Trong bối cảnh kinh tế nước ta đã và đang tiến hành hội nhập ngày càng sâu và rộng vào nền kinh tế toàn cầu, đã mở ra những cơ hội lớn cho sự phát triển của các doanh nghiệp, song đi liền với đó cũng đặt ra cho các doanh nghiệp những thách thức không nhỏ. Vì thế, khi bắt tay vào xây dựng các chiến lược sản xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải đặt ra những câu hỏi: Yếu tố tài chính sẽ được quản lý như thế nào? Các đồng vốn bỏ ra hiệu quả đến đâu? Có đem lại lợi nhuận kinh doanh và hiệu quả như mong muốn ban đầu hay không? Các câu hỏi này đều có liên quan tới quản lý tài chính doanh nghiệp, nó là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất trong công tác quản lý doanh nghiệp. Quản lý tài chính tồn tại và tuân theo quy luật khách quan, đồng thời bị chi phối bởi mục tiêu phương hướng kinh doanh của Công ty. Ngoài ra, các nhà quản lý tài chính sẽ giúp giám đốc hoạch định chiến lược tài chính ngắn và dài hạn của doanh nghiệp dựa trên sự đánh giá tổng quát cũng như từng khía cạnh cụ thể các nhân tố tài chính có ảnh hưởng quan trọng tới sự tồn tại của doanh nghiệp, bao gồm: Chiến lược tham gia vào thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chính khoán, xác định chiến lược tài chính cho các chương trình, các dự án của doanh nghiệp là mở rộng hay thu hẹp sản xuất… Như vậy, xét một cách khái quát nhất ta thấy quản lý tài chính doanh nghiệp là một khâu vô cùng quan trọng trong hệ thống quản lý doanh nghiệp. Nhà quản lý tài chính doanh nghiệp là một trong những nhân tố con người đóng vai trò then chốt trong việc hoạch định chính sách và đường lối phát triển của doanh nghiệp. Trong quá trình học tập tại Khoa Khoa Học Quản Lý trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân em đã được học tập rất nhiều kiến thức mang tính lý luận về kinh tế, đặc biệt là kiến thức tài chính và quản lý tài chính. Từ thực tế quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần xây dựng và phát triển nông thôn 6 em đã có cái nhìn thực tế hơn, có được sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn. Sau quá trình thực tập tại Công ty, cùng với sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Văn Duệ, sự giúp đỡ của các cô chú, anh chị trong công ty, em đã mạnh dạn chọn đề tài : “Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Công ty Cổ phần xây dựng và phát triển nông thôn 6” là chuyên đề thực tập của mình.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh kinh tế nước ta đã và đang tiến hành hội nhập ngày càngsâu và rộng vào nền kinh tế toàn cầu, đã mở ra những cơ hội lớn cho sự pháttriển của các doanh nghiệp, song đi liền với đó cũng đặt ra cho các doanh nghiệpnhững thách thức không nhỏ Vì thế, khi bắt tay vào xây dựng các chiến lược sảnxuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải đặt ra những câu hỏi:Yếu tố tài chính sẽ được quản lý như thế nào? Các đồng vốn bỏ ra hiệu quả đếnđâu? Có đem lại lợi nhuận kinh doanh và hiệu quả như mong muốn ban đầu haykhông? Các câu hỏi này đều có liên quan tới quản lý tài chính doanh nghiệp, nó
là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất trong công tác quản lý doanhnghiệp
Quản lý tài chính tồn tại và tuân theo quy luật khách quan, đồng thời bị chiphối bởi mục tiêu phương hướng kinh doanh của Công ty Ngoài ra, các nhàquản lý tài chính sẽ giúp giám đốc hoạch định chiến lược tài chính ngắn và dàihạn của doanh nghiệp dựa trên sự đánh giá tổng quát cũng như từng khía cạnh cụthể các nhân tố tài chính có ảnh hưởng quan trọng tới sự tồn tại của doanhnghiệp, bao gồm: Chiến lược tham gia vào thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thịtrường chính khoán, xác định chiến lược tài chính cho các chương trình, các dự
án của doanh nghiệp là mở rộng hay thu hẹp sản xuất…
Như vậy, xét một cách khái quát nhất ta thấy quản lý tài chính doanhnghiệp là một khâu vô cùng quan trọng trong hệ thống quản lý doanh nghiệp.Nhà quản lý tài chính doanh nghiệp là một trong những nhân tố con người đóngvai trò then chốt trong việc hoạch định chính sách và đường lối phát triển củadoanh nghiệp Trong quá trình học tập tại Khoa Khoa Học Quản Lý trường ĐạiHọc Kinh Tế Quốc Dân em đã được học tập rất nhiều kiến thức mang tính lýluận về kinh tế, đặc biệt là kiến thức tài chính và quản lý tài chính Từ thực tếquá trình thực tập tại Công ty Cổ phần xây dựng và phát triển nông thôn 6 em đã
Trang 2trình thực tập tại Công ty, cùng với sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TSNguyễn Văn Duệ, sự giúp đỡ của các cô chú, anh chị trong công ty, em đã mạnh
dạn chọn đề tài : “Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Công ty Cổ phần xây dựng và phát triển nông thôn 6” là chuyên đề thực tập của mình
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Hoạt động quản lý tài chính tại Công ty
- Phạm vi nghiên cứu: Từ năm 2008 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng kết hợp các phương pháp: Duy vật biện chứng, thống kê,tổng hợp, so sánh, phân tích các số liệu thống kê…
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS – Nguyễn Văn Duệ cùng
toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Khoa Học Quản Lý đã giúp đỡ và hướngdẫn em tận tình trong thời gian thực tập và nghiên cứu chuyên đề này
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo công ty cùng các cô, chú, và cácanh, chị công tác tại Công ty Cổ phần xây dựng và phát triển nông thôn 6, đặcbiệt là các cô chú, anh chị phòng tài chính - kế toán của Công ty đã tạo điều kiện
và giúp đỡ em trong quá trình thực tập và hoàn thiện bài viết này
Em xin chân thành cảm ơn.
Trang 4CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Tài chính là gì?
Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã
hội dưới hình thức giá trị Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phânphối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của cácchủ thể ở mỗi điều kiện nhất định
Có 3 loại quan hệ tài chính chủ yếu: Tín dụng, bảo hiểm và ngân sách Nhànước
Chức năng của tài chính:
- Chức năng phân phối: Là chức năng quyết định sự ra đời và tồn tại của tàichính Được thể hiện ở tính chất phân phối của từng quan hệ tài chính
- Chức năng giám sát: Ra đời nhờ có chức năng phân phối Cho phép thựchiện việc kiểm soát, quản lý và tăng cường hiệu quả của các quan hệ tàichính
1.2 Tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm và bản chất của tài chính doanh nghiệp
- Khái niệm: Có rất nhiều quan niệm khác nhau về tài chính doanh nghiệp
Xét về hình thức thì tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong quá trình tạolập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp
Về bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giátrình nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệptrong quá trình hoạt động của doanh nghiệp
Xét về mặt nội dung thì tài chính doanh nghiệp là một mặt hoạt động củadoanh nghiệp nhằm đạt tới các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra Các hoạtđộng gắn liền với việc tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động chuyển hóa củaquỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chính của doanh nghiệp
Theo nghĩa thông thường thì tài chính doanh nghiệp được hiểu là nhữnghoạt động huy động vốn, sử dụng, phát triển và quản lý tiền vốn Có nghĩa làdoanh nghiệp cần tích lũy vốn, sau đó đầu tư vào hoạt động sản xuất và kinh
Trang 5doanh làm số tiền đó tăng lên – tức là tiền sinh tiền Từ đó, doanh nghiệp cóđược lợi nhuận thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, doanhnghiệp không được hưởng toàn bộ lợi nhuận này mà phải phân phối một phầncho ngân sách nhà nước, nhân viên và cả nội bộ doanh nghiệp Những hoạt động
đó đã hình thành nên tài chính doanh nghiệp
- Bản chất của tài chính doanh nghiệp;
Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần có các yếu tố cơbản của quá trình sản xuất như:
Trong nền kinh tế thị trường mọi vận hành kinh tế đều được tiền tệ hóa
Vì vậy các yếu tố trên đều được biểu hiện bằng tiền số tiền ứng trước để muasắm các yếu tố trên gọi là vốn kinh doanh
Trong doanh nghiệp vốn luôn vận động rất đa dạng, có thể là sự chuyểndịch của giá trị chuyển quyền sở hữu từ chủ thể này sang chủ thể khác hoặc sựchuyển dịch trong cùng một chủ thể Sự thay đổi hình thái biểu hiện của giá trịtrong quá trình sản xuất kinh doanh được thực hiện theo sơ đồ:
TLLĐ
SLĐNhư vậy, sự vận động của vốn tiền tệ trong quá trình sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp diễn ra liên tục, xen kẽ kế tiếp nhau không ngừng phát triển
Tài chính doanh ngiệp hệ thống các quan hệ kinh tế, biểu hiện dưới hìnhthái giá trị, phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằmphục vụ cho quá trình tái sản xuất của mỗi doanh nghiệp và góp phần tích lũyvốn cho Nhà nước
Hệ thống quan hệ kinh tế thuộc phạm trù bản chất tài chính doanh nghiệpgồm:
- Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với Nhà nước thông qua nghĩa vụ nộp
Trang 6cho doanh nghiệp Nhà nước, mua cổ phiếu, góp vốn liên doanh…Cấp trợgiá cho các doanh nghiệp khi cần thiết
- Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác thể hiệnthông qua trao đổi mua bán vật tư, hàng hóa, dịch vụ Doanh nghiệp có lúc
là người mua, có lúc là người bán
- Quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp; Thể hiện mối quan hệ giữadoanh nghiệp với các phòng ban, với cán bộ công nhân viên trong nội bộdoanh nghiệp
1.2.2 Chức năng của tài chính doanh nghiệp
a Tổ chức huy động chu chuyển vốn, đảm bảo cho sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục
Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế cơ sở có nhiệm vụ sản xuất kinh doanh nên
có nhu cầu về nguồn vốn, tùy theo từng loại hình doanh nghiệp mà vốn được huyđộng từ những nguồn:
Ngân sách nhà nước cấp
Vốn cổ phần
Vốn tự bổ sung
Vốn vay
Nội dung của chức năng này:
- Căn cứ vào nhiệm vụ sản xuất, định mức tiêu chuẩn để xác định nhu cầuvốn cần thiết cho sản xuất kinh doanh
- Cân đối giữa nhu cầu và khả năng về vốn
- Lựa chọn nguồn vốn và phân phối sử dụng vốn hợp lý để sao cho với sốvốn ít nhất nhưng mang lại hiệu quả cao nhất
b Chức năng phân phối thu nhập của tài chính doanh nghiệp
Thu nhập bằng tiền từ bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, lợi tức cổ phiếu,lãi cho vay, thu nhập khác của doanh nghiệp được tiến hành phân phối như sau:
Bù đắp hao phí vật chất, lao động đã tiêu hao trong quá trình sản xuấtkinh doanh bao gồm:
- Chi phí vật tư như nguyên vật liệu, nhiên liệu, động lực, công cụ lao độngnhỏ…
Trang 7- Chi phí khấu hao tài sản cố định
- Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương
- Chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền
Phần còn lại là lợi nhuận trước thuế được phân phối tiếp như sau:
- Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo luật định (hiện nay tính bằng 28%trên thu nhập chịu thuế)
- Bù lỗ năm trước không được trừ vào lợi nhuận trước thuế (nếu có)
- Nộp thuế vốn (nếu có)
- Trừ các khoản chi phí không hợp lý, hợp lệ
- Chia lãi cho đối tác góp vốn
- Trích vào các quỹ doanh nghiệp
doanh
Giám đốc tài chính là việc thực hiện kiểm soát quá trình tạo lập và sửdụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp
Cơ sở của giám đốc tài chính
- Xuất phát từ tính quy luật trong phân phối sản phẩm quyết định (ở đâu cóphân phối tài chính thì ở đó có giám đốc tài chính)
- Xuất phát từ tính mục đích của việc sử dụng vốn trong sản xuất kinhdoanh Muốn cho đồng vốn có hiệu quả cao, sinh lời nhiều thì tất yếu phảigiám đốc tình hình tạo lập sử dụng quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp
Nội dung.
- Thông qua chỉ tiêu vay trả, tình hình nộp thuế cho Nhà nước, mà Nhànước, ngân hàng biết được tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp tốt haychưa tốt
- Thông qua chỉ tiêu giá thành,chi phí mà biết được doanh nghiệp sử dụngvật tư, tài sản, tiền vốn tiết kiệm hay lãng phí
- Thông qua chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận mà biết được doanh nghiệp làm ăn cóhiệu quả hay không?
Trang 81.3 Quản lý tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Khái niệm quản lý tài chính doanh nghiệp
“Quản lý tài chính là quá trình lập và kiểm soát các nguồn lực để tối đa lợi íchkinh tế và tài chính của tổ chức Đối với doanh nghiệp, quản lý tài chính là việc
sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình trạng tài chính của một doanhnghiệp để phân tích điểm mạnh, điểm yếu của nó và lập các kế hoạch kinhdoanh, kế hoạch sử dụng nguồn tài chính, tài sản cố định và nhu cầu nhân côngtrong tương lai nhằm tăng lãi cổ tức của cổ đông”
Tóm lại, thực chất của quản lý tài chính là quản lý mang tính tổng hợp nhữnghoạt động kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp bằng cách vận dụng hình thứcgiá trị
1.3.2 Mục tiêu của quản lý tài chính doanh nghiệp
Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau: Tối đahóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu trong ràng buộc tối đa hóa lợi nhuận, tối đahóa hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp…Song tất cả các mụctiêu cụ thể đó đều nhằm mục tiêu tổng quát nhất là tối đa hóa giá trị tài sản chocác chủ sở hữu Bởi lẽ, một doanh nghiệp phải thuộc về các chủ sở hữu nhấtđịnh Khi doanh nghiệp đặt ra mục tiêu là tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu,doanh nghiệp đã tính tới sự biến động của thị trường, các rủi ro trong hoạt độngkinh doanh Quản lý tài chính doanh nghiệp chính là nhằm thực hiện được mụctiêu đó
Các quyết định tài chính trong doanh nghiệp: Quyết định đầu tư, quyết địnhhuy động vốn, quyết định về phân phối, ngân quỹ có mối liên hệ chặt chẽ vớinhau Trong quản lý tài chính, nhà quản lý phải cân nhắc các yếu tố bên trong vàcác yếu tố bên ngoài để đưa ra các quyết định làm tăng giá trị tài sản của chủ sởhữu, phù hợp với lợi ích của chủ sở hữu
1.3.3 Vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp
Trong các hoạt động quản lý của doanh nghiệp thì quản lý tài chính luôn giữamột vị trí quan trọng Nó quyết định tính độc lập, sự thành bại của doanh nghiệptrong quá trình kinh doanh Đặc biệt trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay
Trang 9Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng diễn ra khốc liệt trên phạm vi toàn thế giớithì quản lý tài chính lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
Bằng các chỉ tiêu và sự nhạy bén, các nhà quản lý tài chính có thể chỉ ranhững mặt mạnh yếu của doanh nghiệp trong một thời kỳ nào đó Ngoài ra, cácnhà quản lý tài chính còn giúp giám đốc hoạch định chiến lược tài chính ngắn vàdài hạn của doanh nghiệp dựa trên sự đánh giá tổng quát cũng như từng khíacạnh cụ thể các nhân tố tài chính có ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự tồn tại củadoanh nghiệp như: Chiến lược tham gia vào thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thịtrường chứng khoán, xác định chiến lược tài chính cho các chương trình, các dự
án của doanh nghiệp là mở rộng hay thu hẹp sản xuất…Thông qua đó đánh giá,
dự đoán có hiệu quả các dự án đầu tư, các hoạt động liên doanh liên kết, đề xuấtphương án sản xuất kinh doanh…
Quản lý tài chính còn là một hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với mọi hoạtđộng khác của doanh nghiệp Quản lý tài chính tốt có thể khắc phục được nhữngkhiếm khuyết trong các lĩnh vực khác Một quyết định tài chính không được cânnhắc, hoạch định kỹ lưỡng có thể gây nên tổn thất khôn lường cho doanh nghiệp
và cho nền kinh tế Bởi vậy, quản lý tài chính doanh nghiệp tốt có vai trò quantrọng đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính quốc gia
1.3.4 Nguyên tắc của quản lý tài chính doanh nghiệp
Hoạt động tài chính của doanh nghiệp dù nhỏ hay lớn căn bản là giống nhaunên nguyên tắc quản lý tài chính đều có thể áp dụng chung cho các loại hìnhdoanh nghiệp Tuy nhiên, giữa các doanh nghiệp khác nhau cũng có sự khác biệtnhất định nên khi ap dụng nguyên tắc quản lý tài chính phải gắn liền với điềukiện cụ thể của doanh nghiệp
Nguyên tắc đánh đổi rủi ro và lợi nhuận
Chắc hẳn bất cứ ai quan tâm đến vấn đề kinh tế đều đã từng nghe qua câu: rủi
ro và lợi nhuận luôn là bạn song hành hay lợi nhuận là phần thưởng cho những aidám chấp nhận rủi ro Quản lý tài chính phải được dựa trên quan hệ giữa rủi ro
và lợi nhuận Nhà đầu tư có thể lựa chọn những hình thức đầu tư khác nhau tùythuộc vào mức độ rủi ro mà họ chấp nhận và lợi nhuận kỳ vọng mà họ mong
Trang 10muốn Khi họ bỏ tiền vào những dự án có mức độ rủi ro cao, họ hy vọng dự ánđem lại lợi nhuận kỳ vọng cao
Nguyên tắc giá trị thời gian của tiền
Để đo lường giá trị tài sản của chủ sở hữu, cần sử dụng khái niệm giá trị thờigian của tiền, tức là phải đưa lợi ích và chi phí của một dự án về một thời điểm,thường là thời điểm hiện tại Theo quan điểm của nhà đầu tư, dự án được chấpnhận khi lợi ích thu về lớn hơn chi phí bỏ ra Trong trường hợp này, chi phí cơhội của vốn được đề cập như là tỷ suất chiết khấu
Nguyên tắc chi trả
Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp nào cũng cần phải bảo đảm mứcngân quỹ tối thiểu để thực hiện việc chi trả Do vậy, điều đáng quan tâm ở cácdoanh nghiệp là các dòng tiền chứ không phải lợi nhuận Dòng tiền ra và dòngtiền vào được tái đầu tư phản ánh tính chất thời gian của lợi nhuận và chi phí.Không những thế, khi đưa ra các quyết định kinh doanh, doanh nghiệp cần tínhđến dòng tiền tăng thêm, đặc biệt cần tính đến các dòng tiền sau thuế
Nguyên tắc sinh lời
Nguyên tắc quan trọng đối với nhà quản lý tài chính không chỉ là đánh giácác dòng tiền mà dự án đem lại mà còn là tạo ra các dòng tiền, tức là tìm kiếmcác dự án sinh lời trong thị trường cạnh tranh, nhà đầu tư khó có thể kiếm đượcnhiều lợi nhuận trong một thời gian dài Muốn vậy, còn phải biết các dự án sinhlời tồn tại như thế nào và ở đâu trong môi trường cạnh tranh Tiếp đến, khi đầu
tư nhà đầu tư phải biết làm giảm tính cạnh tranh của thị trường thông qua việctạo ra những sản phẩm khác biệt với sản phẩm cạnh tranh và bằng cách đảm bảomức chi phí thấp hơn mức chi phí cạnh tranh
Nguyên tắc tác động của thuế
Trước khi đưa ra bất kỳ một quyết định tài chính nào, nhà quản lý tài chínhluôn tính tới tác động của thuế, đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiêp Khi xemxét một quyết định đầu tư, doanh nghiệp phải tính tới lợi ích thu được trên cơ sởdòng tiền sau thuế do dự án tạo ra Hơn nữa, tác động của thuế cần được phântích kỹ lưỡng khi thiết lập cơ cấu vốn của doanh nghiệp Bởi vì khoản nợ có mộtlợi thế nhất định về chi phí so với vốn chủ sở hữu đối với doanh nghiệp, chi phí
Trang 11trả lãi là chi phí giảm thuế Vì thuế là một công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nướcnên thông qua thuế Nhà nước có thể khuyến khích hoặc hạn chế tiêu dùng và đầutư.
Nguyên tắc an toàn và hiệu quả.
Trong quá trình quản lý tài chính, nhà quản lý thường xuyên phải đưa ranhiều phương án lựa chọn, mỗi một phương án đem lại hiệu quả khác nhau vớimức rủi ro khác nhau Chính vì vậy, để đưa ra một quyết định tài chính có hiệuquả, nhà quản lý phải phân tích, nghiên cứu kỹ lưỡng có thể chấp nhận mộtphương án đầu tư đem lại mức lợi nhuận vừa phải nhưng an toàn còn hơn là mộtphương án có lợi nhuận rất cao nhưng đầy phiêu lưu và mạo hiểm Để đảm bảo
an toàn doanh nghiệp có thể thiết lập các quỹ dự phòng, mua bảo hiểm, hoặcphát triển cổ phiếu…cũng là những biện pháp hữu hiệu để san sẻ rủi ro
1.4 Nội dung của quản lý tài chính
1.4.1 Hoạch định tài chính
1.4.1.1 Vai trò của hoạch định tài chính.
Hoạch định tài chính là quá trình phát triển các kế hoạch tài chính ngắnhạn cũng như dài hạn nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp các kếhoạch tài chính có đặc trưng cơ bản là được trình bày bằng đơn vị đo lườngchung là tiền tệ Vì vậy, hệ thống kế hoạch tài chính đóng vai trò quan trọng,then chốt trong việc lập kế hoạch và kiểm soát của các doanh nghiệp Các kếhoạch của doanh nghiệp xác định mục tiêu và những hoạt động cần thực hiện đểđạt được mục tiêu Hoạch định tài chính thông qua hệ thống các ngân sách vớikhả năng sử dụng đơn vị chúng sẽ dễ dàng lượng hóa các mục tiêu và tổng hợpviệc sử dụng các nguồn lực
1.4.1.2 Mục tiêu của hoạch định tài chính
- Thúc đẩy các nhà quản trị lập kế hoạch
- Cung cấp nguồn thông tin để cải thiện việc ra quyết định
- Giúp ích cho việc sử dụng các nguồn lực và quản lý nhân sự thông quaviệc thiết lập tiêu chuẩn đánh giá hiệu suất
Trang 12- Cải thiện vấn đề truyền thông và hợp tác hoạch định thúc đẩy các nhàquản trị lập kế hoạch cho tương lai – phát triển định hướng chung cho toàn
bộ tổ chức
Việc hoạch định lập ra các tiêu chuẩn mà nhờ đó có thể kiểm soát việc sửdụng các nguồn lực của công ty cũng như kiểm soát, thúc đẩy nhân viên, nóđảm bảo các hoạt động được thực hiện để đạt mục tiêu mà tổ chức đã vạch ratrong kế hoạch tổng quát Đồng thời cũng phục vụ cho việc truyền thông các
kế hoạch của tổ chức đến từng nhân viên và kết hợp các nỗ lực của họ lại vớinhau
1.4.1.3 Phương pháp lập kế hoạch tài chính
Căn cứ lập kế hoạch tài chính: Kế hoạch tài chính của công ty phải được
xây dựng dựa trên các yếu tố sau:
- Kế hoạch mục tiêu trong năm của Công ty, nhằm bảo đảm cho việc lập dựtoán xác định được mục đích và nhiệm vụ cần động viên khai thác nguồnthu
- Các thông tin dự đoán từ bộ phận Marketing và mua sắm…
- Hệ thống các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức thu – chi nhằm xácđịnh khả năng, mức độ, lĩnh vực cần phải khai thác, động viên nguồn thu
và xác định nhu cầu, lĩnh vực cần phải phân phối và đầu tư
Phương pháp lập kế hoạch tài chính
Phương pháp quy nạp: Giả thiết cho rằng kế hoạch tài chính là sự tổng hợp
tất cả các chương trình hoạt động của từng bộ phận, từng cấp bậc của Công ty,việc lập kế hoạch tài chính sẽ tiến hành từ dưới lên trên cơ sở hệ thống các ngânsách bộ phận
Phương pháp diễn giải: Phương pháp này cho rằng kế hoạch tài chính la sự
chuẩn bị những điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu Vì vậy, việc lập kế hoạchtài chính xuất phát từ những mục tiêu tổng quát, ở cấp cao hay từ yêu cầu củacác cổ đông, sau đó cụ thể hóa thành những ngân sách ở các bộ phận nhằm thựchiện mục tiêu
Trang 131.4.2 Kiểm tra tài chính
Kiểm tra tài chính là một khâu rất quan trọng trong khoa học quản lý, nó biểuhiện quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong các hoạt động sản xuất kinh doanh.Kiểm tra tài chính là một hệ thống quá trình hoạt động, bao gồm:
- Xác lập tiêu chuẩn kiểm tra tài chính, bao gồm tiêu chuẩn chiếm dụngvốn, tiêu chuẩn chi phí và tiêu chuẩn giá thành
- Quá trình thực hiện của kế hoạch giám sát tài chính, phát hiện những khácbiệt xa rời tiêu chuẩn và kế hoạch
- Phân tích nguyên nhân, thiết lập và sửa chữa những sai lệch
1.4.2.1 Đặc điểm của kiểm tra tài chính
Kiểm tra tài chính là kiểm tra bằng đồng tiền thông qua các chỉ tiêu tàichính (chỉ tiêu giá trị)
Phạm vi của kiểm tra tài chính có thể bao trùm lên những mặt khác nhaucủa hoạt động kinh tế, tài chính, của lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực phi sản xuất
1.4.2.2 Nguyên tắc kiểm tra tài chính.
- Nguyên tắc tuân thủ theo pháp luật
- Nguyên tắc chính xác, khách quan, công khai, thường xuyên và phổ cập
- Nguyên tắc hiệu lực và hiệu quả trong tổ chức kiểm tra tài chính
1.4.2.3 Nội dung và phương pháp kiểm tra tài chính.
Nội dung của kiểm tra tài chính:
- Kiểm tra trước khi thực hiện kế hoạch tài chính
- Kiểm tra thường xuyên quá trình thực hiện kế hoạch
- Kiểm tra sau khi thực hiện kế hoạch tài chính
- Kiểm tra toàn diện: là cách kiểm tra nhằm vào toàn bộ tổ chức và toàn bộcác nghiệp vụ tài chính trong việc thực hiện nghiệp vụ kế hoạch tài chínhvới mục đích xem xét đầy đủ tình hình tài chính có phản ánh trung thựctình hình hoạt động của doanh nghiệp hay không
- Kiểm tra trọng điểm: là cách kiểm tra chỉ tập trung vào một hoặc một vàinghiệp vụ tài chính nhất định, hoặc kiểm tra những vấn đề nổi cộm nhất
Trang 14- Kiểm tra tổng hợp: là quá trình tiến hành kiểm tra toàn bộ công tác củakhách thể một cách có hệ thống từ trên xuống dưới
- Kiểm tra qua chứng từ: là phương pháp kiểm tra bằng cách dựa vào cácbảng biểu, báo cáo, sổ sách, số liệu hạch toán thống kê – kế toán
1.4.3.1 Quản lý vốn lưu động.
Vốn lưu động theo nghĩa rộng là giá trị của toàn bộ tài sản lưu động, lànhững tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của Công ty Vốn lưu động baogồm bốn thành phần chính là : Vốn tiền mặt, chứng khoán, các khoản phải thu,hàng tồn kho
tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và các khoản tương đương tiền Mục tiêu củaquản lý vốn tiền mặt là khống chế lượng vốn tiền mặt ở mức độ thấp nhất
có thể, đồng thời có được thu nhập lãi suất cao nhất có được từ phần vốntiền mặt này
khác không sinh lời thì chứng khoán khả nhượng vẫn có khả năng đem lạimột mức lợi nhuận nhất định mặc dù không cao lắm
khoản thu khác, các khoản tiền hàng thanh toán trước, chi phí chờ phân
bổ
trong quá trình sản xuất kinh doanh Bao gồm thành phẩm, nguyên vậtliệu, nhiên liệu và đồ đóng gói…
1.4.3.2 Quản lý vốn cố định
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định Tài sẩn cốđịnh là tài sản có niêm hạn sử dụng một năm trở lên đồng thời có hình tháikhông thay đổi trong quá trình sử dụng
Quản lý vốn cố định bao gồm: Quản lý quyết sách đầu tư tài sản cố định,quản lý hàng ngày đối với tài sản cố định và quản lý khấu hao tài sản cố định
Trang 151.4.4 Phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là việc sử dụng các khái niệm, phương pháp,công cụ để thu thập và xử lý thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản
lý doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực củadoanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính,quyết định quản lý phù hợp
Nói cách khác phân tích tài chính doanh nghiệp là làm sao cho các con số trênbáo cáo tài chính “biết nói” để người sử dụng chúng có thể hiểu rõ tình hình tàichính của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các mục tiêu, phương pháp hành động chodoanh nghiệp mình
1.4.4.1 Nội dung phân tích tài chính
- Phân tích khái quát về:
vốn
- Phân tích các thông số tài chính:
Để quá trình phân tích tài chính đạt hiệu quả thì cần phải sử dụng các tài liệu:
1.4.4.2 Phân tích các nhóm chỉ tiêu tài chính đặc trưng
1.4.4.2.1 Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chínhgiữa các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanh toántrong kỳ Nhóm chỉ tiêu này bao gồm các thông số như sau:
Trang 16Thông số này cho biết khả năng của Công ty trong việc đáp ứng các nghĩa vụtrả nợ ngắn hạn thông số này nhấn mạnh đến khả năng chuyển hóa thành tiềnmặt của các tài sản ngắn hạn trong tương quan với các khoản nợ ngắn hạn.
Thông số này là một công cụ hỗ trợ bổ sung cho thông số trên khi đánh giá vềkhả năng thanh toán Thông số này tập trung chủ yếu vào các tài sản có tínhchuyên môn hóa thành tiền cao hơn như tiền mặt, chứng khoán có thể chuyểnnhượng và phải thu khách hàng
1.4.4.2.2 Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính
Hệ số này phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bằng các khoản nợ
Hệ số này càng cao càng chứng tỏ mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào chủ
nợ càng lớn, mức độ độc lập về mặt tài chính càng thấp
Hệ số này cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi như thế nào Khảnăng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp càng cao thì khả năng thanh toán lãivay của doanh nghiệp cho các chủ nợ của mình càng lớn và ngược lại
Hệ số này cho biết tỷ trọng đầu tư vào các tài sản của doanh nghiệp, xu hướngbiến động của tài sản qua các kỳ báo cáo, tính hợp lý trong việc bố trí về cơ cấu
Hệ số thanh toán hiện
Hệ số khả năng thanh
Lợi nhuận trước thuế + lãi vayLãi vay
Tổng tài sản
Trang 17tài sản của doanh nghiệp tùy theo đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp.
Chỉ tiêu này càng cao giúp doanh nghiệp an toàn về tài chính và chứng tỏkhả năng độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng lớn tỷ số này có thể thayđổi tùy theo chính sách tài chính của doanh nghiệp
1.4.4.2.3 Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động
Tỷ số này nói lên một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanhthu, Từ đó có thể đánh giá được hiệu quả sử dụng tài sản cố định ở doanh
Hệ số cơ cấu nguồn
Tổng vốn chủ sở hữuTổng nguồn vốn
Vòng quay hàng tồn
Giá vốn hàng bánHàng tồn kho
Trang 18 Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản đo lường một đồng tài sản tham gia vào quá trìnhsản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
1.4.4.2.4 Nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận
được bao nhiêu lợi nhuận
Tỷ suất này cao hơn kỳ trước là dấu hiệu tốt tỷ số này nhỏ hơn 1 và càng lớncàng tốt
Chỉ số này đo lường khả năng sinh lợi trên một đồng vốn đầu tư vào Công ty
Chỉ số này cho thấy khả năng tạo lãi của một đồng vốn mà nhà đầu tư bỏ ra đểđầu tư vào Công ty
1.4.5 Các quyết định đầu tư tài chính.
Đầu tư là hoạt động quan trọng nhất trong việc xử lý tài chính doanhnghiệp Nó không những có ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp, mà nó còn có vai trò quan trọng tới sự phát triển kinh tế xã hội của đấtnước
Hiệu suất sử dụng tài sản cố
Doanh thu thuầnTổng TSLĐ
Doanh thu thuần
Trang 19Quyết định đầu tư tài chính là một trong những quyết định quan trọng có tácđộng tới sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp Một quyết định đầu tưđược cho là đúng đắn phải dựa trên quyết định đầu tư tài chính phù hợp Tuynhiên, trước sự biến động của môi trường thì rủi ro là điều không thể tránh khỏi,
vì thế các nhà quản lý tài chính phải đưa ra các quyết định đầu tư tài chính hợp
lý nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tài chính của doanh nghiệp Các căn cứ đểđưa ra quyết định đầu tư tài chính đúng đắn nhất:
Thị trường và các đối thủ cạnh tranh
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 6.
Trang 202.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty xây dựng và phát triển nông thôn 6 (tiền thân là sự sát nhập của 2
xí nghiệp; Xí nghiệp xây lắp số 11 và xí nghiệp dịch vụ sản xuất và đời sống)được thành lập theo quyết định số 173/QD – NN – TCB ngày 04/03/1993 của Bộtrưởng bộ Nông nghiệp (nay là Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) Theoquyết định số 507/QD – BNN – TCCB ngày 09/03/2005 của Bộ trưởng bộ NN $PTNT về việc chuyển đổi Công ty xây dựng và phát triển nông thôn 6 thànhCTCP xây dựng và phát triển nông thôn 6
Trụ sở chính của Công ty đặt tại; Số 36, ngõ 120, đường Trường Chinh,Đống Đa , Hà NỘi
Số điện thoại liên hệ: 04.5 762 818 – 04.5.636.948 – 04.5 672 100
Giám đốc công ty: Nguyễn Thế Hà
Kế toán trưởng: Vũ Thị Tài
Hình thức sở hữu vốn: Nhà nước 46%, cổ đông 54%
Lĩnh vực hoạt động: Xây dựng dân dụng và công nghiệp + KD vật tư, bất độngsản
Hình thức hoạt động: Khoán định mức chi phí
Tổng số công nhân viên: 128 người (trong đó nhân viên quản lý 75 người)
- Kỳ kế toán năm: Bắt đầu từ 01/01 kết thúc 31/12
- Đơn vị tiền tệ sử dụng; VNĐ, tiền tệ khác được quy đổi theo Việt Namđồng
- Chế độ kế toán áp dụng:Quyết định số 15/2006/QĐ – BTC ngày20/03/2006 của Bộ Tài Chính
- Hình thức kế toán áp dụng: chứng từ ghi sổ, kế toán máy
Công ty có các chi nhánh tại: TP Hồ Chí Minh, Hải Dương, Hưng Yên,Nghệ An, Hà Tĩnh
Công ty cổ phần XD và PT nông thôn 6 thuộc ngành xây dựng cơ bản nênđiều kiện tổ chức sản xuất kinh doanh cũng như các sản phẩm của Công ty có
Trang 21những điều kiện khác biệt so với một số doanh nghiệp khác Sản phẩm của Công
ty là những công trình giao thông, cầu cống…mang tính chất đơn chiếc nhưgngiá trị của từng công trình lại lớn, thời gian hoàn thành lâu dài Công ty mở tàikhoản tại ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Nội
2.1.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Đại hội đồng cổ đông
Phó tổng giám đốc Tổng giám đốc Ban điều hành
Ban kiểm soát Hội đồng quản trị
P Tài chính kế
toán
P Kinh tế - kế hoạch – thi công
P tổ chức hành chính
TP Hồ Chí Minh
Chi nhánh
Hà Tĩnh
Chi nhánh Lạng Sơn
Chi nhánh Bắc Cạn
Chi nhánh Nghệ An
Các ban đội xây dựng – giao thông – thủy lợi – điện nước…
Trang 22Phòng kế toán bao gồm 5 người: trong đó bao gồm kế toán trưởng và 4 kế toánviên: Kế toán tiền lương, BHXH, kế toán công nợ, kế toán thuế và thủ quỹ
Chức năng, nhiệm vụ.
Kế toán trưởng: phụ trách chung, tham mưu cho Giám đốc giám sát tình hình
tài chính Công ty, chịu trách nhiệm trước Giám đốc và cấp trên về mọi mặt kinh
tế của Công ty
Kế toán tiền lương, BHXH; Chịu trách nhiệm tính và thanh toán tiền lương.
BHXH, BHYT, KPCĐ trong Công ty, có trách nhiệm lập bảng tổng hợp tiềnlương
Kế toán công nợ: Có nhiệm vụ theo dõi, ghi chép chi tiết tình hình nợ của Công
ty
Kế toán thuế: Có nhiệm vụ hạch toán, phân tách các loại thuế và thực hiện
nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước
Thủ quỹ: theo dõi tình hình thu chi tiền mặt tại quỹ của Công ty
Bộ máy kế toán có nhiệm vụ tổ chức và thực hiện toàn bộ công tác kế toántrong Công ty giúp Giám đốc có đủ căn cứ để phân tích, đánh giá tình hình hoạtđộng của Công ty, từ đó đưa ra quyết định đúng và phương án phù hợp cho hoạtđộng của Công ty
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY.
Phân tích tình hình tài chính của Công ty.
KẾ TOÁN TRƯỞNG
KẾ TOÁN
THUẾ
KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG, BHXH
KẾ TOÁN
Trang 23Để phân tích tình hình tài chính em sử dụng báo cáo tài chính của Công tytrong 2 năm 2009 và 2010 Trong đó, chú trọng 3 bảng báo cáo tài chính sau:
- Bảng cân đối kế toán
- Bảng báo cáo hoạt động kinh doanh
- Một số chỉ tiêu tài chính
Bảng 1: Bảng cân đối kế toán.
Đơn vị: Đồng.
Tuyệt đối Tương đối TÀI SẢN