1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý luận chung về huy động vốn của các doanh nghiệp

48 498 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận chung về huy động vốn của các doanh nghiệp
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại Đề án
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 798 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi muốn khởi tạo doanh nghiệp, điều kiện cần đầu tiên là phải có vốn. Trong quá trình hoạt động, sự biến động của vốn cũng là cơ sở và dấu hiệu cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để tiếp tục phát triển và đứng vững, doanh nghiệp không những phải duy trì số vốn bỏ ra ban đầu mà còn phải tìm kiếm những khoản vốn bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau. Chính vì lẽ đó, huy động vốn trong doanh nghiệp luôn được coi là một trong những ưu tiên hàng đầu. Thực hiện tốt huy động vốn là cũng đồng nghĩa với thành công trong xây dựng một cơ cấu vốn hợp lý với chi phí thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp cạnh tranh với các chủ thể kinh tế khác trên thương trường. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế đang diễn ra sôi động, môi trường kinh doanh ngày một trở nên khắc nghiệt hơn, các doanh nghiệp càng phải quan tâm hơn nữa đến huy động vốn. Bên cạnh các hình thức huy động truyền thống (xin cấp vốn ngân sách, vay các tổ chức tín dụng,…), thị trường chứng khoán ra đời đã và đang tạo ra một địa chỉ huy động vốn đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp. Việc tự do hoá hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài cũng đang mở ra vận hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam tìm kiếm nguồn tài trợ. Tuy nhiên, do trình độ phát triển của hệ thống tài chính còn chưa cao, cũng như một số hạn chế mang tính chủ quan khác, thực trạng huy động vốn của các doanh nghiệp trong nước hiện còn tồn tại nhiều bất cập cần sớm được giải quyết. Điển hình là tình trạng doanh nghiệp quá phụ thuộc vào nguồn vốn vay ngân hàng – một nguồn vốn không dễ tiếp cận, trong khi đó lại bỏ qua hoặc ít để ý tới các nguồn huy động nhiều tiềm năng khác. Mặt khác, do hạn chế về trình độ nhân sự, các mô hình tính toán chi phí vốn một cách khoa học hầu như không được các doanh nghiệp áp dụng khi tìm kiếm nguồn tài trợ. Trong quá trình học tập và nghiên cứu tìm hiểu về tình hình hoạt động tài chính của các doanh nghiệp hiện nay, em nhận thấy việc làm thế nào để huy động vốn cho doanh nghiệp và huy động vốn bằng cách nào đang là một bài toán khó. Nhất là những doanh nghiệp đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ và có các yêu cầu cấp thiết về việc mở rộng huy động vốn để phục vụ cho sự mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Đây là một vấn đề mà em hết sức tâm đắc. Do vậy, em đã lựa chọn đề tài cho Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ của mình là: “Lý luận chung về huy động vốn của các doanh nghiệp”.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Khi muốn khởi tạo doanh nghiệp, điều kiện cần đầu tiên là phải có vốn Trong quá trình hoạt động, sự biến động của vốn cũng là cơ sở và dấu hiệu cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Để tiếp tục phát triển và đứng vững, doanh nghiệp không những phải duy trì số vốn bỏ ra ban đầu mà còn phải tìm kiếm những khoản vốn bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau Chính vì lẽ đó, huy động vốn trong doanh nghiệp luôn được coi là một trong những ưu tiên hàng đầu Thực hiện tốt huy động vốn là cũng đồng nghĩa với thành công trong xây dựng một

cơ cấu vốn hợp lý với chi phí thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp cạnh tranh với các chủ thể kinh tế khác trên thương trường

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế đang diễn ra sôi động, môi trường kinh doanh ngày một trở nên khắc nghiệt hơn, các doanh nghiệp càng phải quan tâm hơn nữa đến huy động vốn Bên cạnh các hình thức huy động truyền thống (xin cấp vốn ngân sách, vay các tổ chức tín dụng,…), thị trường chứng khoán ra đời

đã và đang tạo ra một địa chỉ huy động vốn đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp Việc tự do hoá hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài cũng đang mở ra vận hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam tìm kiếm nguồn tài trợ Tuy nhiên, do trình độ phát triển của hệ thống tài chính còn chưa cao, cũng như một số hạn chế mang tính chủ quan khác, thực trạng huy động vốn của các doanh nghiệp trong nước hiện còn tồn tại nhiều bất cập cần sớm được giải quyết Điển hình là tình trạng doanh nghiệp quá phụ thuộc vào nguồn vốn vay ngân hàng – một nguồn vốn không dễ tiếp cận, trong khi đó lại bỏ qua hoặc ít để ý tới các nguồn huy động nhiều tiềm năng khác Mặt khác, do hạn chế về trình độ nhân sự, các mô hình tính toán chi phí vốn một cách khoa học hầu như không được các doanh nghiệp áp dụng khi tìm kiếm nguồn tài trợ

Trong quá trình học tập và nghiên cứu tìm hiểu về tình hình hoạt động tài chính của các doanh nghiệp hiện nay, em nhận thấy việc làm thế nào để huy động vốn cho doanh nghiệp và huy động vốn bằng cách nào đang là một bài toán khó

Trang 2

Nhất là những doanh nghiệp đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ và có các yêu cầu cấp thiết về việc mở rộng huy động vốn để phục vụ cho sự mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Đây là một vấn đề mà em hết sức tâm đắc

Do vậy, em đã lựa chọn đề tài cho Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ của mình là:

“Lý luận chung về huy động vốn của các doanh nghiệp” Kết cấu của đề án gồm

hai phần:

Chương 1: Lý luận chung về huy động vốn của doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng về huy động vốn của các doanh nghiệp Việt Nam

Để tìm hiểu kỹ lưỡng và sâu sắc về tình hình huy động vốn các doanh nghiệp Việt Nam đòi hỏi phải có nhiều thời gian Do trình độ còn hạn chế và thời gian nghiên cứu không nhiều nên em chỉ tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất về vốn và các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp Đề án chắc chắn không tránh khỏi sai sót, em rất mong sự đóng góp của thầy cô, bạn bè và những người quan tâm

Trang 3

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG

DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan về vốn của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm vốn

Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập

và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốn phản ánh nguồn lực tài chính đầu tư vào sản xuất kinh doanh

Theo Marx, dưới góc độ các yếu tố sản xuất, vốn được khái quát hoá thành phạm trù tư bản K.Marx cho rằng: Vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư,

là đầu vào của quá trình sản xuất Định nghĩa này có một tầm khái quát lớn vì bao hàm đầy đủ cả bản chất và vai trò của vốn Bản chất của vốn là giá trị cho dù nó được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: tài sản cố định, nhà cửa, nguyên vật liệu, tiền công Vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư vì nó tạo ra sự sinh sôi về giá trị thông qua các hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ phát triển lúc bấy giờ, K.Marx đã bó hẹp khái niệm về vốn trong khu vực sản xuất vật chất và cho rằng chỉ có quá trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế

Theo P.Samuelson: “Vốn là các hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất mới, là đầu vào của hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp (máy móc, trang thiết bị, vật tư, nguyên vật liệu…)

Còn theo D.Begg, tác giả cuốn “Kinh tế học”, cho rằng: vốn bao gồm vốn hiện vật và vốn tài chính Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá, sản phẩm đã sản xuất

ra để sản xuất các hàng hoá khác Vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp Theo định nghĩa trên, D.Begg đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp Thực chất vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả các tài sản mà doanh nghiệp dùng trong quá trình sản xuất kinh doanh Vốn của doanh nghiệp được phản ánh trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp

Qua đó ta thấy vốn đưa vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều

Trang 4

hình thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trên thị trường Lượng tiền mà doanh nghiệp thu về sau quá trình tiêu thụ phải bù đắp được chi phí bỏ ra ban đầu, đồng thời phải có lãi Quá trình này phải diễn ra liên tục thì mới bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là một loại hàng hoá Nó giống các hàng hoá khác ở chỗ có chủ sở hữu đích thực, song nó có đặc điểm là người

sở hữu vốn có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định Chi phí của việc sử dụng vốn chính là lãi suất Chính nhờ có sự tách rời quyền sở hữu

và quyền sử dụng nên vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh để sinh lợi.Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật chất cơ bản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong quá trình sản xuất vật chất riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên đến chu kỳ sản xuất cuối cùng

Một cách thông dụng nhất, vốn được hiểu là các nguồn tiền tài trợ

cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn tiền (quỹ)

này được hình thành dưới nhiều cách thức khác nhau và tại các thời điểm khác nhau Giá trị nguồn vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh Tùy từng loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có các phương thức tạo vốn và huy động vốn khác nhau

1.1.2 Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp

Vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập một doanh nghiệp & tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh Trong quản lý tài chính, các doanh nghiệp cần chú ý quản lý việc huy động & sự luân chuyển của vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các hình thái khác nhau của tài sản & hiệu quả tài chính

1.1.2.1 Vốn là điều kiện tiên quyết để thành lập doanh nghiệp

Trang 5

Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập một doanh nghiệp Về mặt pháp lý, mỗi doanh nghiệp khi thành lập đều phải có một lượng vốn nhất định và phải lớn hơn hoặc bằng mức vốn pháp định do Nhà nước quy định đối với lĩnh vực kinh doanh đó Như vậy vốn lúc này có vai trò đảm bảo sự hình thành và tồn tại của doanh nghiệp trước pháp luật.

Giá trị vốn ban đầu có thể ít hoặc nhiều tuỳ theo quy mô, ngành nghề, loại hình doanh nghiệp Vốn pháp định ở Việt Nam chỉ quy định cho một số ngành nghề

có liên quan đến tài chính như Chứng khoán, Bảo hiểm,Kinh doanh vàng và Kinh doanh tiền tệ

Đối với các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác mà Nhà nước không quy định giá trị vốn ban đầu tối thiểu thì giá trị vốn khi thành lập có thể dao động từ hàng triệu đến hàng tỷ đồng tuỳ khả năng của người thành lập doanh nghiệp

1.1.2.2 Vốn là cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Vốn là điều kiện cơ bản và thiết yếu để tiến hành bất kỳ quá trình và loại hình sản xuất kinh doanh nào Điều này thể hiện rõ trong hàm sản xuất cơ bản P= F(K,

L, T), vốn (K) chính là 1 trong 3 yếu tố cơ bản của hàm sản xuất, bên cạnh các yếu

tố lao động (L) và công nghệ (T) Hơn nữa, trong hàm sản xuất này thì vốn có thể coi là yếu tố quan trọng nhất bởi vì lao động và công nghệ có thể mua được khi có vốn

Sau khi thành lập, doanh nghiệp phải tiến hành sản xuất kinh doanh Hoạt động thực tế hàng ngày đòi hỏi phải có tiền để chi tiêu, mua sắm nguyên vật liệu, máy móc; trả lương Số tiền này không thể lấy ở đâu khác ngoài nguồn vốn của doanh nghiệp Khi nguồn vốn tạm thời không đáp ứng đủ nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng khó khăn về ngân quỹ Các hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp tạm thời bị đình trệ, suy giảm Nếu tình hình này không được khắc phục kịp thời, doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng khó khăn tài chính triền miên; hoạt động sản xuất kinh doanh bị gián đoạn; tâm lý cán bộ công nhân viên hoang mang; mất uy tín với bạn hàng, chủ nợ và Ngân hàng Những khó khăn này có thể nhanh chóng đưa công ty đến kết cục cuối cũng

Trang 6

là phá sản, giải thể hoặc bị sát nhập với công ty khác.

1.1.2.3 Vốn là cơ sở cho việc mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Vốn không chỉ giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn giúp doanh nghiệp mở rộng và phát triển Trong quá trình phát triển của mình, doanh nghiệp luôn mong muốn mở rộng sản xuất kinh doanh, giữ vững và vươn lên trong thị trường Để làm được điều đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải liên tục đổi mới, đầu tư, tái đầu tư, cải tiến máy móc, thiết bị, công nghệ, hệ thống phân phối sản phẩm Kỷ nguyên của công nghệ và sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ càng tạo sức ép cho doanh nghiệp; buộc phải liên tục làm mới mình, đổi mới không ngừng nếu không muốn giẫm chân tại chỗ hay bị tụt hậu Để làm được tất

cả những công việc đó doanh nghiệp không thể không cần đến nguồn vốn đầu tư

mở rộng sản xuất kinh doanh

Thực tế cho thấy nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay là rất lớn Nhiều doanh nghiệp do không có nguồn vốn bổ sung kịp thời, đủ lớn nên đã bị mất đi vị trí của mình trên thị trường

Vốn còn là nhân tố cực kỳ quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường Vốn không những là cơ sở để doanh nghiệp có thể nâng cao khả năng sản xuất, tăng cường mạng lưới phân phối mà còn có thể giúp doanh nghiệp vượt qua các đối thủ cạnh tranh hay hơn nữa là loại bỏ họ bằng các chính sách marketing hiệu quả (tăng cường quảng cáo, giảm giá, khuyến mại ).Như vậy, vốn có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần phải nhận thức vấn đề này một cách rõ ràng,

từ đó phải có một chính sách huy động vốn nhanh chóng, hiệu quả để có thể tồn tại

và không ngừng phát triển trên thương trường

1.1.3 Phân loại vốn

Trang 7

Tuỳ theo những tiêu thức và mục đích cụ thể mà có các cách phân loại vốn khác nhau Mỗi tiêu thức, mỗi mục đích khác nhau thì lại có những cách phân loại phù hợp.

1.1.3.1 Căn cứ vào vai trò và đặc điểm chu chuyển giá trị của vốn

a Vốn cố định

Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh ứng

ra trước để hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp Là một khoản đầu tư ứng ra trước để mua sắm tài sản cố định có hình thái vật chất và tài sản cố định không có hình thái vật chất Vì vậy qui mô của vốn cố định quyết định đến qui mô của tài sản

cố định Song đặc điểm vận động của tài sản cố định lại quyết định đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển giá trị của vốn cố định Tài sản cố định trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu mà đặc điểm của chúng là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất Trong quá trình đó, giá trị của tài sản cố định không bị hao mòn hoàn toàn trong lần sử dụng đầu tiên mà nó được chuyển dịch dần dần từng phần vào giá thành sản phẩm và nhiều chu kỳ sản xuất tiếp theo

b Vốn lưu động

Vốn lưu động là số tiền ứng trước về tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cách thường xuyên, liên tục mà đặc điểm của nó là luân chuyển không ngừng, luôn thay đổi hình thái biểu hiện và chuyển dịch toàn bộ giá trị một lần trong toàn bộ chu kỳ sản xuất.Với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì tài sản lưu động (TSLĐ) gồm hai loại TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông TSLĐ sản xuất bao gồm các loại nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm dở dang đang trong quá trình dự trữ sản xuất hoặc chế biến Còn TSLĐ lưu thông bao gồm các sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền,vốn trong thanh toán

TSLĐ nằm trong quá trình sản xuất và TSLĐ nằm trong quá trình lưu thông luôn vận động, thay thế và chuyển hóa lẫn nhau đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục

Trang 8

Tuỳ theo những tiêu thức và mục đích cụ thể mà có các cách phân loại vốn khác nhau Mỗi tiêu thức, mỗi mục đích khác nhau thì lại có những cách phân loại phù hợp

1.1.3.2 Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn

Có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành hai loại: Nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời

a Nguồn vốn thường xuyên

Là nguồn vốn có tính chất ổn định và dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn Nguồn vốn này được dành cho việc đầu tư mua sắm TSCĐ mới và một phần TSCĐ thường xuyên tối thiểu cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

b Nguồn vốn tạm thời

Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm: Các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác

Việc phân loại nguồn vốn theo cách này giúp cho người quản lý xem xét huy động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, đáp ứng đầy đủ kịp thời vốn cho sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp Cách phân loại này còn giúp các nhà quản lý doanh nghiệp lập các kế hoạch tài chính, hình thành nên những dự định về tổ chức nguồn vốn trong tương lai trên cơ sở xác định quy mô về số lượng vốn cần thiết, lựa chọn nguồn vốn và quy mô thích hợp cho từng nguồn vốn đó

Việc phân loại nguồn vốn theo cách này giúp cho người quản lý xem xét huy động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, đáp ứng đầy đủ kịp thời vốn cho sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp Cách phân loại này còn giúp các nhà quản lý doanh nghiệp lập các kế hoạch tài chính, hình thành nên những dự định về tổ chức nguồn vốn trong tương lai trên cơ sở xác định quy mô về số lượng vốn cần thiết, lựa chọn nguồn vốn và quy mô thích hợp cho từng nguồn vốn đó

Trang 9

1.1.3.3 Căn cứ vào nguồn hình thành

a Vốn chủ sở hữu

Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu doanh nghiệp, bao gồm : vốn điều lệ do chủ sở hữu đầu tư, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận và từ các quỹ của doanh nghiệp,vốn từ phát hành cổ phiếu mới Nguồn vốn chủ sở hữu liên quan mật thiết tới hình thức sở hữu của doanh nghiệp Hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của doanh nghiệp

Doanh nghiệp tư nhân vốn góp ban đầu và lợi nhuận để lại là chủ yếu , nhất là doanh nghiệp tư nhân nhỏ chưa có điều kiện huy động từ các kênh khác

Doanh nghiệp nhà nước vốn góp ban đầu rất lớn Trong quá trình hoạt động nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng được huy động là chủ yếu

Doanh nghiệp cổ phần có ưu thế phát hành cổ phiếu, huy động khối lượng vốn lớn

b, Nợ phải trả

Là số vốn doanh nghiệp được sử dụng trong một thời gian nhất định bao gồm những khoản vốn phát sinh một cách tự động và các khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế như: Nợ tiền vay ngân hàng và các tổ chức kinh tế khác, nợ phải trả cho người bán, phải trả công nhân viên, phải nộp cho nhà nước

Thông thường một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn: Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả để đảm bảo nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Sự kết hợp chặt chẽ hai nguồn này phụ thuộc vào đặc điểm của doanh nghiệp đang hoạt động cũng như quyết định của người quản lý doanh nghiệp trên cơ

sở xem xét tình hình chung của nền kinh tế và trên tình hình thực tế tại doanh nghiệp

1.2 Huy động vốn của các doanh nghiệp

Trong điều kiện kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn của các doanh nghiệp được đa dạng hoá Tùy theo điều kiện phát triển của thị trường tài chính của một quốc gia, tùy theo loại hình của doanh nghiệp và các đặc điểm hoạt động kinh doanh cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có thể có các phuơng thức tạo vốn và huy động vốn khác nhau

Trang 10

1.2.1 Huy động vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, bao gồm phần vốn chủ doanh nghiệp bỏ vào đầu tư kinh doanh và phần hình thành từ kết quả trong hoạt động kinh doanh

Do vốn chủ sở hữu là vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp nên doanh nghiệp không có trách nhiệm phải trả vốn đó cho người khác Số liệu về vốn chủ

sở hữu giúp cho thấy trong số giá trị tài sản của doanh nghiệp có bao nhiêu được dùng để đảm bảo trả nợ

- Đối với doanh nghiệp Nhà nuớc, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của Nhà nước, chủ sở hữu doanh nghiệp Nhà nước là Nhà nước

- Đối với các doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải có một số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp Chẳng hạn, đối với công ty cổ phần, vốn góp của các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định để hình thành công ty Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ

- Trong các loại hình doanh nghiệp khác như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nguồn vốn cũng tương tụ như trên; tức là vốn có thể do chủ nhân bỏ ra, do các bên tham gia, các đối tác góp

1.2.1.2 Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia

Nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận không chia là một phần lợi nhuận dùng để tái đầu tư

Quy mô vốn góp ban đầu của chủ doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng, tuy nhiên, thông thường, số vốn này cần được tăng theo quy mô phát triển của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp

Trang 11

hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng trưởng nguồn vốn.

- Đối với doanh nghiệp Nhà nước thì việc tái đầu tư phụ thuộc không chỉ vào khả năng sinh lời của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào chính sách tái đầu tư của Nhà nước

- Đối với công ty cổ phần: khi công ty để lại một phần lợi nhuận vào tái đầu

tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các cổ đông không được nhận tiền lãi cổ phần nhưng bù lại, họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty Điều này một mặt, khuyến khích các cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài, nhưng mặt khác, dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kỳ trước mắt do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn

Vốn góp ban đầu và lợi nhuận không chia được gọi là hình thức tự tài trợ của doanh nghiệp Hình thức này có một số ưu nhược điềm sau

* Ưu điểm:

- Doanh nghiệp không bị phụ thuộc vào bên ngoài (Ngân hàng )

- Tăng khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp

- Giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong các quan hệ tín dụng tại các ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc với các cổ đông

- Nguồn lợi nhuận để lại có tác động rất lớn đến nguồn vốn kinh doanh, tạo cơ hội cho công ty thu được lợi nhuận cao hơn trong các năm tiếp theo

Doanh nghiệp có thể phát hành các loại cổ phiếu sau:

- C ổ phiếu thường : là loại cổ phiếu được phát hành bằng nguồn lợi nhuận để lại hoặc các nguồn vốn chủ sở hữu hợp pháp khác của công ty cổ phần và không có

Trang 12

sự ưu tiên đặc biệt nào trong việc chi trả cổ tức hay thanh lý tài sản khi công ty phá sản.

- C ổ phiếu ưu đãi : là loại cổ phiếu được phát hành bằng nguồn lợi nhuận để lại hoặc các nguồn vốn chủ sở hữu hợp pháp khác của công ty cổ phần nhưng có sự

ưu tiên đặc biệt trong việc chi trả cổ tức hay thanh lý tài sản khi công ty phá sản.Khi phát hành cổ phiếu ưu đãi, doanh nghiệp vừa tăng được vốn chủ sở hữu nhưng lại không bị san sẻ quyền lãnh đạo, việc phát hành vẫn hấp dẫn người đầu

tư bởi tỷ lệ cổ tức được đảm bảo tương đối ổn định Thông thường cổ phiếu ưu đãi chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong vốn cổ phần của công ty

* Đặc điểm của nguồn vốn do phát hành cổ phiếu.

- Điều kiện, thủ tục phát hành cổ phiếu.

Tuỳ từng quốc gia, vùng lãnh thổ mà điều kiện và thủ tục phát hành cổ phiếu

là khác nhau Ở Việt Nam, điều kiện phát hành cổ phiếu được quy định trong Điều 6 nghị định 144/2003/NĐ-CP Doanh nghiệp muốn phát hành cổ phiếu phải

có đủ các điều kiện sau:

+ Là công ty cổ phần có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký phát hành cổ phiếu tối thiểu 5 tỷ đồng Việt Nam

+ Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có lãi

+ Có phương án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành cổ phiếu

Thủ tục phát hành: Doanh nghiệp lập hồ sơ đăng ký phát hành cổ phiếu (được quy định chi tiết trong Điều 10 nghị định 144/2003/NĐ-CP) và nộp cho Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước

- Quy mô phát hành cổ phiếu.

Doanh nghiệp chỉ được quyền phát hành một lượng cổ phiếu tối đa và được gọi là vốn cổ phiếu được cấp phép

- Thời hạn và lãi suất.

Cổ phiếu không có thời gian đáo hạn

Cổ đông được doanh nghiệp trả cổ tức nhưng doanh nghiệp không phải trả

Trang 13

một mức cổ tức cố định và cũng không bắt buộc phải trả cổ tức cho cổ đông mà có thể giữ lại để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Quản lý và giám sát.

Quyền lợi của doanh nghiệp và cổ đông gắn bó chặt chẽ với nhau do đó doanh nghiệp phải chịu sự quản lý và giám sát chặt chẽ từ cổ đông Ngoài ra doanh nghiệp cũng phải chịu sự giám sát của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước

Cổ đông có quyền tham gia biểu quyết những vấn đề quan trọng của doanh nghiệp

- Áp lực thanh toán.

Doanh nghiệp không phải chịu áp lực thanh toán đối với cổ đông

- Phương thức, phương tiện thanh toán.

Doanh nghiệp được quyền lựa chọn phương thức thanh toán 6 tháng hay 1 năm trả

cổ tức một lần Phương tiện thanh toán cổ tức có thể là tiền mặt hay cổ phiếu

- Tiết kiệm thuế.

Cổ tức được doanh nghiệp trả từ lợi nhuận sau thuế do đó doanh nghiệp không tiết kiệm được thuế Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp có cổ phiếu được niêm yết lần đầu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ được giảm 50% số thuế TNDN phải nộp trong 2 năm kể từ khi thực hiện việc niêm yết

1.2.2 Huy động vốn nợ

1.2.2.1 Tín dụng thương mại

a Khái niệm & đặc điểm.

Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp, được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp hàng hoá Đến thời hạn đã thoả thuận doanh nghiệp mua phải hoàn trả cả vốn gốc và lãi cho doanh nghiệp bán dưới hình thức tiền tệ

- Khi doanh nghiệp mua nguyên liệu, hàng hoá chưa phải trả tiền ngay là doanh nghiệp đã được các nhà cung cấp cho vay nên hình thức này còn được gọi là tín dụng của nhà cung cấp

- Để đảm bảo người mua chịu trả nợ khi đúng hạn, bên cạnh sự tin tưởng,

Trang 14

người bán chịu còn đòi hỏi phải có một chứng cứ pháp lý, đó chính là tờ giấy chứng nhận quan hệ mua bán chịu nêu trên, tờ giấy chứng nhận này có thể do chủ

nợ lập để đòi tiền, hoặc do con nợ lập để cam kết trả tiền, nó được gọi là thương phiếu Thương phiếu tồn tại dưới 2 hình thức là hối phiếu và lệnh phiếu:

° Hối phiếu là chứng chỉ có giá do người bán chịu lập, yêu cầu người mua chịu trả một số tiền xác định vào một thời gian và ở một địa điểm nhất định cho người thụ hưởng

° Lệnh phiếu là chứng chỉ có giá do người mua chịu lập, cam kết trả một số tiền xác định trong một thời gian và ở một địa điểm nhất định cho người thụ hưởng

Như vậy, hối phiếu là lệnh đòi tiền do chủ nợ lập và chỉ sử dụng trong quan

hệ thương mại, còn lệnh phiếu thì do người mua chịu lập, được sử dụng không chỉ trong quan hệ thương mại mà còn trong các quan hệ dân sự khác

b Chi phí của tín dụng thương mại

Trong trường hợp giá mua chịu và giá mua trả tiền ngay có sự chênh lệch, thường là chênh lệch phải chịu giá cao hơn thì chi phí tín dụng thương mại chính là chênh lệch giữa giá bán chịu và giá trả tiền ngay

Thông thường, các nhà cung cấp thường có kèm theo các điều kiện chiết khấu để khuyến khích khách hàng sớm trả tiền Ví dụ, một giao dịch tín dụng thương mại quy định điều kiện chiết khấu "2/15 net 40" trên hoá đơn, có nghĩa là người bán sẽ chiết khấu 2% trên giá trị của hoá đơn mua hàng nếu người mua trả tiền trong khoảng thời gian 15 ngày kể từ ngày giao hàng Ngưới mua sẽ phải trả toàn bộ giá bán sau 15 ngày và được trả chậm trong vòng 40 ngày

Trong trường hợp này, chi phí của tín dụng thương mại là chi phí mà khi người mua không thanh toán được tiền trong thời hạn được hưởng chiết khấu

c Ưu và nhược điểm của việc huy động vốn tín dụng thương mại

- Ưu điểm:

Tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh do doanh nghiệp sẽ vay trực tiếp bằng nguyên vật liệu và số lượng có thể thay đổi mỗi kì khi kí hợp đồng

Trang 15

Giúp doanh nghiệp mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền Chủ động khi huy động vốn: chủ động về thời gian, số lượng, nhà cung ứng.Huy động nhanh chóng dễ dàng Không phải chịu sự giám sát của ngân hàng cũng như các cơ quan nhà nước Ngoài ra, đối với doanh nghiệp làm chủ nợ: có thể vay ngân hàng thông qua hình thức chiết khấu thương phiếu (bán hoặc cầm cố).

- Nhược điểm:

Hạn chế về quy mô tín dụng :

+ Số lượng mua chịu

+ Khả năng của nhà cung ứng

Hạn chế về đối tượng vay mượn

Hạn chế về không gian vay mượn

Hạn chế về thời gian vay mượn do chu kỳ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khác nhau và thường bị hạn chế về thời hạn vay

Phụ thuộc vào quan hệ sản xuất kinh doanh trên thị trường

Có thể gặp rủi ro khi buộc phải thay đổi nhà cung ứng và phụ thuộc nhiều vào

sự đúng hẹn, uy tín của nhà cung ứng

Dễ gặp rủi ro dây truyền

1.2.2.2 Tín dụng thuê mua

a, Khái niệm chung

Tín dụng thuê mua là một hình thức tài trợ tín dụng thông qua các loại tài sản, máy móc thiết bị Nó có lịch sử khá lâu đời, song chỉ phát triển mạnh ở những nước có nền kinh tế phát triển Đây là một hình tức tín dụng trung và dài hạn đặc biệt rất thông dụng trong việc tài trợ các doanh nhiệp Ở nước ta hình thức tín dụng này mới được hình thành và phát triển

Quan hệ tín dụng thuê mua được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa người đi thuê tài sản và người cho thuê Thỏa thuận thuê mua là một hợp đồng giữa hai hay nhiều bên, liên quan đến một hay nhiều tài sản Người cho thuê sẽ chuyển giao tài sản cho người đi thuê trong một khoảng thời gian nhất định Đổi lại người đi thuê phải trả một số tiền cho chủ tài sản tương ứng với quyền sử dụng

Trang 16

Có hai phương thức giao dịch chủ yếu là phương thức thuê vận hành

(operating lease) & phương thức thuê tài chính

* Thuê vận hành

Theo Điều 2 Quy chế tạm thời về hoạt động cho thuê vận hành của các công

ty cho thuê tài chính ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, cho thuê vận hành (cho thuê hoạt động) là hình thức cho thuê tài sản, theo

đó Bên thuê sử dụng tài sản cho thuê của Bên cho thuê trong một thời gian nhất định và sẽ trả lại tài sản đó cho Bên cho thuê khi kết thúc thời hạn thuê tài sản Bên cho thuê giữ quyền sở hữu tài sản

cho thuê và nhận tiền cho thuê theo hợp đồng cho thuê

* Thuê tài chính

Theo Điều 1 Khoản 1 Nghị định số 16/2001/NĐ-CP quy định: Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận Khi kết thúc thời hạn thuê bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản hoặc tiếp tục thuê

b Đặc điểm của nguồn vốn tín dụng thuê mua

* Điều kiện, thủ tục thuê

- Điều kiện: Doanh nghiệp phải kí qũy một mức từ 15-30% giá trị tài sản thuê

- Thủ tục: Để được xem xét cho thuê tài chính, Doanh nghiệp cũng phải chuẩn bị một bộ hố sơ đầy đủ bao gồm các tài liệu chứng minh về tư cách pháp nhân, tình hình tài chính và dự án đầu tư khả thi và có hiệu quả Thuê tài chính không cần tài sản đảm bảo nhưng phải làm các thủ thục thuê như định giá, đăng kí, đăng kiểm…

* Chi phí thuê: Doanh nghiệp đi thuê tài sản phải chịu một mức tiền thuê mà

có thể bù đắp được hoàn toàn chi phí công ty Cho thuê tài chính (CTTC) bỏ ra để mua sắm tài sản, phí quản lí, rủi ro và khả năng tích lũy lãi Đối với các nước

Trang 17

trên thế giới áp dụng phương pháp khấu hao nhanh, tiết kiệm về thuế sẽ được chia cho 2 bên nên phí phải trả của Doanh nghiệp

sẽ giảm đi

- Phương pháp tính tiền thuê phải trả:

+ Phương pháp 1 : Tổng số tiền gốc được chia đều cho số kỳ hạn thanh toán( chỉ áp dụng cho trường hợp trả theo định kỳ )

- Số tiền trả gốc theo mỗi kỳ tính theo phương pháp này như sau:

* Thời hạn thuê: Thời gian thuê tối đa đối với tài sản mới (100%) tối thiểu

là 1 năm nhưng không quá thời gian khấu hao cần thiết do Bộ tài chính quy định Thời gian thuê đối với tài sản cũ đã qua sử dụng phù hợp với tình trạng kỹ thuật

và công năng thực tế của tài sản đó nhưng không vượt quá thời gian khấu hao của tài sản đó theo quy định của Bộ Tài chính

+ Doanh nghiệp thuê TS theo phương thức thuê vận hành thì chỉ thuê trong thời hạn rất ngắn so với toàn bộ thời gian hữu ích của tài sản, thích hợp với những

Trang 18

hoạt động có tính vụ mùa Khi Doanh nghiệp muốn chấm dứt hợp đồng chỉ cần báo trước cho ngưòi cho thuê một thời gian khá ngắn.

+ Doanh nghiệp thuê TS theo phương thức thuê tài chính thì thời hạn thuê thuờng gồm 1,2 hoặc 3 giai đoạn sau:

● Giai đoạn 1: Thời hạn cho thuê chính thức Đây là khoảng thời gian quan trọng nhất của hợp đồng cho thuê Giai đoạn này chiếm ít nhất là 60% thời gian khấu hao của TS

● Giai đoạn 2: Cho thuê tự chọn Đây là khoảng thời gian mà Doanh nghiệp có thể tiếp tục thuê tài sản, nhưng chi phí thuê rất thấp

● Giai đoạn 3: Thông thường hết giai đoạn thuê tài chính, người cho thuê

ủy quyền cho doanh nghiệp thuê làm đại lý bán tài sản Nếu Doanh nghiệp quản

lý sử dụng tài sản tốt thì giá trị thực tế của tài sản có thể lớn hơn rất nhiều giá tiền còn lại dự kiến trong hợp đồng, họ có thể mua lại và cũng có thể bán được giá cao hơn để hưởng phần chênh lệch

- Trong giai đoạn 1 Doanh nghiệp không được tự ý kết thúc hợp đồng

* Phương thức trả tiền: Căn cứ vào khả năng, điều kiện của bên thuê và thời

hạn cho thuê đã được thống nhất trong hợp đồng cho thuê tài chính, bên cho thuê

và Doanh nghiệp có thể thoả thuận phương thức trả tiền như sau:

+ Gốc và phí cùng trả một lần trong một kỳ thanh toán

+ Trả phí và gốc theo định kỳ

* Quy mô của nguồn vốn: Doanh nghiệp có thể được tài trợ 100%

vốn mà Doanh nghiệp cần Tuy nhiên quy mô này cũng bị hạn chế bởi quy định:

+ Thuê vận hành: Tổng giá trị TS sử dụng cho thuê vận hành với 1 khách hàng không được vượt quá 30% vốn tự có của công ty CTTC

+ Thuê tài chính: Tổng giá trị TS cho thuê không được vượt quá 5%

vốn tự có của công ty CTTC

* Quản lý và giám sát.

- Quản lí: Bên cho thuê không có quyền tham gia vào các quyết định của

Trang 19

doanh nghiệp đi thuê.

- Giám sát: Doanh nghiệp thuê tài sản chịu sự kiểm tra tài sản định kì của bên cho thuê

* Phương thức hoàn trả của Doanh nghiệp khi kết thúc hợp đồng:

- Việc định kỳ hạn trả gốc tiền thuê và phí tiền thuê được thoả thuận giữa bên cho thuê và bên thuê

- Trả gốc: Căn cứ vào khả năng thu nhập định kỳ của bên thuê, thời hạn thuê

để xác định kỳ trả nợ nhưng tối đa không quá 6 tháng một kỳ

- Đối với những tài sản có thời gian lắp đặt thiết bị, chạy thử, có thời gian ân hạn phù hợp với thời gian cần có để lắp đặt thiết bị Thời gian này công ty cho thuê tài chính chưa thu nợ Thời gian cụ thể để xác định kỳ trả nợ lần đầu do hai bên thoả thuận trong hợp đồng Công ty cho thuê tài chính

- Trả phí: Phí tiền thuê được trả theo định kỳ hàng tháng hoặc hàng quý theo hai bên thoả thuận trong hợp đồng

* Áp lực thanh toán:

Doanh nghiệp trả nợ không đúng hạn hoặc không thực hiện cam kết trong hợp đồng sẽ phải chịu lãi suất phạt như vay của Ngân hàng và sự phán xử của toà án

* Tiết kiệm thuế:

Do Doanh nghiệp trích khấu hao (Thuê tài chính) hoặc phản ánh chi phí trả tiền thuê là một khoản chi phí của Doanh nghiệp nên lợi nhuận trước thuế của Doanh nghiệp giảm, Doanh nghiệp tiêt kiệm được 1 khoản thuế

c Các loại hình cho thuê tài chính

* Bán và tái thuê: Trong hoạt động kinh doanh có nhiều doanh nghiệp

thiếu vốn lưu động để khai thác tài sản hiện có nhưng lại không đu uy tín để vay vốn ngân hàng Do đó người mua bán một tài sản của chính họ cho người cho thuê Đồng thời ngay lập tức một hợp đồng thuê mua được kí kết với nội dung người cho thuê đồng ý cho người thuê lại chính tài sản mà họ vừa bán Đôi lúc các định chế tài chính cũng sử dụng phương thức này như một phương thức chuyển

nợ quá hạn mà không cần dùng đến biện pháp thanh lý hay đề nghị tuyên bố phá sản

Trang 20

doanh nghiệp.

Kí hợp đồng mua TS của bên thuê (1)

Bên cho thuê ->

Bên thuê ->

Kí hợp đồng thuê và cho thuê TS (2)

* Cho thuê hợp tác ( leveragel lease): Đối với tài sản thuê có giá trị lớn, một

bên cho thuê không đủ vốn để tài trợ hoặc sợ rủi ro vì tập trung vốn quá lớn vào một khách hàng nên một số bên cho thuê hợp tác với một hay nhiều bên cho vay

để cùng tài trợ Trong đó bên cho thuê vẫn là trái chủ trong quan hệ cho thuê, bên cho vay là trái chủ của bên cho thuê Vốn vay thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng

số tiền tài trợ, khoảng 60-80% và khoản cho vay được đảm bảo bằng chính tài sản cho thuê và cam kết chuyển nhượng hợp đồng cho thuê và các khoản tiền thuê Người cho vay được hoàn trả tiền cho vay từ các khoản tiền thuê Sau khi hết món nợ vay sẽ hoàn trả cho người cho thuê

* Thuê mua trả góp ( purchase lease): Đây là một hình thức mua trả góp tài

sản trong một thời gian nhất định, thường là từ 1-5 năm, được áp dụng đối với trường hợp người mua có thế chấp và không có thế chấp Trong thực tế, thuê mua trả góp là hình thức tài trợ vốn cho doanh nghiêp không có vốn thế chấp Doanh nghiệp thuê mua tài sản theo hình thức này phả tiến hành kí kết hợp đồng thuê mua với chủ tải sản, thỏa thuận với số tiền phảI trả ngay (1/4-1/3 giá trị của tải sản) khi giao tài sản hay trong những kì tiếp theo Trong thời gian người mua được phép khấu hao nhanh để đảm bảo lịch trình thanh toán với khách hàng Khi hợp đồng đáo hạn thì người mua nhận quyền sở hữu tài sản Thuận lợi chính cho người đi thuê trong hình thức này là họ có ngay tài sản sử dụng mà không phải trả ngay những khoản tiền lớn Ngoài ra doanh nghiệp có thể giảm bớt được thuế TNDN do áp dụng phương pháp khấu hao nhanh

* Thuê mua giáp lưng (under lease): Thuê mua giáp lưng là phương thức tài

trợ mà trong đó được sự thỏa thuận của người cho thuê, người thuê thứ nhất cho người thuê thứ hai thuê lại tài sản mà người thuê thứ nhất đã thuê từ người cho thuê Hình thức này thường xảy ra trong trường hợp người thuê thứ nhất không

Trang 21

còn nhu cầu đối với tài sản thuê, vì lí do nào đó, hợp đồng đã kí kết nhưng không thể hủy ngang nên họ tìm người thuê thứ 2 để chuyển giao hợp đồng Kể từ ngày chuyển giao hợp đồng, mọi quyền lợi và nghĩa vụ về tài sản được chuyển giao sang cho người thứ 2 Tuy nhiên người thuê thứ nhất vẫn chịu trách nhiệm liên đới.

Tuy nhiên có rất nhiều trường hợp bên thứ nhất chỉ là bên trung gian giữa bên cho thuê và bên thứ hai (do bên thứ hai không đáp ứng được yêu cầu của bên cho thuê hoặc không biết đến công ty cho thuê) Với phương thức này mặc dù doanh nghiệp không đủ tiêu chuẩn trực tiếp đi thuê với bên thuê vẫn có được tài sản để

sử dụng trong sản xuất kinh doanh

1.2.2.3 Tín dụng ngân hàng

a Khái niệm

Tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay Các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng chủ yếu nhằm vào 3 mục đích:

+ Đầu tư vào Tài sản cố định: máy móc thiết bị, công trình nhà xưởng…+ Bổ sung thêm vốn lưu động

+ Phục vụ các dự án

b Các hình thức tín dụng ngân hàng

Doanh nghiệp vay để đầu tư vào TSCĐ và phục vụ dự án: có thể vay

Ngân hàng theo hình thức như cầm cố, thế chấp tài sản, thông qua bên thứ

3 để bảo lãnh cho mình hoặc vay dưới hình thức trả góp…

+ Đối với những Doanh nghiệp lớn, Doanh nghiệp có thể sử dụng uy tín của mình với Ngân hàng (Thanh toán nợ đúng hẹn, khách hàng thân quen) để vay tín chấp…

+ Đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, khi mà tài sản để thế chấp cầm cố chỉ có thể vay của Ngân hàng một lượng vốn nhỏ không đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì có thể nhờ uy tín của bên thứ 3 bảo lãnh, tham gia vào qũy bảo lãnh tín dụng Doanh nghiệp vừa và nhỏ…

- Doanh nghiệp vay để bổ sung vốn lưu động: có thể vay Ngân hàng dưới hình thức như vay thấu chi, vay trực tiếp từng lần, cầm cố thế chấp tài sản, tín chấp

Trang 22

(DN lớn), bảo lãnh…

c Đặc điểm của nguồn vốn tín dụng ngân hàng

* Điều kiện vay vốn: Doanh nghiệp muốn vay vốn Ngân hàng cần phải có

một số điều kiện sau:

+ Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp

+ Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết

+ Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi, có hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật

* Thủ tục vay vốn: Để được vay vốn ngân hàng, Doanh nghiệp phải có bộ hồ

sơ vay vốn gồm:

+ Giấy đề nghị vay vốn

+ Giấy phép kinh doanh

+ Dự án, phương án sản suất kinh doanh, kế hoạch trả nợ

+ Hồ sơ tài sản thế chấp cầm cố

+ Hồ sơ tài liệu khác theo yêu cầu của NH

* Lãi suất vay: Khi Doanh nghiệp vay vốn NH, Doanh nghiệp phải trả một

mức lãi suất phụ thuộc vào kì hạn của khoản vay (Lãi suất của các khoản vay có kì hạn càng cao thì càng cao), phụ thuộc vào Doanh nghiệp có phải là đối tượng ưu đãi không,…

- Lãi suất doanh nghiệp phải trả thường là lãi suất cố định Điều đó có nghĩa

là Doanh nghiệp sẽ phải trả cho Ngân hàng lãi định kì (thường là lãi định kì) ngay

cả khi Doanh nghiệp làm ăn không có lãi

* Thời hạn vay: Doanh nghiệp có thể vay Ngân hàng dưới hình thức ngắn hạn,

trung hạn và dài hạn

* Quy mô nguồn vốn vay: Doanh nghiệp huy động vốn Ngân hàng với quy

mô phụ thuộc vào mục đích sử dụng vốn Tuy nhiên quy mô này có thể bị hạn chế

do quy định hạn mức tín dụng của Ngân hàng cho doanh nghiệp , do kì hạn của nguồn vốn, do giá trị của TS thế chấp, do tính hiệu quả và khả thi của dự án… Trong trường hợp này Doanh nghiệp có thể xin sự đồng tài trợ của nhiều Ngân hàng cho mình

Trang 23

* Quản lý và giám sát: Doanh nghiệp vay vốn Ngân hàng chịu sự giám sát

của Ngân hàng trên 2 phương diện:

+ Doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn có đúng với mục đích ghi trong hợp đồng vay vốn hay không?

+ Doanh nghiệp trả gốc và lãi có đúng hạn không?

* Rủi ro - Áp lực thanh toán: Định kì, doanh nghiệp phải trả lãi cho ngân hàng

ngay cả khi doanh nghiệp làm ăn không có lãi, nếu không doanh nghiệp sẽ phải chịu lãi suất phạt của NH Đến hạn trả gốc, nếu Doanh nghiệp mất khả năng chi trả thì tài sản bảo đảm của Doanh nghiệp bị phát mãi hoặc bên thứ ba đứng ra bảo lãnh cho Doanh nghiệp khi vay sẽ phảI chịu trách nhiệm trả hộ cho doanh nghiệp Điều này gây ra ảnh hưởng rất xấu về uy tín của Doanh nghiệp với NH

* Tiết kiệm thuế: Lãi vay được tính là chi phí của doanh nghiệp , làm giảm

lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp do đó doanh nghiệp tiết kiệm được một khoản thuế TNDN

d Ưu nhược điểm của việc vay vốn Ngân hàng

* Ưu điểm:

- Đối với Doanh nghiệp lớn:

+ Tập trung được nguồn vốn lớn cùng một lúc do có thể có tài sản để thế chấp lớn, có uy tín với NH…

+ Mức độ rủi ro thấp hơn các Doanh nghiệp nhỏ: Đến kì thanh toán Doanh nghiệp không trả đựơc nợ sẽ được Ngân hàng gia hạn, các

DNNN sẽ được nhà nước trả hộ…

- Đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Ngày nay Doanh nghiệp vừa và nhỏ đang nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ phía nhà nước để có thể tiếp cận được nguồn vốn này

Trang 24

mục đích ghi trong hợp đồng không, về việc trả nợ gốc và lãi có đúng kì hạn cam kết không…

1.2.2.4 Phát hành trái phiếu

a Khái niệm

Trái phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi ích đòi

nợ hợp pháp của người sở hữu trái phiếu đối với tài sản của tổ chức phát hành

b Phân loại trái phiếu

Một doanh nghiệp có thể phát hành các loại trái phiếu sau:

Trái phiếu có lãi suất cố định: Là loại trái phiếu mà doanh nghiệp phải trả

một mức lãi suất cố định được quy định ngay từ thời điểm phát hành

Trái phiếu có lãi suất thả nổi: Là loại trái phiếu mà doanh nghiệp phải trả

mức lãi suất thả nổi theo lãi suất thị trường hoặc theo điều chỉnh của doanh nghiệp

Trái phiếu có thể thu hồi: Là loại trái phiếu mà doanh nghiệp được phép thu

hồi sớm hơn thời hạn

Trái phiếu có thể chuyển đổi: Là loại trái phiếu cho phép các trái chủ được

quyền chuyển đổi sang một số lượng cổ phiếu thường xác định ở một giá xác định

và trong một khoảng thời gian xác định

- Đối với loại trái phiếu này chỉ có công ty cổ phần mới được phát hành, cho phép công ty huy động vốn là vay nợ nhưng khi chuyển đổi trái phiếu thì nợ chuyển sang vốn điều lệ công ty giúp cho công ty có thể tái cấu trúc vốn để giảm nợ.Việc phát hành trái phiếu loại này có một số ưu điểm là chi phí sử dụng vốn thấp do trái phiếu chuyển đổi thường có lãi suất thấp hơn so với các trái phiếu thông thường có cùng độ rủi ro nhưng không có khả năng chuyển đổi; việc phát hành tương đối dễ dàng do đây là một công cụ đầu tư rất hấp dẫn Tuy nhiên việc phát hành trái phiếu chuyển đổi có nhược điểm là doanh nghiệp khó kiểm soát được cấu trúc vốn khi đến thời hạn chuyển đổi do quyền lựa chọn thuộc về trái chủ

Trái phiếu kèm quyền mua cổ phiếu: Là loại trái phiếu cho phép trái chủ

được quyền mua thêm một số lượng cổ phiếu thường ở mức giá xác định và

Ngày đăng: 23/07/2013, 16:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS Nguyễn Hữu Tài (chủ biên): “Giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ” Nhà xuất bản Thống kê, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ”
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
3. PGS.TS Lưu Thị Hương (chủ biên) “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp”, Nhà xuất bản Thống kê 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp”
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê 2005
5. Frederic S. Mishkin, bản dịch “Tiền tệ, ngân hàng và thị trường Tài chính”. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật. Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Tiền tệ, ngân hàng và thị trường Tài chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật. Hà Nội 2001
6. Paul Samuelson, bản dịch “Kinh tế học”, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Kinh tế học
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
2. PGS- TS Đàm Văn Nhuệ – TS Ngô Thị Hoài Lam, ”Sử dụng có hiệu quả các hình thức huy động vốn của doanh nghiệp công nghiệp trong nền kinh tế thị trường”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2001 Khác
4. PTS.Vũ Hào - Đàm Văn Huệ, "Giáo trình Quản trị tài chính doanh nghiệp&#34 Khác
7. Giáo trình “Kinh tế chính trị Mác – Lê nin, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Khác
8. Các bài báo, tạp chí, thông tin trên mạng Internet Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w