Thực trạng và phương hướng phát triển du lịch vùng Tây Nguyên đến năm 2020
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Ban giám hiệu trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Khoa Kế hoạch và Phát triểnTên tôi là: Phạm Thị Liên
Sinh viên lớp: Kế hoạch 49A
Tôi xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp với đề tài: “Thực trạng và phương hướng phát triển du lịch vùng Tây Nguyên đến năm 2020” là kết quả của sự độc lập nghiên
cứu của bản thân, không sao chép Các số liệu sử dụng phân tích trong chuyên đề đượcphép công bố rộng rãi và được lấy từ những nguồn đáng tin cậy
Nếu phát hiện có bất cứ sai phạm nào trong bài làm của mình, tôi xin hoàn toànchịu trách nhiệm
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện chuyên đề thực tập này em
đã nhận được sự động viên giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của thầy TS Bùi Đức Tuân Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu của thầy.
Em xin chân thành cảm ơn sự dạy dỗ của các thầy cô trong khoa Kế hoạch
và Phát triển trong suốt 4 năm qua đã giúp em có được những kiến thức như ngày hôm nay.
Và cuối cùng em xin cảm ơn các bác, các chú các anh chị trong Ban Phát triển Vùng - Viện chiến lược Phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư tận tình chỉ bảo
và tạo điều kiện cho em hoàn thành chuyên đề trong suốt quá trình thực tập tại đây
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH, BẢNG
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA PHÁT TRIỂN DU LỊCH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐỊA PHƯƠNG 3
1 Tổng quan về sự phát triển của du lịch 3
1.1 Một số khái niệm về du lịch 3
1.2 Bản chất của du lịch 5
2 Vai trò của du lịch với nền kinh tế quốc dân 7
2.1 Vị trí của du lịch trong hệ thống các ngành của nền kinh tế quốc dân 7
2.2 Vai trò của ngành du lịch đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội 8 3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch 10
3.1 Tình hình và xu thế phát triển kinh tế của đất nước 10
3.2 Tình hình văn hóa, chính trị của đất nước và thế giới 11
3.3 Thời gian rỗi của nhân dân 11
3.4 Mức sống vật chất và trình độ văn hóa – xã hội của dân cư 13
3.5 Điều kiện giao thông vận tải phát triển 13
3.6 Tiềm năng du lịch sẵn có 14
3.7 Sự sẵn sàng phục vụ khách du lịch 16
3.8 Một số tình hình và sự kiện đặc biệt 17
4 Sự cần thiết tăng cường phát triển du lịch vùng Tây Nguyên 17
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÂY NGUYÊN 19
1 Đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và tài nguyên du lịch 19
1.1 Điều kiện tự nhiên 19
1.1.1 Vị trí địa lý 19
1.1.2 Khí hậu 20
1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội - dân cư 20
1.2.1 Tăng trưởng kinh tế 20
Trang 41.2.2 Cơ cấu kinh tế 22
1.2.3 Cơ sở hạ tầng 22
1.2.4 Dân cư và nguồn nhân lực 23
1.3 Tài nguyên du lịch tự nhiên 27
1.3.1 Các hệ sinh thái điển hình 27
1.3.2 Các cảnh quan thiên nhiên đặc sắc 28
1.4 Tài nguyên du lịch nhân văn 29
1.4.1 Lịch sử 29
1.4.2 Văn hóa 31
2 Thực trạng phát triển du lịch Tây Nguyên 35
2.1 Cơ sở hạ tầng du lịch 35
2.1.1 Các khu, cụm, điểm du lịch 35
2.1.2 Sản phẩm du lịch 37
2.1.3 Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch 38
2.1.4 Nguồn nhân lực phục vụ du lịch 39
2.2 Kết quả phát triển du lịch Tây Nguyên 39
2.2.1 Số lượng khách du lịch 39
2.2.2 Doanh thu du lịch 40
2.2.3 Thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực du lịch 41
3 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch Tây Nguyên 42
3.1 Những thành tựu chủ yếu trong phát triển du lịch Tây Nguyên 42
3.2 Một số tồn tại trong phát triển du lịch Tây Nguyên 42
3.2 Một số nguyên nhân chủ yếu tác động đến phát triển du lịch Tây Nguyên.44 CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÂY NGUYÊN ĐẾN NĂM 2020 46
1 Quan điểm và định hướng phát triển du lịch ở Tây Nguyên 46
1.1 Quan điểm phát triển 46
1.2 Định hướng phát triển 47
2 Mục tiêu phát triển du lịch vùng Tây Nguyên 48
2.1 Mục tiêu tổng quát 48
2.2 Mục tiêu cụ thể 48
Trang 53 Giải pháp và chính sách phát triển du lịch Tây Nguyên đến 2020 49
3.1 Tăng cường công tác quy hoạch và phát triển du lịch 49
3.2 Tăng cường hỗ trợ đầu tư cho phát triển du lịch Tây Nguyên 50
3.3 Chú trọng đầu tư cải thiện hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật - hạ tầng phục vụ phát triển du lịch 51
3.4 Tạo điều kiện thuận, môi trường thuận lợi cho khách du lịch và cho hoạt động kinh doanh du lịch 53
3.5 Nâng cao sức cạnh tranh và hội nhập của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, phát huy nguồn lực của các thành phần kinh tế cho phát triển du lịch 53
3.6 Hợp tác quốc tế về du lịch, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong phát triển du lịch 54
3.7 Phát triển nguồn nhân lực 55
3.8 Phát triển thị trường 56
3.9 Tăng cường phối hợp giữa các cấp các ngành trong quản lý, khai thác, bảo tồn tài nguyên, môi trường du lịch 56
3.10 Đảm bảo an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội 57
4 Kiến nghị 57
KẾT LUẬN 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 6DANH MỤC HÌNH, BẢNG
Hình 1: Bản đồ vị trí địa lý các tỉnh Tây Nguyên 19
Hình 2: Bản đồ du lịch một số tỉnh Tây Nguyên 35
Bảng 1: Trình độ văn hóa của người chủ gia đình và tỷ lệ đi du lịch 13
Bảng 2: Tăng trưởng kinh tế vùng Tây Nguyên 21
Bảng 3: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng Tây Nguyên 22
Bảng 4: Một số chỉ tiêu về hiện trạng dân số vùng Tây Nguyên 24
Bảng 5: Một số chỉ tiêu về lao động, việc làm của vùng Tây Nguyên 26
Bảng 6: Số khách sạn, nhà hàng chất lượng cao của vùng Tây Nguyên năm 2008.38 Bảng 7: Số lượng khách du lịch của vùng Tây Nguyên giai đoạn 2006 – 2009 40
Bảng 8: Doanh thu du lịch của vùng Tây Nguyên giai đoạn 2006 – 2009 41
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Toàn cầu hóa và khu vực hóa đang là xu thế tất yếu khách quan của nền kinh tế thếgiới trong thế kỷ 21 Tiến trình mở cửa hội nhập kinh tế thế giới đã mang lại vô vàn cơhội và thách thức cho việc phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Trong bối cảnh hiệntại, để tồn tại và phát triển, các quốc gia đang phát triển như Việt Nam cần phải lựachọn cho mình chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp để tận dụng được cơ hội,vượt qua các thách thức đe dọa từ môi trường bên ngoài
Trong quá trình đổi mới, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nềnkinh tế thị trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng gia tăng tỷ trọngcủa các ngành dịch vụ du lịch, ngành du lịch Việt Nam ngày càng khẳng định tiềmnăng tăng trưởng thực sự của mình Ngành du lịch đã và đang đem lại cơ hội nghềnghiệp lớn cho nhiều người, gia tăng thu nhập quốc dân, góp phần giúp Việt Namchuyển đổi từ một nền kinh tế phụ thuộc vào nông nghiệp sang một nền kinh tế phụthuộc vào lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Bên cạnh đó, hoạt động du lịch còn đóngvai trò lớn trong việc mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế thân thiện, gia tăng sự hiểu biết
và quảng bá nền văn hóa giữa các quốc gia trên thế giới
Không chỉ được tự nhiên ưu ái ban tặng cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp với nhiềudanh lam thắng cảnh nổi tiếng, mảnh đất Tây Nguyên còn có một hệ thống các khu ditích lịch sử đồ sộ và truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Tây Nguyên hội tụ
đủ các yếu tố tiềm năng cho phát triển du lịch Tuy nhiên, trong những năm vừa qua,ngành du lịch Tây Nguyên vẫn còn nhiều hạn chế, chưa thể hiện rõ vai trò là ngànhkinh tế mũi nhọn của vùng Giữa khả năng phát triển và thực tế của ngành du lịch TâyNguyên còn tồn tại một khoảng cách tương đối lớn
Từ thực tiễn trên, sau một thời gian thực tập tại Ban Phát triển Vùng - Viện Chiếnlược Phát triển – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với sự nghiên cứu, tìm tòi của bản thân, tôi
đã nhận thấy rõ việc xác định phương hướng phát triển ngành du lịch Tây Nguyêntrong giai đoạn tới đang là một nhu cầu cấp thiết Bên cạnh đó, nhận được sự giúp đỡtận tình của giáo viên hướng dẫn thực tập T.S Bùi Đức Tuân cùng các bác, các chú, các
anh chị trong Ban Phát triển Vùng, tôi đã mạnh lựa chọn đề tài: “Thực trạng và
Trang 8phương hướng phát triển du lịch vùng Tây Nguyên đến năm 2020” làm chuyên đề
tốt nghiệp của mình
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là từ lý thuyết về vấn đề sự phát triển của du lịchảnh hưởng như thế nào tới sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng và từ việc phân tích,đánh giá thực trạng phát triển ngành du lịch vùng Tây Nguyên trong giai đoạn trước đểđưa ra những phương hướng và giải pháp phát triển ngành du lịch của vùng đến năm2020
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phân tích thực trạng để đưa ra phương hướng
và giải pháp phát triển, sử dụng một số phương pháp dự báo, phương pháp nghiên cứutổng hợp, phân tích số liệu
Nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:
- Chương I: Vai trò của phát triển du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
- Chương II: Thực trạng phát triển du lịch Tây Nguyên.
- Chương III: Phương hướng và giải pháp phát triển du lịch Tây Nguyên đến năm 2020.
Mặc dù có nhiều cố gắng, song, do kiến thức và trình độ còn hạn chế nên trong bàiviết của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiếncủa các thầy cô giáo và các bác, các chú, các anh chị trong Ban Phát triển Vùng – ViệnChiến lược Phát triển Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các bác, các chú, các anhchị trong Ban Phát triển Vùng – Viện Chiến lược Phát triển và đặc biệt tỏ lòng biết ơnsâu sắc của mình tới thầy giáo T.S Bùi Đức Tuân, người đã giúp đỡ tôi rất nhiều trongsuốt quá trình thực hiện chuyên đề này!
Trang 9NỘI DUNGCHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA PHÁT TRIỂN DU LỊCH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐỊA PHƯƠNG
1 Tổng quan về sự phát triển của du lịch
1.1 Một số khái niệm về du lịch
Hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của thế giới loàingười Từ xa xưa, con người đã luôn có tính tò mò muốn tìm hiểu thế giới xung quanh,bên ngoài nơi sinh sống của họ Con người luôn muốn biết những nơi khác có cảnhquan ra sao, muốn biết về các dân tộc, nền văn hóa, các động vật, thực vật và địa hình
ở những vùng khác hay quốc gia khác Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượngkinh tế - xã hội phổ biến Hội đồng Lữ hành và Du lịch quốc tế (World Travel andTourism Council - WTTC) đã công nhận du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới,vượt trên cả ngành sản xuất ô tô, thép, điện tử và nông nghiệp Đối với một số quốcgia, du lịch là nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất trong ngoại thương Tại nhiều quốcgia khác, du lịch là một trong những ngành kinh tế hàng đầu Du lịch đã nhanh chóngtrở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới Du lịch ngàynay là một đề tài hấp dẫn và đã trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu Nhiều nước
đã lấy chỉ tiêu đi du lịch của dân cư là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng của cuộcsống
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourism Organization - WTO) thì năm
2000, số lượng khách du lịch toàn cầu là 698 triệu lượt người, thu nhập là 467 tỷ USD;năm 2002, lượng khách là 716,6 triệu lượt, thu nhập là 474 tỷ USD; ước tính sơ bộnăm 2010 lượng khách là 1.006 triệu lượt và thu nhập là 900 tỷ USD
Mặc dù hoạt động du lịch đã có nguồn gốc hình thành từ rất lâu và phát triển vớitốc độ nhanh chóng như vậy, song cho đến nay, khái niệm về du lịch được hiểu rấtkhác nhau tại các quốc gia khác nhau và từ nhiều góc độ khác nhau Đúng như Giáo
sư, Tiến sỹ Berneker – một chuyên gia hàng đầu về du lịch trên thế giới đã nhận định:
“Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” Du lịch
là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp và trong quá trình phát triển, nội dung của nókhông ngừng mở rộng và ngày càng phong phú Tuy chưa có một nhận thức thống nhất
Trang 10nào về khái niệm du lịch trên thế giới cũng như ở Việt Nam, song trước thực tế pháttriển của ngành du lịch về mặt kinh tế - xã hội, chúng ta không thể phủ nhận vai tròngày càng quan trọng của du lịch đối với đời sống dân cư và sự phát triển kinh tế - xãhội của quốc gia.
Khái niệm về du lịch có ý nghĩa đầu tiên là sự khởi hành và lưu trú tạm thời củacon người ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ Từ xa xưa, loài người đã khởi hànhvới nhiều lý do khác nhau như vì sự ham hiểu biết về thế giới xung quanh, vì lòng yêuthiên nhiên, giao lưu văn hóa, học ngoại ngữ…
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) thì du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt độngcủa những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu,trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hànhnghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm,
ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đíchchính là kiếm tiền
Theo Luật Du lịch Việt Nam thì du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi củacon người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan,tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
Tuy có khá nhiều khái niệm về du lịch, nhưng tổng hợp lại ta thấy du lịch hàm chứacác yếu tố cơ bản sau:
- Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội
- Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của các cánhân, tập thể nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của họ
- Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng nhằm phục vụcho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác của cá nhân hoặc tập thểkhi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình
- Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của các cá nhân, tổ chức đó đều đồng thời cómột số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hòa bình
Một số khái niệm khác liên quan đến du lịch như:
- Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học,làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến
Trang 11- Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - vănhoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thểđược sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu dulịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.
- Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan củakhách du lịch
- Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch
tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách
du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường
- Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấpdịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đườnghàng không
- Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách
du lịch trong chuyến đi du lịch
- Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ănuống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhucầu của khách du lịch
- Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụkhác phục vụ khách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu
- Lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộchương trình du lịch cho khách du lịch
- Xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm,thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch
1.2 Bản chất của du lịch
Du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạothành một tổng thể hết sức phức tạp Do tồn tại các cách tiếp cận khác nhau và dướicác góc độ khác nhau mà có những cách hiểu khác nhau về du lịch
- Xét từ góc độ nhu cầu của khách du lịch:
Du lịch là một sản phẩm tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội của loài người đếnmột giai đoạn nhất định Chỉ trong hoàn cảnh kinh tế thị trường phát triển, gia tăng thunhập bình quân đầu người, tăng thời gian rỗi do tiến bộ của khoa học - công nghệ,
Trang 12phương tiện giao thông và thông tin ngày càng phát triển mới làm phát sinh nhu cầunghỉ ngơi, tham quan du lịch của con người Nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu đặcbiệt, thứ cấp và tổng hợp của con người Bản chất đích thực của du lịch là du ngoạn đểcảm nhận những giá trị vật chất và tinh thần có tính văn hóa cao Du lịch là cuộc hànhtrình và lưu trú tạm thời ở ngoài nơi lưu trú thường xuyên của con người, nhằm thỏamãn các nhu cầu khác nhau với mục đích hòa bình, hữu nghị Với du khách, du lịchnhư là một cơ hội để tìm kiếm những kinh nghiệm sống, sự thỏa mãn một số các nhucầu về vật chất và tinh thần của mình
- Xét từ góc độ sản phẩm du lịch:
Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật thể Thànhphần chính của sản phẩm du lịch là dịch vụ - thường chiếm từ 80% đến 90% về mặtgiá trị, còn hàng hóa chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ Chất lượng sản phẩm du lịch phụ thuộcvào khách du lịch, được xác định dựa vào sự chênh lệch giữa mức độ kì vọng và mức
độ cảm nhận của khách du lịch Sản phẩm du lịch được tạo ra thường phải gắn với tàinguyên du lịch Do đó mà sản phẩm du lịch không thể dịch chuyển được, không thểđưa sản phẩm du lịch đến nơi có khách du lịch mà ngược lại, khách du lịch phải đếnnơi có sản phẩm du lịch để thỏa mãn nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng nó Vìvậy, du lịch là quá trình tổ chức các chương trình du lịch với nội dung là liên kết các ditích lịch sử, văn hóa, các cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng cùng với cơ sở vật chất - kĩthuật như cơ sở ăn uống, cơ sở lưu trú, vận chuyển, lữ hành… để thoả mãn nhu cầu củakhách du lịch
- Xét từ góc độ người kinh doanh du lịch:
Du lịch là quá trình tổ chức các điều kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thỏa mãn,đáp ứng các nhu cầu của người đi du lịch Các doanh nghiệp du lịch coi du lịch như làmột cơ hội để bán các sản phẩm mà họ sản xuất ra, nhằm thỏa mãn các nhu cầu củakhách, đồng thời thông qua đó đạt được mục đích số một của mình là tối đa hóa lợinhuận
- Xét từ góc độ của chính quyền địa phương:
Dưới góc độ này, du lịch được hiểu là việc tổ chức các điều kiện về hành chính, cơ
sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật để phục vụ khách du lịch Du lịch là tổng hợp cáchoạt động kinh doanh đa dạng, được tổ chức nhằm giúp đỡ việc hành trình, đi lại và
Trang 13lưu trú tạm thời của các cá nhân đi du lịch Đồng thời, du lịch cũng là một cơ hội đểbán các sản phẩm địa phương, tăng thu ngoại tệ, tăng các nguồn thu nhập từ các khoảnthuế trực tiếp và gián tiếp, đẩy mạnh cán cân thanh toán và nâng cao mức sống vật chất
và tinh thần cho dân địa phương
- Xét từ góc độ cộng đồng dân cư sở tại:
Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội Trong thời kì hiện nay, nó được đặctrưng bởi sự tăng nhanh khối lượng và mở rộng phạm vi, cơ cấu dân cư tham gia vàoquá trình du lịch của mỗi nước, mỗi vùng trên thế giới Với họ, hoạt động du lịch tạiđịa phương mình vừa đem lại những cơ hội để tìm hiểu về nền văn hoá và phong cáchcủa du khách trong nước và quốc tế, vừa đem lại những cơ hội việc làm, làm phát sinh
và phát triển các nghề cổ truyền, nghề thủ công truyền thống của địa phương Thôngqua du lịch, một mặt có thể tăng thêm thu nhập, nhưng mặt khác cũng có thể gây ảnhhưởng đến đời sống người dân tại địa phương về các vấn đề như môi trường, trật tự anninh xã hội, đời sống sinh hoạt, ăn ở…
2 Vai trò của du lịch với nền kinh tế quốc dân
2.1 Vị trí của du lịch trong hệ thống các ngành của nền kinh tế quốc dân
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên toàn thế giới đã làm thay đổi rõ rệt vị trí,vai trò của các ngành trong nền kinh tế quốc dân Nông nghiệp từ chỗ chiếm vị thếquan trọng đã dần nhường chỗ cho công nghiệp và cuối cùng kinh tế dịch vụ sẽ chiếmvai trò thống soái Hiện nay, ở các nước có thu nhập thấp như các nước ở Nam Á,Châu phi, tỷ trọng của ngành nông nghiệp vẫn còn chiếm trên 30% trong tổng sảnphẩm quốc dân và tỷ trọng của ngành công nghiệp vào khoảng 35% Trong khi đó, cácnước có thu nhập cao như Mỹ, Đức, Nhật Bản… thì trên 70% tổng sản phẩm quốc dân
là do nhóm ngành dịch vụ mang lại, ngàng nông nghiệp chỉ chiếm khoảng từ 3% – 5%.Trong đó, vị trí của du lịch trong ngành dịch vụ cũng ngày càng rõ nét Du lịch làngành công nghiệp không khói, tạo ra lợi nhuận hấp dẫn Tại nhiều quốc gia, ngành dulịch phát triển với tốc độ khá nhanh và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong nềnkinh tế quốc dân, nguồn thu nhập từ ngành du lịch đã chiếm một tỷ trọng lớn trongtổng sản phẩm xã hội Trong hệ thống các ngành kinh tế, du lịch được xem là ngànhđược ưu tiên hàng đầu vì một số lý do sau đây:
Trang 14- Du lịch có thể cực đại hóa hiệu quả của con người, tự nhiên, văn hóa và nguồn tàinguyên, cơ sở vật chất kĩ thuật của đất nước và là một sự phát triển thích hợp với xuthế
- Du lịch là ngành đòi hỏi nhiều nhân công, cung cấp việc làm chất lượng cao đónggóp vào để nâng cao chất lượng cuộc sống
- Ngành này có thể khả năng tập trung trước hết vào những khu vực nông thôn vớinhững chương trình với vốn đầu tư thấp và hợp lí
- Ngành du lịch có thể mở rộng theo cả chiều xuôi và ngược những liên kết kinh tế
mà có thể tạo nên tổng thu nhập quốc dân, việc làm đặc biệt là cho phụ nữ, thanh niên,người tàn tật mang lại sự công bằng xã hội, đầu tư và tăng lợi nhuận của chính quyềntrung ương, nhà nước và địa phương
- Thông qua du lịch cũng có thể giúp lưu thông những mức độ nhất định của cácloại tiền tệ mạnh như một ngành công nghiệp xuất khẩu
- Du lịch có thể thúc đẩy giao lưu văn hóa, nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau về đấtnước và các dân tộc, đóng góp xây dựng nên nền hòa bình, ổn định trên thế giới
Ở Việt Nam hiện nay xu hướng chuyển dịch cơ cấu cũng theo xu hướng giảm dần
tỷ trọng ngành công nghiệp, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ trong tổngsản phẩm quốc dân Trong giai đoạn vừa qua, thu nhập xã hội từ du lịch đạt tốc độ tăngtrưởng bình quân hàng năm trên 20%, tỷ lệ đóng góp trong tổng sản phẩm quốc nộităng từ 1,76% năm 1994 lên 6,5% năm 2008 Du lịch đứng trong danh sách 5 ngànhtạo thu nhập ngoại tệ lớn nhất cho đất nước với 4,05 tỷ USD năm 2009, chiếm trên55% trong cơ cấu của xuất khẩu dịch vụ Du lịch cũng nộp hàng tỷ đồng vào ngân sáchnhà nước Ngoài ra, sự phát triển của du lịch cũng dễ tạo điều kiện cho các ngành kinh
tế khác cùng phát triển Với những thuận lợi, những mặt tích cực do phát triển du lịchđem lại thì ngành du lịch ngày càng chiếm vị thế quan trọng trong hệ thống các ngànhcủa nền kinh tế quốc dân
2.2 Vai trò của ngành du lịch đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội
Du lịch đóng vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế xã hội của một đất nướcbởi các lợi ích kinh tế mà ngành du lịch đem lại thông qua việc tiêu dùng của khách dulịch đối với hàng hóa, dịch vụ du lịch Sự khác biệt giữa việc tiêu dùng hàng hóa, dịch
vụ du lịch với tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ khác là các sản phẩm du lịch xảy ra tại
Trang 15cùng thời gian và địa điểm với việc sản xuất ra chúng Điều này làm cho sản phẩm dulịch mang tính đặc thù mà không thể so sánh giá cả của sản phẩm du lịch này với giá
cả của sản phẩm du lịch khác một cách tùy tiện Sự tác động qua lại của quá trình tiêudùng và cung ứng sản phẩm du lịch tác động lên lĩnh vực phân phối và lưu thông, dovậy ảnh hưởng đến các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội Khi một khu vực nào đótrở thành điểm du lịch, du khách sẽ đổ về làm nhu cầu về mọi hàng hóa dịch vụ tănglên Sự phát triển của du lịch sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác vàthông qua mối quan hệ liên ngành trong nền kinh tế mà ngành du lịch sẽ không ngừng
mở rộng hoạt động của mình đồng thời làm biến đổi cơ cấu kinh tế
Trong phạm vi một quốc gia, hoạt động du lịch thúc đẩy hoạt động luân chuyển tiền
tệ, hàng hóa, điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kinh tế kém pháttriển hơn, kích thích sự tăng trưởng kinh tế ở các vùng sâu, vùng xa, tạo nên sự pháttriển đồng đều trên các vùng, địa phương Trong nền kinh tế mở, có giao lưu kinh tếvới nước ngoài thì hoạt động du lịch có tác động làm biến đổi cán cân thanh toán quốc
tế, cán cân thu chi của đất nước Khách du lịch quốc tế mang ngoại tệ vào đất nước cóđịa điểm du lịch, làm tăng thêm nguồn thu ngoại tệ của đất nước Ngược lại, phần chingoại tệ sẽ tăng lên đối với những quốc gia có nhiều người đi du lịch ở nước ngoài.Việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ khi đi du lịch quốc tế như hoạt động xuất – nhậpkhẩu ngoại tệ, góp phần cải thiện quan hệ ngoại hối quốc tế một cách hiệu quả
Hoạt động du lịch cũng góp phần tạo nguồn thu ngân sách cho các địa phương từcác khoản trích nộp ngân sách của các cơ sở du lịch trực thuộc quản lý trực tiếp của địaphương và từ các khoản thuế phải nộp của các doanh nhiệp kinh doanh trên địa bàn
Du lịch góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân Theo thống kê của thếgiới năm 2000, du lịch là ngành tạo việc làm quan trọng Tổng số lao động trong cáchoạt động liên quan đến du lịch chiếm 10,7% tổng số lao động toàn cầu Cứ 2,5 giây
du lịch tạo ra được một việc làm mới và cứ 9 người lao động thì có một người làmtrong ngành du lịch Một buồng khách sạn từ 1 – 3 sao trên thế giới hiện nay thu hútkhoảng 1,3 lao động trong các dịch vụ chính và khoảng 5 lao động trong các dịch vụ
bổ sung Số lao động cần thiết trong dịch vụ bổ sung có thể nâng lên nhiều lần nếu cácdịch vụ này được nâng cao về chất lượng và phong phú về chủng loại Sử dụng một
Trang 16lượng lớn lao động như vậy, du lịch đã tạo ra nguồn thu nhập cho người lao động, giảiquyết công ăn việc làm góp phần cải thiện đời sống và giảm các vấn đề xã hội tiêu cực.
3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch
3.1 Tình hình và xu thế phát triển kinh tế của đất nước
Khả năng và xu hướng phát triển du lịch của một đất nước phụ thuộc lớn vào tìnhhình và xu hướng phát triển kinh tế của quốc gia đó Một đất nước có thể phát triển dulịch nếu nước đó tự sản xuất được phần lớn số của cải vật chất cần thiết cho du lịch.Nếu một nước phải nhập một khối lượng lớn hàng hóa để trang bị cho cơ sở vật chất kỹthuật và để đảm bảo việc phục vụ khách du lịch thì việc cung ứng vật tư hàng hóa sẽhết sức khó khăn Sự phát triển của các ngành công nghiệp nhẹ, nông nghiệp và côngnghiệp chế biến lương thực, thực phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển củangành du lịch, bởi ngành du lịch sử dụng khối lượng lớn lương thực, thực phẩm Ngoài
ra, du lịch luôn là ngành đi đầu về phương diện tiện nghi hiện đại và liên tục đổi mớicho nên nền kinh tế phải phát triển để đảm bảo các nguồn vốn để duy trì và phát triểnhoạt động kinh doanh du lịch
Khi nền kinh tế phát triển, chất lượng cuộc sống được nâng cao, khi đã thỏa mãnhết những nhu cầu thiết yêu, cần thiết hàng ngày con người ta mới có thể xuất hiện nhucầu du lịch Vì khi đi du lịch, con người phải trả ngoài các khoản tiền cho các nhu cầugiống như các nhu cầu thường ngày, còn phải trả thêm cho các khoản khác như tiền tàu
xe, tiền thuê nhà ở, tiền tham quan… và xu hướng của con người khi đi du lịch là chitiêu rộng rãi hơn Do đó, những nước có nền kinh tế phát triển, một mặt có khả năngphát triển du lịch trong nước, mặt khác, có khách du lịch ra nước ngoài Ngược lại, trênthực tế có nhiều nước giàu tài nguyên du lịch, nhưng vì nền kinh tế lạc hậu, kém pháttriển nên không thể phát triển du lịch nội địa và càng không thể có nhiều khách du lịch
ra nước ngoài Bên cạnh đó, các định hướng, chiến lược phát triển kinh tế cũng tácđộng mạnh mẽ trong việc thúc đẩy du lịch phát triển Các hoạt động của ngành du lịchcần có sự phù hợp, thống nhất với quy hoạch kinh tế chung của mỗi quốc gia trongtừng thời kỳ nhất định Chính vì vậy mà tình hình và xu thế phát triển kinh tế có ảnhhưởng to lớn đối với sự phát triển của du lịch
Trang 173.2 Tình hình văn hóa, chính trị của đất nước và thế giới
Tình hình văn hóa, chính trị hòa bình ổn định là tiền đề cho sự phát triển đời sốngkinh tế - xã hội của một đất nước Một quốc gia mặc dù có nhiều tài nguyên về du lịchcũng không thể phát triển được du lịch nếu ở đó luôn xảy ra những sự kiện làm ảnhhưởng đến tình hình chính trị hòa bình, xuất hiện những biểu hiện văn hóa không lànhmạnh… Trên thế giới, những nước có đường lối chính trị trung lập và nền hòa bình ổnđịnh như Thụy Sỹ, Áo, Thụy Điển… thường có sức hấp dẫn đối với khách du lịch.Ngược lại, ở những nước có nền chính trị, hòa bình bất ổn, hay xảy ra những biến cố,nội chiến, đảo chính như Philippin, Nam Triều Tiên… thì sự phát triển của du lịch bịhạn chế, nhiều khi bị tê liệt
Tình hình chính trị hòa bình, ổn định trên thế giới cũng là nhân tố đảm bảo cho việc
mở rộng các mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kĩ thuật giữa các quốcgia trên thế giới Nếu tình hình thế giới căng thẳng, phức tạp, xảy ra tranh chấp, chiếntranh, xung đột giữa các quốc gia thì các cuộc hành trình du lịch quốc tế không có điềukiện để phát triển mạnh mẽ Nếu một vùng có chiến tranh hoặc thường xuyên xảy racác cuộc xung đột thì nhân dân ở các nước tại vùng đó khó có điều kiện ra nước ngoài
du lịch và ngược lại, khách du lịch trên thế giới cũng khó có điều kiện đến các nước ởvùng đó để du lịch Ngày nay, khi toàn cầu hóa, hợp tác hữu nghị giữa các quốc gia đãtrở thành xu thế chung trên toàn thế giới thì trong phạm vi các mối quan hệ kinh tế, sựgiao lưu về du lịch giữa các nước trong khu vực và trên toàn thế giới không ngừng pháttriển
3.3 Thời gian rỗi của nhân dân
Thời gian rỗi của nhân dân là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triểncủa du lịch, bởi muốn thực hiện một cuộc hành trình du lịch, đòi hỏi con người phải cóthời gian nhàn rỗi để tham gia vào hoạt động du lịch Trong đời sống sinh hoạt, quỹthời gian của con người được phân chia thành 2 phần: thời gian làm việc và thời gianngoài giờ làm việc Trong đó, thời gian ngoài giờ làm việc bao gồm:
- Thời gian tiêu hao liên quan tới thời gian làm việc hay thời gian gắn với sản xuấtnhưng không nằm trong thời gian làm việc quy định Đây là thời gian dành cho việc điđến nơi làm việc và ngược lại, thời gian dành cho việc chuẩn bị cá nhân trước và saukhi làm việc
Trang 18- Thời gian làm công việc gia đình và các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày như: muasắm, dọn dẹp nhà cửa, chăm sóc con cái…
- Thời gian cần thiết để thỏa mãn các nhu cầu tự nhiên, nhu cầu sinh lý của conngười như: ăn, ngủ…
- Thời gian rỗi
Trong sự phân chia quỹ thời gian ngoài giờ làm việc trên, thời gian rỗi có ảnhhưởng trực tiếp tới hoạt động du lịch, không chỉ là số lượng thời gian rỗi là bao nhiêu,
mà quan trọng hơn là con người sử dụng thời gian rỗi đó vào mục đích gì và sử dụngnhư thế nào Thông thường, con người thường dành thời gian rỗi cho một số hoạt độngsau:
- Tham gia vào các hoạt động xã hội Đây là các hoạt động cần thiết để con người
có thể điều chỉnh tốt được các quá trình giao tiếp xã hội, kinh tế có tổ chức, để từ đó cóthể tiết kiệm được thời gian làm việc
- Thời gian dành cho việc tự học để nâng cao hiểu biết và hoạt động sáng tạo như:nghiên cứu khoa học, chính trị, củng cố kiến thức, đọc sách báo, tham gia các lớp họcngoại khóa, hội thảo…
- Thời gian nghỉ ngơi tinh thần một cách tích cực, dành cho các hoạt động như: đixem phim, nghe nhạc, ca hát, xem vô tuyến…
- Thời gian dành cho việc phát triển thể lực, hồi phục và củng cố sức khỏe như chơithể thao, đi du lịch, đi dạo…
- Thời gian vui chơi cùng gia đình, bạn bè, người thân…
- Thời gian nghỉ ngơi thụ động hay là thời gian nhàn rỗi để nằm, ngồi… mà khônglàm gì cả
- Thời gian làm những việc vô ích, đôi khi còn có hại như: nhậu nhẹt, cờ bạc hoặclười biếng để thời gian trôi đi một cách vô bổ
Tóm lại, thời gian rỗi nằm trong quỹ thời gian, còn thời gian dành cho du lịch, thểthao, nghỉ ngơi lại nằm trong thời gian rỗi Do đó, du lịch muốn phát triển tốt phảinghiên cứu đầy đủ cơ cấu của thời gian làm việc, cơ cấu của thời gian rỗi, phải xác lậpđược ảnh hưởng của các thành phần thời gian khác lên thời gian rỗi để gia tăng quỹthời gian này trong đời sống sinh hoạt của con người Ngày nay, nhờ có các thành tựucủa cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, năng suất lao động ngày càng gia tăng, kinh tế
Trang 19ngày một phát triển và mức sống của con người ngày một cải thiện, thời gian ngoài giờlàm việc càng chiếm ưu thế trong quỹ thời gian và trở thành một nhân tố quan trọngđặc biệt để thúc đẩy hoạt động du lịch của dân cư
3.4 Mức sống vật chất và trình độ văn hóa – xã hội của dân cư
Thu nhập của dân cư là chỉ tiêu quan trọng và là nhân tố vật chất ảnh hưởng tớihoạt động du lịch Con người khi muốn đi du lịch không phải chỉ cần có thời gian màcòn phải có đủ tiền mới có thể thực hiện được mong muốn đó Khi đi du lịch và lưu trúngoài nơi ở thường xuyên, con người luôn tiêu dùng nhiều loại hàng hóa, dịch vụ, dovậy, phải có phương tiện vật chất đầy đủ Đó là điều kiện cần thiết để có thể biến nhucầu đi du lịch nói chung thành nhu cầu có khả năng thanh toán Mỗi khi thu nhập dân
cư tăng thì sự tiêu dùng du lịch cũng tăng theo, đồng thời cũng có sự thay đổi về cơ cấutiêu dùng du lịch
Trình độ văn hóa xã hội chung của một dân tộc được nâng cao thì hoạt động du lịchcủa con người ở đó cũng tăng lên rõ rệt Số người đi du lịch tăng, lòng ham hiểu biết
và mong muốn được làm quen với các nước khác cũng tăng và trong đời sống dân cư,thói quen đi du lịch sẽ hình thành ngày càng rõ rệt Mặt khác, nếu trình độ văn hóachung của một quốc gia cao thì quốc gia đó khi phát triển du lịch sẽ dễ dàng đảm bảophục vụ khách du lịch một cách văn minh và thực sự làm hài lòng khách du lịch, gópphần thúc đẩy hoạt động Theo Robert W McIntosh thì giữa trình độ văn hóa củangười chủ gia đình và tỷ lệ đi du lịch của họ có một mối quan hệ nhất định và nó đượcthể hiện qua số liệu ở bảng 1
Bảng 1: Trình độ văn hóa của người chủ gia đình và tỷ lệ đi du lịch
Theo Robert W McIntosh, 1995
3.5 Điều kiện giao thông vận tải phát triển
Từ xưa, giao thông vận tải đã là tiền đề cho sự phát triển du lịch Việc đi lại dễdàng, giao thông thông suốt sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động du lịch của con người
Trang 20Ngày nay, giao thông vận tải trở thành một trong những nhân tố chính cho sự phát triểncủa du lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế
Trong những năm gần đây, lĩnh vực giao thông, đặc biệt là giao thông du lịch pháttriển nhanh chóng về cả số lượng và chất lượng Việc tăng chủng loại và số lượng cácphương tiện vận chuyển đã làm cho mạng lưới giao thông vươn tới được mọi nơi trêntrái đất, đưa hàng trăm triệu khách du lịch đi qua biên giới các nước bằng các phươngtiện vận chuyển hành khách quốc tế Bên cạnh đó, chất lượng phục vụ của các phươngtiện vận tải cũng ngày càng gia tăng Việc tăng tốc độ vận chuyển cho phép tiết kiệmthời gian đi lại và cho phép kéo dài thời gian ở lại nơi du lịch và cho phép khách dulịch đi đến những nơi xa xôi Sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật cũng làm tăng rõ rệt tính
an toàn trong vận chuyển hành khách, các phương tiện vận chuyển ngày càng có đủtiện nghi và làm vừa lòng hành khách, đồng thời, giá cước vận tải cũng có xu hướnggiảm để nhiều tầng lớp nhân dân có thể sử dụng được Tiến bộ của vận chuyển hànhkhách còn thể hiện trong sự phối hợp các loại phương tiện trong cả hai mức độ: mức
độ dân tộc và mức độ quốc tế Việc tổ chức vận tải phối hợp tốt sẽ cho phép rút ngắnthời gian chờ đợi ở giữa các tuyến và tạo ra điều kiện thuận lợi khi phải đổi phươngtiện vận chuyển và làm vừa lòng khách đi du lịch Chính vì những lý do trên mà giaothông vận tải ngày càng có vai trò và ý nghĩa to lớn trong sự phát triển của du lịch
3.6 Tiềm năng du lịch sẵn có
Tiềm năng du lịch sẵn có là nhân tố quyết định nhất tới sự phát triển du lịch củamột vùng, địa phương và của cả đất nước Một quốc gia, một vùng dù có nền kinh tế,chính trị, văn hóa, xã hội phát triển cao, song không có các tài nguyên du lịch thì cũngkhông thể phát triển được du lịch Tiềm năng kinh tế là vô hạn, song tiềm năng về tàinguyên du lịch là có hạn, đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên – những cái mà thiên nhiênchỉ ưu ái ban tặng cho một số vùng và một số nước nhất định Các tiềm năng sẵn có đểphát triển du lịch bao gồm:
- Vị trí địa lý và địa hình:
Điều kiện về vị trí địa lý bao gồm: điểm du lịch nằm trong khu vực phát triển dulịch và khoảng cách từ điểm du lịch đến các nguồn gửi khách du lịch ngắn Khoảngcách này có ý nghĩa quan trọng đối với nước nhận khách du lịch Nếu nước nhận khách
ở xa điểm gửi khách, điều đó có thể ảnh hưởng trên hai khía cạnh: một là, khách du
Trang 21lịch phải chi thêm tiền cho việc đi lại vì khoảng cách xa, hai là, khách du lịch phải rútngắn thời gian lưu lại ở nơi du lịch vì tốn nhiều thời gian đi lại Tuy nhiên, trong một
số trường hợp, khoảng cách xa từ nơi đón khách đến nơi gửi khách lại có sức hấp dẫnđối với một vài loại khách hàng có khả năng thanh toán cao và có tính hiếu kỳ
Bên cạnh đó, đối với du lịch, điều quan trọng là địa phương phải có địa hình đadạng và có những đặc điểm tự nhiên như: biển, rừng, sông, hồ, núi… Địa hình ở mộtnơi thường chế định cảnh đẹp và sự đa dạng của phong cảnh nơi đó Khách du lịchthường ưa thích những nơi nhiều rừng, đồi, núi, biển, đảo… và thường không ưa thíchnhững nơi địa hình và phong cảnh đơn điệu, tẻ nhạt, không thích hợp với du lịch.Tuy nhiên, hai yếu tố vị trí địa lý và địa hình thường có ảnh hưởng trái chiều đốivới sự phát triển của du lịch Những nơi có địa hình đa dạng, thích hợp với sở thích củangười đi du lịch thường có vị trí không thuận lợi Song, ngày nay, với sự phát triểnvượt bậc của khoa học công nghệ, ngành vận tải không ngừng được cải thiện sẽ khắcphục được phần nào những bất lợi về vị trí địa lý, đưa khách du lịch tới những điểm dulịch hấp dẫn một cách nhanh chóng và thuận tiện nhất
- Khí hậu:
Những nơi có khí hậu điều hòa thường được khách du lịch ưa chuộng hơn Cáccuộc điều tra, nghiên cứu đã cho kết quả là khách du lịch thường tránh những nơi quálạnh, quá ẩm hoặc quá khô, quá nóng Những nơi có nhiều gió cũng không thích hợpcho sự phát triển của du lịch Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậukhác nhau Ví dụ, khách du lịch nghỉ biển thường thích những điều kiện khí hậu như:mưa ít, nắng nhiều, nhiệt độ trung bình của không khí vào ban ngày không cao lắm vàgió nhẹ… Tùy vào từng vùng, cần căn cứ vào những đặc điểm khí hậu khác nhau màphát triển từng loại hình du lịch thích hợp để hấp dẫn du khách
ở đất nước của khách du lịch sẽ có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với họ
Trang 22- Tài nguyên nhân văn:
Giá trị văn hóa truyền thống, lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh tế có ý nghĩađặc trưng cho sự phát triển du lịch ở một địa điểm, một vùng hoặc một đất nước.Chúng có sức hấp dẫn đặc biệt với số đông khách du lịch với nhiều nhu cầu và mụcđích khác nhau của chuyến du lịch Thông thường, những giá trị văn hóa, lịch sử, cácthành tựu kinh tế, chính trị thu hút khách du lịch với mục đích tham quan, nghiên cứu,tìm hiểu, học hỏi Do vậy, tất cả các thành phố, đất nước có các giá trị nhân văn điểnhình đều được khách du lịch trong và ngoài nước đến thăm và đều trở thành các trungtâm du lịch
- Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch:
Cơ sở vật chất kĩ thuật của tổ chức du lịch bao gồm toàn bộ nhà cửa và phươngtiện kĩ thuật giúp cho việc phục vụ để thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch như:khách sạn, nhà hàng, phương tiện giao thông vận tải, các khu nhà giải trí, mạng lướiđiện, nước trong khu vực của cơ sở du lịch… Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch đóng vaitrò quan trọng trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch Sự tận dụng hiệuquả các tài nguyên du lịch và việc thỏa mãn các nhu cầu của du khách phụ thuộc mộtphần lớn vào cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch
- Cơ sở vật chất kĩ thuật – hạ tầng xã hội:
Cơ sở vật chất kĩ thuật – hạ tầng xã hội là những phương tiện vật chất không phải
do các tổ chức du lịch xây dựng lên mà là của toàn xã hội Đó là hệ thống đường sá,
Trang 23nhà ga, sân bay, bến cảng, đường sắt, công viên của toàn dân, mạng lưới điện, các rạpchiếu phim, nhà hát, viện bảo tàng… Cơ sở hạ tầng kĩ thuật xã hội là đòn bẩy thúc đẩymọi hoạt động kinh tế - xã hội của một đất nước Đối với ngành du lịch thì nó là yếu tố
cơ sở nhằm khai thác tiềm năng du lịch và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch
3.8 Một số tình hình và sự kiện đặc biệt
Có một số tình hình và sự kiện đặc biệt có thể thu hút khách du lịch và là điều kiệnđặc trưng để phát triển du lịch Đó là các hội nghị, đại hội, các cuộc hội đàm dân tộchoặc quốc tế, các cuộc thi, các lễ kỉ niệm tín ngưỡng hoặc chính trị… Tuy những sựkiện này thường diễn ra trong thời gian ngắn nhưng cũng đóng vai trò có ích trong sựphát triển của du lịch Việc tổ chức các sự kiện này góp phần tuyên truyền, quảng bánhững giá trị văn hóa và lịch sử của đất nước Bên cạnh đó, do hoạt động du lịch cũngmang tính thời vụ nên việc tổ chức các sự kiện đặc biệt ở ngoài thời vụ du lịch sẽ giúpkéo dài thời vụ du lịch, khắc phục được tính không đồng đều trong việc sử dụng cơ sởvật chất kĩ thuật du lịch
4 Sự cần thiết tăng cường phát triển du lịch vùng Tây Nguyên
Tây Nguyên nằm ở phía Tây và Tây Nam Việt Nam, là một cao nguyên rộng lớnbao gồm 5 tỉnh: Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Lâm Đồng và Kon Tum Tây Nguyên làvùng đất có bản sắc văn hóa rất đặc biệt, độc đáo và đa dạng, là quê hương của khônggian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESSCO công nhận là Di sản vănhóa phi vật thể của nhân loại Tây Nguyên là vùng đất lý tưởng để phát triển ngành dulịch, những điều kiện thuận lợi để tạo nên những sản phẩm đặc trưng, riêng biệt, hấpdẫn, thông qua khai thác cảnh quan thiên nhiên, di tích văn hóa, lịch sử và di sản vănhóa của các tộc người
Về du lịch sinh thái, đây là nơi dồi dào tiềm năng với hệ thống hồ, thác và khu hệđộng, thực vật phong phú được nhiều người biết đến như Hồ Lắk (Đắk Lắk), Biển Hồ(Gia Lai), Hồ Xuân Hương (Đà Lạt), Tuyền Lâm (Lâm Đồng) và hệ thống thác dàyđặc như Đray Sáp, Đray Nur, Gia Long, Trinh Nữ, thác Voi, Hang Cọp, Cam Ly,Datanla, Prenn, Đambri, Thác Bobla, Pongour Nhiều tiểu vùng có khí hậu ôn hòamát mẻ, thích hợp với loại hình du lịch nghỉ dưỡng mà Đà Lạt là một trung tâm du lịchlớn của cả nước và khu vực Măng Đen (Kon Tum) khí hậu mát mẻ, trong lành, thiên
Trang 24nhiên tươi đẹp, nhiều thắng cảnh, có thể hướng đến việc thu hút khách đến nghĩ dưỡng,nghiên cứu điền dã
Ngoài ra, Tây Nguyên còn là nơi có tiềm năng lớn về du lịch văn hoá, với một hệthống các buôn, bon, làng, plei cổ truyền của đồng bào dân tộc thiểu số, còn giữ đượcnhững đặc điểm cấu trúc, sinh hoạt, ngành nghề thủ công truyền thống và hàng chục lễhội đặc sắc có ở hầu hết các dân tộc mà du khách muốn tìm hiểu, khám phá
Tây Nguyên có vị trí kinh tế - chính trị - xã hội đặc biệt quan trọng trong cả nước
So với các vùng khác trong cả nước, điều kiện kinh tế - xã hội của Tây Nguyên còn cónhiều khó khăn, như là thiếu lao động lành nghề, cơ sở hạ tầng kém phát triển, đờisống dân cư kém phát triển, mức sống còn thấp Tuy nhiên, Tây Nguyên có lợi điểm vềtài nguyên thiên nhiên Tây Nguyên là vùng đất lý tưởng để làm du lịch, ít có nơi nào
có điều kiện thuận lợi để tạo sản phẩm đặc trưng, riêng biệt, hấp dẫn về du lịch như ởđây Tuy vậy, trong những năm vừa qua, đóng góp của du lịch vào nền kinh tế cònnhỏ GDP du lịch của khu vực miền Trung – Tây Nguyên chỉ chiếm khoảng 6% tổngGDP cả khu vực
Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới, nền kinh tế chuyển dịch theo xu hướng ngàycàng gia tăng tỷ trọng của các ngành dịch vụ du lịch thì vai trò của du lịch cả nước nóichung và của vùng Tây Nguyên nói riêng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việcchuyển đổi nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam sang nền kinh tế dịch vụ Du lịch pháttriển, kéo theo sự phát triển của các ngành liên quan, góp phần làm gia tăng thu nhậpquốc dân, tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống kinh tế - xã hội – dân cư Chính vìthế, trong giai đoạn sắp tới, Đảng, Nhà nước và các địa phương trên địa bàn các tỉnhTây Nguyên cần tập trung hơn nữa các yếu tố nguồn lực để thúc đẩy du lịch phát triển.Trong tương lai ngành du lịch khai thác tốt các tiềm năng sẵn có, du lịch Tây Nguyênchắc chắc sẽ khởi sắc và đóng góp tích cực đối với nền kinh tế - xã hội của vùng vàquốc gia
Trang 25CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÂY NGUYÊN
1 Đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và tài nguyên du lịch
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Vùng Tây Nguyên - trước đây được gọi là Cao nguyên Trung phần Việt Nam làkhu vực cao nguyên gồm 5 tỉnh, xếp theo thứ tự vị trí địa lý từ bắc xuống nam gồm:Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng Với tổng diện tích 55,6 nghìn
km2, Tây Nguyên là vùng duy nhất của Việt Nam không tiếp giáp với biển
Hình 1: Bản đồ vị trí địa lý các tỉnh Tây Nguyên
Nguồn: website www.taynguyen24h.com.vn
Trang 26Thực chất, Tây Nguyên không phải là một cao nguyên duy nhất mà là một loạt caonguyên liền kề bao gồm các cao nguyên: cao nguyên Kon Tum (cao khoảng 500m),cao nguyên Kon Plông, cao nguyên Kon Hà Nừng, Pleiku (cao khoảng 800m), caonguyên M'Drăk (cao khoảng 500m), cao nguyên Lâm Viên (cao khoảng 1500m) và caonguyên Di Linh (cao khoảng 900m – 1000m) Tất cả các cao nguyên này đều được baobọc về phía Đông bởi những dãy núi và khối núi cao (chính là dãy Trường Sơn Nam).Khối các cao nguyên xếp tầng đồ sộ này nằm sát dải duyên hải Nam Trung Bộ dài màhẹp, lại giáp với miền Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia.
Tây Nguyên lại có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời cũng là ba tiểuvùng khí hậu gồm: Bắc Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Kon Tum và Gia Lai,trước là một tỉnh), Trung Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông),Nam Tây Nguyên (tương ứng với tỉnh Lâm Đồng) Trong đó, tiểu vùng Trung TâyNguyên có độ cao thấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểu vùng phía Bắc và Nam.Chính vì có cấu tạo địa hình và vị trí địa lý tương đối đặc biệt so với các vùng kháccủa cả nước, nên Tây Nguyên có vị trí đặc biệt quan trọng trong quốc phòng và pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước
1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội - dân cư
1.2.1 Tăng trưởng kinh tế
Trong giai đoạn vừa qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Vùng Tây Nguyên đạt khácao, nhất là trong giai đoạn 2006 - 2010 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùng luôn caohơn mức bình quân chung của cả nước Số liệu về tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùngTây Nguyên được trình bày trong bảng 2
Trang 27Bảng 2: Tăng trưởng kinh tế vùng Tây Nguyên
Đơn vị: Tỷ đồng, giá so sánh 1994
2000
Năm2005
Năm2008
Năm 2010
Tốc độ tăng trưởng
(%)
2001 2005
2006 2010
Công nghiệp và xây
Nguồn: Xử lý từ số liệu của Niên giám thống kê các tỉnh và cả nước.
Khu vực nông, lâm, ngư nghiệp phát triển khá ổn định và toàn diện Sản lượng lúavượt mục tiêu đề ra trong quy hoạch Đến nay, Tây Nguyên đã trở thành vùng sản xuấthàng hóa lớn của cả nước Cây công nghiệp phát triển nhanh, phát huy được lợi thế đấtđai, bảo đảm quy hoạch và tăng hiệu quả kinh tế Diện tích gieo trồng các cây cà phê,cao su, điều, hạt tiêu, bông có tỷ trọng lớn so với cả nước và có đóng góp lớn vàoxuất khẩu nông nghiệp toàn quốc Chăn nuôi tiếp tục phát triển, giống vật nuôi đã đượccải tạo một bước
Sản xuất công nghiệp được phát triển theo hướng khai thác thế mạnh của vùng làthủy điện và chế biến nông lâm sản Do có nhiều dự án thuỷ điện quan trọng đã hoànthành và đưa vào sử dụng, năng lực sản xuất của các cơ sở chế biến nông lâm sản, thựcphẩm tăng nhanh, dẫn đến giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn vùng có tốc độ tăngtrưởng khá cao
Hoạt động thương mại, dịch vụ cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất, đời sống củađồng bào các dân tộc trong vùng Các dịch vụ cung cấp hàng hóa, tín dụng, ngân hàng,tài chính, vận tải, xuất nhập khẩu đều tăng nhanh Hoạt động kinh doanh du lịch cũng
có nhiều chuyển biến, một số địa phương trong vùng thu hút nhiều khách du lịch như
Đà Lạt, Buôn Ma Thuột Do vậy tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ của vùng trongthời gian qua đạt tốc độ tăng trưởng khá, cao hơn nhiều so với bình quân cả nước
1.2.2 Cơ cấu kinh tế
Trang 28Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng hiện đại, các ngành phi nông nghiệp(công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ) đã phát triển nhanh theo hướng côngnghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn để thu hút lao động, nâng cao mứcsống nhân dân Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng Tây Nguyê được thể hiệntrong bảng 3.
Bảng 3: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng Tây Nguyên
2000
Năm2005
Năm2008
Năm 2010
Tổng GDP (tỷ đồng) (giá
Nguồn: Xử lý từ số liệu của Niên giám thống kê các tỉnh và cả nước.
Tuy nông nghiệp vẫn có sự tăng trưởng và phát triển mới về chất, nhưng tỷ lệ tươngđối trong cơ cấu GDP đã giảm xuống; tương ứng là khu vực phi nông nghiệp tăng lên
Tỷ trọng ngành nông - lâm - ngư nghiệp trong cơ cấu kinh tế đã giảm từ 53,6% năm
2000 xuống 52,8% năm 2005 và còn khoảng 51,2% năm 2010 GDP bình quân đầungười của vùng Tây Nguyên đã tăng từ 3,0 triệu đồng năm 2000 lên khoảng 11,4 triệuđồng năm 2008 và đạt khoảng 13,1 triệu đồng năm 2010 (bằng khoảng 60% bình quân
cả nước năm 2010)
1.2.3 Cơ sở hạ tầng
Tây Nguyên được coi là miền đất chiến lược trong xây dựng và phát triển kinh tế
-chính trị - xã hội của quốc gia, là một trong sáu vùng kinh tế trọng điểm của đất nước.Tây Nguyên là vùng đất lý tưởng để làm du lịch vì có điều kiện thuận lợi để tạo nênnhững sản phẩm đặc trưng, riêng biệt, hấp dẫn du khách Nắm bắt được tiềm năng vàlợi thế, trong những năm qua, ngành Du lịch, chính quyền địa phương 5 tỉnh TâyNguyên và các nhà doanh nghiệp, những người làm du lịch đã có nhiều nỗ lực trong
Trang 29xây dựng cơ sở hạ tầng, hình thành và phát triển nhiều loại hình du lịch góp phần rấtquan trọng vào sự phát triển chung của nền kinh tế - xã hội toàn khu vực Tuy nhiên,tiềm năng của vùng thời gian trước đây chưa được khai thác một cách triệt để bởinguyên nhân chính là do hệ thống giao thông nối Tây Nguyên với các vùng, miền kháccòn nhiều hạn chế
Hiện nay, hoà cùng sự đổi mới của đất nước, Tây Nguyên không còn biệt lập giữađại ngàn Sự giao thương giữa Tây Nguyên và những vùng miền khác được kết nối bởinhững cung đường Tuyến dài nhất ở Tây Nguyên là quốc lộ 14 có điểm xuất phát từTrung Trung bộ qua các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Phước, Bình Dươngrồi giao với quốc lộ 1 tại Miền Đông Nam Bộ Đây được xem là đường chiến lượctrong phát triển kinh tế Tây Nguyên Ngoài những tuyến đường huyết mạch như quốc
lộ 14, quốc lộ 20 (nối Lâm Đồng với Ninh Thụân, Đồng Nai), quốc lộ 25 (nối Gia Laivới Phú Yên), quốc lộ 26 (nối Đắk Lắk với Khánh Hòa), quốc lộ 27 (nối Đắk Lắk vớiLâm Đồng)… hiện nay, hệ thống giao thông Tây Nguyên mỗi năm còn được gia cố,làm mới hàng vạn km đường liên huyện, liên xã tạo nên sức sống mới cho miền đất caonguyên này
Như vậy, cùng với công tác xây dựng, làm mới và bảo vệ hiệu quả các tuyến đường
đã và đang đưa vào sử dụng phục vụ cho công tác dân sinh và phát triển xã hội, không
xa nữa Tây Nguyên sẽ có nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến và có nhiều nhàđầu tư lớn vào miền đất giàu tiềm năng này
1.2.4 Dân cư và nguồn nhân lực
Năm 2008, dân số của vùng Tây Nguyên có khoảng 5.004,2 nghìn người, chỉ chiếm5,8% dân số cả nước Mật độ dân số trung bình của vùng đạt 92 người/km2 (bằng35,4% mật độ dân số trung bình của cả nước) Mật độ dân cư phân bố không đều tậptrung chủ yếu ở các đô thị, trung tâm xã và ven các trục quốc lộ, tỉnh lộ, còn các vùngsâu, xa dân cư thưa thớt, mật độ rất thấp Trong những năm gần đây, tỷ lệ sinh đẻ củavùng Tây Nguyên luôn ở mức cao hơn trung bình của cả nước và tốc độ tăng dân sốtrung bình hàng năm của vùng cao hơn mức trung bình của cả nước Tỷ lệ tăng tựnhiên của vùng giảm từ 2,32% năm 2000 xuống 1,8% năm 2005 và 1,57% năm 2008
Trang 302010 giảm xuống 1,7%/năm Một số chỉ tiên về hiện trạng dân số của vùng được trìnhbày trong bảng 4
Bảng 4: Một số chỉ tiêu về hiện trạng dân số vùng Tây Nguyên
2000
Năm2005
Năm2008
Tốc độ tăng trưởng
(%)
2001 2005
2006 2008
Nguồn: Niên giám thống kê cả nước, 2008.
Dân số khu vực đô thị vùng Tây Nguyên có tốc độ tăng trưởng khá trong giaiđoạn 2001 - 2005 nhưng lại giảm xuống trong giai đoạn 2006 - 2008 Tỷ trọng dân sốthành thị tăng từ 26,8% năm 2000 lên 28% năm 2005 nhưng giảm xuống 27,9% năm
2008, gần bằng với mức trung bình của cả nước (28,1%) Trung bình thời kỳ 2001
-2005, tốc độ tăng dân số đô thị khoảng 3,27%/năm và thời kỳ 2006 - 2008 khoảng1,59%/năm Năm 2009, dân số của vùng Tây Nguyên là 5.107,4 nghìn người, trong đódân số đô thị là 1.419,1 nghìn người, chiếm 27,8% tổng dân số Đến năm 2010 dân sốcủa vùng Tây Nguyên là khoảng 5.217 nghìn người, trong đó dân số đô thị là 1.461,7nghìn người, chiếm 28% tổng dân số
Tây Nguyên là nơi có cơ cấu dân tộc biến động rất nhanh Toàn vùng hiện có 45dân tộc, so với năm 1975 tăng thêm 33 dân tộc Riêng 12 dân tộc thiểu số tại chỗ chiếm25,8% dân số toàn vùng và có số dân không đồng đều Đồng bào dân tộc thiểu số ởtỉnh Kon Tum chiếm 53,1% dân số toàn tỉnh; Gia Lai khoảng 44%; Đắk Lắk khoảng29,5% Từ sau ngày giải phóng đến nay, một số dân tộc thiểu số như Tày, Nùng… ởcác tỉnh phía Bắc đã đến vùng Tây Nguyên làm ăn sinh sống làm cho thành phần dântộc của vùng ngày càng đa dạng Các dân tộc này sống chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa,
Trang 31trong các thôn, làng Người Kinh sống chủ yếu ở thành phố, thị trấn, ven đường quốc
lộ, tỉnh lộ, vùng kinh tế mới và khu vực các nông lâm trường quốc doanh Các dân tộcTây Nguyên từ bao đời nay giàu lòng yêu nước, kiên cường bất khuất trong đấu tranhchống giặc ngoại xâm, kiến thiết đất nước, nhất là trong hai cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp và đế quốc Mỹ Dù trong điều kiện, hoàn cảnh nào, từng có lúc thiếuthốn, khó khăn nhưng đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vẫn trung thành với cáchmạng, với Đảng, với Bác Hồ Mỗi dân tộc Tây Nguyên có những nét đẹp văn hóa riêngtạo nên sự đa dạng, phong phú về văn hóa của Tây Nguyên Về tôn giáo, trên địa bànTây nguyên có 4 tôn giáo chính là Công giáo, Phật giáo, Tin Lành và Cao đài
Nguồn lao động toàn vùng tăng từ 2.317,8 nghìn người năm 2000 lên 2.926,5 nghìnngười năm 2008 Tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2001 - 2005 là 3,03%/năm, giaiđoạn 2006 - 2008 là 2,84%/năm Từ năm 2000 đến nay, chất lượng nguồn nhân lực củatoàn vùng được nâng lên khá nhanh, tỷ lệ lao động qua đào tạo của vùng năm 2008 đạtkhoảng 27% Một số chỉ tiêu về lao động và việc làm của vùng được thể hiện trongbảng 5
Trang 32Bảng 5: Một số chỉ tiêu về lao động, việc làm của vùng Tây Nguyên
Đơn vị: nghìn người
Tốc độ tăng trưởng (%)2001-
2005
2006 2008
-1 Dân số trong độ tuổi
3 Tổng số lao động làm
5 Tỷ lệ thất nghiệp ở
Nguồn: Niên giám thống kê cả nước và các tỉnh năm 2008.
Tổng số lao động làm việc trong nền kinh tế tăng từ 1.949,7 nghìn người năm 2000lên 2.435,8 nghìn người năm 2008 Tỷ trọng lao động nông - lâm - ngư nghiệp giảmliên tục từ 79,8% năm 2000 xuống còn 71,8%, tuy nhiên quá trình chuyển dịch này vẫnchậm hơn mức trung bình của cả nước Trong cơ cấu lao động, tỷ trọng lao động khuvực nông lâm ngư nghiệp của vùng cao hơn nhiều so với bình quân chung của cả nước
Tỷ trọng lao động công nghiệp và xây dựng còn thấp, năm 2008 mới đạt 8,4%
Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị của vùng Tây Nguyên đã giảm dần từ 5,16%năm 2000 xuống còn 4,23% năm 2005 và 2,51% năm 2008, thấp nhất so với các vùngtrong cả nước Tỷ lệ thiếu việc làm tại khu vực nông thôn của vùng Tây Nguyên năm
2008 là 5,65%, thấp hơn mức bình quân chung của cả nước (6,1%)
1.3 Tài nguyên du lịch tự nhiên