Cơ chế thị trường đòi hỏi mỗi công ty phải tạo ra được lợi thế cạnh tranh. Hoạt động lập kế hoạch trong doanh nghiệp tuy chỉ là một mắt xích trong hệ thống kế hoạch hoá doanh nghiệp, nhưng hoạt động này chi phối những hoạt động khác, quyết định đến chất lượng của hoạt động sản xuất. Hiện nay có quá nhiều doanh nghiệp kinh doanh nên cung vượt quá cầu, để đảm bảo kinh doanh tốt phải chú ý đến hoạt động sản xuất và tiêu thụ. Sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, giá cả phù hợp sẽ là sản phẩm được thị trường chấp nhận; trong khi hoạt động sản xuất là hoạt động duy nhất tạo ra sản phẩm, có sản xuất thì mới có sản phẩm, hoạt động sản xuất có tốt thì mới kích thích được tiêu thụ; tiêu thụ tạo ra doanh thu cho công ty, nhưng sản xuất lại tiêu tốn nguồn lực của công ty, lợi nhuận thu được càng cao khi sản phẩm tiêu thụ càng nhiều, chi phí sản xuất càng thấp. Như vậy họat động sản xuất là một trong những nhân tố quan trọng, vừa quyết định chi phí, vừa quyết đinh doanh thu, thị phần của doanh nghiệp, tức là quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Do vậy em chọn đề tài nghiên cứu: “Hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất tại công ty mẹ - Tổng công ty Giấy Việt Nam” cho chuyên đề tốt nghiệp. Nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa hết sức quan trọng. Thứ nhất, qua nghiên cứu thực trạng lập kế hoạch của công ty giúp em hiểu biết thêm thực tế, để có thể phần nào ứng dụng chuyên ngành mình học vào thực tế. Thứ hai, tìm hiểu thực tế công tác lập kế hoạch tại công ty mẹ- Tổng công ty Giấy Việt Nam để thấy được những điểm mạnh, điểm yếu, những sai sót của công ty mẹ, làm bài học kinh nghiệm cho bản thân và mạnh dạn đưa ra một số giải pháp khắc phục.
Trang 1MỤC LỤC
NÓI ĐẦU 1
Chương 1: Sự cần thiết của hoàn thiện KHSX 2
1.1 KHSX trong doanh nghiệp 2
1.1.1 Kế hoạch sản xuất- một bộ phận cấu thành hệ thống KHDN 2
1.1.1.1 Hệ thống kế hoạch doanh nghiệp: 2
1.1.1.2 Kế hoạch sản xuất doanh nghiệp: 2
1.1.2 Vai trò của KHSX trong DN: 3
1.2 Lập KHSX trong doanh nghiệp 4
1.2.1 Quy trình lập KHSX: 4
1.2.2 Nội dung và phương pháp xây dựng kế hoạch sản xuất: 6
1.2.3 Căn cứ lập kế hoạch sản xuất 11
1.3 Sự cần thiết phải đổi mới công tác lập KHSX trong DN 13
1.3.1 Giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh 13
1.3.2 Giúp doanh nghiệp chủ động khi có biến cố phát sinh 13
1.3.3 Do bản thân công tác lập kế hoạch sản xuất trên thực tế còn nhiều điểm bất cập 14
Chương 2: Thực trạng công tác lập kế hoạch sản xuất của công ty mẹ 15
Tổng công ty giấy Việt Nam 15
2.1 Giới thiệu công ty mẹ - Tổng công ty giấy Việt Nam 15
2.1.1 Giới thiệu chung về công ty mẹ - Tổng công ty giấy Việt Nam 15
2.1.1.1 Tóm tắt lịch sử hình thành và phát triển 15
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức 16
2.1.2 Đánh giá khái quát hoạt động kinh doanh những năm gần đây: 18
2.1.2.1 Đặc điểm về sản phẩm 18
2.1.2.2 Đặc điểm về thị trường 19
2.1.2.3 Đặc điểm nguồn nguyên vật liệu 21
2.1.2.4 Đặc điểm nguồn nhân lực 22
2.1.2.5 Đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh từ năm 2008 tới năm 2010……… 23
2.2 Thực trạng công tác lập KHSX tại công ty mẹ - Tổng công ty Giấy Việt Nam 27 2.2.1 Các bộ phận cấu thành KHSX tại công ty mẹ 27
Trang 22.2.3 Quy trình lập KHSX: 29
2.2.3.1 Quy trình lập kế hoạch sản xuất tổng thể (hay chính là kế hoạch sản xuất năm)………29
2.2.3.2 Quy trình lập kế hoạch chỉ đạo sản xuất (kế hoạch tháng, quý) 30
2.2.4 Nội dung: 31
2.2.4.1 Kế hoạch sản xuất tổng thể (kế hoạch sản xuất năm) 31
2.2.4.2 Kế hoạch chỉ đạo sản xuất (hệ thống kế hoạch hàng tháng, quý) 32
2.2.5 Phương pháp: 35
2.3 Đánh giá công tác lập kế hoạch: 38
2.3.1 Ưu điểm: 38
2.3.2 Nhược điểm: 38
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 40
Chương 3: Hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất của công ty mẹ 42
Tổng công ty Giấy Việt Nam 42
3.1 Định hướng hoàn thiện công tác lập kế hoạch 42
3.2 Kiến nghị giải pháp cụ thể để hoàn thiện công tác lập kế hoạch tại Công ty mẹ- Tổng công ty Giấy Việt Nam 43
3.2.1 Giải pháp xây dựng hệ thống thông tin hiệu quả 43
3.2.2 Giải pháp đổi mới tác phong làm việc trì trệ, ngại thay đổi của con người lập kế hoạch- xây dựng tác phong con người lập kế hoạch mới 45
3.2.3 Giải pháp nâng cao năng lực của các cán bộ kế hoạch 47
KẾT LUẬN 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 3
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu tiêu thụ các sản phẩm giấy của Công ty mẹ- Tổng công ty Giấy
Việt Nam giai đoạn 2007-2009 19
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu nhu cầu tiêu dùng giấy năm 2008-2010 21
Biểu đồ 2.3 25
Doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách của Công ty mẹ- Tổng công ty Giấy Việt Nam.25 Biểu đồ 2.4 Biểu đồ thể hiện giá trị SXCN của Công ty mẹ - Tổng công ty Giấy Việt Nam từ năm 2008-2010 và kế hoạch 2011 26
Bảng2.1 Mức tiêu thụ các loại giấy tại Công ty mẹ 18
Bảng2.2: Nhu cầu tiêu dùng giấy giai đoạn 2008- 2010 20
Bảng2.3 Danh mục dự án đầu tư phát triển vùng nguyên liệu năm 2015 22
Bảng 2.4 : Tình hình sản xuất kinh doanh của Tổng công ty giấy Việt Nam trong giai đoạn 2008-2010 23
Bảng mẫu 2.5 Kế hoạch sản xuất tổng thể năm 2010 của Công ty mẹ 32
Bảng mẫu 2.6.Bản kế hoạch chỉ đạo sản xuất tại công ty mẹ- Tổng công ty Giấy Việt Nam 33
Bảng2.7 : Sản lượng giấy thực hiện và kế hoạch của công ty mẹ- Tổng công ty Giấy Việt Nam 35
Sơ đồ 1.2: Quy trình lập kế hoạch sản xuất 6
Sơ đồ 1.3: Xác định định mức sản xuất bằng phương pháp đồ thị 7
Sơ đồ 1.4: Sơ đồ trình tự lắp ráp sản phẩm 10
Sơ đồ 1.5: Sơ đồ nhu cầu sản xuất 10
Sơ đồ 2.1: Mô hình cơ cấu tổ chức của công ty mẹ - Tổng công ty giấy Việt Nam 17
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi : Ban Chủ nhiệm khoa Kế hoạch & Phát triển
Tên tôi là: Đặng Kiều Hoa
Lớp : Kế hoạch 49B
Sau một thời gian thực tập tại: phòng kế hoạch - Tổng công ty Giấy Việt Nam,
và có về thực tế tại công ty mẹ - Tổng công ty Giấy Việt Nam trong một tuần dưới sựhướng dẫn của thầy PGS-TS Ngô Thắng Lợi và anh Huỳnh Đức Dũng nhân viênphòng kế hoạch của Tổng công ty Em đã hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp
với đề tài “Hoàn thiện công tác lập kế hoạch tại công ty mẹ- Tổng công ty Giấy Việt Nam”
Nay em viết đơn này với nội dung sau:
Đây là đề tài em chọn sau một thời gian nghiên cứu tại đơn vị thực tập và quá trình thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn và cán bộ tại
LỜI CẢM ƠN
Trang 5Trong thời gian thực tập và thực hiện chuyên đề thực tập tốt nghiệp, ngoài sự nỗlực của bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm, hướng dẫn tận tình của thầy hướngdẫn, tập thể cán bộ phòng kế hoạch – Tổng công ty Giấy Việt Nam.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Ngô Thắng đã tận tình hướng dẫn,giúp đỡ tôi rất nhiều để thực hiện đề tài này Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơnanh Huỳnh Đức Dũng và tập thể các cán bộ phòng kế hoạch đã giúp đỡ tôi trong suốtthời gian thực tập vừa qua
Mặc dù đã rất lỗ lực cố gắng song kinh nghiệm bản thân có hạn, thời gian khôngcho phép và cũng bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên đề tàikhông tránh khỏi những thiếu sót
Tôi rất mong nhận đựơc sự đóng góp, hướng dẫn của thầy cô giáo để đề tài hoànthiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
Cơ chế thị trường đòi hỏi mỗi công ty phải tạo ra được lợi thế cạnh tranh Hoạtđộng lập kế hoạch trong doanh nghiệp tuy chỉ là một mắt xích trong hệ thống kế hoạchhoá doanh nghiệp, nhưng hoạt động này chi phối những hoạt động khác, quyết định đếnchất lượng của hoạt động sản xuất Hiện nay có quá nhiều doanh nghiệp kinh doanh nêncung vượt quá cầu, để đảm bảo kinh doanh tốt phải chú ý đến hoạt động sản xuất và tiêuthụ Sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, giá cả phù hợp sẽ là sản phẩm được thịtrường chấp nhận; trong khi hoạt động sản xuất là hoạt động duy nhất tạo ra sản phẩm,
có sản xuất thì mới có sản phẩm, hoạt động sản xuất có tốt thì mới kích thích được tiêuthụ; tiêu thụ tạo ra doanh thu cho công ty, nhưng sản xuất lại tiêu tốn nguồn lực củacông ty, lợi nhuận thu được càng cao khi sản phẩm tiêu thụ càng nhiều, chi phí sản xuấtcàng thấp Như vậy họat động sản xuất là một trong những nhân tố quan trọng, vừaquyết định chi phí, vừa quyết đinh doanh thu, thị phần của doanh nghiệp, tức là quyếtđịnh đến sự thành bại của doanh nghiệp
Do vậy em chọn đề tài nghiên cứu: “Hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất tại công ty mẹ - Tổng công ty Giấy Việt Nam” cho chuyên đề tốt nghiệp Nghiên
cứu vấn đề này có ý nghĩa hết sức quan trọng Thứ nhất, qua nghiên cứu thực trạng lập
kế hoạch của công ty giúp em hiểu biết thêm thực tế, để có thể phần nào ứng dụngchuyên ngành mình học vào thực tế Thứ hai, tìm hiểu thực tế công tác lập kế hoạch tạicông ty mẹ- Tổng công ty Giấy Việt Nam để thấy được những điểm mạnh, điểm yếu,những sai sót của công ty mẹ, làm bài học kinh nghiệm cho bản thân và mạnh dạn đưa
ra một số giải pháp khắc phục
Chuyên đề tốt nghiệp gồm 3 chương:
Chương 1: Sự cần thiết hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất của DN Chương 2: Thực trạng công tác lập kế hoạch sản xuất tại công ty mẹ- Tổng
công ty Giấy Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất tại công ty mẹ- Tổng
công ty Giấy Việt Nam
Trang 8Chương 1: Sự cần thiết của hoàn thiện KHSX 1.1 KHSX trong doanh nghiệp
1.1.1 Kế hoạch sản xuất- một bộ phận cấu thành hệ thống KHDN.
1.1.1.1 Hệ thống kế hoạch doanh nghiệp:
Hệ thống kế hoạch doanh nghiệp bao gồm các kế hoạch chức năng: kế hoạch Marketing, kế hoạch R&D, kế hoạch sản xuất và dự trữ, kế hoạch tài chính, kế hoạch nhân sự Các kế hoạch này có mối quan hệ qua lại, tác động phụ thuộc lẫn nhau, khi lập kế hoạch cần dựa và căn cứ vào kế hoạch khác
1.1.1.2 Kế hoạch sản xuất doanh nghiệp:
Kế hoạch sản xuất giúp DN trả lời câu hỏi: “sản xuất cái gì”, “sản xuất bao nhiêu”, “sản xuất ở đâu”, “sản xuất như thế nào” và nó được định nghĩa: “kế hoạch sảnxuất (còn gọi là kế hoạch cung ứng đối với DN cung cấp dịch vụ) cho biết DN sẽ đáp ứng yêu cầu về sản phẩm của bộ phận Marketing như thế nào”
Theo định nghĩa trên thì mục tiêu chính của kế hoạch sản xuất (KHSX) là đưa
ra những phương án sản xuất phù hợp nhất cho DN để sản xuất sản phẩm vừa đáp ứngnhu cầu khắt khe của thị trường vừa tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực sản xuất,đảm bảo đem lại lợi nhuận cho DN thông qua việc giảm thiểu chi phí đến mức thấp nhất
có thể được Do đó, KHSX phải được xây dựng dựa trên các phân tích, đánh giá dự báonhu cầu về sản phẩm trên thị trường để chắc chắn rằng sản phẩm của DN được thịtrường chấp nhận; KHSX phải dựa trên năng lực sản xuất, tối ưu hóa việc sử dụng cácyếu tố nguồn lực sản xuất
Thường KHSX sẽ phải xác định được các nội dung chính sau
Khối lượng sản xuất cho mỗi sản phẩm Thông qua việc mô tả sản phẩm
từ góc độ sản xuất ta có thể biết được sản phẩm cần những chi tiết hợp thành như thếnào, với số lượng bao nhiêu để đáp ứng kế hoạch bán hàng và chính sách dự trữ củacông ty
Các sản phẩm khác nhau được sản xuất tại mỗi đơn vị sản xuất Mỗi sảnphẩm sẽ được quyết định xem sản xuất ở phân xưởng (hay xí nghiệp), sử dụng quytrình công nghệ nào, chi tiết hoặc công đoạn nào tự sản xuất hoặc gia công bên ngoài
Sử dụng các yếu tố sản xuất: máy móc, nhà xưởng Cần dùng những loạiloại máy móc, thiết bị nào, công suất bao nhiêu, lấy thiết bị từ nguồn nào, cần nhàxưởng rộng bao nhiêu, bố trí như thế nào, kế hoạch khấu hao nhà xưởng thiết bị…
Trang 9Thường thì việc xác định các yếu tố này được lập cho kế hoạch sản xuất dài hạn Kếhoạch sản xuất hàng năm xác định công suất của hệ thống máy móc, thiết bị
Cung ứng nguyên vật liệu và bán thành phẩm Nhu cầu sử dụng và tồnkho nguyên vật liệu, chất lượng và số lượng nguyên vật liệu, nguyên vật liệu thay thế
là gì, phương thức cung cấp… Các yêu cầu đối với nguồn nhân lực: số lượng lao động,trình độ tay nghề, giới tính, tuổi tác…
Các kế hoạch thuê ngoài nếu cần thiết
Và những mục tiêu này được xác định trên cơ sở thỏa mãn các ràng buộc vềmặt kỹ thuật, các mục tiêu của DN, các nguồn lực của các bộ phận khác
1.1.2 Vai trò của KHSX trong DN:
a) KHSX nhằm tối ưu hóa việc sử dụng các yếu tố sản xuất
DN có thể sản xuất nhiều loại sản phẩm cũng có thể chỉ sản xuất một loại sảnphẩm nhưng để hoàn thiện sản phẩm đó có thể còn phải trải qua nhiều công đoạn Ví dụ,
để sản xuất một chiếc máy tính DN cần phải sản xuất hoặc thuê gia công bên ngoài sảnxuất các bộ phận: màn hình, cây, ổ đĩa, bàn phím, con chuột, và một số bộ phận khác,trong mỗi bộ phận đó lại được cấu tạo bởi các linh kiện nhỏ hơn Khi có đủ các bộ phận,
để được một chiếc máy hoàn chỉnh phải tiến hành công đoạn lắp ráp, công đoạn này lạibao gồm nhiều công đoạn nhỏ hơn, mỗi công đoạn lại yêu cầu trình độ tay nghề kỹ thuậtnhất định Do đó, một phân xưởng hay một nhóm thợ không thể đảm nhiệm tất cả cáccông việc, các dây chuyền sản xuất cũng chỉ sử dụng được với một số công đoạn sảnxuất hay với từng loại sản phẩm nhất định Kế hoạch sản xuất sẽ xác định rõ từng loạimặt hàng, khối lượng của từng loại sản phẩm được sản xuất ở đâu (phân xưởng nào đảmnhận hay thuê gia công chế biến ở đâu, thuê ai?) sao cho thích hợp với khả năng sảnxuất của từng đơn vị, đồng thời đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các đơn vị sảnxuất đảm bảo hoạt động sản xuất hoạt động trơn chu kịp tiến độ đưa ra
b) Kế hoạch sản xuất tác động đến việc xây dựng các kế hoạch khác
Hệ thống kế hoạch hóa của doanh nghiệp bao gồm nhiều kế hoạch chức năng:
kế hoạch sản xuất và dự trữ, kế hoạch nhân sự, kế hoạch tài chính, kế hoạch nghiên cứu
và phát triển sản phẩm Các kế hoạch chức năng này có mối quan hệ qua lại với nhau,chúng tác động phụ thuộc lẫn nhau, khi lập kế hoạch này cần dựa vào những kế hoạchchức năng khác Ví dụ, kế hoạch nhân sự sẽ dựa vào yêu cầu sử dụng lao động trong kếhoạch sản xuất để dự báo nhu cầu về nhân sự trong năm kế hoạch, kế hoạch sản xuất
Trang 10c) Kế hoạch sản xuất là công cụ để kiểm soát tiến độ thực hiện
Ngoài những nội dung cơ bản nêu trên của một bản kế hoạch sản xuất (khốilượng sản xuất cho mỗi sản phẩm, cung ứng nguyên vật liệu và bán thành phẩm, sửdụng các yếu tố sản xuất, phân công sản xuất, các kế hoạch thuê ngoài nếu có), bản kếhoạch sản xuất cũng chỉ rõ những nội dung: số lượng mỗi sản phẩm hay bộ phận củasản phẩm; khi nào thì bắt đầu sản xuất và khi nào thì phải hoàn thành… Nhìn vào bản
kế hoạch, doanh nghiệp có thể biết mình đang ở giai đoạn nào, đã thực hiện kế hoạchđược đến đâu từ đó có thể dự tính được thời gian hoàn thành kế hoạch, có biện phápthực hiện cần thiết để đảm bảo tiến độ đề ra
Như vậy sự có mặt của kế hoạch sản xuất giúp doanh nghiệp sử dụng các yếu
tố nguồn lực một cách tối ưu nhất khiến cho hoạt động sản xuất trở thành nhân tố quantrọng đảm bảo sự thành công của DN, với các yêu cầu của quản lý sản xuất: tạo ranhững sản phẩm có chất lượng tốt, đảm bảo hệ thống sản xuất hoạt động trơn chu vàquản lý tốt các nguồn lực
1.2 Lập KHSX trong doanh nghiệp
1.2.1 Quy trình lập KHSX:
Kế hoạch sản xuất giúp doanh nghiệp trả lời các câu hỏi: “sản xuất bao nhiêu”,
“sản xuất cái gì”, “sản xuất ở đâu”, “khi nào thì sản xuất” dựa trên các ràng buộc vềnhân sự, về cung ứng, về nhu cầu, về khả năng lưu kho ta sẽ có quy trình lập kế hoạchsản xuất được xây dựng như sau:
Bước 1: Giai đoạn chuẩn bị.
Phòng kế hoạch tập hợp báo cáo gửi lên từ các phòng ban khác liên quan như:Phòng kỹ thuật, phòng nguyên vật liệu, phòng marketing, phòng nhận sự, phòng tàichính… Nội dung của báo cáo bao gồm tổng kết kết quả của kỳ trước và đưa ra các dựbáo về nhu cầu thị trường, tình hình nguyên vật liệu, khả năng sản xuất, kế hoạch bảodưỡng…
Bước 2: Lập kế hoạch sản xuất.
Trang 11Dựa trên các báo cáo gửi lên của các phòng ban liên quan, Cán bộ kế hoạch phântích và xác định các căn cứ nhất định để lập kế hoạch sản xuất Một trong các căn cứquan trọng được xác định như:
Chiến lược kinh doanh trong dài hạn
Phân tích tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩn trong năm trước, kỳ trước
Dự báo nhu cầu thị trường
Năng ực sản xuất của doanh nghiệp
Cân đối quan hệ cung cầu
Xuất phát từ các căn cứ này để các cán bộ kế hoạch xây dựng các kế hoạch bộphận trong kế hoạch sản xuất chung
Sau khi xác định các căn cứ lập kế hoạch sản xuất, cán bộ kế hoạch bắt tay vào lập
kế hoạch sản xuất Một bản kế hoạch sản xuất chung bao gồm các kế hoạch bộ phận: kếhoạch sản xuất tổng thể, kế hoạch chỉ đạo sản xuất, kế hoạch nhu cầu sản xuất, kế hoạchtiến độ sản xuất Trong mỗi kế hoạch bộ phận sẽ xây dựng các chỉ tiêu riêng, các chỉtiêu này được xây dựng dựa vào kế hoạch trước đó và các mối ràng buộc (ràng buộc vềmặt nhân sự, cung ứng, nhu cầu, khả năng lưu kho)
Bước 3: Trình và xin ý kiến phê duyệt của bạn giám đốc
Sau khi phê duyệt thì được triển khai cụ thể xuống các phòng ban liên quan
Trang 12Sơ đồ 1.2: Quy trình lập kế hoạch sản xuất
1.2.2 Nội dung và phương pháp xây dựng kế hoạch sản xuất:
a) Kế hoạch sản xuất tổng thể:
(thường tương ứng với kế hoạch sản xuất năm ở doanh nghiệp)
Nội dung của kế hoạch sản xuất tổng thể trả lời cho DN câu hỏi “sản xuất baonhiêu” theo thời gian, cùng những cách thức tốt nhất có thể để vừa đáp ứng nhu cầu vừagiảm thiểu chi phí tới mức thấp nhất hoặc để đạt được mục tiêu chiến lược của công tythông qua việc điều phối quy mô sản xuất, mức độ sử dụng lao động, sử dụng giờ phụtrội, thuê gia công và các yếu tố kiểm soát khác
Có nhiều phương pháp để xây dựng kế hoạch sản xuất tổng thể, nhưng thôngthường DN hay sử dụng phương pháp đồ thị Phương pháp này có nhiều ưu điểm: dễhiểu, dễ sử dụng, không yêu cầu cần có nhiều số liệu, sử dụng ít biến số, cho phép sosánh được nhu cầu dự báo và công suất hiện tại Phương pháp này được tiến hành theocác bước sau
Xác định nhu cầu cho mỗi kỳ
Lập kế hoạch sảnxuất tổng thể
Lập kế hoạch chỉđạo sản xuất
Lập kế hoạch nhucầu sản xuất
chữa, bảo dưỡng
Chiến lược kinhdoanh dài hạn
Nguồn nguyên liệu
Nguồn nhân lực
Căn cứ khác
Trang 13 Xác định công suất giờ chuẩn, giờ phụ trội và thuê gia công cho mỗi kỳ
Xác định chi phí lao động, thuê gia công và chi phí lưu kho
Tính đến chính sách của DN với lao động hoặc mức lưu kho
Khảo sát các kế hoạch và ước lượng chi phí
T
Trong đó:
SL là sản lượng sản phẩm dự kiến sản xuất trong một ngày trong kỳ
D là định mức giờ công / sản phẩm
T là thời gian sản xuất trong một ngày
Mức sản xuất trung bình được xác định theo công thức:
SL D K
T
Trong đó:
NCtb mức sản xuất trung bình theo thời gian
SLDK sản lượng dự kiến sản xuất theo nhu cầu đã dự báo
T thời gian sản xuất
Chi phí nhân công được tính theo công thức: C x T x C 1
Trong đó:
C là chi phí nhân công trong giờ
C1 là phí tuyển và đào tạo trên 1 đơn vị sản phẩm
T là thời gian sản xuất
Sơ đồ 1.3: Xác định định mức sản xuất bằng phương pháp đồ thị
Trang 14Thường thì giữa nhu cầu sản xuất trung bình và sản lượng dự kiến theo thờigian có sự chênh lệch với nhau Dựa vào đây công ty có thể có rất nhiều sự lựa chọn chomình:
Hoặc là sản xuất với quy mô trung bình, không cần thuê ngoài hoặc làmthêm giờ Lựa chọn phương án này, công ty chủ động trong sản xuất, tiết kiệm đượcchi phí sản xuất Nhưng nhược điểm lớn nhất là không đáp ứng được nhu cầu của thịtrường vào những tháng lượng tiêu thụ tăng cao, có những tháng lượng tiêu thụ thấp sẽdẫn đến tồn kho thành phẩm nhiều làm tăng chi phí lưu kho
Hoặc công ty có thể sản xuất ở mức sản lượng dự kiến thấp nhất, nếuthiếu sẽ thuê ngoài Nhược điểm của phương án này là khiến công ty phụ thuộc quánhiều vào bên ngoài trong hoạt động sản xuất trong khi doanh nghiệp lại chưa huyđộng hết toàn bộ năng lực sản xuất của mình
Hoặc công ty sẽ sản xuất theo nhu cầu của từng tháng kết hợp với thuêngoài và làm thêm giờ để thoả mãn nhu cầu Lựa chọn phương án này, họ vừa có thểđáp ứng được nhu cầu thị trường, vừa giảm được lượng tồn kho không cần thiết vàgiảm sự phụ thuộc của mình vào bên ngoài
Với 3 sự lựa chọn này, cán bộ lập kế hoạch phải xác định tổng chi phí cho từngphương án, họ thường lựa chọn phương án nào có chi phí thấp nhất kết hợp với đặcđiểm sản xuất, thế mạnh của công ty mình Với những công ty sản xuất sản phẩm giá trịlớn, cồng kềnh, khối lượng lớn trên một dây truyền sản xuất liên tục như: sản xuất ximăng, sản xuất than… thì không thể chọn cách chỉ sản xuất ở mức thấp nhất còn lạithuê ngoài Bởi khi đó, họ phải đối mặt với rủi ro sản phẩm chất lượng kém làm mất uytín trên thị trường, thậm chí gây lỗ
SLDK
Nhu cầu trung bình
T
Trang 15Sau khi đã so sánh giữa các phương án sản xuất trong những điều kiện sản xuất nhất định, công ty phải chọn cho mình phương án sản xuất tối ưu nhất để đưa vào
kế hoạch sản xuất tổng thể
b) Kế hoạch chỉ đạo sản xuất: (tương ứng với hệ thống kế hoạch hàng tháng, quý,
hàng quý của doanh nghiệp hoặc kế hoạch sản xuất từng mặt hàng riêng cụ thể).
Về nội dung, kế hoạch chỉ đạo sản xuất xác định chi tiết số lượng mỗi sảnphẩm, bán thành phẩm cần sản xuất trong một thời gian nhất định để đáp ứng nhu cầucủa kế hoạch sản xuất tổng thể
Về phương pháp: 2 phương pháp chính, cụ thể theo thời gian sản xuất (hàngtháng, quí) hoặc cụ thể theo từng mặt hàng xác định
Kế hoạch sản xuất tổng thể lập dưới dạng tổng quát cho nhóm sản phẩm, nóliên quan đến việc xác định những thông tin: cần hoàn thành bao nhiêu tấn sản phẩm vàkhi nào phải hoàn thành, những thông tin này chỉ mang tính định hướng Bộ phân sảnxuất chỉ biết là đến một thời điểm xác định t nào đó họ phải hoàn thành được một khốilượng sản phẩm là bao nhiêu (một số A chẳng hạn) Họ chưa thể định hình được cần sảnxuất cụ thể những mặt hàng cụ thể nào, số lượng từng mặt hàng đó, sản xuất theo lô hayđơn chiếc Thông qua kế hoạch chỉ đạo sản xuất, các phân xưởng (xí nghiệp) biết rõđược trong từng quý, từng tháng phải hoàn thành bao nhêu sản phẩm, bao nhiêu bánthành phẩm, cho chúng ta biết cần chuẩn bị những gì để thoả mãn nhu cầu và đáp ứng
kế hoạch sản xuất tổng thể
Như vậy kế hoạch chỉ đạo sản xuất là sự cụ thể hóa kế hoạch sản xuất tổng thể,
nó cho biết loại sản phẩm nào sản xuất dứt điểm trong từng tháng, quý, loại sản phẩmnào sản xuất đều trong các tháng hay quý theo nhu cầu thị trường, theo tính chất tiêudùng mùa vụ hay đơn hàng Đồng thời kế hoạch chỉ đạo sản xuất là sự thể hiện kế hoạchsản xuất tổng thể trên chương trình chỉ đạo sản xuất tương ứng thích hợp với khả năngsản xuất của các đơn vị thỏa mãn tốt nhất cho các dự báo kế hoạch
c) Kế hoạch nhu cầu sản xuất:
Về nội dung: kế hoạch nhu cầu sản xuất được lập ngay sau khi xây dựng kế hoạch sản xuất tổng thể và kế hoạch chỉ đạo sản xuất, nó xác định cụ thể nhu cầu các
Trang 16yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất: nguyên liệu, nhiên liệu, thiết bị máy móc, nhân công, diện tích sản xuất….
Về phương pháp: chủ yếu sử dụng phương pháp tính nhu cầu phụ thuộc (MRP)- phương pháp tính nhu cầu độc lập, nhu cầu phụ thuộc
Nhu cầu độc lập là những nhu cầu về sản phẩm cuối cùng, các chi tiết, phụtùng, linh kiện nhằm thỏa mãn yêu cầu khách hàng (nhu cầu bên ngoài) Nhu cầu nàykhông phụ thuộc vào kế hoạch tính toán của DN mà phụ thuộc vào khách hàng và thịtrường
Nhu cầu phụ thuộc là nhu cầu phát sinh từ nhu cầu độc lập Điều đó có nghĩanhu cầu phụ thuộc được tính toán từ nhu cầu độc lập thông qua việc phân tích sản phẩmthành các bộ phận, các cụm chi tiết, các cụm linh kiện, vật tư, nguyên vật liệu Mộtphương pháp phổ biến rất hay được sử dụng để tính toán nhu cầu phụ thuộc là phươngpháp MRP
Phương pháp tính toán nhu cầu sản xuất MRP dựa theo định mức: để sản xuất
sản phẩm A, B, C trước hết cần phải xác định nhu cầu cấp I (bộ phận A1), rồi xác địnhnhu cầu cấp II ( ví dụ cụm linh kiện Di), nhu cầu cấp III (linh kiện rời F1)…Các cấp nhucầu này được xác định thông qua việc phân tích kết cấu sản phẩm
Trình tự lắp ráp sản phẩm (A, B, C) được thể hiện theo sơ đồ:
Sơ đồ 1.4: Sơ đồ trình tự lắp ráp sản phẩm
Để phục vụ cho việc tính toán, các nhu cầu cấp I, cấp II, cấp III được tổng hợptheo kiểu một ma trận Đồng thời doanh nghiệp cũng sẽ lập kế hoạch sản xuất theo đơnđặt hàng của từng tháng và chúng cũng được thể hiện dưới dạng ma trận Căn cứ vàothời gian của các đơn hàng, ta xác định thời gian cần thiết để lắp ráp sản phẩm từ nhucầu cấp I (ví dụ là 1), nhu cầu cấp II (giả sử là 2), nhu cầu cấp III (giả sử là 3) Khi đónhu cầu các cấp được tính toán theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.5: Sơ đồ nhu cầu sản xuất
Các bộ phận
(Di)1
Sản phẩm(A, B,C)
Linh kiện rời(Fi)3
Cụm linh kiện (Ei)2
Trang 171.2.3 Căn cứ lập kế hoạch sản xuất.
Đối với một doanh nghiệp sản xuất, chức năng sản xuất là một trong những chức năng quan trọng nhất trong doanh nghiệp, là chức năng bắt đầu của hoạt động sảnxuất kinh doanh, là khởi điểm của mọi hoạt động kinh tế DN chỉ có thể tồn tại và pháttriển khi sản phẩm của doanh nghiệp được thị trường chấp nhận, doanh thu thu đựơc tối thiểu phải đảm bảo bù đắp được chi phí sản xuất, các khoản phải nộp của doanh nghiệp Do đó công tác lập kế hoạch sản xuất vô cùng quan trọng, với mục tiêu giúp hoạt động sản xuất của doanh nghiệp không chỉ tạo ra những sản phẩm tốt được đông đảo thị trường chấp nhận mà còn tiến tới việc tối ưu hoá việc sử dụng các yếu tố sản xuất, tăng lợi nhuận Vậy thì công tác lập kế hoạch sản xuất của một doanh nghiệp cầncăn cứ vào các yếu tố nào?
Để chuẩn bị cho lập kế hoạch, các cán bộ kế hoạch xác định những căn cứ quan trọng cần phải có để xây dựng kế hoạch sản xuất Những căn cứ và mức độ quan trọng của mỗi căn cứ phụ thuộc vào đặc thù riêng của từng loại hình kinh doanh của doanh nghiệp Bao gồm:
a) Căn cứ vào tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm những năm trước.
Cán bộ kế hoạch thu thập kết quả sản xuất kinh doanh của những năm trước
để phân tích, phân tích tình hình sản xuất, tiêu thụ thực tế kết hợp với kế hoạch sản xuất của năm tưng ứng để thấy được tình hình thực hiện kế hoạch, đã được ở khâu nào, chưa được ở khâu nào, trên cơ sở đó điều chỉnh và đưa ra dự báo sản lượng cần sản xuất của năm kế hoạch
b) Căn cứ vào nhu cầu thị trường.
Nhu cầu thị trường được xác định thông qua các đơn hàng (thường thì các đơnhàng này là của khách hàng truyền thống của công ty Ngoài ra còn một số đơn hàng mới có được nhờ kết quả tìm kiếm của phòng kinh doanh), hợp đồng đã ký kết với
Nhu cầu cấp II
(6)(6) = (2) x (5)
Nhu cầu cấp I(5)(5) = (1) x (4)
Trang 18khách hàng, thị phần hiện tại của công ty trên thị trường, tổng nhu cầu thị trường Các thông tin này do phòng kinh doanh thị trường cung cấp
c) Căn cứ vào năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Các quản đốc phân xưởng nhà máy theo yêu cầu của phòng kế hoạch sẽ cung cấp cho họ những thông tin về tình hình sản xuất hiện tại của phân xưởng (xí nghiệp): năng suất bình quân hiện tại của 1 công nhân, khả năng sản xuất của hệ thống dây truyền kỳ kế hoạch, mặt mạnh của từng xí nghiệp Đồng thời yêu cầu phòng kỹ thuật cung cấp các thông tin kỹ thuật của hệ thống dây truyền sản xuất và kế hoạch sửa chữahàng năm, kế hoạch sửa chữa lớn và những dự báo về khả năng sản xuất của nhà máy trong năm kế hoạch làm căn cứ để lập kế hoạch
d) Căn cứ vào chiến lược kinh doanh, kế hoạch kinh doanh, kế hoạch marketing dài hạn của doanh nghiệp.
Ngoài căn cứ vào nhu cầu thị trường và năng lực sản xuất của doanh nghiệp, các cán bộ kế hoạch còn phải đặc biệt chú ý tới định hướng phát triển dài hạn của doanh nghiệp để cân đối mức chỉ tiêu sản lượng chung, mức chỉ tiêu sản lượng cho từng dòng sản phẩm phù hợp, đảm bảo phát triển đồng bộ, theo đúng chủ trương, chiếnlược của ban lãnh đạo
e) Căn cứ vào kết cấu sán phẩm.
Phòng kỹ thuật gửi lên cho phòng kế hoạch những mô tả về sản phẩm cùng với quy trình công nghệ sản xuất từng loại sản phẩm đó: để sản xuất sản phẩm này cầnnhững loại nguyên vật liệu gì, số lượng nguyên vật liệu là bao nhiêu để sản xuất ra mộttấn sản phẩm (gọi là định mức nguyên vật liệu) Công tác xác định định mức thường được xác định vào đầu năm kế hoạch, và dùng cho cả năm kế hoạch Thường thì khi nghiên cứu sản phẩm mới hoặc đầu tư thiết bị dây truyền mới trong sản xuất, thì phòng
kỹ thuật lại xác định lại định mức sản phẩm Sau đó định mức này được sử dụng cho việc lập kế hoạch của những năm tiếp theo và có điều chỉnh chút ít Sự điều chỉnh địnhmức hàng năm lại căn cứ vào kế hoạch sửa chữa hệ thống máy móc, thiết bị trong năm
kế hoạch Cuối cùng, cán bộ kế hoạch sẽ căn cứ vào kết cấu sản phẩm này để trực tiếp lập ra kế hoạch nhu cầu sản xuất cho doanh nghiệp
f) Căn cứ vào tiến độ giao hàng.
Căn cứ vào yêu cầu tiến độ giao hàng Các đơn đặt hàng, các hợp đồng đều quy định rõ ngày phải giao hàng, và kế hoạch giao hàng: hàng được giao một lần, hay được chia làm nhiều lần, mỗi lần giao với khối lượng bao nhiêu, vào thời gian xác địnhnào Căn cứ vào đó, cán bộ kế hoạch xác định tiến độ sản xuất
Trang 191.3 Sự cần thiết phải đổi mới công tác lập KHSX trong DN.
1.3.1 Giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Hoạt động sản xuất là nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của doanh nghiệp, công tác lập kế hoạch sản xuất trong doanh nghiệp quyết định đến chi phí sản xuất, đến chất lượng sản phẩm, đến khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường của một doanh nghiệp Công tác lập kế hoạch, là công tác lập và đưa ra phương án sản xuất tối
ưu nhất cho doanh nghiệp trên cơ sở cân đối tất cả các phương diện: nhu cầu thị
trường, chi phí và doanh thu, chất lượng sản phẩm Do vậy đổi mới, hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất cũng chính là nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Kế hoạch sản xuất cũng giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh thông qua đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, trực tiếp tăng doanh thu Kế hoạch sản xuất được xây dựng cho từng giai đoạn, thời kỳ nhất định Trong khoảng thời gian đó, kế hoạch sản xuất, với hệ thống các chỉ tiêu kế hoạch được đề ra, là cơ sởgiúp doanh nghiệp xác định rõ ràng mục tiêu sản xuất của mình Trong một thời gian
có giới hạn, áp lực phải hoàn thành mục tiêu đề ra giúp doanh nghiệp có những nỗ lực,phấn đấu tích cực Có thể nói bản kế hoạch là chiếc gương giúp doanh nghiệp đối chiếu thực tế hoạt động với những kỳ vọng ban đầu, từ đó giúp thúc đẩy hoạt động sảnxuất kinh doanh phát triển
1.3.2 Giúp doanh nghiệp chủ động khi có biến cố phát sinh.
Bản Kế hoạch sản xuất càng chuẩn xác, càng giúp doanh nghiệp xác định đúng nhiệm vụ sản xuất từng thời kỳ, cũng như nhiệm vụ sản xuất cụ thể cho từng phân xưởng Từ đó giúp doanh nghiệp thúc đẩy sản xuất và chủ động trong sản xuất Trên cơ sở có một bản kế hoạch chi tiết, việc theo dõi đánh giá của doanh nghiệp càng
rõ ràng và chuẩn xác Từ đó giúp doanh nghiệp có hướng điều chỉnh kịp thời khi có biến cố phát sinh Bởi vậy, hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất, hoàn thiện bản
kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp chủ động trong mọi tình huống, là công cuộc cải cách quan trọng của doanh nghiệp
1.3.3 Do bản thân công tác lập kế hoạch sản xuất trên thực tế còn nhiều điểm bất cập
Do bản thân công tác lập kế hoạch sản xuất trên thực tế còn nhiều điểm bất cậpchưa chạy đúng mô hình công tác lập kế hoạch sản xuất lý luận, để có thể đảm đương tốt sứ mệnh của nó trong doanh nghiệp Do vậy, đổi mới công tác lập kế hoạch, để sản
Trang 20phẩm của quy trình này là hệ thống bản kế hoạch sản xuất trong doanh nghiệp có thể phát huy hết khả năng tối ưu của nó trong sản xuất, kinh doanh.
Trang 21Chương 2: Thực trạng công tác lập kế hoạch sản xuất của công ty mẹ
Tổng công ty giấy Việt Nam.
2.1 Giới thiệu công ty mẹ - Tổng công ty giấy Việt Nam.
Tên công ty: TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM
Tên giao dịch quốc tế: VIETNAM PAPER CORPORATION
Tên viết tắt: VINAPACO
Trụ sở: Số 25 phố Lý Thường Kiệt, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội Điện thoại: (04) 38247773
về Công ty mẹ - Tổng công ty Giấy Việt Nam
2.1.1 Giới thiệu chung về công ty mẹ - Tổng công ty giấy Việt Nam.
2.1.1.1 Tóm tắt lịch sử hình thành và phát triển.
Từ năm 1974 dự án giấy Bãi Bằng được khởi công và xây dựng Đây là sự hợp tác phát triển giữa hai nước Việt Nam và Thụy Điển với tổng giá trị 450 triệu USD, công suất 55000 tấn giấy và 48000 tấn bột giấy mỗi năm
Năm 1982 nhà máy giấy Bãi Bằng chính thức đi vào hoạt động
Năm 1995 thành lập Tổng công ty Giấy Việt Nam
Năm 2005 chuyển đổi hình thức hoạt động theo mô hình công ty mẹ con
Công ty mẹ- Tổng công ty giấy Việt Nam được hình thành trên cơ sở sáp nhập văn phòng Tổng công ty Giấy Việt Nam và Công ty Giấy Bãi Bằng, cùng một số các đơn vị hạch toán phụ thuộc Tổng công ty Giấy Việt Nam.
Công ty mẹ Tổng công ty Giấy Việt Nam gồm 10 phòng ban chức năng, 29 đơn vị phụ thuộc và 6 đơn vị hoạch toán báo sổ
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức.
Trang 22Đứng đầu là Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý của công ty có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty Hoạch định các chính sách, ra quyết định hành động cho từng thời điểm phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của công ty.
Ban kiểm soát do hội đồng quản trị bầu ra, kiểm soát mọi hoạt động kinhdoanh, quản trị và điều hành của công ty
Ban Tổng giám đốc do hội đồng quản trị bổ nhiệm gồm có một Giámđốc, hai Phó Giám đốc Giám đốc do hội đồng quản trị bổ nhiệm là người đại diệnpháp luật của công ty, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, quyết định tất cảnhững vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của công ty Phó Giám đốc do Hộiđồng quản trị bổ nhiệm theo đề xuất của Giám đốc
Kế toán cũng do Hội đồng quản trị bổ nhiệm và theo đề xuất của BanGiám đốc
Xuống dưới là các phòng ban và các đơn vị khác
Trang 23Sơ đồ 2.1: Mô hình cơ cấu tổ chức của công ty mẹ - Tổng công ty giấy Việt Nam.
2.1.2 Đánh giá khái quát hoạt động kinh doanh những năm gần đây:
- Công đoàn giấy và bột giấy Việt Nam
- Đoàn Thanh niên
- Hội cựu chiến binh
- Nhà máy điện
- Nhà máy giấy
- Nhà máy hóa chất
- XN bảo dưỡng
- XN vận tải
- XN dịch vụ
29 Đơn vị Hạch toán phụ thuộc
(gồm các công tylâm sinh, và các nhánh phân phối)
Trang 242.1.2.1 Đặc điểm về sản phẩm.
Giấy là sản phẩm tiêu dùng thiết yếu trong một xã hội phát triển Mặc dù côngnghệ lưu giữ thông tin có phát triển với tốc độ chóng mặt, thay thế phần nào nhu cầu tiêu dùng giấy, thì trong giai đoạn hiện nay cũng như tương lai gần, nhu cầu về giấy vẫn tiếp tục tăng Giấy phục vụ rất nhiều mặt của hoạt động đời sống con người, tùy vào các nhu cầu riêng biệt đó mà có các sản phẩm giấy khác nhau
Bảng2.1 Mức tiêu thụ các loại giấy tại Công ty mẹ
Về mặt hàng giấy bao bì công nghiệp Nhu cầu về loại giấy này tăng mạnh mẽtheo đà phát triển của công nghiệp Việt Nam, đặc biệt là bao bì carton nhiều lớp và giấykraft làm vỏ bao xi măng Tuy nhiên giấy hộp, giấy bao gói nội địa chỉ đáp ứng nhữngnhu cầu giấy có chất lượng thấp và trung bình Các nhu cầu giấy có chất lượng cao đềuphải trông chờ vào nguồn nhập khẩu Gần đây Công ty mẹ mới sản xuất và tiêu thụ loạigiấy này và đang ngày càng mở rộng sản xuất Từ không sản xuất vào năm 2005 lên đến49.000 tấn vào năm 2009 Nhu cầu thị trường rất lớn nhưng sức sản xuất của Công ty
mẹ, hay chính là sức sản xuất của Tông công ty giấy Việt Nam về lượng giấy này vẫncòn rất hạn chế, chỉ đáp ứng từ 4,6% - 5% tổng nhu cầu thị trường
Trang 25Biểu đồ 2.1 Cơ cấu tiêu thụ các sản phẩm giấy của Công ty mẹ- Tổng công ty Giấy
Việt Nam giai đoạn 2007-2009
Trang 26Bảng2.2: Nhu cầu tiêu dùng giấy giai đoạn 2008- 2010
5 Nhu cầu tiêu dùng giấy Tấn 1.750.000 1.900.000 1.980.000
6 Nhu cầu tiêu dùng trong
85.500427.5001.026.000171.000
92.500462.5001.110.000115.000
(Nguồn:Phòng kế hoạch)
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu nhu cầu tiêu dùng giấy năm 2008-2010
Trang 27(Nguồn: phòng kế hoạch)
Nhìn trên bảng và biểu đồ, ta có thể thấy xu hướng tiêu dùng giấy hiện nay: quy mô tăng, giấy bao bì và giấy viết, in, tráng tăng đáng kể Toàn Tổng công ty và Công ty mẹ đã nắm bắt được thị trường, từ đó đưa ra định hướng phát triển cho sản phẩm của mình, bằng chứng là Công ty mẹ đặc biệt chú trọng hơn tới các sản phẩm giấyviết, giấy photo, và cho ra dòng sản phẩm mới như: giấy photo cao cấp Clever up là 1 trong những dòng sản phẩm mới nổi của Công ty mẹ-Tổng công ty Giấy Việt Nam
2.1.2.3 Đặc điểm nguồn nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu chủ yếu của hoạt động sản xuất giấy là bột gỗ, vì vậy vấn đềnguyên vật liệu cho ngành giấy gắn chặt với vấn đề vùng nguyên liệu trồng gỗ Do đặctính của việc trồng rừng, kéo dài trong khoảng thời gian từ 10-20 năm/chu kỳ, công tác
kế hoạch nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất rất khó khăn Do có sự mất cân đối giữasản xuất bột giấy và sản xuất giấy trong những năm qua, hàng năm ngành giấy nóichung và Công ty mẹ- Tổng công ty Giấy Việt Nam nói riêng vẫn phải nhập khẩu mộtlượng bột giấy khá lớn cho sản xuất Đây cũng là một trong những yếu tố làm tăng giáthành sản phẩm, giảm sức cạnh tranh của sản xuất giấy trong nước Bên cạnh đó, sảnxuất lâm nghiệp gặp nhiều khó khăn, hạn hán, gió bão, sâu bệnh đã gây thiệt hại cho cácCông ty Lâm nghiệp hàng trăm tỷ đồng Việc công nhận quyền sử dụng đất ở một sốCông ty Lâm nghiệp chưa được giải quyết, tình trạng tranh chấp đất đai vẫn diễn biếnphức tạp, hạn mức vay vốn cho trồng rừng rất thấp và chỉ đáp ứng mức 30-35% so với
Trang 28tấn/năm, trong khi năng lực sản xuất giấy là 319.500 tấn/năm, như vậy khả năng sảnxuất bột giấy chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu Vì vậy, vấn đề mở rộng vùngnguyên liệu là vấn đề then chốt hiện nay để mở rộng sản xuất giấy Công ty mẹ đã cónhiều chính sách để vận động, thúc đẩy người dân trồng rừng và xây dựng các dự ánvùng nguyên liệu giấy đáp ứng nhu cầu bột giấy cho tương lai.
Bảng2.3 Danh mục dự án đầu tư phát triển vùng nguyên liệu năm 2015
Đơn vị: tấn/năm
TT Dự án vùng nguyên liệu Công suất giấy Công suất bột giấy
(Nguồn: Phòng kế hoạch)
2.1.2.4 Đặc điểm nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực được chia làm hai bộ phận:
Bộ phận hành chính: Công ty mẹ- Tổng công ty Giấy Việt Nam có số lượngcán bộ nhân viên hành chính lớn, cồng kềnh, hiệu quả làm việc chưa cao Do đó, chi phícho khối hành chính rất lớn
Bộ phận làm việc trong phân xưởng: Họ là những người lao động trực tiếptham gia sản xuất Công ty mẹ có đội ngũ lao động lành nghề, đủ về mặt số lượng, cótinh thần trách nhiệm và gắn bó lâu dài với công ty
2.1.2.5 Đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh từ năm 2008 tới năm 2010.
Trong giai đoạn 2008-2009, tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty Tổng công ty Giấy Việt Nam có nhiều biến động, chủ yếu là do tác động của cuộckhủng hoảng suy thoái kinh tế toàn cầu