiên cứu về trí nhớ cũng như trong lĩnh vực lâm sàng, có rất nhiều bộ câu hỏi trắc nghiệm đánh giá trí nhớ Mỗi bộ câu hỏi trắc nghiệm có ưu điểm và nhược điểm của nó tùy theo hoàn cảnh mỗi khu vực, mỗi đất nước Điều này liên quan đến thói quen công việc, phong tục tập quán và văn hóa của từng vùng Tuy nhiên, hiện nay hai bộ câu hỏi trắc nghiệm thường được sử dụng nhiều nhất ở trên thế giới là trắc nghiệm thần kinh - Tâm lý của ICD 10 và DSM-IV Ở Việt Nam, các nghiên cứu về suy giảm trí nhớ và sa sút trí tuệ thường sử dụng bộ câu hỏi và đánh giá tổn thương trí nhớ theo tiêu chuẩn của DSM-IV Ngoài ra, mỗi lĩnh vực trong mỗi trắc nghiệm mỗi tác giả đã đưa ra những nội dung khác nhau Sau đây là một số trắc nghiệm thần kinh - tâm lý thường dùng để đánh giá chức năng nhận thức trong đó có trí nhớ
Được sử dụng nhiều nhất trong sàng lọc sa sút trí tuệ là Thang điểm đánh giá sa sút trí tuệ (DRS, Mattis, 1988) và Trắc nghiệm kiểm tra tâm thần thu gọn [14] (MMSE, Folstein, 1975) Nhìn chung các thang điểm này có thể
phân biệt được người sa sút trí tuệ và người bình thường (Van Grop và cộng
sự, 1999), nhưng do quá ngắn gọn nên nó cũng hạn chế là không nhạy cảm với một số loại sa sút trí tuệ và ít nhạy cảm với hai thái cực (suy giảm nhận thức nhẹ và sa sút trí tuệ nặng) Những trắc nghiệm này bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như tuổi, học vấn, chủng tộc, do đó cần phân tích thận trọng và sử dụng các hằng số thích hợp
Một công cụ sàng lọc chi tiết hơn là Bộ Trắc nghiệm của Liên Hiệp Đăng
ký Bệnh Alzheimer (CERAD, Morris và cộng sự, 1989) đánh giá các chức
năng trí nhớ, ngôn ngữ và vẽ hình, với mức độ phức tạp đủ để đánh giá suy giảm nhận thức từ nhẹ đến tương đối nặng Thời gian làm trắc nghiệm mất
Trang 16khoảng 30 đến 45 phút Bộ trắc nghiệm của Liên Hiệp Đăng ký Bệnh Alzheimer gồm nhiều trắc nghiệm nhỏ đánh giá từng lĩnh vực nhận thức khác nhau như:
- Chức năng nhận thức tổng quát: dùng MMSE
- Khả năng chú ý, tiếp thu thông tin mới: học với các dãy số
- Trí nhớ: Dùng trắc nghiệm nhớ danh sách 10 từ, nhận biết từ nhớ các hình
vẽ ( Phụ lục 2)
- Ngôn ngữ: Dùng trắc nghiệm nói lưu loát các từ theo nhóm, trắc nghiệm gọi tên Boston phiên bản 15 từ
- Vẽ hình: Vẽ lại những hình học đơn giản
1.2.5 Một số nghiên cứu trong nước có sử dụng bộ trắc nghiệm
- Nguyễn Ngọc Hòa [4] đã nghiên cứu tỷ lệ hiện mắc và một số yếu tố liên quan đến Sa sút trí tuệ ở người cao tuổi tại huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây
- Ngô Văn Dũng, Lê Quang Cường [3] nghiên cứu tỷ lệ mắc suy giảm nhận thức nhẹ tại huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây và một số yếu tố liên quan
1.2.6 Một số nghiên cứu trên thế giới về rối loạn trí nhớ trên bệnh nhân động kinh có sử dụng bộ trắc nghiệm
- Dodrill, 1986 đã nghiên cứu sàng lọc về rối loạn nhận thức trên bệnh nhân động kinh người trưởng thành tại Anh , tác giả đã sử dụng trắc nghiệm Tâm thần tối thiểu.[12]
- Ada Piazzini, Katherine Turner, Rosanna Chifari, Alberto Morabito, Raffaele Canger,
Maria Paola Canevini Attention and psychomotor speed decline in patients with temporal
lobe epilepsy: A longitudinal study Epilepsy center, Paolo hospital, University of Milan,
Italy[18].
Trang 17Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là tất cả những bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên tại thời điểm nghiên cứu đã và đang được chẩn đoán là động kinh dựa vào khai thác bệnh sử, lâm sàng và điện não đồ
- Các bệnh nhân này sẽ được khám lâm sàng và khai thác làm bệnh án theo bệnh án mẫu riêng thiết kế cho nghiên cứu (phụ lục 1)
- Các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn lâm sàng sẽ được tiến hành làm trắc nghiệm trí nhớ theo mẫu (phụ lục 2)
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Loại trừ các trường hợp cơn động kinh do các nguyên nhân cấp tính như: tai biến mạch máu não giai đoạn cấp, viêm não, áp xe não, chấn thương
sọ não, ngộ độc
- Các trường hợp nghi ngờ động kinh
- Bệnh nhân mù chữ, khiếm thị hoặc khiếm thính
- Các trường hợp không hợp tác khám bệnh và trong khi làm trắc nghiệm
- Các trường hợp không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
- Mô hình nghiên cứu mô tả cắt ngang
Trang 182.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
- Chọn 60 bệnh nhân động kinh từ 18 tuổi trở lên có đủ các tiêu chuẩn trên 2.2.3 Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu đối tượng sẽ được tiến hành thông qua các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Chẩn đoán xác định động kinh:
Chẩn đoán động kinh: phải có từ hai cơn động kinh trở lên cách nhau
trên 24 giờ, không liên quan đến các tổn thương cấp tính, rối loạn chuyển hóa (theo tiêu chuẩn của Liên hội Quốc tế chống Động kinh), dựa vào mô tả của người làm chứng hoặc quan sát cơn động kinh của bệnh nhân động kinh bởi các bác sỹ chuyên khoa thần kinh
Phân loại cơn động kinh : theo phân loại 1981 của Liên hội Quốc tế
chống động kinh [15]
Ghi điện não đồ: Ghi điện não đồ cho tất cả những bệnh nhân thuộc nhóm bệnh
- Sau khi được xác định là động kinh và đủ tiêu chuẩn về tuổi trong nhóm
đối tượng nghiên cứu, mỗi bệnh nhân sẽ được khám kỹ để đánh giá tình trạng lâm
sàng nhằm đánh giá tình trạng toàn thân giúp phát hiện các tiêu chuẩn loại trừ.Giai đoạn 2: Tiến hành làm trắc nghiệm TRÍ NHỚ trên bệnh nhân động kinh
( theo mẫu phụ lục 2)
Giai đoạn 3: Sau khi đầy đủ các thông tin trong hai giai đoạn trên tập hợp số liệu cuối cùng
Đánh giá trí nhớ tổng quát: Sử dụng trắc nghiệm kiểm tra trí nhớ: Trắc
nghiệm này giúp phát hiện suy giảm trí nhớ và rất có giá trị nếu như sự suy giảm đó có tính chất tiến triển Thời gian làm trắc nghiệm này chỉ khoảng 15
Trang 19phút song độ đặc hiệu tới 94- 96% và độ nhạy là 92% Do vậy trắc nghiệm này có giá trị trong chẩn đoán sàng lọc [].
Trắc nghiệm gồm 2 phần như sau:
- Nhớ từ:
Nhớ lại ngay: Đọc cho bệnh nhân nghe danh sách gồm 10 từ ( bảng phụ
lục 2), đọc 3 lần, sau mỗi lần đọc yêu cầu bệnh nhân nhắc lại các từ nhớ được, nhắc đúng 1 từ trong bảng cho 1 điểm (tối đa 30 điểm)
Nhớ lại có trì hoãn: Sau 3-5 phút yêu cầu bệnh nhân nhắc lại 10 từ đó,
mỗi từ đúng cho 1 điểm ( tối đa 10 điểm)
Nhận biết có trì hoãn: Đọc cho bệnh nhân nghe danh sách 20 từ ( bảng
phụ lục 2), yêu cầu bệnh nhân thấy từ nào nằm trong số 10 từ đã được nghe ở trên thì bảo là có, từ nào không chưa từng được nghe thì bảo là không Nhớ đúng mỗi từ trong bảng danh sách 10 từ cho 1 điểm ( tối đa 10 điểm)
- Nhớ hình:
Nhớ lại ngay: Đưa cho bệnh nhân quyển hình gồm 10 hình ảnh ( tên
trong phụ lục 2), sau đó thu quyển hinh lại, yêu cầu bệnh nhân đọc tên các hình ảnh đã được xem, mỗi tên hình ảnh đúng cho 1 điểm ( tối đa 10 điểm)
Nhớ lại có trì hoãn: Sau 3-5 phút yêu cầu bệnh nhân đọc lại tên các hình
đã được xem trước đó, mỗi tên hình đúng cho 1 điểm ( tối đa 10 điểm)
Nhận biết có trì hoãn: Đưa cho bệnh nhân quyển hình gồm 20 hình ( có
tên trong phụ lục 2), yêu cầu bệnh nhân chỉ ra những hình ảnh đã được xem trước đó, mỗi hình ảnh đúng cho 1 điểm ( tối đa 10 điểm)
Cách đánh giá:
Trí nhớ từ : + Nhớ lại ngay ( bình thường ≥12/30 điểm)
+ Nhớ lại có trì hoãn ( ≥4/10 điểm )
Trang 20+ Nhận biết có trì hoãn ( ≥6/10 điểm)
Trí nhớ hình: +Nhớ lại ngay( ≥5/10 điểm)
+ Nhớ lại có trì hoãn ( ≥4/10 điểm)
+Nhận biết có trì hoãn ( ≥9/10 điểm)
2.2.4 Dự kiến thời gian nghiên cứu:
Dự kiến thời gian nghiên cứu trong vòng 1 năm kể từ tháng 5/2010 đến tháng 5/2011
2.2.5 Địa điểm nghiên cứu
Viện Lão khoa Quốc gia, khoa Thần Kinh bệnh viện Bạch Mai
2.2.6 Xử lí số liệu
Bằng phần mềm thống kê y học SPSS16.0 và Epi Info 6
2.2.7 Đạo đức trong nghiên cứu
- Chỉ nghiên cứu trên những bệnh nhân đồng ý chấp nhận tham gia nghiên cứu
- Các bệnh nhân tham gia nghiên cứu sẽ được hướng dẫn điều trị, chăm sóc và chế
độ sinh hoạt phù hợp
- Đảm bảo tính bảo mật về cá nhân cho các đối tượng tham gia nghiên cứu
Trang 21
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NHÓM NGHIÊN CỨU:
Trang 22Nhận xét :
- Trong nghiên cứu tôi thấy nhóm tuổi 18 đến 40 có 35 bệnh nhân chiếm
58.33%, tiếp đến là nhóm tuổi từ 40 đến 60 có 13 bệnh nhân (21.67%) Nhóm tuổi trên 60 tuổi có 12 bệnh nhân chiếm 20%
-Số đối tượng nam trong nghiên cứu của tôi là 39/60 chiếm 65%
Trang 23-Trình độ học vấn tập trung nhiều ở nhóm cấp 2 là 22 bệnh nhân (36.67%), tiếp theo là cấp 1 có 17 bệnh nhân (28.33%) Nhóm cấp 3 chiếm 18.33%, còn lại là trên bậc phổ thông trung học và đại học
-Số lượng bệnh nhân khởi phát bệnh khi tuổi còn trẻ chiếm tỷ lệ cao, cụ thể phát bệnh khi dưới 18 tuổi có 23 bệnh nhân (38.33%), từ 18 đến 40 có 24 bệnh nhân chiếm 40%, tuổi từ 40 đến 60 (11.67%), còn lại là khởi phát bệnh khi trên 60 tuổi với 6 bệnh nhân
3.2 ĐẶC ĐIỂM VỀ TRẮC NGHIỆM TRÍ NHỚ TRÊN BỆNH NHÂN ĐỘNG KINH NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH
3.2.1 Liên quan giữa trí nhớ và tuổi
40-60 5.51± 2.318 4.43± 2.465 7.57± 2.768
>60 3.33± 2.060 2.17± 1.528 5.42± 3.502
Bảng 2: Liên quan giữa trí nhớ hình và tuổi
Nhận xét: Theo bảng 1 và bảng 2 ta thấy, so sánh điểm trung bình trí nhớ
giữa 3 nhóm tuổi thấy có sự khác biệt giữa 3 nhóm tuổi và sự khác biệt này có
ý nghĩa thống kê với p<0.05
Trang 243.2.2 Liên quan giữa trí nhớ và giới
Bảng 4: Liên quan giữa trí nhớ hình và giới
Nhận xét: Điểm trung bình giữa 2 giới trong từng nhóm trí nhớ về cả lĩnh vực
trí nhớ từ và trí nhớ hình đều không có sự khác biệt với p> 0.05
3.2.3 Liên quan giữa trí nhớ với tuổi khởi phát cơn động kinh đầu tiên
Tuổi khởi phát cơn
động kinh đầu tiên
Trí nhớ từ Nhớ lại ngay Nhớ lại có trì hoãn Nhận biết có trì hoãn
Trang 25Bảng 5:Liên quan giữa trí nhớ từ và tuổi khởi phát cơn động kinh
Tuổi khởi phát
cơn động kinh đầu
tiên
Trí nhớ hình Nhớ lại ngay Nhớ lại có trì hoãn Nhận biết có trì hoãn
Bảng 6:Liên quan giữa trí nhớ hình và tuổi khởi phát cơn động kinh đầu tiên
Nhận xét: Qua bảng 6 và 7 thấy, những bệnh nhân khởi phát cơn động kinh
đầu tiên khi < 18 tuổi có điểm trung bình nhỏ nhất, tiếp theo đến nhóm bệnh nhân khởi phát cơn khi >60 tuổi Sự khác biệt về điểm trung bình giữa 4 nhóm có ý nghĩa thống kê với p< 0.05
3.2.4 Liên quan giữa trí nhớ và thời gian bị bệnh
Thời gian bị bệnh Nhớ lại ngay Nhớ lại có trì hoãn Trí nhớ từ Nhận biết có trì hoãn
Bảng 7: Liên quan giữa trí nhớ từ và thời gian bị bệnh
Thời gian bị bệnh Nhớ lại ngay Nhớ lại có trì hoãn Trí nhớ hình Nhận biết có trì hoãn